Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Em Là Sinh Mệnh Của Anh

- Nhiên chạy nhanh đi con, nhanh lên! Trên con đường mòn ven cánh rừng, người phụ nữ khoảng hơn ba mươi tuổi vừa khóc vừa nói với đứa bé bên cạnh mình, bàn chân chị ta nhuốm đầy bùn bẩn, gai đâm rách toạc cả gấu quần. Bầu trời đêm lạnh buốt, trên trời không có nổi một ngôi sao chỉ có những ánh đèn le lói phía bên kia con đường. Có tiếng bước chân dồn dập phía sau, người phụ nữ không còn giữ được bình tĩnh kéo đứa bé chạy thẳng vào cánh rừng nhưng dù có chạy thế nào chị ta cũng biết mình sẽ không thắng nổi mấy gã đàn ông liền kéo con bé vào một tảng đá. Gió thốc từng cơn vào mặt, mấy giọt nước mắt chưa kịp khô đã tiếp tục lăn xuống trên gò má trắng hồng. Chị ta nhắm nghiền mắt quỳ xuống cạnh đứa bé rồi nói: - Nhiên, con chạy sâu vào trong rừng, cứ thẳng đường này chạy sẽ thấy một ngôi nhà. Ở đó có hai người chờ con sẽ đưa con đến nơi an toàn, chạy nhanh lên! Đứa bé mặc bộ váy trắng, chân đi đôi giày búp bê, khuôn mặt tựa như một cô công chúa thút thít khóc giọng như lạc đi: - Mẹ, con không muốn xa mẹ, mẹ đi cùng con đi mẹ. Còn ba nữa, mẹ bảo ba sẽ đón mẹ con mình mà. Người phụ nữ không kìm được bật khóc nức nở: - Ba con....ba con bị....ba con không còn nữa rồi… Chị ta cố giữ chút bình tĩnh cuối cùng, đẩy đứa bé rồi nói tiếp: - Nhanh đi, con phải sống, con phải sống để trả thù cho ba mẹ. Chạy thẳng vào con đường này, nghe lời mẹ đi con. Con hãy nhớ những kẻ đã hại ba và mẹ, mẹ cầu xin con hãy nghe lời mẹ đi, con phải tiếp tục sống cho bằng được. Đứa bé níu tay người phụ nữ, những giọt nước mắt mặn chát chảy xuống, “Ba con không còn nữa rồi” đủ khiến một đứa bé mười ba tuổi hiểu thế nào là đau đớn tột cùng. - Tại sao vậy mẹ? Tại sao lại hại chúng ta vậy mẹ? Chẳng phải mấy ngày trước chúng ta còn sống hạnh phúc sao mẹ? Tại sao họ lại làm vậy với chúng ta? Chị ta kéo tay đứa bé khỏi tay mình, đưa cho nó một cặp da rồi nói: - Không còn thời gian nữa đâu Nhiên, con chạy đi, nhanh lên, có người sẽ giúp con. Nhanh lên Nhiên, chạy đi. Mẹ cầu xin con đấy, vì ba vì mẹ chạy đi con. Mẹ biết con gái của mẹ mạnh mẽ lắm mà. Chạy đi con! Nói rồi chị ta đẩy đứa bé rồi chạy thẳng về phía những ánh đèn đang tới gần, đứa bé không dám nhìn lại, ôm chiếc cặp da chạy thẳng về phía trước. Nó cứ cắm đầu chạy mải miết, ánh đèn pin cũng khuất dần phía xa. "Đoàng, đoàng.." Tiếng súng nổ từ xa khiến nó giật mình ngoảnh lại chỉ kịp nhìn thấy từ nơi ánh sáng hắt lại, bóng dáng quen thuộc mờ nhạt gục xuống, có tiếng hét lớn dù ở khoảng cách xa vẫn đủ nó nghe được loáng thoáng: - Còn đứa bé, phải bắt bằng được nó! Nó nhìn về phía sau, đau đớn nấc lên. Bàn chân nhỏ bé muốn quay lại ôm chặt người mẹ đáng thương vừa nằm xuống nhưng nó hiểu rằng giây phút này quay lại là tự đâm đầu vào chỗ chết chỉ còn biết chạy về phía trước. Ở ngay phía sau có tiếng hét yếu ớt trong tuyệt vọng: - Chạy đi Nhiên, nhất định phải trả thù cho ba mẹ. Đứa bé bấu chặt hai tay vào nhau, xoay người chạy rất nhanh, không còn tiếng dồn dập phía sau nhưng nó biết những kẻ áo đen vẫn đang lùng sục tìm nó, những giọt nước mắt vẫn mặn đắng trên gương mặt xinh xắn. Nó không còn nghĩ được gì chỉ cắm đầu chạy, mắt đã nhoà đi, trong lòng vẫn đang không ngừng gọi tên người mẹ đáng thương. Đột nhiên có ánh đèn chiếu rọi thẳng vào mặt, nó sợ hãi giật mình, tim đập thình thịch, tiếng thở phát ra rất mạnh, nó không còn giữ được bình tĩnh liền hét lên: - Cút đi! Ánh đèn pin hơi khựng lại, bất chợt tiến lại gần hơn bịt miệng nó rồi kéo ra một góc. Có lẽ chính bản thân nó cũng cho rằng cái sự sống mỏng manh này chẳng còn giữ được trong chốc lát, liền ra sức cắn chặt vào bàn tay đang giữ miệng mình. Chẳng biết nó đã dùng sức lực thế nào chỉ biết đến khi có mùi tanh ngập trong miệng nó mới buông ra, có thứ gì đó ướt át đang chảy trên khoé môi. Là máu! Từng giọt máu chảy xuống ướt cả chiếc váy trắng qua ánh đèn pin trở nên kinh hãi đến đáng sợ, nó chưa kịp định thần lại tiếp tục bị lôi đi. - Lên xe đi, nhanh lên không bọn chúng sắp đến rồi. Giọng nói ồm ồm phía sau mà từ ban nãy vẫn im lặng khiến nó giật mình, lúc này nó mới để ý kỹ người vừa bị nó cắn là một chàng trai khoảng mười tám hai mươi tuổi, dưới ánh đèn mờ nhạt chỉ thấy đôi mắt cậu ta rất sáng. Đứa bé thở hồng hộc, vẫn chưa hết bàng hoàng hỏi lại: - Anh là ai? Không phải do bọn kia sai đến sao? - Không, anh đến để giúp em, mau trèo lên xe anh đưa em đi. Bọn đó sắp đến rồi, nhanh lên! Nó nhìn lên, chiếc xe dream cũ kỹ đang được chàng trai dựng, trên tay vẫn còn vết thương vừa bị cắn máu đang rỉ ra, không còn nghĩ được gì nó liền vội vã trèo lên phía sau xe máy, lúc này đây là sự lựa chọn duy nhất. Chiếc xe nổ máy giòn tan, đứa bé một tay ôm chặt chiếc cặp da, một tay bám chặt vào cậu thanh niên lạ lẫm phó mặc số phận cho ông trời. Phía sau không gian yên tĩnh đến lạ thường, chiếc xe cứ thế tiến về phía trước. "Rầm" một tiếng động lớn phát ra, chiếc xe máy vừa lao thẳng vào một tảng đá không giữ được thăng bằng đổ xuống nền đất, đứa con gái vẫn ôm chiếc cặp, chưa kịp định thần điều gì đang xảy ra chỉ thấy cánh tay đau nhức, nó mở to đôi mắt nhìn, chiếc đèn pin văng ra xa, phía dưới thân nó ấm áp lạ kỳ. Một cánh tay to lớn đang ôm chặt phía bụng nó, cánh tay còn lại che phía trên đầu. Lúc này nó mới phát hiện ra chàng trai vừa nãy lại thêm một lần nữa cứu nó, bất chợt nó thấy một dòng đỏ chảy từ rất nhiều ở chỗ bàn tay vừa bị cắn, ngay tại vết cắn một hòn đá cắm thẳng vào sâu hoắm, vết máu cũ chưa khô vết máu mới lại chảy. Trời đã bắt đầu tờ mờ sáng, nó giương mắt nhìn bàn tay cậu ta hốt hoảng không biết phải làm gì lúc này cúi gằm xuống hỏi một câu thật vô nghĩa: - Anh có sao không? - Em có băng gạc không? Nó ngước đôi mắt to tròn, vẫn ướt long lanh lắc đầu. Cậu ta thở dài nhìn đứa con gái trước mặt hỏi lại một câu không liên quan: - Em năm nay bao nhiêu tuổi rồi? - Em…em…mười ba tuổi. Cậu ta ôm chặt bàn tay rồi nói: - Em cứ đi thẳng về phía trước một đoạn nữa là ra khỏi cánh rừng, chắc bọn đó tạm thời chưa đuổi theo em được nữa vì đường này rất khó tìm. Em đi trước đi! Đứa bé cậu thanh niên trẻ, bất chợt oà lên khóc, lúc này khi bình tĩnh lại nó mới thấy nỗi đau đớn đang gào xé tâm can mình. Cậu ta nhìn nó bối rối hỏi: - Em không sao chứ? - Em…em không còn ai bên cạnh mình nữa rồi. Tất cả đều bỏ em đi…ba em, mẹ em không còn ai nữa… Cậu ta nhìn đứa bé trước mặt, chiếc váy trắng đã nhuốm đầy bùn bẩn, khuôn mặt lấm lem mấy sợi tóc lơ thơ dính lên cả bờ môi nhỏ bé lòng chợt dấy lên nỗi xót xa vô hạn. Phải rồi một đứa trẻ mới mười mấy tuổi vài ngày trước còn đang hạnh phúc bất chợt phải chứng kiến cảnh cả nhà bị truy sát, mẹ bị bắn ngay trước mặt thì làm sao có thể bình tĩnh được? Đột nhiên đứa bé dừng lại, nó lấy miếng băng đô trên đầu rồi nói: - Anh đưa tay đây. Nói rồi đứa bé gái kéo tay cậu thanh niên đặt tấm băng đô lên tay cậu ta cuộn mấy vòng rồi buộc lại, vết thương trên bàn tay đã được băng bó xong, nó liền đứng dậy quệt nước mắt ôm chiếc cặp rồi hỏi: - Bây giờ anh đi đâu? Cậu ta không trả lời mà hỏi lại: - Em định đi đâu? Đứa bé chỉ tay về một góc rồi nói: - Mẹ em bảo em đến ngôi nhà kia, sẽ có người đón em, anh đi cùng em chứ? - Anh không đi được, nhưng đến đây là khá an toàn rồi. Em đi về đó đi, mau lên đi! Đứa bé cắn chặt môi, cúi gằm mặt hỏi lại: - Anh là ai? Tại sao anh lại giúp em vậy? Cậu ta đưa bàn tay còn lại vuốt mấy sợi tóc trên mặt nó rồi nói: - Anh chỉ là người qua đường, thấy em gặp chuyện thì giúp thôi, em đi mau đi, không lại không kịp. Nhanh lên, bay giờ chỉ tạm an toàn thôi bọn nó có thể đến bất cứ lúc nào. - Nhưng sao anh lại giúp em bất chấp cả nguy hiểm? Bọn chúng cũng có thể giết anh mà! - Không sao đâu, chúng không dám giết anh đâu. Em đừng hỏi nhiều nữa, mau đi đi, tìm người em cần có thể giúp em đi, anh chỉ giúp em được thế này thôi. Đứa bé nhìn cậu ta, xoay người bước đi từng giọt nước mắt đau đớn bắt đầu lăn xuống. Có lẽ khi càng bình tĩnh lại, nỗi đau bị giết cả nhà lại càng lớn hơn trong lòng: - Em hãy mạnh mẽ lên nhé, cô gái! Tiếng nói phía sau của cậu làm nó sững lại, nó ngoảnh mặt lại, đôi mắt đỏ hoe mím chặt môi gật đầu: - Cảm ơn anh, nhất định anh sẽ gặp mọi điều tốt lành nhất, em cảm ơn anh rất nhiều! Chàng trai ngập ngừng một lúc rồi hỏi tiếp: - Em có thể cho anh biết tên em không? Nó lấy tay quệt mấy giọt nước mắt rồi trả lời: - Em là Nhiên, Lưu Diệp An Nhiên! Nói rồi nó xoay người lại chạy về phía trước, không kịp nghe câu nói phía sau: - Còn anh tên là Văn, Nguyễn Đình Văn! *** Hà Nội, cuối tháng 4 năm 2016! Trời Hà Nội mới vào dịp đầu hè mà oi bức đến ngột ngạt. Tám giờ sáng, trời đã nắng lên đỉnh đầu, Nhiên cầm tập hồ sơ ngán ngẩm đến tột cùng. Mấy người ngồi xung quanh đang đọc tài liệu chuẩn bị phỏng vấn còn cô lấy bút vẽ vẽ lên tờ giấy trước mặt. Nhiên nhìn cô bé mặc chiếc áo trắng bên cạnh mình, có lẽ cô bé này ít hơn cô một hai tuổi, vẻ mặt non nớt nhưng đầy háo hức. Hơn một năm trước cô cũng từng có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão như những người này nhưng đến giờ có lẽ đã quá rã rời mệt mỏi. Không biết cô đã chụp bao nhiêu cái ảnh, làm bao nhiêu hồ sơ, đến bao nhiêu công ty để phỏng vấn nhưng cuối cùng nếu không phải người ta không nhận thì cũng là chưa kịp thử việc xong cũng đã bị đè ép đến mức bỏ việc. Đến giờ phút này chẳng còn chút hứng thú nào với những lần xin việc thế này. Cô thở dài, nếu không phải Quân giục cô đi phỏng vấn ở đây có lẽ cô cũng không thèm đi dẫu biết rằng công ty này là mục tiêu mà bản thân cô đặt ra từ năm ấy. Nhiên chán nản vào nhà vệ sinh, chỉnh lại chút quần áo rồi tô son, nhìn bản thân trong gương bất chợt bật cười. - Này, nghe nói hôm nay Giám đốc đích thân phỏng vấn đấy, anh ta mà phỏng vấn thì… Nhiên nhìn ra ngoài, hai người phụ nữ trạc tuổi cô đang nói chuyện. Người phụ nữ mặc váy đỏ ôm trọn thân hình thanh mảnh tô son bình thản đáp lại: - Thì sao? Đàn ông suy cho cùng cũng là đàn ông, gặp người phụ nữ xinh đẹp thì cũng mềm lòng, huống hồ chúng ta có kinh nghiệm kiểu gì chẳng được vào. Người phụ nữ còn lại mặc bộ đồ công sở, chiếc váy ngắn khoe trọn đôi chân nõn nà lắc đầu đáp: - Thế thì cậu nhầm rồi, tôi được biết giám đốc này cực kỳ khó tính chưa bao giờ vì đối phương là phụ nữ kể cả có đẹp thế nào mà thiên vị đâu. Anh ta rất lạnh lùng và thậm chí trong công việc còn có thể gọi là tàn nhẫn thế nên đến nay đã gần ba mươi tuổi còn chưa có vợ. - Sao cậu biết? - Tôi có bạn làm ở công ty này, cậu ta thường than vãn với tôi mức lương ở đây rất hấp dẫn nhưng công việc rất áp lực vì giám đốc khó tính. Nhưng thật sự tôi rất muốn làm ở môi trường này nên mới rủ cậu đi phỏng vấn vì tôi được biết làm ở đây chỉ cần có năng lực thì đảm bảo sẽ không bị bạc đãi, ở đây rất công bằng không có chuyện cậu là cháu ông này, con ông kia mà sẽ được nhận đâu. Điện thoại của Nhiên bất chợt rung lên tắt ngang cuộc trò chuyện của hai người phụ nữ. Nhiên không dám ngẩng cao mặt cúi xuống ấn nút nghe, là Quân. Cô thở dài bắt máy: - Alo em đây. Đầu dây bên kia nhẹ nhàng hỏi: - Em sắp phỏng vấn chưa? Mấy giờ em về anh chờ cơm? - Sắp đến lượt em rồi, chắc em về sớm thôi. - Vậy anh chờ cơm em nhé. Cố lên nhé, anh tin em sẽ làm được, anh yêu em! Nhiên không dám thở dài, đoạn hội thoại cô vừa nghe lại càng khiến tâm trạng cô tệ hơn bao giờ nhưng lại không dám nói ra vì sợ Quân thất vọng. Anh đã cùng cô tìm việc suốt hơn một năm nay nhưng cuối cùng cũng chỉ là con số không tròn trĩnh. Cô tắt máy ra ngoài phòng chờ ngồi. Mời các bạn đón đọc Em Là Sinh Mệnh Của Anh của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Con Chó Mùa Xuân
Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Tôi quen với Francis Jansen cái năm tôi mười chín tuổi, vào mùa xuân 1964, và ngày hôm nay tôi muốn kể một ít điều mà tôi biết về ông. Lúc đó là sáng sớm, tại một quán cà phê trên quảng trường Denfert-Rochereau. Tôi đang ở đó với một cô bạn gái cùng tuổi, và Jansen ngồi bàn đối diện với bàn chúng tôi. Ông vừa mỉm cười vừa quan sát chúng tôi. Rồi ông rút từ cái túi đặt trên băng ghế bọc moleskine, bên cạnh ông, một cái máy ảnh Rolleiflex. Tôi gần như không nhận ra là ông đã chĩa ống kính về phía chúng tôi, vì các động tác của ông vừa mau lẹ lại vừa rất thong dong. Như vậy, ông dùng một chiếc Rolleiflex, nhưng tôi sẽ không thể nói rõ các loại giấy cùng phương pháp in tráng mà Jansen sử dụng để có được thứ ánh sáng vốn dĩ tắm đẫm mọi bức ảnh ông chụp. Buổi sáng cái ngày chúng tôi gặp nhau, tôi còn nhớ mình đã hỏi ông, vì lịch sự, theo ông đâu là loại máy ảnh tốt nhất, ông đã nhún vai và bảo với tôi rằng xét cho tới cùng ông thích nhất mấy cái máy ảnh bằng nhựa màu đen mà người ta mua được ở các cửa hàng đồ chơi, chúng phụt nước ra khi ta ấn nút. Ông mời chúng tôi một tách cà phê và đề nghị chúng tôi tiếp tục làm mẫu cho ông chụp nhưng lần này là ngoài phố. Một tờ tạp chí Mỹ đã giao cho ông việc minh họa một phóng sự về tuổi trẻ tại Paris, và thế là ông đã chọn chúng tôi: Vậy thì đơn giản hơn, hẳn lại mau chóng hơn và kể cả nếu bên Mỹ họ không hài lòng thì cũng chẳng có gì quan trọng. Ông muốn trút bỏ cho xong cái công việc thuần tính cách kiếm ăn đó. Ra khỏi quán cà phê, chúng tôi bước đi trong nắng, và tôi nghe thấy ông nói, với chút âm sắc nước ngoài: - Mùa xuân chó chết[1]. Một suy tư mà ông sẽ còn hay lặp lại, cái mùa năm ấy. Ông bảo chúng tôi ngồi xuống một ghế băng, sau đó ông cho chúng tôi đứng trước một bức tường lổ đổ bóng hàng cây, trên đại lộ Denfert-Rochereau. Tôi đã giữ một trong số những bức ảnh ấy. Chúng tôi, cô bạn và tôi, ngồi trên ghế băng. Tôi có cảm giác đó là những người khác chứ không phải chúng tôi, do chỗ thời gian đã trôi qua hoặc do những gì Jansen nhìn thấy trong ống kính của ông, mà vào thời ấy chúng tôi sẽ chỉ có thể nhìn được nếu đứng trước một tấm gương: Hai đứa thiếu niên vô danh và lạc lối tại Paris. * * * Chúng tôi đi theo ông về xưởng của ông ngay gần đó, trên phố Froidevaux. Tôi cảm thấy ông e sợ nếu lại phải ở một mình. Xưởng nằm dưới tầng trệt một tòa nhà, có thể đi vào đó qua một cánh cửa mở thẳng ra phố. Một căn phòng rộng tường trắng ở cuối có cầu thang nhỏ dẫn lên gác lửng. Một cái giường chiếm toàn bộ không gian của tầng lửng ấy. Căn phòng chỉ có một trường kỷ màu ghi cùng hai phô tơi đồng màu. Bên cạnh lò sưởi gạch là ba cái va li da màu hạt dẻ chồng đống lên nhau. Các bức tường trống trơn. Chỉ có hai bức ảnh. Bức lớn hơn, chụp một phụ nữ, một người tên là Colette Laurent như sau đó tôi sẽ biết. Trên bức còn lại, hai người đàn ông - một là Jansen, hồi còn trẻ - ngồi cạnh nhau, trong một cái bồn tắm vỡ hoác, giữa đống đổ nát. Mặc cho nỗi rụt rè, tôi đã không sao tự ngăn mình hỏi Jansen giải thích, ông đáp đó là ông, cùng Robert Capa bạn ông, ở Berlin, hồi tháng Tám năm 1945. Trước cuộc gặp ấy, cái tên của Jansen vẫn còn xa lạ với tôi. Nhưng tôi biết Robert Capa là ai vì đã xem những bức ảnh của ông chụp chiến tranh Tây Ban Nha và đọc một bài báo về cái chết của ông bên Đông Dương. Nhiều năm đã trôi qua. Thay vì làm rối mù hình ảnh Capa và Jansen, chúng lại có hiệu ứng ngược hẳn lại: Hình ảnh ấy rõ nét trong ký ức tôi hơn nhiều so với nó từng, vào mùa xuân đó. Trên bức ảnh, Jansen hiện ra như một dạng thế thân của Capa, hay đúng hơn là một đứa em trai mà Capa thấu nhận để bảo trợ. Capa, với mái tóc rất nâu, ánh mắt màu đen, điếu thuốc lá ngậm trễ nơi khóe miệng, tỏa ra lòng quả cảm và niềm vui sống bao nhiêu, thì Jansen, tóc vàng, gầy gò, cặp mắt nhạt màu, nụ cười rụt rè và sầu muộn, có vẻ không được thoải mái bấy nhiêu. Và cánh tay Capa, đặt lên vai Jansen, không chỉ tỏ ý thân tình. Hẳn người ta có thể nói ông đang đỡ lấy bạn. Chúng tôi ngồi ở ghế phô tơi và Jansen mời chúng tôi uống whisky, ông đi vào góc phòng và mở cánh cửa dẫn sang căn bếp cũ mà ông đã cải tạo thành phòng tôi. Rồi ông quay trở lại: - Tôi rất tiếc, hết whisky mất rồi. Người ông hơi đờ ra, hai chân bắt chéo, dịch sát ra tận đầu cái trường kỷ, như thể ông chỉ là người ghé thăm nơi này. Chúng tôi, cô bạn tôi và tôi, không phá vỡ sự im lặng. Căn phòng rất sáng với những bức tường trắng của nó. Hai cái phô tơi cùng trường kỷ đặt quá xa nhau, thành thử ta có cảm giác về sự trống rỗng. Hẳn người ta có thể nghĩ rằng Jansen đã không còn sống ở nơi này nữa. Ba cái va li, mà lớp da bên ngoài phản chiếu ánh nắng, gợi về một cuộc khởi hành sắp sửa. - Nếu các bạn thích, ông nói, tôi sẽ cho các bạn xem ảnh chừng nào rửa xong. Tôi đã viết số điện thoại của ông lên một bao thuốc lá. Vả lại, tên ông có trong danh bạ Bottin, ông nói thêm với chúng tôi. Jansen, số 9 phố Froidevaux, Danton 75-21. Mời các bạn đón đọc Con Chó Mùa Xuân của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).
Đời Tỷ Phú - Pierre Rey
Cuốn tiểu thuyết này được dịch ra từ nguyên bản tiếng Pháp Lão Hy Lạp (Le Grec) của Piere Rey, một nhà báo, nhà văn Pháp. Với sự sắc sảo của một nhà báo lão luyện cùng nghệ thuật của một nhà văn biết nắm bắt những chi tiết tinh tế, tiêu biểu trong suy nghĩ, tâm trạng, ngôn ngữ của các loại nhân vật, tác giả đã miêu tả rất hiệu quả về thế giới tư bản tỷ phú siêu quốc gia, cả trong làm ăn kinh tế, chính trị cũng như trong đời tư và lối sống. Cuốn sách đề cập đến những thủ đoạn làm giàu, cạnh tranh tàn nhẫn, lừa gạt, lật lọng giữa bọn tư sản tỷ phú cho dù đấy là anh em ruột thịt, hay là chàng rể và mẹ vợ... Bạn sẽ ngạc nhiên và căm phẫn trước vô số lối sống ăn chơi hoang phí, ngông cuồng, thác loạn, bên cạnh sự bủn xỉn, keo kiệt đến mức bệnh hoạn giữa những con người đó. Không chỉ có vậy, Đời Tỷ Phú còn phơi bày rất nhiều góc cạnh của các mối quan hệ cha mẹ, con cái, chồng vợ, anh chị em, đối thủ, chủ tớ... trong giới tư bản tỷ phú, triệu phú với những mặt đồng nhất mà đối nghịch, lịch sự mà thô bạo, trật tự mà hỗn loạn, nề nếp mà điên đảo... *** Những tảng đá bằng phẳng trọc lốc, trắng toát như xương người, những tảng đá chồng chất lên nhau. Trời xanh đến chóng mặt, và dưới chân bờ biển thẳng đứng cao hai trăm mét, lóa mắt. Đó đây, từng mảng ánh sáng chói chang không chịu nổi, nơi mà biển cưỡng lại sức thiêu đốt của mặt trời, phản chiếu những tia nắng bằng cường lực tập trung của kính hiển vi và sự mãnh liệt của sức nổ. Chiếc xe Rolls Royce đậu trên khoảng bằng của một mỏm núi treo lơ lửng giữa không trung, lạc lõng trong cái quang cảnh nhức nhối vì sự vận động bị ngưng lại và thời gian tan thành chất lỏng. Phải nóng đến trên bốn mươi độ. Ườn ra trên đệm xe, Niki sởn gai ốc, hạ bớt cường độ máy điều hòa không khí. Quen tay, anh ta gài lại khuy áo vareuse màu sắt xám, trên ve áo cổ đính huy hiệu “S.S”. Hai chữ viết tắt ấy đã là đầu đề trêu chọc anh ta của những tay lái xe khác. Họ đùa giỡn trách anh ta sao lại đi đeo loại huy hiệu ấy. Anh ta thừa biết phần lớn bọn kia ghen tị anh. Vì bọn đầy tớ, cũng như chó, thường đánh giá lẫn nhau qua giá trị của chủ chúng. Còn như khách qua đường, trong các thành phố, khi ngoái cổ lại nhìn, thì họ bị ấn tượng quá nhanh do sự sang trọng của cái xe nên chẳng tỏ ra được một ý nào khác ngoài sự thán phục quỵ lụy. Điều này làm Niki khinh miệt họ nặng nề thêm. Bên ngoài xe nóng đến độ nổ lép bép, nóng đến độ trở nên hữu hình, cái sức nóng đem lại cho khung cảnh bại liệt bị ánh sáng nuốt chửng này những sắc độ dịu đi bởi những rung rinh màu nâu nhạt và xám. Niki nghĩ trước khi S.S tới, không biết còn đủ thời gian hút thêm một điếu thuốc nữa không. Chủ anh ta hút nhiều thuốc, nhưng chỉ cho phép có mùi khói xì gà Havanes, cho rằng hương vị da bọc đệm xe Rolls Royce không hợp với mùi khói tầm thường của thuốc sợi vàng. Anh ta đang đưa tay lên túi áo bỗng ngừng lại. Mắt anh ta chạm vào mặt đồng hồ: Đúng ngọ. Đã hai lần, anh ta thử đi vài bước ra bên ngoài, nhưng anh ta đành vội vã bỏ cuộc, choáng váng bởi sức nặng của cái nóng đè trĩu lên hai vai. Anh ta tự hỏi không hiểu sao một xứ nghèo đến thế này mà lại sinh ra một con người giàu đến như thế. ... Mời các bạn đón đọc Đời Tỷ Phú của tác giả Pierre Rey.
Nắng Tháng Tám - William Faulkner
Bạn sẽ phải đánh đổi một khoảng thời gian kha khá, để được ngấm vào mình một kiệt tác văn chương tuyệt đẹp như "Nắng tháng 8". Nó kể về phần tăm tối nhất của con người và sự nhẹ nhõm, thân thương của niềm tin.  Tổng cộng, người đọc có lẽ sẽ mất ít nhất khoảng 20 giờ cho tác phẩm này, với gần 700 trang chi chít những gạch chân và nếp gấp trang đánh dấu. Có quá nhiều những suy tưởng xuất sắc, những biện giải và mô tả diễn biến tâm lý nhân vật rất kì tài. Vậy là không chỉ tốn thời gian, mà còn phải động não không ngừng nghỉ khi đọc sách.  Có rất nhiều tuyến nhân vật đan xen, không rõ ai chính/phụ. Lena Grove - một cô gái bị lừa dối (mà không biết), bụng mang dạ chửa đi tìm người yêu; Joe Christmas - một người lai gốc da màu (nhưng trông bề ngoài như người da trắng) bị lạc mất cội rễ trong một xã hội thù địch với người da đen.   Mục sư Hightower - một người đã thất vọng hoàn toàn với xã hội đương thời và thu mình lại đến mức gần như triệt tiêu năng lượng sống và hy vọng. Byron Bunch - người thợ bào bình dị, được mô tả là "không ai thèm ngoái lại nhìn đến lần thứ hai" - nhưng vụt trở thành người anh hùng, dám hành động, dám quả quyết và dám hy sinh sau khi tìm thấy tình yêu với Lena Grove. Mục sư Hightower là một nhân vật đối lập với Byron Bunch - dù hai người là bạn. Qua thời gian, sức sống và năng lượng của họ đã chuyển hóa và nghịch đảo. Một người có thời trai trẻ sôi nổi, nhiệt tình, nhưng rồi tắt dần như đốm lửa vì sự đòi hỏi tàn khốc của xã hội. Một người im lặng, bình dị suốt 30 năm trời, để rồi chợt tìm ra ánh sáng khi thấy được tình yêu. Nhưng quả thực Faulkner rất ít khi viết một tác phẩm theo chủ nghĩa anh hùng. "Nắng tháng 8" lại càng không phải tiểu thuyết anh hùng - dù nhân vật có lúc bừng sáng hay lịm tắt. Ông là nhà văn của những người bình dị nhất, những người mà ta nhìn bề ngoài thì không hiểu họ. Ta không biết ẩn sau cái vẻ bề ngoài của họ là cả 7 phần của tảng băng trôi - bí ẩn, nhiều khúc ngoặt. Faulkner thương xót con người, nhưng ông cũng dám vạch trần 7 phần chìm đó. Chúng đã tác động mạnh mẽ và hầu như làm biến đổi con người sơ khởi.  Chính vì thế nên nhân vật Lena Grove đẹp và rất được yêu thích. Trong sự biến đổi của hoàn cảnh, trong sự đòi hỏi và tàn khốc của xã hội (bị người yêu lừa dối, bị người nhà ghét bỏ, bị người xa lạ dè bỉu) cô gái ấy giữ được sự bình tâm và giản dị đến kinh ngạc. Không một người nào có thể tác động tiêu cực được đến cô. Ngay cả việc bụng mang dạ chửa cũng không khiến cô lùi bước mà sẵn sàng đi bộ trên những con đường dài hàng trăm dặm khi không tìm được xe ngựa đi nhờ.  "Tui sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu thấy cổ xoay sở giỏi. Người ta có làm hết sức để bỏ rơi cổ thì cũng chẳng sao, cổ chỉ việc bắt đầu lại từ cái chỗ mà họ đã bỏ rơi cổ" - một người lái xe ngựa dọc đường kể về Lena Grove như thế.  Không có phần nào là dễ dãi trong văn của Faulker. Ông không đưa cái phần dễ dãi cho độc giả, mà đưa ra cái phần khó nhằn nhất - những suy nghĩ, lo lắng của người khác, sự tinh tế của cảm xúc và tâm lý, những biến chuyển nội tâm và tranh đấu nội tâm. Những dòng chữ chạm vào phần sâu kín nhất của tâm lý đã bộc lộ một nhà văn điềm đạm với óc quan sát tỉ mỉ, kỹ lưỡng và sâu sắc, không ngại các chi tiết nhỏ. Bây giờ người ta hầu như không còn hành văn theo kiểu đó nữa. Mọi thứ đều chóng vánh hơn, hào nhoáng hơn, dễ nhận biết hơn và có mục đích. Chúng phải hiển hiện và lồ lộ - chứ không thâm trầm, tinh tế theo kiểu Faulkner. "Nắng tháng 8" của Faulkner viết ra không phải để cho người khác đọc một cách ơ hờ, thoải mái. Nó là một cuộc thử thách, muốn độc giả trải nghiệm một cái gì đó rất riêng tư, rất thầm kín như tiếng thì thầm nức nở của nhân vật. Là phần tăm tối nhất của con người. Họ bị giằng néo trong một thế giới mà việc tồn tại nghĩa là nhận lãnh trách nhiệm và không thể thoát ra khỏi nó. Chỉ khi họ dám đương đầu, họ mới được tự do.  *** LENA GROVE bụng mang dạ chửa đi từ Alabama đến Jefferson trong gần một tháng trời để tìm ngưòi đàn ông đã hứa hẹn với nàng là Lucas Burch, bố của thai nhi. JOE CHRISTMAS, một ngưòi không rõ sắc chủng, có thể là nửa trắng nửa đen, nhiều lần thừa nhận mình là da đen một cách quyết liệt, ngạo mạn và cay đắng, tự tay cắt cổ người tình da trắng là Joanna Burden. GAIL HIGHTOWER, một mục sư bị phế bỏ, có nguời vợ ngoại tình tự tử, sông ẩn mình xa lánh nhân gian trừ ngưòi bạn thân là Byron Bunch, một nguồi thợ độc thân ở xưởng bào. Ba cuộc đời ấy đi theo những hướng khác biệt, nhưng trải qua mười một ngày đầy biến động của tháng Tám ở Jefferson thuộc Mississippi, dường như đời sống họ tương chiếu nhau tạo nên cái nhất quán đầy uy lực và bất ngờ của Truyện. Đúng ngày Lena đến Jefferson, đứng trên đồi nàng nhìn thấy khói bốc lên từ một ngôi nhà đang cháy. Đó là nhà của Joanna Burden một cô gái phương Bắc mà gia đình đã đến Jefferson từ lâu, hay giúp đỡ người da đen nhưng vẫn xem da đen là thấp kém bị Chúa bỏ rơi. Cô vừa bị người tình sát hại, đầu hầu như lìa khỏi cổ. Một thanh niên tự xưng là Joe Brown (chẳng ai khác hơn là Lucas Burch mà Lena đi tìm) đòi tiền thưởng một ngàn đô la khi tố giác kẻ giết người là bạn thân của mình, Joe Christmas, cùng làm chung xưởng bào. Joanna chứa chấp, nuôi dưỡng và quan hệ chăn gối với Christmas lâu nay. Cô buộc hắn theo đạo, buộc hắn cầu nguyện (bằng súng chỉa thẳng vào hắn) khiến hắn cuồng nộ giết cô. Lena gặp một chàng trai ở xưởng bào là Byron Bunch, người hết lòng giúp nàng ở lại Jefferson. Anh đưa nàng đến ở trong túp lều của Joe Brown và Joe Christmas trước đây và giấu không cho cô biết gì về chuyện Joe Brown (tức Lucas Burch). Xưa kia, Christmas là một đứa bé mồ côi và ở trại cô nhi vẫn bị chế nhạo là “mọi đen”, rồi trở thành con nuôi trong một gia đình thuộc Trưởng lão phái Tin lành. Tuy mẹ nuôi tử tế nhưng cha nuôi lại cuồng tín. Lớn lên, Christmas dùng một chiếc ghế ở vũ hội làng đập chết cha nuôi rồi bỏ trốn. Christmas đến Jefferson ba năm trước khi chết vào năm ba mươi tuổi. Bị bắt nhưng bất ngờ đào thoát, chạy vào nhà mục sư Hightower. Trước những người truy đuổi, mục sư tìm cách bênh vực hắn, kể cả nói dối rằng hắn ở bên ông khi xảy ra án mạng. Nhưng Christmas bị tên đại úy cuồng tín Percy Grimm hành hình một cách man rợ. Mục sư Hightower thì chìm “trong ánh sáng tháng tám còn nấn ná trên trời” và ông mơ màng nhìn thấy “một vầng hào quang đầy những khuôn mặt người”. Trước đó, chính mục sư là ngưòi đã đỡ đẻ cho Lena vì Byron không tìm kịp bác sĩ. Qua những hành động cuối đời, dường như mục sư cố thoát khỏi cái bóng tối đã cầm giữ ông trong đau khổ, ám ảnh và cô độc bấy lâu nay. Ba tuần sau, Lena lại lên đường, bế con nhỏ trong tay, đi tìm Burch có lẽ bây giờ đã cao chạy xa bay. Byron đi theo nàng, đi bên nàng mà hy vọng. ... Câu chuyện của Lena, bước đi trầm tĩnh của nàng, cái bóng thương yêu của nàng làm nổi bật cuộc nổi loạn tuyệt vọng của Christmas và nỗi đớn đau thầm lặng của Hightower. Người ta có thể nhìn thấy câu chuyện của Joe Christmas có phần phỏng nhại đời Jesus Christ trong Tân ước: một phần tên họ, bị kẻ thân tín bán đứng, tuổi trẻ lang thang, cuộc hành hình, tuổi chết, xã hội đầy tội lỗi... Một ít tương đồng đầy mỉa mai. Joe Christmas không phải là đấng cứu thế mà chỉ là “vật tế thần” (chữ của H. Lass). Cái ánh sáng đầu thu ở Mississippi như ảo ảnh, như sương đọng, như huyền thoại. Cái ánh sáng tháng tám đó cũng là phưong ngữ chỉ trạng thái hoài thai. Đó là ánh sáng của sinh nở, sáng tạo. Bóng một người nữ mang thai đi trên con đường vô định. Nắng Tháng Tám là vầng hào quang mang đầy những gương mặt người. Mời các bạn đón đọc Nắng Tháng Tám của tác giả William Faulkner.
Khi Tôi Nằm Chết - William Faulkner
HÀNH TRÌNH DƯỚI BÓNG CỦA CÁI CHẾT   Nhà văn mang nhiều tố chất “Mỹ” nhất trong văn học Mỹ có lẽ là William Faulkner (1897-1962). Ông là một trong những cây bút hàng đầu của văn học thế giới, chiếm giải Nobel năm 1949.   Sáng tạo của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu.   Ông ra đời ngày 25 tháng 9 năm 1897 ở bang Mississippi.   Mississippi của miền Nam đi vào tác phẩm của ông, được hư cấu thành Yoknapatawpha, một trong những lãnh địa văn chương sống động nhất, u ẩn nhất từng được tạo dựng.   Yoknapatawpha. Đó là một lãnh địa huyền thoại nằm giữa những đồi cát và dòng sông đáy đen. Nó xuất hiện trong hầu hết tiểu thuyết và truyện ngắn của Faulkner, đặc biệt trong tứ đại Kỳ thư.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều thể hiện một thế giới bi thảm, đầy bóng tối cay đắng và tội lỗi, đầy đoạn trường, những tan nát của thiên nhiên và xã hội. Nhưng cũng đầy nghị lực và lòng bao dung.   Tất cả tiểu thuyết ấy đều được dựng theo một nghệ thuật tự sự tân kỳ, biểu hiện hơn là kể, xóa nhòa thời gian, khơi gợi tiềm thức, độc thoại nội tâm, đa bội giọng điệu, đa bội điểm nhìn... Do vậy, Khi tôi nằm chết không có người kể chuyện bao quát. Chỉ nghe những độc thoại nội tâm qua chừng 60 phiến đoạn với 15 nhân vật trên những cấp độ ý thức khác nhau.   ***   Có thể nói Khi tôi nằm chết là lịch sử nội tâm của gia đình Bundren, bắt đầu bằng cuộc hấp hối của bà Addie, rồi cuộc hành trình đầy phiêu lưu qua nước lũ và lửa thiêu trên những con đường uẩn khúc của Yoknapatawpha để đưa xác bà về nghĩa trang gia đình ở Jefferson thể theo di ngôn người chết.   Tác phẩm miêu tả cuộc hành trình thể lý diễn ra trên đường cũng như cuộc hành trình tâm lý diễn ra trong hồn, quay cuồng giữa bóng tối và ánh sáng mà các vai diễn là bà Addie, ông Anse cùng các con trai Cash, Darl, Jewel, Vardaman và cô con gái duy nhất là Dewey Dell.   Trong khi nằm hấp hối, bà Addie buộc chồng là Anse hứa đưa xác mình về Jefferson chôn cất. Để báo thù chồng về cuộc sống chung bất hạnh. Và bà đã từng cắm sừng chồng.   Cuộc hành trình đưa đám ấy phải trải qua bốn mươi dặm đường. Mỗi người đưa đám trong gia đình đều có tâm tư và ý nguyện riêng. Đến Jefferson là thực hiện ý người chết mà cũng là thực hiện những niềm riêng ấy.   Anse toan tính sẽ làm bộ răng giả nhằm lấy lại phong độ của mình. Ông và bà Addie đồng sàng dị mộng. Và không chỉ là răng giả...   Cash là trưởng nam, người đóng quan tài cho mẹ. Anh bị gãy chân khi vượt dòng sông lũ. Cam chịu đau đớn, anh nằm trên nắp quan tài cho đến cuối cuộc hành trình với ống chân bó ximăng!   Darl là người con thứ, rất nhạy cảm. Anh biết cuộc hành trình này là vô lý và tai họa, có thể làm tan rã gia đình. Nên anh nổi lửa định hỏa thiêu xác mẹ và chấm dứt chuyến đi. Thất bại, Darl bị đưa vào viện tâm thần vì Anse sợ phải gánh lấy trách nhiệm.   Jewel là con ngoại hôn của bà Addie. Tình nhân của bà là mục sư Whitfield. Jewel luôn liều mình cứu quan tài của mẹ qua những cơn nước lửa...   Vardaman là con trai út. Cậu được hứa hẹn sẽ có chuối ăn và đồ chơi tàu hỏa khi nào đến nơi. Cậu đục quan tài cho mẹ thở và tin mẹ là một con cá. Dù rất ngây thơ, cậu cũng cảm thấy đau khổ vì những mất mát gia đình.   Dewey Dell là cô con gái bất hạnh của gia đình. Cô chỉ mong tới được Jefferson để mua thuốc phá thai với số tiền mà người tình đã cho. Cô đồng cảm với Darl và phản đối dữ dội chuyện người ta bắt Darl vào viện tâm thần.   Cuối cùng, cuộc hành trình cũng kết thúc. Xác bà Addie nặng mùi cũng được chôn cất ở Jefferson.   Nhưng hầu như chỉ có một mình ông Anse là thỏa mãn, hăng hái giới thiệu người vợ mới trước những đứa con tan nát tâm hồn. “Đây là bà Bundren”, ông nói ở cuối tác phẩm.   ***   Con đường mà gia đình Bundren dấn bước dưới bóng của cái chết là hình ảnh thu nhỏ của Đường Đời. Con người bước đi trong cái bóng của đời sống và cái chết. Qua bi và hài. Qua nước và lửa. Qua mê và tỉnh. Qua dục vọng và đớn đau. Qua hợp và tan. Qua ước ao và thất vọng. Qua ngôn từ và hành động. Qua phi lý và nhân quả. Qua bất nhân và tình người. Qua hèn mọn và cao cả...   “Cuộc đời thúc ta như con ong huyền bí”, theo nhà thơ Emily Dickinson.   Và cái chết cũng thúc ta như con ong huyền bí, chứ gì?   Là một tiểu thuyết ngắn, Khi tôi nằm chết vẫn đạt đến tầm mức một kiệt tác lớn lao, sâu thẳm, dung hợp được những tố chất tương phản trong đời sống và văn chương với một nghệ thuật hư cấu đầy cách tân, táo bạo của một bậc thầy ngôn ngữ. *** Về tác giả: William Faulkner (1897-1962) là một tiểu thuyết gia người Mỹ. Đoạt Giải Nobel Văn học năm 1949, hai giải Pulitzer năm 1955 và 1963, ông là một trong những nhà văn quan trọng nhất thế kỷ 20. Những sáng tác của Faulkner gây ảnh hưởng sâu rộng lên văn chương châu Mỹ La tinh, Pháp, Nga... nếu không muốn nói là toàn cầu. Nhắc tới ông, không thể không kể đến tứ đại kỳ thư nổi tiếng: -    Âm thanh và cuồng nộ (The Sound and the Fury -1924) -    Khi tôi nằm chết (As I lay Dying - 1930) -    Nắng tháng Tám (Light in August -1932) -    Absalom, Absalom! (1936) Mời các bạn đón đọc Khi Tôi Nằm Chết của tác giả William Faulkner.