Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hùng Vương Diễn Nghĩa PDF (NXB Nhật Nam 1930) - Ngô Trúc Khê

Ngô Văn Triện là Nhà văn, bút danh Trúc Khê. Sinh ngày 22-5-1901 ở thôn Thị Cấm, tổng Phương Canh (thuộc xã Xuân Phương) ngoại thành Hà Nội. Nhiệt thành yêu nước, khoảng năm 1927 ông dự định tìm đồng chí lập đảng Tân Dân, chủ trương đánh Pháp cứu nước. Rồi gặp Phạm Tuấn Tài với nhóm "Nam Đồng thư xã" rồi sau theo Nguyễn Thái Học với Việt Nam Quốc dân đảng. Cuộc khởi nghIa Yên Bái thất bại ông bị bắt giam ở Hỏa Lò. Ra tù, ông chuyên sáng tác văn học, mở Trúc Khê thư cục và cộng tác với nhiều nhà xuất bản, báo chí ở Hà Nội. Năm 1946, ông cùng với gia đình về ở Trại Do, tỉnh Sơn Tây chờ giao liên đưa lên chiến khu Việt Bắc tham gia kháng chiến chống Pháp. Chưa kịp đi thì ông mất trong năm 1947, hưởng dương 46 tuổi.Hùng Vương Diễn NghĩaNXB Nhật Nam 1930Ngô Trúc Khê100 TrangFile PDF-SCAN

Nguồn: dantocking.com

Đọc Sách

Gương Luân Lý - Trịnh Như Tấu (NXB Ngô Tử Hạ 1934)
Là một trí thức am tường cả hai nền văn hoá Đông - Tây, lại được làm nhiệm vụ của một nhân viên cao cấp trong Toà sứ, nên ông có điều kiện thuận lợi tiếp cận với nguồn tư liệu chính thống của Nhà nước Bảo hộ, đồng thời thường xuyên tiếp thu tư liệu điền dã ở các địa phương, được kế thừa, ảnh hưởng sâu sắc truyền thống thượng võ và văn hiến của quê hương, nên Nhật Nham sớm hội đủ tư chất để trở thành nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá. “Vị tiền” – Tập truyện dài xuất bản năm 1933 có thể được xem là tác phẩm, là đứa con tinh thần đầu tiên của ông cũng như của các tác giả văn xuôi Bắc Giang ở thế kỷ 20. Cũng năm 1933 ông lại cho xuất bản Trịnh gia Chính phả, một trong những cuốn phả đầu tiên được viết bằng chữ quốc ngữ và được công bố rộng rãi. Gương Luân LýNXB Ngô Tử Hạ 1934Trịnh Như Tấu68 TrangFile PDF-SCAN
Bắc Giang Địa Chí - Trịnh Như Tấu (NXB Chân Phương 1937)
Sau khi tôi xuất bản quyển Hưng Yên địa chí, có nhiều bạn quá yêu khuyên nên lần lượt soạn Địa chí tất cả các tỉnh, hợp thành một bộ địa dư toàn quốc. Công việc to tát như thế, tự biết sức mình không đạt được với cái tuổi thanh niên học lực còn ít, lịch duyệt chưa nhiều! Lại thêm thời giờ eo hẹp thì dù có muốn cũng không sao toại chí. Một ngày kia, về thăm quê nhà, trong một cuộc hội kiến, quan chánh công sứ PETTELAT khuyên tôi soạn Bắc Giang địa chí và hứa giúp sưu tầm tài liệu. Bắc Giang Địa ChíNXB Chân Phương 1937Trịnh Như Tấu293 TrangFile PDF-SCAN
Đồ thờ trong di tích của người Việt [pdf]
Trong một tấm bia của chùa Bối Khê (Thanh Oai - Hà Tây ) có ghi rằng : Anh tú của trời đất tụ thành sông núi. Sự linh thiêng của sông núi đúc ra thành thần. Thánh thần linh thiêng hóa làm mây gió sấm mưa để nhuần tưới cho sinh dân và còn mãi muôn đời cùng non nước đất trời vậy. Câu nói minh triết ấy là tinh thần dẫn người xưa vào đạo. Ngày nay chúng ta quan niệm rằng tôn giáo tín ngưỡng là văn hóa. Bất kể dòng tư tưởng lớn nào của thế giới cho tới những tư tưởng bình dân nhuốm màu tôn giáo đều lấy thiện tâm làm đầu, từ đó mới bàn đến tư tưởng và tâm linh để cuối cùng hội tụ vào thần linh. Đồ thờ như "giấy thông hành" để tầng dưới tiếp cận tầng trên, con người tiếp cận với đấng vô biên (mà suy cho cùng đấng vô biên chỉ là sản phẩm thuộc tư duy liên tưởng của loài người). Mỗi thời có một nhận thức khác nhau, tư duy liên tưởng khác nhau sẽ dẫn đến có cách ứng xử và mối liên hệ với thần linh khác nhau. Không một di tích tôn giáo nào không có đồ thờ. Đồ thờ xác định tư cách cho những kiến trúc cùng với hệ thống tượng liên quan để trở thành di tích tôn giáo tín ngưỡng. Ngược lại, nếu không có đồ thờ thì cùng lắm di tích đó chỉ mang hình thức một nhà trưng bày. Như vậy đồ thờ đã góp phần thiêng hóa kiến trúc thờ tự, nó đã hướng tâm con người đến lẽ huyền vi của đạo, hướng đến chân, thiện, mỹ, tránh thoát những dục vọng thấp hèn, góp phần làm cân bằng những tâm hồn luôn bị giày vò bởi tục lụy. Đồ thờ là sản phẩm văn hóa hữu thể, nó chứa đựng những ước vọng truyền đời của tổ tiên, qua nó như qua thần linh để cầu nguồn hạnh phúc trần gian.ở nước Việt, đồ thờ mang vẻ đẹp tâm linh thánh thiện phản ánh tâm thức của người nông dân trồng lúa nước. Chúng vượt lên trên cả tính tích cực và tiêu cực của người đời, vượt lên trên cả những yếu tố sùng bái thuộc tín ngưỡng và dị đoan để tồn tại như một chứng tích lịch sử, một lời nhắn nhủ của tổ tiên... Thông qua đổ thở chúng ta có thể tìm về bản thể chân như thuộc vẻ đẹp của người xưa, để con người nhờ đó mà nâng cao thêm được tinh thần yêu nước, yêu quê hương xứ sở, yêu quý lẽ nhân bản, đồng thời có ý thức trọng đức đẹp của cả đạo và đời.
Đền Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương [pdf]
Vua Hùng là Tổ của dân ta - Thủy tổ của người Việt. Ông Vua đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, “Thánh vương ngàn đời của cổ Việt”. Các thế hệ người Việt Nam đương đại đều hãnh diện và tự hào được mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, con cháu Rồng Tiên. Hàng năm cứ đến ngày mồng 10 tháng 3 Âm lịch lại cùng nhau nỗ nức hành hương về miền Đất Tổ để viếng mộ thăm đền, thắp hương cúng giỗ Tổ tiên. Thông qua các hoạt động văn hóa tâm linh, biểu tượng Vua Hùng và tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương đã trở thành điểm hội tụ tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương không có biên giới riêng mà là biên giới cộng đồng. Ngày giỗ Tổ Hùng Vương đã vượt ra khỏi tín ngưỡng dân gian để trở thành Quốc tế (Quốc lễ). Hùng Vương đã trở thành Quốc Thánh, là vị Tổ chung cho tất cả mọi người đang cùng sống trên dải đất Việt Nam hình chữ S này.Người Việt Nam trọng tình nghĩa, lấy chữ hiếu làm đầu. Họ luôn quan niệm Tổ tiên của mình; ông bà, cha mẹ mình khi chết đi chưa phải là đã hết, mà là sang thế giới bên kia; song vẫn luôn trở về nhà phù hộ cho con, cho cháu mạnh khỏe, hạnh phúc, an lành.