Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cái Trống Thiếc

Cuốn tiếu thuyết này ra đời năm 1959 là một cú sốc về thi pháp, với bút pháp vừa hoạt bát phóng túng vừa đầy ắp liên tưởng, cuồn cuộn những sóng chữ trái tai, chói màu. Tác giả đã hoà trộn các cấp độ ngôn ngữ (từ phong cách kinh thánh đến cách nói bình dân) với dung lượng kịch tính và tượng trưng cực đại. Nhưng đằng sau cái giỡn cợt, bao giờ cũng là một chân lý cay đắng. Điểm mạnh của Cái trống thiếc theo tôi là ở tính hòa sắc kỳ ảo trong văn chương với nhiều yếu tố bất ngờ. Với giới cầm bút nước ta, đây là một gợi ý rất lớn cho việc tiếp cận, mổ xẻ và chuyển hóa hiện thực. Tuy nhiên, với bạn đọc Việt Nam, tôi e sách sẽ bị coi là hơi khó đọc, nhưng nếu đọc được, chắc chắn các bạn sẽ thích. Có hai cuốn sách tôi đọc khi trưởng thành khiến tôi sút hai cân là Tội ác và trừng phạt (1982) và mới đây nhất là Cái trống thiếc. Thật lý thú là sau khi người ta đã chán nản nhiều sự, chán đến cả văn của mình mà rồi còn bị hấp dẫn đến mức đọc mấy đêm liền tù tì một cuốn sách gây sốc bởi có cảm giác bản thân bị bới móc và sỉ nhục. Xin trước hết nói rõ hơn khái niệm nhúc nhích. Văn chương từ Homerre tới giờ nói chung không tiến được mấy độ đường, nó khác hẳn với văn minh. Thậm chí tuyến tính không có mấy vai trò ở chỗ này. Và giữa những đỉnh khác nhau, ví như anh hùng ca Odisse với sử thi M’Nông Tây Nguyên mới phát hiện chẳng hạn, là thung lũng của những nhà văn thời vụ với rất nhiều tài năng và ảo tưởng làm nền. Nếu ta xếp các đỉnh đó theo lịch trình văn chương, ta sẽ vừa có cảm giác không hề có sự dịch chuyển lại vừa thấy rất khác. Tôi tạm gọi tính chất nhùng nhằng ấy là sự nhúc nhích trong khi chờ một hình dung từ đúng hơn. *** Günter Wilhelm Grass (16 tháng 10 năm 1927 - 13 tháng 4 năm 2015) là một nhà văn người Đức đoạt Giải Nobel Văn học năm 1999. Ông sinh ngày 16 tháng 10 năm 1927 ở Danzig-Langfuhr, nay là Gdansk (Danzig) thuộc Ba Lan. Sinh ra trong một gia đình có cha mẹ làm nghề buôn bán nhỏ, thành phố quê hương ông cũng như những ngày thơ ấu sống ở đây đã là cảm hứng cho nhiều tác phẩm của ông. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai ông đã tình nguyện đăng ký tòng quân cho quân đội Đức Quốc xã khi 15 tuổi. Vào ngày 10 tháng 11 năm 1944, khi 17 tuổi, ông được gọi vào sư đoàn tăng SS số 10 "Frundsberg" của Waffen-SS Vào ngày 8 tháng 5 năm 1945 ông bị bắt làm tù binh tại Marienbad và đã ở trong trại giam tù binh cho đến ngày 24 tháng 4 năm 1946. Khi bị bắt giam Grass đã tự nhận với người Mỹ rằng ông là thành viên của Waffen-SS. Thế nhưng mãi đến tháng 8 năm 2006 ông mới công khai thừa nhận việc này. Trước đó, trong các tiểu sử đã được công bố của nhà văn, ông chỉ là thiếu niên phụ giúp cho lực lượng phòng không trong năm 1944 và sau đó được gọi đi lính. *** Chỉ đến khi trở thành kẻ đi thuê lại phòng Oskar mới học được nghệ thuật trở ngược lại quá khứ bằng cách đánh trống. Giúp tôi trong việc này, không phải chỉ là căn phòng, mà còn có Con Nhím, cái kho chứa quan tài trong sân và xừ Münzer - đó là chưa kể Xơ Dorothea. Quý vị có biết tích Parsifal không? Tôi cũng không thuộc lắm. Tôi chỉ nhớ nhất câu chuyện về ba giọt máu trên tuyết. Chuyện này chắc có thật vì nó giống chuyện tôi như đúc. Mà có lẽ đó là chuyện của bất kỳ ai có một ý tuồng. Tôi vẫn còn là một tên đầy tớ của nghệ thuật. Tôi để cho người ta vẽ tôi xahh lơ, xanh ve và theo các sắc độ của đất; tôi để người ta ký họa tôi bằng chì than và đặt trước nhiều bối cảnh; cùng với Ulla, tôi đem lại cảm hứng cho Trường Mỹ thuật trong suốt học kỳ đông cũng như học kỳ hè tiếp theo, nhưng tuyết đã rơi để nhận ba giọt máu và vừa nhìn thấy ba giọt máu ấy, Oskar liền biến thành đá như anh chàng điên Parsifal mà Oskar biết rất lơ mơ nên chẳng cần phải cố gắng lắm cũng có thể đồng nhất được với anh ta. Hình ảnh tôi phác ra tuy vụng về nhưng, theo tôi nghĩ, khá rõ ràng. Này nhé: tuyết là bộ đồng phục nữ y tá; chữ thập đỏ mà phần lớn các nữ y tá đều mang ở giữa cái kẹp hoa cài cổ áo, đối với tôi, là ba giọt máu. Tôi ngồi đó, hút hồn, mắt nhìn trân trân. Nhưng trước khi tôi có thể ngồi trong căn phòng trước kia là buồng tắm của căn hộ Zeidler, tôi phải săn tìm phòng để thuê đã. Học kỳ đông sắp hết; một số sinh viên không định quay trở lại sau đợt nghỉ lễ Phục sinh, sẽ giả phòng trọ. Người cộng sự của tôi, Nàng Thơ Ulla, đã giúp tôi đắc lực. Nàng đưa tôi đến văn phòng quản lý nhà ở cho sinh viên, tại đó, người ta cho tôi một số địa chỉ kèm theoo một giấy giới thiệu của Trường Đại học Mỹ thuật. Trước khi đi xem các phòng cho thuê, tôi đến thăm ông thợ đẽo đá Korneff tại xưởng của ông ở Bittweg. Đã lâu tôi không gặp ông. Tôi đến vì quý mến ông, nhưng cũng để kiếm chút việc làm trong đợt nghỉ nữa. Tôi có một số giờ ngồi mẫu tư - một mình hoặc cùng với Ulla - nhưng chừng nấy khó mà đủ để nuôi tôi trong thời gian sáu tuần, với lại, tôi còn phải kiếm thêm để trả tiền thuê phòng nữa. Tôi thấy Korneff vẫn như xưa, chả thay đổi gì - một cái nhọt chưa chín và hai cái sắp khỏi, ông đang cúi trên một khối đá gra-nít Bỉ mà ông đã đẽo thô và giờ đang bắt vào mài nhẵn. Chúng tôi nói chuyện một lúc; tôi bắt đầu mân mê mấy cái đục khắc chữ ra cách gợi ý và nhìn quanh xem có tấm đá nào đã được cắt gọt và mài nhẵn chờ được khắc chữ. Có hai tấm, một bằng đá vôi điệp, một bằng cẩm thạch Silesia, có vẻ như đã được bán và đang chờ một chuyên gia khắc chữ. Tôi chúc mừng Korneff đã vượt qua được thời kỳ khó khăn sau cải cách tiền tệ. Tuy nhiên, ngay cả trong thời kỳ đó, chúng tôi cũng đã tìm được an ủi trong ý nghĩ Tà: một cuộc cải cách tiền tệ, dù có mạnh mẽ, thiết yếu và lạc quan đến đâu chăng nữa, cũng không thể ngăn người ta chết và đặt bia mộ. Tiên đoán của chúng tôi đã ứng nghiệm. Thiên hạ tiếp tục chết và tiếp tục đặt bia. Ngoài ra, cuộc cải cách tiền tệ còn mang đến những "com-măng" trước đây chưa từng có: nhiều chủ hàng thịt đặt lát mặt trước và đôi khi cả bên trong cửa hàng bằng cẩm thạch trang trí; một số ngân hàng và cửa hàng bảch hóa tổng hợp, để lấy lại uy tín, buộc phải sửa sang và trang tri lại những mặt tiền bằng đá cát kết và tufa bị hư hại trong chiến tranh. Tôi khen Korneff cần mẫn xoay sở và hỏi ông có thể một mình đảm đương tất cả công việc không. Mới đầu, ông trả lời qua quít, sau rồi ông thừa nhận rằng đôi lúc ông cũng ước có bốn tay thợ và cuối cùng, ông đề nghị tôi đến làm việc với ông nửa thời gian, giá cả như sau: khắc chỉm trên đá vôi, bốn lăm pfennig/chữ cái, trên gra-nít và đi-o-rít, năm lăm pfennig/chữ cái, còn khắc nổi thì có thể từ sáu mươi đến bảy lăm. Tôi mần luôn một tấm đá vôi điệp. Nhanh chóng lấy lại được ngón nghề, tôi khắc: Aloys KLifer, 3 tháng 9 năm 1887 -16 tháng 6 năm 1946. Tôi đã khắc xong ba mươi chín chữ cái và con số trong đúng ba giờ và được trả mười bảy mark năm lăm pfennig. Chừng nấy là hơn một phần ba số tiền thuê phòng hằng tháng mà tôi ước tính mình có thể kham nổi. Tôi quyết định chi vào khoản này không quá bốn mươi mark vì Oskar vẫn cảm thấy có bổn phận phải đóng góp vào ngân sách gia đình ở Bilk. Văn phòng quản lý nhà ở đã có nhã ý cho tôi bốn địa chỉ. Lựa chọn đầu tiên của tôi là Zeidler, số 7 phố Jiilicher-strasse vì chỗ đó gần Trường. Đầu tháng năm, vào một ngày ấm áp lãng đãng sương mù, điển hình của vùng hạ Rhine, tôi xuất hành với kha khá tiền mặt trong túi. Maria đã là bộ com-lê nên nom tôi cũng bảnh. Mặt tiền trát vữa xtuých-cô long lở, trước cửa là một cây hạt dẻ bụi bám đầy. Vì phố Julicher-strasse đã đổ nát đến một nửa, nên khỏi phải nói đến nhà bên cạnh hoặc đối diện, ở bên trái là một đống gạch vụn um tùm cỏ và bồ công anh, đây đó lòi ra những dầm sắt hình chữ T, khiến ta có thể đoán ở đây đã từng có một ngôi nhà bốn tầng. Bên phải, một ngôi nhà bị phá huỷ một phần nay đã được sửa đến tầng ba, nhưng vẻ như vốn xây dựng đã cạn; mặt tiền bằng gra-nít đen Thuỵ Điển mài bóng bị nứt rạn nhiều chỗ, cần chữa khẩn cấp. Dòng tên "Schornemann, Hãng Mai Táng" thiếu nhiều chữ cái, tôi không nhớ là những chữ gì. Cũng may, hai cành cọ khắc trên mặt đá gra-nít nhẵn như gương vẫn còn nguyên vẹn, góp phần giữ cho cửa hàng một vẻ tôn nghiêm khả kính nào đó. ... Mời các bạn đón đọc Cái Trống Thiếc của tác giả Gunter Grass.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Ba Mùa Yêu - Châu Sa & Nguyễn Phương Văn
Người đọc sẽ đi từ không gian của Hà Nội xưa đầy hoài niệm tới Sài Gòn năng động hiện đại, đồng thời cũng trải nghiệm cuộc sống của tuổi trẻ, dù là những thanh niên của những những thập kỉ 90 hay ở những năm 2000, thì đều yêu mãnh liệt và sống hết mình – cho sự nghiệp, tình yêu, và bè bạn – qua lời kể của một chàng trai tri thức. Với rất nhiều tuyến nhân vật phụ, tưởng chừng như không liên quan gì tới câu chuyện được kể, nhưng lại thống nhất trong tổng thể với dòng suy nghĩ của nhân vật chính. Trong không gian vừa thực vừa ảo, với cái đẹp nên thơ của Hà Nội xen lẫn sức sống sôi động của Sài Gòn, người đọc sẽ thấy đâu đó thấp thoáng tình yêu của mình ẩn hiện trong câu chuyện của các nhân vật. Cho dù ở bất cứ thế hệ nào, ở đầu thế kỷ trước hay đầu thế kỷ này thì tình yêu và tuổi trẻ không có quá nhiều sự biến đổi, vẫn đam mê và cuồng si như vậy. Chỉ có cách thể hiện là đâu đó có chút biến đổi.Cuốn sách là những suy nghĩ miên man, là ký ức và hoài niệm, một dòng chảy chậm rãi nhưng không ngừng. Vì thế, bạn đọc hãy nghe lời khuyên của tác giả ngay từ đầu cuốn sách, rằng hãy “đọc cuốn sách này thật chậm”. *** Ba Mùa Yêu là một “tiểu thuyết tí hon” tôi viết trong mùa đông năm 2014. Gọi là “tiểu thuyết tí hon” bởi vì: + Một là nó rất ngắn. Ngồi cà phê sáng thứ Bảy lâu một chút là đọc hết cuốn sách, hoặc ăn tối xong đọc một lèo là đến giờ đi ngủ. + Hai là tuy rất ngắn nhưng có tới sáu chương. Và dù rất ngắn nhưng Ba Mùa Yêu vừa viết tình yêu vừa về tình báo. Có nhiều mối tình, có cả xếp hình, nhiều sự kiện lịch sử, nhiều phân mảnh, cấu trúc rời rạc. Trong Ba Mùa Yêu, có những người trẻ thế kỷ XXI. Họ dùng Facebook, đọc sách Tây, nghe nhạc Mỹ, và yêu nhau. Có những người trẻ của những năm 1920. Họ lẩn trốn mật thám Pháp, hoạt động chống nhà nước thực dân, và… yêu nhau. Có cả những người trẻ từ Annam đi lính cho Pháp ở châu Âu trong Thế chiến thứ Nhất. Họ tò mò học hỏi cuộc sống xa lạ, và… cũng yêu nhau. Với những bạn không thích diễm tình, trong cuốn sách có các nhân vật mang hơi hướm lịch sử. Khi đọc xong có thể các bạn sẽ có hứng google. Cám ơn sự ủng hộ của các bạn. Hy vọng đọc xong cuốn tiểu thuyết diễm tình tí hon này các bạn ít có cảm giác tiếc tiền mua sách.   Mời các bạn đón đọc Ba Mùa Yêu của hai tác giả Châu Sa & Nguyễn Phương Văn.
Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù
Nếu kết cuộc được định sẵn của một kiếp người là trở thành bụi tro “đến theo dòng nước, tàn theo gió” thì ý nghĩa thật sự của đời sống nằm ở đâu? Câu trả lời là: trước khi hóa thành tàn tro, người ta phải là một tia lửa rực cháy. Lấy bối cảnh một trại tập trung Đức Quốc xã vào những ngày cuối cùng của Thế chiến II, Lửa yêu thương lửa ngục tù là câu chuyện xoay quanh cảnh lao ngục của người tù 509 và những bạn đồng cảnh của y. Trong lao tù, họ bị xem là súc vật, là những bộ xương, là những cái xác ốm đói chỉ còn chờ ngày chết. Tuy vậy, dù chỉ thoi thóp chút tàn hơi, họ vẫn nương tựa lẫn nhau, cùng chiến đấu và bảo vệ nhau. Với họ, cuộc đấu tranh này không đơn giản là đấu tranh sinh tồn, mà là đấu tranh để bảo vệ tia lửa sống đang bừng lên trong mình, tranh đấu cho quyền được làm người và quyền sống như một con người trước tội ác vô loại của bọn Đức Quốc xã. *** Remarque (1898 – 1970) là nhà văn lừng danh người Đức. Ông nổi tiếng với Phía Tây không có gì lạ, một trong những tác phẩm hay nhất về Thế chiến I. Các tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Ba người bạn, Khải hoàn môn, Đêm Lisbon…cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định tài năng và danh tiếng của ông khắp năm châu. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương và Hòa bình. Bia mộ đen (Der schwarze Obelisk – 1956) một lần nữa cho thấy thiên bẩm của Remarque trong việc nhìn ra được niềm vui, lạc quan và những điều tốt đẹp giữa khổ đau, tuyệt vọng và xấu xí. Nhận xét về tác phẩm này, cây bút F.T. Marsh của tờ New York Herald Tribune từng viết: “Dí dỏm nhưng đượm buồn, vừa nghiêm túc lại có chút giang hồ, tuyệt diệu trong từng câu chữ nhưng vẫn khó nắm bắt vô vùng”. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết *** Khu vườn chìm trong màu sáng bạc. Không khí thoang thoảng hương hoa tím. Cây ăn trái trồng dài theo bờ tường phía Nam trông như đang bị bao phủ bởi một rừng bướm trắng hồng. Alfred đi đầu, phía sau là ba người mặc quân phục. Họ đi trong im lặng. Alfred chỉ tay về trại nuôi gia súc. Ba người Mỹ tản mác không một tiếng động. Alfred đẩy cửa ra: - Neubauer! Ra đây! Có tiếng càu nhàu từ trong bóng tối vọng ra: - Cái gì đó? Ai vậy? - Ra đây? - Ủa! Alfred đó hả? - Phải. Neubauer lại càu nhàu: - Mẹ kiếp! Lại ngủ nữa! Cứ nằm mơ... Hắn sửa giọng rồi nói tiếp: - Có phải chú mới bảo tôi ra không? Một người Mỹ từ nãy rón rén tới sát bên Alfred bỗng bấm đèn lên: - Đưa tay lên! Bước ra ngay! Trong vòng tròn ánh sáng xanh mờ, Neubauer mình trần vẫn còn ngồi trên một chiếc ghế bố nhà binh. Hắn nhấp nháy mắt: - Cái gì? Các người là ai? Người Mỹ quát: - Đưa tay lên! Có phải tên là Neubauer không? Neubauer vừa đưa tay vừa gật đầu. - Chỉ huy trưởng trại tập trung Mellern hả? Neubauer lại gật đầu. - Bước ra! Neubauer nhìn vào họng súng đang chĩa thẳng vào hắn. - Cho tôi mặc áo đã! - Bước ra ngay! Ngập ngừng, Neubauer bước ra. Một trong ba quân nhân Mỹ nhảy phóc tới kềm chế Neubauer trong khi người kia lục soát căn trại. Neubauer lườm Alfred: - Chú đưa họ tới hả? - Phải. - Đồ Judas! Alfred trả lời từng tiếng một: - Ông không phải là Jesus Christ mà tôi cũng không phải là đảng viên Quốc Xã. Người Mỹ lục soát bên trong đã trở ra. Neubauer hỏi viên Trung sĩ Mỹ biết nói tiếng Đức: - Cho tôi mặc áo vào, được không? Treo ở sau chuồng thỏ. Viên Trung sĩ Mỹ do dự một chút rồi vào trong lấy chiếc áo thường phục ra. Neubauer xuống giọng: - Không phải áo này. Tôi là quân nhân mà. - Không có quân nhân gì cả. Neubaner năn nỉ: - Xin lấy giùm tôi chiếc áo của Đảng. ... Mời các bạn đón đọc Lửa Yêu Thương, Lửa Ngục Tù của tác giả Erich Maria Remarque.
Hoa Bên Bờ - An Ni Bảo Bối
Những lúc rỗi rãi, tôi thường đến hiệu sách. Cũng tại đây, đôi khi tôi nghe thấy người ta nhắc đến tên tôi. Họ đang tìm sách của tôi. Đứng ngay bên cạnh anh. Rất gần. Nhìn thấy khuôn mặt và những cảm xúc trên đó, ngửi thấy mùi của anh. Người con gái viết sách đã đứng bên cạnh. Khoảng cách giữa hai người chỉ là 10 cm. Đó là một cô gái mặc chiếc quần bò cũ, tóc tai rối bời, không son phấn. Nhưng anh vẫn không hay biết. Cảm giác đó khiến tôi mê mẩn. Tôi đang trong tối. Anh ở ngoài sáng. Giữa chúng tôi có một bầu tâm sự thầm kín. Rồi tôi viết cuốn tiểu thuyết dài hơi đầu tiên ở Thượng Hải. Còn nhớ chủ đề liên quan tới một cuộc tâm tình. Hình như trong một chuyến lữ hành, trên máy bay, trên tàu thủy hoặc với bạn đồng hành trong cùng một phòng trọ. Biết được thời gian chỉ nhiều nhặn như thế, sau khi chia tay có lẽ sẽ không gặp nhau. Thế là lại tâm tình trong bóng tối. Tháo chiếc mặt nạ. Mở rộng tấm lòng. Có vậy, cuộc tâm sự mới có thể bắt đầu. *** Cô nói, Tôi là một con chim đầy cảnh giác, không dễ đậu lại. Vì thế cứ bay mãi. Tôi luôn cho rằng mình đã quen với thời gian đã trôi và những chuyện cũ. Bất kể ở đâu, gặp phải ai và kết thúc bằng cách nào. Tôi là Kiều. Mùa xuân năm đó, tôi ở Thượng Hải. Hằng ngày viết lách ở nhà, và các mục chuyên đề cho vô số tờ tạp chí. Để mỗi một từ ngữ nảy sinh giá trị phản ánh tinh thần và vật chất. Đó là kỹ năng mưu sinh duy nhất của tôi. Thu nhập tuy không ổn định nhưng có thể duy trì sự sống. Cách sống như vậy trong con mắt mọi ngườicó lẽ hơi tuỳ tiện và thiếu cảm giác an toàn. Nhưng đối với một cô gái đã nhiều năm không có việc làm ổn định và không muốn xuất hiện trong đám đông cũng giống loài cá đắm mình dưới đáy biển. Có con ẩn dưới mấy trăm mét, có con ẩn tới mấy nghìn mét, nóng lạnh tự biết, chỉ vậy mà thôi. Tôi là một đứa con gái thích tự do, ưa nhàn rỗi. Nói một các hkhác, tôi là một con người ích kỷ. Cái được gọi là “tiêu chuẩn của sự ích kỷ” là chỉ sống theo cách của mình. Buông thả thói quen xấu của mình như ngủ nướng, kiếm cơn say trong những quán bar gần nhà. Yếu ớt chìm đắm trong khói thuốc lá và chống chọi với hư vô. Thần kinh mệt nhoài và ăn vận lôi thôi. Thường xuyên ngồi phệt xuống đất, cười phá lên. Cũng có lúc quá nhạy cảm, do vậy cảm thấy quá khác biệt với nhiều mối quan hệ. Nhưng cũng không quá chấp nhặt với mọi người và công việc xung quanh. Không chấp nhặt không có nghĩa là khoan dung. Chẳng thà rằng trong phần lớn thời gian, tôi không hề có hứng thú với mọi chuyện. Mơ màng với tất cả những thứ mà tôi không quan tâm hoặc coi trọng. Không chịu trả giá. Có nhu cầu hưởng thụ đơn độc. Có lẽ tất cả đặc tính này đã quyết định nên việc tôi chỉ có thể lựa chọn viết văn. Tôi thích nó có thể giúp tôi lựa chọn những cách thích hợp chạy trốn hiện thực ồn ào, huyên náo. Tuy cũng cảm giác rằng chỉ có những người bị mắc bệnh trầm cảm dày vò kéo dài mới làm công việc đó. Tháng tư ở Thượng Hải tiết trời vẫn lạnh, nhưng vẫn cảm nhận được mùa xuân dần tới. Có lúc vào một buổi chiều đột nhiên có tâm trạng. Ngồi xe buýt đi ngắm cảnh mùa xuân thành phố. Ngồi ở hàng ghế cuối cùng, đặt chân vào chỗ dễ chịu nhất. Khi chiếc xe chậm chạp đi vào con đường đang bị ách tắc giao thông do sửa chữa, tôi có thể nhàn tản ngắm nghía ánh xuân ngoài cửa sổ và các cô gái xinh đẹp. Buổi chiều yên bình. Những toà nhà cổ theo kiến trúc phương Tây. Cái sân phơi đầy quần áo. Một góc ban công hé nở chùm tường vy màu phấn hồng. Lá cây ngô đồng xanh biếc cứ lấp lánh nắng. Cậu thanh niên Pháp đẹp trai bên đường cười tít mắt dưới ánh mặt trời, nét mặt mơ màng và chân thành. Niềm vui của tôi chỉ là những thứ rất vụn vặt. Cũng giống như tên một ban nhạc Nhật Bản từng yêu thích trước đây - Điều nhỏ bé (Little Thing). Những chi tiết nhỏ nhặt là nguyên nhân tạo nên hạnh phúc. Thích cuộc sống đơn giản. Làm những việc mà mình thích. Sống trong thành phố mà mình yêu. Tốt nhất vẫn có thể gặp được thời tiết mà mình muốn, những người đàn ông và phụ nữ mà mình thích. Chỉ cần cam tâm tình nguyện, việc gì cũng có thể trở nên đơn giản. Không cần bất kỳ lý do phức tạp nào. Đây là nguyên tắc sống mà tôi tin tưởng. ... Mời các bạn đón đọc Hoa Bên Bờ của tác giả An Ni Bảo Bối.
Giải Thưởng Bất Ngờ - Julie Garwood
Royce là một thủ lĩnh nổi tiếng và được biết đến như là một người Norman xuất sắc trong việc huấn luyện binh lính. Anh chỉ huy rất có tổ chức, sống một cuộc sống mẫu mực và yêu cầu tất cả mọi người dưới quyền đều phải phục tùng anh ...cho đến khi anh gặp Nicholaa.  Nicholaa là một cô gái trẻ đầy láu lỉnh không thích những người Norman xâm chiếm quê hương cô. Cô sử dụng mưu kế để thoát khỏi tay Royce khi gia đình cô bị bắt giữ. Nhưng cuối cùng cô cũng bị anh nắm đượcnhược điểm và mang cô về Luân Đôn để Đức vua mang cô làm "Giải thưởng" ban tặng cho một hiệp sĩ xứng đáng. Nicholaa liên tục tìm cách chạy trốn và luôn bị bắt lại vì thế cô rất căm ghét Royce.  Vận mệnh xoay chuyển khi Đức vua quyết định Nicholaa là người "được" chọn thay vì là người "bị" chọn, và cô đã chọn Royce ... để trã đũa anh vì đã bắt giữ cô. Royce sẽ làm gì khi buộc phải nhận "Giải Thưởng" mà anh đã không mong đợi ? *** Julie Garwood sinh tại thành phố Kansas bang Missouri, Mỹ là tác giả khá thành công ở thể loại tiểu thuyết lãng mạn với hơn 27 đầu sách, 35 triệu bản in được phát hành trên khắp thế giới. Hơn 20 tác phẩm của bà lọt vào danh sách bán chạy nhất của tờ New York Times. Julie viết cả tiểu thuyết lịch sử - lãng mạn lẫn hiện đại lãng mạn pha trộn sự hồi hộp, gây cấn, trong đó có một cuốn tiểu thuyết dành cho giới trẻ có tựa đề A girl named Summer (Cô Nàng Mùa Hè). Một số tác phẩm nổi tiếng của Julie Garwood: Gentle Warrior (Chiến Binh Nhân Từ, 1985); A Girl Named Summer (Cô Nàng Mùa Hè, 1986); Prince Charming (Hoàng Tử Trong Mơ, 1994); Các sê-ri: Crown's Spies (Những Chàng Điệp Viên Hoàng Gia); Lairds' Brides (Những Nàng Dâu Quý Tộc); Highlands' Lairds (Những Quý Tộc Miền Cao Nguyên)... Lâu đài hạnh phúc (tựa gốc The Castle) là tác phẩm thứ tư trong sê-ri Crown's Spies của Julie Garwood gồm bốn cuốn nói về bốn anh chàng gián điệp của Chính phủ Anh vào thế kỷ 19, bao gồm: Lyon's Lady, Guardian Angel (Thiên thần hộ mệnh); The Gift và The Castle. Sách đã xuất bản và dịch tại Việt nam: Món Quà Tình Yêu Lâu Đài Hạnh Phúc Thiên Thần Hộ Mệnh Danh Dự Huy Hoàng Cô Nàng Sư Tử Rebellious Desire Kẻ Phá Đám Điều Bí Mật Sizzle The Ideal Man Shadow Music *** Khu vực ngoại thành Luân Đôn đã biến thành thiên đường của màu sắc. Những chiếc lều với sắc cờ của mỗi tướng quân rải rác trên những ngọn đồi nhìn xuống nơi diễn ra các trận đấu. Nơi đóng quân của Đức vua, phía bên kia, thì to lớn và sang trọng hơn những chỗ khác. Nicholaa cho rằng mọi người ở Anh đều đến tham dự. Phụ nữ mặc những chiếc áo dạ tiệc sang trọng nhất, đi dạo bên cạnh khu vực cưỡi ngựa đấu thương để những người đàn ông có thể thấy họ. Trẻ em chạy từ xe đẩy này đến xe đẩy khác, vồ lấy bánh kẹo. Những người hát rong di chuyển xuyên qua đám đông, hát những khúc tình ca lãng mạn. Những người kể chuyện đang chăm chú quan sát mọi người để họ có thể ghi lại chính xác sự kiện lịch sử này trong tâm trí họ để thuật lại trong tương lai. Chỉ sáu tướng quân có được vinh dự mang người của họ đến tham gia vào cuộc đấu. Nếu tất cả các tướng quân đều được phép tham dự, thì lễ hội này sẽ kéo dài cả tháng hoặc hơn. Những người lính có kinh nghiệm được đấu trước. Nicholaa đứng trên đồi với Justin ở bên cạnh và tất cả những tân binh khác đứng sau lưng cô. Họ hoan hô cổ vũ cho Lawrence và nhóm của anh. Binh lính của Tướng quân Hanson gần như ngay lập tức bị đánh bại. Binh lính của Tướng quân George rời khỏi đấu trường tiếp theo. Đến chiều thì chỉ còn lại hai đội. Binh lính của Tướng quân Guy bây giờ sẽ đấu với người của Tướng quân Royce, như mọi người đã dự đoán. Nicholaa quá căng thẳng đến mức không thể hoan hô. Cô cũng không nhìn Lawrence. Cô cứ dán chặt ánh mắt của cô lên người chồng cô. Anh đứng bên lề đấu trường, đối diện với Guy ở phía bên kia sân. Mỗi lần Royce mỉm cười, Nicholaa khẽ thở dài nhẹ nhõm. Khi anh cau mày, ruột gan cô lại lộn nhào. Tiếng gầm rống điếc tai đột nhiên làm cô chú ý. Cô hướng về đấu trường. Bây giờ chỉ còn lại Lawrence và Henry. Thuộc cấp của Royce đang đứng trên người Henry. Tên lính của Guy nằm ngửa trên mặt đất. Mũi gươm của Lawrence chạm vào cổ Henry. Mặc dù vậy Lawrence không nhìn con mồi của anh. Anh đang nhìn chằm chằm vào Royce, chờ tín hiệu của anh. Nicholaa nín thở. Royce tận hưởng khoảnh khắc quyết định ngọt ngào của anh. Sự im lặng bao trùm đám đông. Royce hướng về Đứa vua của anh, bắt được nụ cười của ông, rồi cuối cùng quay lại về phía Lawrence. Cuối cùng Royce lắc đầu. Lawrence ngay lập tức lùi khỏi Henry, cho hắn đủ chỗ để đứng dậy và rời khỏi đấu trường. Lawrence không mất nhiều thời gian để đánh bại Morgan. Nicholaa nghĩ là Lawrence không muốn mất thời gian để đùa giỡn với hắn ta. Anh đánh hắn bất tỉnh trong vòng mười phút. Bây giờ chỉ còn lại lính của Royce ở trên sân. Họ sắp hàng và đi đến gần tướng quân của họ. Bước đi của họ thật kiêu ngạo, nụ cười toét miệng của họ thật ấn tượng. Royce không để lộ chút phản ứng gì với chiến thắng. Khi binh lính của anh đến chỗ anh, anh chỉ gật đầu, sau đó quay lại và đi đến chỗ của Đức vua. Những binh sĩ của anh đi theo sau anh. William đứng lên, đưa tay ra dấu im lặng, và rồi công bố trong tiếng la hét rằng một lần nữa binh sĩ của Tướng quân Royce đã chứng tỏ sự ưu việt của họ. Họ sẽ được tưởng thưởng thích đáng. Tiếng hoan hô vang dậy. ... Mời các bạn đón đọc Giải Thưởng Bất Ngờ của tác giả Julie Garwood.