Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trường Học Đờn Bà

Trong tác phẩm này, Andre' Gide ý muốn chẫm rãi kẻ cà tỉ mỉ nói về tâm hồn, tâm lý những kẻ cao nhã u trầm đằm thắm yêu nhau? mà sử dụng ngôn ngữ loài người vô tận tục tĩu chúng sinh bằng mật ngữ u u u nhiên trường kỳ kham nhẫn - Người dịch tạm ghi. "...Tôi rất muốn được đứng một mình ở trong phòng; những cặp mắt của những khách tới viếng khiến tôi khó chịu; tưởng chừng như, cứ mỗi phen tôi ngắm bức tranh, thì thiên hạ dòm ngó tôi quan sát. Tuy nhiên, mặc dù đau khổ và khó chịu, tôi vẫn cứ bị thu hút bởi cái đẹp phi thường của cái " cô nương dã dượi" kia khiến lòng tôi cảm thấy được tràn ngập chứa chan một mối mê man tê mê gần như mê loạn, một mối kỳ vỹ mê ly dịu dàng dập dìu khôn tả; từ trước tới lúc bấy giờ, có bao giờ tôi cảm thụ một nỗi niềm như thế đâu. Một kẻ nào đó đã tiến gần đến tôi, lặng lẽ êm ru, và bất thình lình tôi cảm thấy hai bàn tay mát rượi úp vào hai mắt tôi. Tôi quay lại. Chính là Gisèle. - Gặp lại nhau đây, thật bất ngờ tươi vui ngộ nghĩnh quá! -  Gisèle ríu rít nói như chim. Nàng chợt thấy mẹ tôi. - Cháu đã làm xong việc uỷ thác của bác cho má con, má con nói rằng bà cũng sẽ rất sung sướng nếu được quen biết bác. Thật dịp may hiếm có, má con cùng đi với con tới đây. Nhưng có điều là con không biết giới thiệu. Rồi cô nàng lấy cánh tay bà má, dắt tới bên chúng tôi, vụng về nói: - Má ạ... Bà X..., mẹ của người bạn mới của con; thật vậy, má cũng chưa biết mặt Genevìeve...Ấy đó! đó là cô ta. Bà mẹ của Giesèle thật là kiều diễm và tôi cảm thấy ngay là mẹ tôi cảm mếm bà liền. Bà (vốn người Ăng Lê) bà nói tiếng Pháp rất thạo, tuy giọng nói âm tiết rất mạnh, và như thế càng thêm đậm đà ý vị và dường như còn gia thêm vào cho tính cách cao nhã tự nhiên thiên nhiên thuần thái của bà. Chúng tôi đang đứng trước bức tranh kỳ vỹ ..." *** Review Thanh Hai: Tui yêu Bùi Giáng lắm, một phần là ông là người Quảng nam đặc biệt nhứt, một phần vì ông có cái chất điên quá khác người , những bài thơ của ông thì đã quá nổi tiếng với cái sự “điên rực rỡ” trong từng câu từ, từng tứ thơ. Ở địa hạt chuyển ngữ, Bùi Giáng lại càng khác biệt với phần còn lại. Cũng vì quá khác biệt với những lời dịch đôi khi miên man, bay bổng và những từ ngữ lạ lẫm mà có 1 số độc giả đọc và chỉ trích ông không tôn trọng nguyên tác. Tui thì không đọc được bản gốc nên không dám ý kiến chi, chỉ thấy một điều đơn giản là đọc các bản dịch của ông cảm thấy như được bơi trên dòng sông ngôn ngữ, thứ ngôn ngữ riêng có của ông không lẫn lộn với ai được, như khi tui đọc 1 bài thơ Nguyễn Bính, hay 1 đoản văn của Mikhail Prisvin... Đọc riết 1 hồi có cảm giác như ông đang sáng tác chứ không phải đang dịch, vì dấu ấn cá nhân của ông thổi vào tác phẩm quá lớn. TRƯỜNG HỌC ĐỜN BÀ là một cuốn như rứa. Thiệt ra cái chữ “đờn bà” là từ địa phương chỉ dân Quảng Nam mới dùng, nên tui - là người Quảng mà - mới ngó đã yêu liền, chưa biết nội dung là răng . Nhưng cần chi hè ?? Cặp bài trùng Bùi Giáng - Andre Gide là đủ để cho tui sở hữu liền rồi. Ni không đọc thì mai đọc, năm ni không đọc thì năm sau sẽ đọc ????. Mà đúng là như rứa thiệt á. Vì tui mua sách ni hơn 5 năm rồi chừ mới lôi ra đọc nề. “Nhà trường của gái lớn lên Phiêu bồng rất mực còn nên nói nhiều Sịch mành trở mộng đăm chiêu Tấm lòng nhi nữ cũng xiêu anh hùng” Bốn câu thơ của Bùi Giáng trên trang đầu tiên của cuốn sách, trong đó câu thứ 4 là ông mượn câu thơ của cụ Nguyễn Du. Tiếp đến trang thứ 2 lại là những dòng người dịch tạm ghi : “Trong tác phẩm này, Andre Gide ý muốn chậm rãi kề cà tỉ mỉ nói về tâm hồn, tâm lý những kẻ cao nhã u trầm đằm thắm yêu nhau ? Mà sử dụng ngôn ngữ loài người vô tận tục tĩu chúng sinh bằng mật ngữ u u u nhiên trường kỳ kham nhẫn..” Ui ông viết cái chi mà tui đọc không hiểu nổi , từ ngữ lạ lẫm và không biết sắp xếp theo cái chuẩn mực chi nữa, mới đọc dô thấy mệt rồi . Mệt mà lỡ yêu rồi biết làm răng đây hihi. Cuốn ni đọc bữa vài chương nhẩn nha thôi, hông đọc 1 lần được đâu, vì ông dịch dễ điên lắm ???? Khuya khuya đem ra đọc : “Đứa con bé bỏng của ta ơi, các vị mục sư và ta, không cùng thờ chung một thượng đế - ông bố trả lời tôi như thế, lúc tôi gắng nói (gói nắng) gọi nắng xuân về cho kiều diễm nở hoa - con đừng có nằn nì nài nỉ nông nổi náo nức nữa, con sẽ làm cho ta nổi đóa đấy. Đó là những chuyện mà có lẽ mai sau con sẽ hiểu nếu con không quá giống quá nhiều quá quá là quá giống bà má của con quá đỗi chao ôi ! Đó con ạ !” Mô phật, tui trích đoạn 1 chút cho bà con đọc thử, hễ không hợp với kiểu dịch ni thì đừng mua sách đọc rồi chửi dịch giả hỉ ???? Riêng tui thì đọc dô như thường và cũng thấy hay như thường . Yêu nhứt là Bùi Giáng lúc nào cũng ưng nói lái - một đặc trưng để nhận ra người xứ Quảng dù họ có sinh sống ở bất cứ nơi đâu.   *** André Paul Guillaume Gide (22 tháng 11 năm 1869 – 19 tháng 2 năm 1951) là một trong những nhà văn xuất chúng của thế kỷ 20, người đoạt giải Nobel Văn học năm 1947. Sáng tác đầu tay của ông là cuốn tự truyện Les cahiers d'André Walter (Những cuốn vở của André Walter, 1891) viết bằng thơ và văn xuôi đầy chất thơ, kể về sự giằng xé, giày vò giữa thể xác và tâm hồn và sự tìm kiếm lối thoát trong các hình thái thần bí và thanh cao của tình yêu. Do bị bệnh lao không phải chịu quân dịch, những năm 1893-1894 André Gide du lịch sang Algérie và Tunisia, nơi ông phát hiện ra mình là người đồng tính luyến ái. Thời gian khủng hoảng kéo dài được ghi nhận bởi sự bất ổn tinh thần và những kiếm tìm chân lý thể hiện trong truyện vừa Le Retour de l'Enfant prodigue (Cuộc trở về của đứa con du đãng, 1907). Về mặt phong cách, Gide đã khắc phục lối viết cầu kì ban đầu, đến với một ngôn ngữ giản dị rõ ràng. Năm 1908, ông trở thành người đồng sáng lập Tổng quan mới của nước Pháp, một trong những tạp chí có ảnh hưởng đối với sự phát triển nền văn học Pháp và thế giới. Tiểu thuyết châm biếm Les Caves du Vatican (Những động ngầm dưới Vatican, 1914) đặt vấn đề về sự chấp nhận một cách mê muội những tín ngưỡng và lý tưởng. Năm 1926, tiểu thuyết Les Faux-monnayeurs (Những kẻ làm bạc giả) ra đời mang lại nhiều thành công cho ông, đó là một đóng góp thực sự vào sự phát triển thể loại tiểu thuyết. Một năm sau khi xuất bản truyện vừa Thésée (Theseus, 1946) - mà ông coi như một bức di thư văn học - André Gide được bầu làm Giáo sư Danh dự trường Đại học Oxford và được tặng giải Nobel năm 1947. Năm 1950, André Gide xuất bản tập cuối cùng của bộ Journal (Nhật kí). Ông mất năm 1951 ở Paris.   Những nhân vật của Gide đều mang bóng dáng cuộc đời ông, như ông từng viết: “Kẻ khác có thể đã viết nên một tập sách; nhưng câu chuyện tôi kể ra đây, tôi đã hồi tưởng lại bằng cả tâm hồn”. Để hiểu về những tác phẩm gây chấn động của Gide, cần nhìn lại chính đời ông. Gide sinh ra vốn là đứa trẻ nhạy cảm, sống bản năng. Về sau, ông lại gặp thêm quá nhiều bão táp trường đời: Mất cha từ nhỏ, chiến tranh liên miên, bệnh tật và đặc biệt là cú sốc năm 26 tuổi, khi ông phát hiện ra mình là người đồng tính. Trước đó, Gide đã mối tình lãng mạn kéo dài với cô em họ Madeleine Rondeaux từ khi ông mới là cậu bé 12 tuổi (ông đã hồi tưởng lại mối tình đầy ngang trái này trong tác phẩm Khung cửa hẹp). Phát hiện này khiến ông bị rối loạn cảm xúc. Về sau, ông vẫn trân trọng và cưới Rondeaux nhưng đồng thời chạy theo những mối tình đồng giới và thật bất ngờ, lại có con với một người phụ nữ khác. Như con thiêu thân, Gide lao vào những cuộc sa đọa trác táng và không ngần ngại phô bày trên trang giấy. Nhiều người đã lên án Gide kịch liệt, coi những tác phẩm của ông như liều thuốc độc cho người đọc. Bạn bè trong giới văn chương cũng có phần dè chứng ông. Nhưng Gide không vì thế mà chùn bước. Ông vẫn trung thành với bản chất con người, coi thường những hình thức phù phiếm, giả tạo. Ông nâng tầm quan điểm của mình lên thành triết lý trong Kẻ vô luân, kể về Michel, kẻ vượt qua mọi rào cản đạo đức trong hành trình nổi loạn để khám phá con người thật của mình. Mời các bạn đón đọc Trường Học Đờn Bà của tác giả André Gide.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bông Hoa Đá - Pavel Petrovich Bazhov
Nhà văn Pavel Petrovich Bazov (1879-1950) sinh trưởng tại Ural, vùng Đông Nga. Tuổi thơ của ông trôi qua ở thành phố Xưxerchi và nhà máy Polevxki trong vùng núi Yưxerchi - nơi cha ông làm công nhân. Mẹ ông là nghệ nhân thêu ren nổi tiếng. Bazov học tại trường dòng Ecaterina, sau đó là đạo viện Perma - nơi đào tạo các giáo sĩ, nhưng các nhà văn Nga nổi tiếng như Mamin Xibiriac, V.P. Biriucov cũng đã từng học ở đây. Năm 1899, tốt nghiệp đạo viện, ông muốn học tiếp tại trường tổng hợp nhưng vì đã tham gia vào phong trào học sinh phản đối cách đối xử thô bạo của giáo viên nên ông bị trường Tổng hợp Tomxki từ chối. Hai mươi tuổi ông bắt đầu công việc dạy học tại các làng nhỏ ở Saidurin và Ecaterinburg. Năm 1914, Bazov đến Camưxlova và tham gia hoạt động cách mạng. Năm 1921, ông trở về Ural làm chủ bút báo Con đường đỏ và viết văn. Cuốn tiểu thuyết tự sự đầu tay “Những người Ural là thế đấy” được xuất bản năm 1924 và tiếp theo là những truyện ngắn đều đặn đăng trên các tạp chí như “Tên quỷ già”, “Nữ Chúa Núi Đồng”, “Ông Pologi vĩ đại”,… và các tiểu thuyết “Con ngựa non”, “Tiến xa hơn nữa để gần hơn”,… Giai đoạn sung sức nhất của ngòi bút Bazov là những năm chiến tranh giữ nước vĩ đại. Ông đã dựng lại những hình ảnh lịch sử của cuộc kháng chiến anh dũng tại Ural trong các tác phẩm “Chiếc hộp”, “Chiếc nắp bằng sắt”, “Nhiệm vụ vàng”,… “Bông hoa đá” là một trong những tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Bazov. Xuất bản lần đầu tại Xvedlov năm 1939 và Moxcva các năm 1942, 1944, xuất bản tại Anh, Pháp, Tiệp Khắc (cũ), Na Uy… Câu chuyện về những con người lao động tài năng, sáng tạo ngày càng được nhiều độc giả trên thế giới biết đến và yêu thích. Xin trân trọng giới thiệu với các bạn tập truyện này trong Tủ sách Văn học Nga. NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN Mời các bạn đón đọc Bông Hoa Đá của tác giả Pavel Petrovich Bazhov.
Thang Dây - Nigel Richardson
Truyện kể về cậu nhóc Mungo, khi cha qua đời, cậu phải theo mẹ dọn khỏi London, đến sống trong một căn nhà ở vùng quê.  Nơi đây trong nỗi nhớ quay cuồng về cuộc sống phố thị, Mungo đã tìm thấy một thung lũng. Nơi có một cái giếng hoang, giúp cậu tìm ra một câu chuyện khác về cuộc sống của cha mẹ và tìm ra một phiên bản mới của chính mình.  Truyện dành cho lứa tuổi  thiếu niên, mới lớn với những linh cảm nội tâm và hành vi phức tạp. *** Nigel Richardson là tác giả của ba cuốn sách đã xuất bản: Breakfast in Brighton (Điểm tâm ở Brighton); Dog days in Soho (Những ngày tồi tệ ở Soho) và The wrong hans (Bàn tay kỳ dị) rất được tán thưởng trong năm 2005. Ông là biên tập viên về du lịch của tờ The Daily Telegraph trong suốt mười ba năm và vẫn viết cho nhiều tờ báo. Ông cũng viết nhiều vở kịch, một phim bộ nhiều tập và một loạt phim tài liệu cho BBC radio 4. Thang dây là cuốn tiểu thuyết thứ hai của ông do nhà xuất bản Oxford University Press ấn hành. Mời các bạn đón đọc Thang Dây của tác giả Nigel Richardson.
Người Chồng Vĩnh Cửu - Fyodor Dostoyevsky
Người Chồng Vĩnh Cửu nằm trong khuôn khổ seri "Cuộc đổ bộ của chàng Dostoievski" trong hình dạng ba cuốn sách bìa giống hệt nhau, chỉ khác nhau tên sách, bao gồm: Con Bạc, Người Chồng Vĩnh Cửu, Chàng Ngốc Hữu Ích". Quyển sách viết về câu chuyện một người chồng bị “cắm sừng” và những hành vi của ông ta sau khi biết mình bị vợ và bạn phản bội. Về đề tài này Dostoievski đã từng có một truyện ngắn trước đó, nhan đề Vợ Người Khác Và Gã Chồng Dưới Gầm Giường (1848), trong đó, theo “gu” thịnh hành trong văn học đương thời, Dostoievski mô tả nhân vật người chồng bị lừa dối theo kiểu nửa hài kịch thông tục. Còn giờ đây, với Người Chồng Vĩnh Cửu, Dostoievski đã “nâng tầm” sáng tác của mình, tạo bước ngoặt phát triển nghệ thuật mô tả tâm lí phức tạp cho dạng đề tài này. Viết về đề tài ghen tuông và tính cách của người chồng bị phản bội Dostoievski có thể đã xuất phát từ một số tình huống cốt truyện và diễn biến tâm lí của hài kịch Molier - Trường học dạy làm vợ (1665) và Trường học dạy làm chồng (1667). Năm 1867, theo lời khuyên của Turghenev, Dostoievski đã đọc Bà Bovary của G.Flaubert. Cuốn tiểu thuyết của nhà văn Pháp đã gợi ý cho ông ý đồ mô tả và lí giải hình tượng người chồng bị cắm sừng theo hướng nghệ thuật - tâm lí mới. Ông tìm thấy trong cuốn tiểu thuyết này motip mà sau này ông sử dụng như điểm xuất phát cốt truyện cho tác phẩm của mình: Charles Bovary sau cái chết của vợ, qua những bức thư của bà với tình nhân, đã biết về sự phản bội của vợ mình, đâm ra rượu chè rồi chết. Trusotski sau cái chết của Natalia Vacilievna, vợ mình, và qua thư từ của bà biết mình bị phản bội, đồng thời phát hiện ra đứa con gái yêu không phải con đẻ của mình. *** Fyodor Mikhailovich Dostoevsky (1821- 1881), sinh ngày 11.11.1821, là nhà văn nổi tiếng người Nga. Cùng với Gogol, L. Toystol, ông được xem là một trong ba văn hào vĩ đại của Nga thế kỉ 19. Dostoevsky sinh tại thành phố Moscow, là con trai thứ hai trong 7 người con của ông Mikhail, một bác sĩ quân y được biệt phái qua phục vụ tại Bệnh Viện Maryinski chuyên chữa trị các người nghèo. Ông Mikhail là một con người cứng rắn, thẳng thắn trong khi bà mẹ lại có bản tính trái ngược, bà ta rất thụ động, tử tế và rộng lượng. Các sự kiện của gia đình quý tộc xa xưa này với cha mẹ có một vùng đất và hơn một trăm nông nô, đã là hình ảnh của các nhân vật với các bản tính thái cực trong các cuốn tiểu thuyết của Dostoevsky sau này. Trong thời gian Fyodor đi học xa nhà, ông Mikhail đã bị giết chết do các nông nô trong vùng nổi loạn và hình ảnh giết người bất ngờ và tàn bạo này luôn luôn ám ảnh Fyodor Dostoevsky khiến cho các tác phẩm của ông thường dùng đề tài là các tội ác. Và vào cuối cuộc đời, cái chết của người cha đã là căn bản cho tác phẩm danh tiếng Anh Em Nhà Karamazov. Fyodor Dostoevsky rất yêu thích văn chương. Vào tuổi 25, Fyodor đã cầm bút, sáng tác ra cuốn tiểu thuyết đầu tiên với tên là Những kẻ bần hàn xuất bản vào năm 1846. Đây là một câu chuyện tình cảm mô tả một cách bóng bẩy các cảnh tàn phá của kiếp nghèo. Cuốn truyện này đã được các nhà phê bình khen ngợi, đặc biệt là Vissarion Belinsky, và nhà văn trẻ tuổi Dostoevsky được gọi là một "Gogol mới", tác phẩm của ông trở nên bán chạy nhất, bởi vì từ xưa tới nay chưa có một nhà văn người Nga nào cứu xét một cách kỹ càng sự phức tạp tâm lý của các cảm xúc bên trong tâm hồn con người. Fyodor Dostoevsky đã dùng tới phương pháp phân tích tâm lý để tìm hiểu các hoạt động rất tinh tế của tâm lý mọi người. Sau tác phẩm Những kẻ bần hàn , Fyodor Dostoevsky sáng tác ra cuốn Con người kép đề cập tới sự phân đôi cá tính và đây là căn bản dùng cho nhân vật Raskolnikov của đại tác phẩm Tội Ác và Trừng Phạt. Qua tác phẩm này, Fyodor Dostoevsky được toàn thế giới công nhận là một trong các Đại Văn Hào của nước Nga, được xem là người sáng lập hay là người báo trước cho chủ nghĩa hiện sinh thế kỷ 20. Tác phẩm tiêu biểu: Những kẻ bần hàn (1846) Con người kép (1846) Đêm trắng (1848) Ghi chép từ Ngôi nhà chết (1862) Những kẻ tủi nhục (1861) Con bạc (1867) Hồi Ký Viết Dưới Hầm (1864) Tội ác và trừng phạt (1866) Gã Khờ (1868) Lũ người quỷ ám (1872) Anh em nhà Karamazov (1880) Là Bóng Hay Là Hình Chàng Thiếu Niên Người Chồng Vĩnh Cửu   Mời các bạn đón đọc Người Chồng Vĩnh Cửu của tác giả Fyodor Dostoyevsky.
Hận Lãng Bạc - Trương Thái Du
Trên bệ cao Giao long thuyền, hai chị em Trưng Trắc ưỡn ngực, ngẩng cao đầu đứng sát bên nhau. Trưng Trắc phóng tầm mắt một lượt xung quanh rồi ngước mặt lên hét to: “Đất này của mẹ tổ, trời này của mẹ tiên. Mười năm người Âu Lạc chưa giành lại được thì họ sẽ chiến đấu trăm năm, ngàn năm nhằm khẳng định lẽ phải. Làm sao đao kiếm của bọn xâm lăng có thể lấy đi được lòng can đảm và khí tiết của chúng ta”. Giọng Trưng Trắc vang động khắp non sông. Thời gian ngừng lại khi Hai Bà Trưng buông mình xuống đáy Lãng Bạc, gần ngã ba cửa Hát. Mã Viện thở dài. Y sai tìm mọi cách vớt xác Hai Bà để chôn cất nhằm giảm bớt sự căm thù của nhân dân, song hoài công vô ích. Có lẽ thể phách Trưng Trắc và Trưng Nhị đã tan lẫn vào hồn thiêng sông núi Âu Lạc. Hán quân đành thỉnh tạm thủ cấp khác của hai nữ chiến binh Âu Lạc, vội vã gói gém để gửi đến Lạc Dương, ngụy tạo là của Hai Bà Trưng. Ngày nô lệ đầu tiên của Âu Lạc đã trôi qua như thế. Mặt trời sẽ lặn nhiều trăm năm… Mời các bạn đón đọc Hận Lãng Bạc của tác giả Trương Thái Du.