Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Chuyển Tàu

Với NGƯỜI CHUYỂN TÀU, ngòi bút của nhà văn đã hóa thành dao trổ, Christopher Isherwood như một điêu khắc gia thuần thành giới thiệu với công chúng pho ngẫu tượng độc đáo bậc nhất trong bộ sưu tập nhân vật văn chương - ngài Arthur Norris: một Đảng viên cánh tả có nết khổ dâm; lịch lãm phong lưu nhưng lại là một tay lừa đảo thành thần; nợ nần chồng chất nhưng lại rất ưa hưởng thụ xa hoa. *** Christopher Isherwood (1904-1986) là một tiểu thuyết gia lớn người Mỹ gốc Anh của thế kỷ 20, người có những đóng góp tích cực trong phong trào đấu tranh quyền lợi cho người đồng tính với hơn 40 tác phẩm được xuất bản rộng rãi trên toàn thế giới. Các tác phẩm do Tao Đàn xuất bản: - Người Chuyển Tàu - Từ Biệt Berlin - Hoa Tím Ngày Xưa - Một Con Người - Chuyện Ở Berlin   *** Ấn tượng đầu tiên của tôi là đôi mắt người lạ kia mang một sắc xanh nhạt bất thường. Chúng chạm ánh mắt tôi trong vài giây, trống rỗng, hoang hoải, rõ ràng là đang sợ hãi. Thảng thốt và ngây thơ vô số tội, chúng thoáng gợi nhắc tôi tới một sự kiện mà tôi không thể định rõ; một điều gì đó đã xảy ra lâu lắm rồi, mãi từ hồi học trung học. Chúng là đôi mắt của một cậu học sinh sửng sốt khi đã vi phạm nội quy. Rõ ràng, tôi chẳng bắt quả tang được ông điều gì ngoài chính những suy nghĩ của ông: có lẽ ông tưởng rằng tôi có thể nhìn thấu chúng. Bất luận thế nào thì có vẻ như ông đã không nghe thấy hoặc nhìn thấy tôi bước đến chỗ ông trên toa tàu, vì ông giật bắn mình khi vừa nghe giọng của tôi; dữ dội tới mức vẻ rúm ró lo lắng của ông dội ngược lại tôi như tiếng vọng. Theo bản năng, tôi lùi lại một bước. Cảm giác giống hệt như thân thể chúng tôi vừa đụng vào nhau trên phố. Cả hai đều bối rối, cả hai đều sẵn sàng xin lỗi. Mỉm cười, lo lắng trấn an ông, tôi nhắc lại câu hỏi của mình: “Ngài có thể cho tôi châm nhờ điếu thuốc được chứ?” Kể cả lúc này, ông cũng không trả lời ngay. Có vẻ như ông đang mải mê làm phép tính nhẩm nào đó, những ngón tay lo lắng giật liên hồi, nguệch ngoạc những đường tròn mông lung trên chiếc áo gi-lê. Thoạt nhìn, tựa hồ như ông chuẩn bị cởi áo, rút khẩu súng lục, hoặc đơn giản là muốn đảm bảo tôi đã không thó tiền của ông. Rồi giây phút kích động lướt khỏi ánh nhìn của ông, như gợn mây trôi, trả lại bầu trời quang đãng. Cuối cùng ông đã hiểu điều tôi muốn: “Vâng, vâng. Ờm - dĩ nhiên là được. Dĩ nhiên.” Vừa nói ông vừa khẽ chạm đầu ngón tay vào thái dương bên trái, húng hắng rồi đột nhiên mỉm cười. Nụ cười của ông rất có sức hút. “Dĩ nhiên rồi,” ông nhắc lại. “Rất hân hạnh.” Một cách tao nhã, ông nhón tay lục tìm trong túi áo gi-lê của bộ vét xám phẳng phiu có vẻ đắt tiền, rút ra một chiếc bật lửa màu vàng. Đôi bàn tay của ông trắng, nhỏ và được tỉa móng gọn ghẽ. Tôi mời ông thuốc lá. “Ờm… cảm ơn cậu. Cảm ơn.” “Mời ngài châm trước.” “Ấy thôi, thôi. Mời cậu.” Ngọn lửa bé xíu trên chiếc bật lửa chập chờn giữa chúng tôi, mong manh như bầu không khí khách sáo quá đỗi giữa đôi bên. Chỉ cần một hơi thở nhẹ cũng đủ làm dập tắt thứ này, chỉ một cử chỉ hay câu từ xuề xòa cũng có thể phá tan thứ kia. Cả hai điếu thuốc giờ đã được châm. Chúng tôi ai lại về chỗ nấy. Người lạ kia vẫn đang ngờ vực tôi. Ông vẫn đang băn khoăn liệu mình đã đi quá trớn, đã tự đẩy mình về phía một gã nhàm chán hoặc một tay lừa lọc. Tâm hồn rụt rè của ông chực chờ ngơi nghỉ, về phần mình, tôi chẳng có gì để đọc. Tôi tiên lượng một hành trình câm lặng tột cùng kéo dài bảy, tám tiếng. Tôi quyết tâm nói chuyện. “Ông có biết khi nào chúng ta tới biên giới không?” Nhìn lại đoạn hội thoại, câu hỏi này với tôi dường như chẳng hề có chút bất thường. Đúng là tôi chẳng quan tâm tới câu trả lời; tôi chỉ đơn thuần muốn hỏi một cái gì đó có thể mào đầu cuộc tán gẫu, và đồng thời không quá thóc mách hay sỗ sàng. Tác động của câu hỏi lên người lạ kia thật đáng kể. Chắc hẳn tôi đã khiến ông hứng thú. Ông liếc nhìn tôi hồi lâu, vẻ cổ quái, khuôn mặt ông dường như căng cứng đôi chút. Đó là cái nhìn của tay chơi bài xì tố đột nhiên phán đoán đối thủ của gã đang nắm tay bài thùng phá sảnh* và rằng gã tốt hơn hết là nên cẩn thận. Hồi lâu ông mới đáp lời, từ từ và thận trọng: “Tôi e là tôi không thể nói cho cậu chính xác được. Khoảng một giờ nữa, tôi nghĩ thế.” Ánh mắt của ông, trong giây lát trống rỗng, lại trở nên mù mịt. Một suy nghĩ khó chịu dường như đang trêu chọc ông như con ong vò vẽ; ông khẽ nghiêng đầu tránh nó. Rồi ông nói thêm, u ám đến bất ngờ: “Mấy cửa khẩu kiểu này… đúng là phiền toái kinh khủng.” Tôi không chắc nên đón nhận lời này như thế nào. Tôi chợt nghĩ có lẽ ông là một người theo chủ nghĩa quốc tế ôn hòa; một thành viên của Hội Quốc Liên*. Tôi đánh liều: “Chúng nên bị dẹp bỏ.” “Tôi khá nhất trí với cậu. Thực sự nên thế.” Rõ ràng ông ta đang tỏ ra thân thiện. Ông có chiếc mũi tròn ủng và một chiếc cằm có vẻ bị lệch, giống như cái đàn concertina bị hỏng. Khi ông nói, nó giật dúm lại vô cùng kì quặc và vết cằm chẻ sâu hoắm như một vết thương đột nhiên xuất hiện lệch một bên. Phía trên gò má đỏ lựng của ông, vầng trán trắng loáng góc cạnh như đá cẩm thạch. Tóc mái màu muối tiêu cắt lem nhem vắt ngang, gọn, dày và nặng. Sau một hồi ngắm nghía, tôi nhận ra, với niềm hưng phấn cao độ, rằng ông ta đang đội tóc giả. “Nhất là ba cái trò hành chính quan liêu,” tôi tiếp bước thắng lợi, “kiểm tra hộ chiếu, đại loại thế.” Nhưng không. Câu này không ổn. Tôi ngay lập tức nhận ra từ vẻ mặt của ông rằng mình vừa gẩy một nốt nhạc chối tai. Chúng tôi đang nói thứ ngôn ngữ na ná nhưng khác biệt. Vậy mà lần này phản ứng của người lạ kia lại không phải là ngờ vực. Ông hỏi, với vẻ thẳng thắn khó hiểu và tò mò không giấu diếm: “Đã bao giờ cậu gặp vấn đề ở đây chưa?” Bản thân câu hỏi không khiến tôi thấy kì lạ bằng chính giọng điệu hỏi của ông. Tôi mỉm cười giả lả. “Ô không. Ngược lại thì đúng hơn. Thường họ đâu có thèm mở cái gì, còn hộ chiếu của ông họ chẳng thèm nhìn qua.” “Thật mừng khi cậu nói thế.” Ông chắc hẳn đã đọc thấy trên mặt tôi những gì tôi đang nghĩ, vì ông vội vã tiếp lời: “Có thể tôi hơi nực cười, nhưng tôi rất ghét bị quấy rầy và làm phiền.” “Dĩ nhiên. Tôi hiểu.” Tôi nhe răng cười, bởi tôi vừa đi đến một lời giải thích thỏa đáng cho hành vi của ông ta. Ông bạn già này đang dính vào một phi vụ buôn lậu nho nhỏ vô hại. Có lẽ là một mảnh lụa cho vợ hoặc một hộp xì gà cho bạn. Và dĩ nhiên, ông đang bắt đầu thấy sợ. Rõ ràng nom ông dư sức trả bất kì khoản thuế nào. Đám nhà giàu quả là có những sở thích lạ lùng. “Vậy là ông chưa bao giờ đi qua cửa khẩu này?” Tôi cảm thấy bản thân tử tế, bảo bọc và trịch thượng. Tôi sẽ động viên ông, và nếu tình hình tệ quá thì phím trước cho ông mấy lời nói dối hợp lý để làm mềm lòng nhân viên hải quan. “Mấy năm gần đây thì không. Tôi thường di chuyển nội trong nước Bỉ. Vì nhiều lý do. Vâng.” Ông lại có vẻ mơ hồ, im tiếng, và nghiêm trang gãi cằm. Đột nhiên, có thứ gì đó dường như thôi thúc ông nhận thức sự có mặt của tôi: “Có lẽ theo thủ tục thì tôi nên tự giới thiệu. Arthur Norris, người Gent. Tôi sống tự lập, nhờ vào thu nhập từ bất động sản.” Ông cười khúc khích vẻ lo lắng, rồi đột ngột thốt lên cảnh báo. “Xin đừng đứng dậy.” Nếu muốn bắt tay mà không di chuyển thì xa quá. Chúng tôi đành thỏa hiệp bằng một cái cúi người lịch sự từ chỗ ngồi. “Tôi là William Bradshaw,” tôi nói. “Ôi trời, đừng nói cậu là người nhà Bradshaw ở Suffolk đấy nhé?” “Tôi đồ rằng đó chính là nhà chúng tôi. Trước Chiến tranh*, chúng tôi sống ở Ipswich.” “Thế bây giờ thì sao? Cậu còn sống ở đấy không? Có lần tôi từng sống cùng với một bà tên là Hope-Lucas. Bà ấy có ngôi nhà đáng yêu gần Matlock. Bà ấy mang họ Bradshaw trước khi kết hôn.” “Vâng, đúng vậy. Đó là bà dì Agnes của tôi. Bà mất bảy năm trước rồi.” “Vậy sao? Ôi, ôi. Tôi rất lấy làm tiếc… Dĩ nhiên, tôi quen bà từ khi tôi còn là thanh niên; lúc đó bà ấy đã trung niên rồi. Với lại nhắc cho cậu khỏi quên, tôi đang nói hồi năm 98* ấy.” Từ nãy đến giờ tôi ngấm ngầm soi xét mái tóc giả của ông. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy mái tóc giả nào được làm khéo đến thế. Phía sau gáy, nơi tóc giả tóc thật được chải lẫn với nhau, trông thật hài hòa. Chỉ có phần rẽ ngôi là khiến nó bại lộ, mà thực ra nhìn từ cách xa ba, bốn mét thì cũng không quá kệch cỡm. “Thật là…” Ông Norris trầm tư. “Ôi chao, đúng là trái đất tròn.” “Chắc ông chưa từng gặp mẹ tôi? Hay cậu tôi, ngài đô đốc?” Lúc này tôi đành hạ cố chơi bài quan hệ. Nó tẻ nhạt nhưng thư giãn, lại có thể kéo dài hàng giờ. Chưa gì tôi đã thấy cả chuỗi những nước đi ngon ăn phía trước - các cậu, các dì, anh em họ, đám cưới của bọn họ, gia tài của bọn họ, thuế thừa kế, tài sản thế chấp, doanh số. Rồi tới trường tư thục và đại học, so sánh về đồ ăn, trao đổi giai thoại về những chuyên gia, các trận đấu nổi tiếng và những cuộc đua thuyền trứ danh. Tôi biết đích xác chủ đề nào phải nói bằng giọng lưỡi nào. Nhưng, ngạc nhiên thay, rốt cuộc ông Norris không có vẻ muốn chơi trò này. Ông vội vã đáp lời. “Tôi e là không. Không. Kể từ cuộc chiến, tôi mất liên lạc với kha khá bạn bè người Anh. Vì công chuyện làm ăn nên tôi đi nước ngoài suốt.” Cụm từ “đi nước ngoài” khiến cả hai chúng tôi tự nhiên ngó ra ngoài cửa sổ. Hà Lan đang trôi qua tầm nhìn của chúng tôi êm đềm như cơn mơ sau bữa tối: một vùng đất lầy bình lặng, bao quanh là tuyến xe điện chạy dọc bờ đê. “Ông biết đất nước này rõ không?” Tôi hỏi. Kể từ khi nhận ra bộ tóc giả, tôi nhận thấy không thể nào tiếp tục gọi ông là ngài. Vả lại, nếu ông ấy có đội nó lên để nom trẻ trung hơn thì cũng thật vô ý vô tứ khi cứ cố chấp nhấn mạnh sự chênh lệch tuổi tác giữa chúng tôi. “Tôi biết Amsterdam khá rõ,” ông Norris len lén gãi cằm. Ông có cái kiểu vừa gãi vừa hé môi như thể đang cau có bất mãn, nhưng lại không hung bạo, tựa như con sư tử già trong chuồng. “Khá rõ, đúng thế.” “Tôi cũng muốn đến đó lắm. Chắc hẳn rất tĩnh lặng và yên bình.” “Trái lại, tôi có thể đảm bảo với cậu rằng đó là một trong những thành phố nguy hiểm nhất châu Âu.” “Thật sao?” “Đúng thế đấy. Gắn bó sâu đậm với Amsterdam, tôi vẫn luôn cho rằng nó có ba điểm trừ chí mạng. Thứ nhất, cầu thang trong nhiều ngôi nhà quá dốc đến mức phải là một tay leo núi chuyên nghiệp mới có thể leo thang mà không bị trụy tim hoặc gãy cổ. Thứ hai, đám đi xe đạp. Bọn này hăm hở đạp khắp thành phố rồi lấy đó làm tự hào mà không thèm quan tâm tới mạng người. Mới sáng nay thôi tôi vừa thoát chết trong gang tấc. Và thứ ba, kênh đào. Vào mùa hè, cậu biết không… hôi thối không chịu được, ôi, thối đến phát mửa. Có kể cả ngày cũng chẳng hết. Hàng tuần giời không lúc nào tôi không đau họng.” Đến lúc chúng tôi tới Bentherim, ông Norris đã trình bày hẳn một bài diễn thuyết về những bất lợi của hầu hết các thành phố lớn ở châu Âu. Tôi kinh ngạc khi biết ông đã chu du nhiều đến thế. Ông đã chịu đựng bệnh thấp khớp ở Stockholm và hạn hán ở Kaunas; ở Riga ông buồn chán, ở Warsaw ông bị đối xử khiếm nhã tột cùng, ở Belgrade ông không thể mua được nhãn hiệu kem đánh răng ưa thích. Ở Rome ông bị côn trùng quấy phá, ở Madrid ông bị ăn xin vòi vĩnh, ở Marseilles ông khó chịu vì tiếng còi xe taxi. Ở Bucharest ông đã có trải nghiệm vô cùng khó chịu với cái cầu tiêu. Ở Constantinopole ông thấy xa xỉ và nhạt nhẽo. Hai thành phố duy nhất ông cực kì khen ngợi là Paris và Athens. Đặc biệt là Athens. Athens là thánh địa của ông. Tới giờ, con tàu đã dừng lại. Những người đàn ông mập mạp tái nhợt trong bộ đồng phục xanh dương đi tới đi lui trên sân ga với vẻ nhàn nhã có phần thâm hiểm, làm nên phong thái quan chức ở các ga cửa khẩu. Họ chẳng khác gì những kẻ giám ngục. Tựa hồ như chúng tôi không một ai được phép đi xa hơn. Mời các bạn đón đọc Người Chuyển Tàu của tác giả Christopher Isherwood & Ngô Hà Thu (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Độc Chiếm Hoa Khôi - Tam Ngôn Nhị Phách
"Tam ngôn", "Nhị phách" có nét mộc mạc của loại văn học thông tục song đọc rất hấp dẫn. Các tác phẩm ưu tú đều có cốt truyện hoàn chỉnh, tình tiết khúc chiết, chi tiết phong phú, khắc họa cá tính nhân vật rất rõ. Về thủ pháp nghệ thuật, hai bộ sách này rõ ràng là tinh tế hơn loại thoại bản nhiều, có thể thấy sự gọt giũa kỹ lưỡng khi miêu tả hoàn cảnh, động tác, đối thoại, chi tiết, đặc biệt là có chú ý miêu tả tâm lý. Nhiều chỗ miêu tả hoạt động tâm lý rất sinh động. Như chàng Tần Trọng trong "Độc chiếm hoa khôi", gặp người đẹp thấy mê mẩn tâm thần, thấy nàng thân ái, bụng cũng tự tin, song nghĩ thân phận mình lại thấy tự ti rất muốn cầu thân lại lo cầu chẳng được, cứ băn khoăn khắc khoải mãi, bao rối rắm phức tạp trong tận đáy lòng được khắc họa tường tận vừa hợp lý vừa hợp tình... Nghệ thuật miêu tả tâm lý là một bước tiến triển rất quan trọng, vì trước kia, các loại truyền kỳ, chí quái, các loại sử truyện, thoại bản thường chỉ chú trọng miêu tả ngôn hình bên ngoài, ít tả hoạt động tâm lý của các nhân vật. "Tam ngôn", "Nhị phách" đã mở ra một hướng khai thác mới cho nghệ thuật tiểu thuyết phát triển sau này. *** TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC Tinh hoa văn học của nhân loại nào cũng cần được khám phá và tái khám phá. Mỗi tác phẩm lớn là một xứ sở kỳ diệu và mỗi lần ta tìm đến là thực hiện một cuộc phiêu lưu hoan lạc. Dịch thuật, giới thiệu và biên khảo về những tác phẩm tinh hoa sẽ mở ra các lối cổng dẫn vào những cảnh tượng văn chương khác nhau, qua những không gian và thời gian vừa hiện thực vừa kỳ ảo. Khát vọng hiểu biết và vui thú trong đời là bản tính của con người ở mọi nơi và mọi thời. Các tác phẩm văn chương thật sự vĩ đại đều mang lại hai điều đó: vui thú và hiểu biết. Nhưng hiểu biết là niềm vui hiếm khi tự đến một cách dễ dãi. Cần đón đợi và hồi đáp. Mọi tác phẩm tinh hoa cần được đón đợi và hồi đáp trong niềm hân hoan có tên là “ĐỌC”. ĐỌC. Cầm sách lên và đọc. Trong sách có bạn hiền, có người đẹp, có mọi thứ. Do vậy, chúng tôi chủ trương TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC, xem đó như cửa ngõ của hiểu biết và niềm vui. CÓ NĂM CỬA: • Kiệt Tác: Mỗi Kiệt tác sẽ được dịch trọn vẹn và giới thiệu cả tác giả lẫn tác phẩm trong phối cảnh văn hóa những đặc điểm thiết yếu. • Tuyển: Tuyển chọn những tác phẩm ngắn của một tác giả, một nền văn học hay một chủ đề mang tính điển mẫu (thuộc vòng đời hay vòng mùa) • Kiến Thức: Những kiến thức mà người đọc hiện đại cần có: trào lưu văn học, các nền văn học, thể loại... được trình bày gọn nhẹ, dễ tiếp nhận. • Nghiên Cứu: Các công trình chuyên sâu về một vấn đề văn học, một tác giả thiên tài, lý luận phê bình... • Mới: Về các hiện tượng văn học mới xuất hiện của nước ngoài đang gây chú ý hoặc đoạt các giải thưởng lớn... Mong ước chúng tôi là TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC sẽ tiến bước bền vững và được đón nhận thân tình. Tủ sách được biên soạn và dịch thuật từ những nhà giáo, dịch giả và nhà nghiên cứu có uy tín và tâm huyết với văn chương. Mời các bạn đón đọc Độc Chiếm Hoa Khôi của tác giả Tam Ngôn Nhị Phách.
Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập - Alexandre Dumas
Ba chàng lính ngự lâm (tiếng Pháp: Les trois mousquetaires) là một tiểu thuyết của nhà văn người Pháp Alexandre Dumas cha, là cuốn đầu tiên của bộ ba tập truyện gồm: Ba Chàng Lính Ngự Lâm Hai Mươi Năm Sau Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm eBook Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập này gồm trọn bộ ba cuốn trên. Bộ tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu của chàng lính ngự lâm d'Artagnan, từ lúc anh còn trẻ cho đến lúc già. "Ba người lính ngự lâm" là cuốn nổi tiếng nhất và cũng là hay nhất trong bộ ba, đã được dựng thành phim nhiều lần, cũng như phim truyền hình, phim hoạt hình Pháp, và hoạt hình Nhật Bản. *** Lời người làm ebook:   Hiện tại ebook và đọc online của bộ ba tác phẩm này trên tất cả các trang web đều sai nhiều (đều cop bản đánh máy bên Vnthuquan). Bản ebook này đã được sửa lại các sai sót dựa theo sách in, và điều khác sách in là các từ phiên âm đã được trả về theo nguyên tác. P/s: Trước đây tôi đã sửa cho 2 cuốn đầu, nhưng khi làm cuốn 3 tôi đã sửa thêm lỗi. Nếu ai đọc phát hiện sai sót, hãy thông báo, tôi sẽ sửa tiếp. - A Còng Văn Càng. • Đã sửa: - Thay thế toàn bộ từ phiên âm - Bổ sung các đoạn thiếu và gõ sai câu văn - Sửa lỗi chính tả - Sắp xếp lại các lời thoại lộn xộn - Chỉnh danh từ, địa danh, tước vị sai • Nguồn text: Vnthuquan • Ebook: @inno14  • Bìa: @inno14 & @Ngọc Sơn • Thay từ phiên âm: @V/C & @chichi.myluckycharm • Soát sửa & Biên tập: @V/C *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ 3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây, người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền nong đầy đủ cho vài người. Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông ngay khi ông qua đời. Hugo viết: “Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha”. Ông cũng là người đại lượng, năm 1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hòa. Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà Hát Kịch Lịch Sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa. Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất nhiều công sức và tiền bạc. Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị Viện đều thất bại, ứng cử vào Hội Quốc Ước thì chỉ được 261 phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính của Napoléon III. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) Mời các bạn đón đọc Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập của tác giả Alexandre Dumas.
Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông - Kazuo Ishiguro
Dạ khúc là một chuỗi năm truyện ngắn không liên quan về tình tiết, nhưng hợp lại thành tổng thể quanh một chủ đề chung: “âm nhạc và đêm buông”. Xuất hiện trong Dạ khúc là một dàn nhân vật toàn cầu với những câu chuyện đặt trong những bối cảnh khác nhau. Một nhạc công ghi ta quê Đông Âu chật vật tìm chỗ đứng ở quảng trường Venice. Một nhóm bạn bè đại học gặp lại nhau ở London khi tuổi trẻ đã gần cạn, nhớ lại thời sinh viên xa xôi giữa tình yêu âm nhạc và những say mê lý tưởng. Một nhạc sĩ trẻ trốn nền công nghiệp âm nhạc London về khu đồi Malvern của tuổi thơ mình, tình cờ gặp gỡ cặp vợ chồng nhạc công Thụy Sĩ. Một tay kèn saxo Mỹ tài cao nhưng phận thấp, đụng độ giới giao tế trong khách sạn ở Beverly Hills. Một nghệ sĩ cello Hungary ôm mộng thiên tài giữa lúc dùng tiếng đàn kiếm miếng ăn. Những con người thuộc những giai tầng xã hội rất khác, được kết nối với nhau, và với người đọc, bằng âm nhạc - thứ ngôn ngữ quốc tế chung cho mọi tâm hồn. Nhưng đó không phải thứ âm nhạc công cộng hoành tráng hay âm nhạc thính phòng sang trọng, mà là âm nhạc vào thời khắc lặng lẽ, chiêm nghiệm riêng tư. Trong mỗi câu chuyện có sự đụng chạm rất khẽ giữa hai thế giới: thế giới cá nhân nhỏ bé nhưng chân thực, nơi các ước vọng hoài bão còn ấp ủ, và thế giới của thành công, hào nhoáng, nơi các ước vọng đã thành hiện thực, nhưng cũng có quá nhiều điều có thể mất đi. Nỗi lưu luyến của mỗi nhân vật với thế giới thứ nhất, và khao khát nhưng e dè trước thế giới thứ hai, khiến ta nhớ lại bài hát của cô bé trong Mãi đừng xa tôi, và khiến mỗi câu chuyện đều nhuốm một vẻ buồn rầu dịu ngọt. Ishiguro từng theo đuổi âm nhạc thời trẻ, chơi nhạc đường phố trong ga điện ngầm ở Paris và gửi băng thu thử cho các hãng đĩa, khi đã thành nhà văn nổi tiếng, ông còn tham gia sáng tác cho một album nhạc jazz. Trong các tiểu thuyết của ông, âm nhạc vẫn thường xuất hiện làm bối cảnh phụ, hoặc một chi tiết quan trọng trong cốt truyện. Nay với Dạ khúc, Ishiguro được dịp khám phá trọn vẹn nỗi đam mê ngày trước, và ý nghĩa của nó trong đời sống của những con người hàng ngày mà mỗi độc giả đều có thể thấy mình trong đó. Về tác giả Kazuo Ishiguro Kazuo Ishiguro là một trong những nhà văn hàng đầu trong nền văn chương Anh đương đại. Sinh 8/11/1954 tại Nagasaki, gia đình ông chuyển tới Anh sống năm 1960, nơi ông lấy bằng cử nhân rồi thạc sĩ về sáng tác văn học. Năm 1982, Ishiguro chính thức nhập tịch Anh, cho ra đời tiểu thuyết đầu tay A Pale View of Hills, trở thành một cây bút trẻ sáng giá “ngang với Martin Amis, Salman Rushdie và Ian McEwan” (The Guardian). Hai cuốn sách đầu tiên của ông đều lấy bối cảnh ở Nhật, cuốn thứ hai, An Artist of the Floating World (1986), bắt đầu chuỗi giải thưởng dồn dập đổ xuống ông. Bốn trên sáu tiểu thuyết của Ishiguro đã được đề cử Booker, gần nhất là Never Let Me Go (2005, Nhã Nam ấn hành 2008 dưới tên Mãi đừng xa tôi) chỉ đứng sau cuốn Biển của John Banville. Cuốn sách được giải thực sự là The Remains of the Day (1989), được dựng thành phim năm 1993 có Anthony Hopkins và Emma Thompson đóng với 8 đề cử Oscar. Kazuo Ishiguro có viết truyện ngắn rải rác trên các báo, nhưng Dạ khúc là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Đây cũng là cuốn sách mới nhất ông xuất bản năm 2009.
Bị Thiêu Sống - Souad
Một cô gái quê sống ở ngôi làng hẻo lánh xứ Cisjordaine, Palestine, bị đánh đập dã man hàng chục năm, bị gia đình tẩm xăng đốt cháy vì không chồng có con. Tác phẩm 'Bị thiêu sống' là hồi ký rung động lòng người về tội ác với phụ nữ. Cuốn hồi ký khá đặc biệt, bởi nhân vật chính không muốn nêu tên thật, không tiết lộ nơi ở hiện tại vì mối lo sợ bị truy đuổi và trả thù. "Một nơi nào đó ở châu Âu" và cái tên giả Souad là hai điều riêng nhất của người phụ nữ trong cuốn sách mà độc giả có thể hình dung. Như phần lớn các cô gái sống ở vùng nông thôn hẻo lánh của Palestine, Souad chỉ được xem như là nô lệ trong gia đình. Cô cùng mẹ, các chị em gái phải làm việc quần quật từ sáng đến tối trên cánh đồng, trên vườn nhà, trong xó bếp, chuồng cừu... Chỉ cần cô gái nói chuyện với người đàn ông ngoài gia đình, cô ta sẽ bị kết tội là charmuta (con đĩ) và mang nỗi nhục suốt đời. Khi nhận thức được cuộc sống quanh mình, Souad biết, sinh ra là con gái, điều đó có nghĩa là suốt đời phải cúi đầu vâng lệnh, nghe theo mọi chỉ dẫn, sai khiến của cha, anh em trai và sau này là người chồng. Sống trong tuổi thơ khiếp hãi và bị ám ảnh về cái chết chỉ vì mình "không có cái ấy giữa hai chân", Souad từng chứng kiến mẹ ruột của mình, vì trót sinh quá nhiều con gái nên những lần vượt cạn sau phải giết ngay đứa con lọt lòng, để chúng không trải qua nỗi tủi hổ khi lớn lên. Đến độ tuổi vừa chín của người con gái, Souad không thể nào lấy được chồng chỉ vì người chị trước của cô chưa có ai ngỏ lời cầu hồn. Tuyệt vọng, cô tìm mọi cách quyến rũ một người đàn ông với mong mỏi anh ta giải thoát mình khỏi cuộc sống hiện tại. Nhưng kết quả cô gái mười bảy tuổi nhận được là: ba lần bị buộc làm tình trong sợ hãi, một bào thai, bị người tình bỏ rơi và sự trừng phạt "vì danh dự" của dòng tộc. Jacqueline, một nhân viên của tổ chức nhân đạo Surgir (Thụy Sĩ) vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để giải thoát cô gái bị chính gia đình tẩm xăng đốt cho kỳ chết. Souad được đưa ra khỏi Palestine và cô là một trong những nạn nhân ít ỏi còn giữ được mạng sống, dù phải từ bỏ quê hương vĩnh viễn. Bên cạnh sức hấp dẫn đặc biệt từ thực tế rùng mình áp đặt lên người phụ nữ, Bị thiêu sống còn thu hút độc giả qua giọng văn giản dị, truyền cảm. Những đoạn miêu tả nội tâm của nhân vật lẫn miêu tả phong tục, sinh hoạt, nét văn hóa riêng của một làng quê Ảrập rất sống động, giàu hình ảnh. Nhà văn Marie Thérèse Cuny, người cộng tác với nhân chứng Souad thực hiện cuốn Bị thiêu sống, nhận xét: "Souad là người phát ngôn cho tất cả phụ nữ trên toàn thế giới là nạn nhân của thứ luật hà khắc do đàn ông đặt ra. Cô chính là vị anh hùng. Tôi rất vinh hạnh là người chấp bút cho cô". *** Tôi là một đứa con gái, và là con gái thì phải bước nhanh, đầu lúc nào cũng phải cuối xuống đất như thể đang đếm bước. Mắt không được nhìn lên, không được liếc sang phải hay sang trái trên đừờng đi. Vì nếu lỡ để ánh mắt mình bắt gặp ánh mắt của một người đàn ông thì sẽ bị cả làng gọi là “charmuta[1]” Nếu để một chị hàng xóm đã có chồng, một cụ già hoặc bất cứ một người nào khác bắt gặp cô gái đi một mình trong hẻm nhỏ, không có mẹ hay chị đi kèm, không dắt cừu, không đội bó rơm hay sọt đựng quả vả thì cũng bị gọi là “charmuta”. Con gái phải có chồng mới được phép nhìn thẳng về phía trước, mới được phép bước vào hàng quán, mới được phép tự nhổ lông và đeo nữ nữ trang. Khi bước sang tuổi mười bốn mà chưa có chồng như mẹ tôi thì người con gái bắt đầu bị cả làng chế nhạo. Nhưng muốn được lấy chồng thì phải đợi đến lượt mình. Chị cả trong nhà lấy trước, sau đó mới tuần tự đến các cô em. Trong nhà bố tôi có quá nhiều con gái, bốn đứa lớn đều đến tuổi lấy chồng. Ngoài ra còn có hai đứa em gái cùng cha khác mẹ do bà vợ hai của cha tôi sinh ra. Chúng vẫn còn nhỏ. Đứa con trai duy nhất trong gia đình mà ai cũng yêu quí là thằng Assad đã chào đời trong vinh quang giữa bấy nhiêu đứa con gái, nó là đứa thứ tư trong nhà. Tôi là đứa thứ ba. Cha tôi (ông tên là Adnan) vẫn tỏ ý không bằng lòng với mẹ tôi (bà tên Leila) bởi bà đã sinh cho ông quá nhiều con gái. Ông cũng không ưa bà vợ hai Aicha, vì bà này đẻ toàn con gái. Noura, chị cả tôi lấy chồng muộn, lúc tôi khoảng mười lăm tuổi. Chị thứ Kainat thì chẳng được người đàn ông nào hỏi đến.Tôi có nghe nói có người gặp cha tôi để dạm hỏi tôi nhưng tôi còn phải đợi chị Kainat đi lấy chồng thì mới dám nghĩ đến chuyện cưới xin của mình. Nhưng chị Kainat có lẽ không có nhan sắc mấy hoặc giả chị làm việc gì cũng chậm chạp....Tôi không rõ tại sao chị không được ai hỏi đến nhưng nếu chị ế chồng và trở thành gái già thì chị sẽ bị cả làng chế giễu và tôi cũng sẽ bị như vậy. Từ ngày đầu óc tôi ghi nhớ được sự việc, tôi nhận ra mình chưa một lần được sung sướng, được chơi đùa. Sinh ra là con gái trong làng tôi là một điều bất hạnh. Niềm mơ ước tự do duy nhất là lấy chồng. Rời nhà cha mẹ đẻ để về nhà chồng và không bao giờ được phép quay lại dù có bị chồng đánh đập. Con gái có chồng mà trở về nhà cha mẹ là một điều sỉ nhục. Cũng không được phép xin một nhà nào khác che chở.Gia đình người con gái có nghĩa vụ đưa con gái trở lại nhà chồng. Chị cả tôi bị chồng đánh đập dám quay về thở than khóc lóc khiến cả nhà tôi mang nhục. Có được một tấm chồng là cái may của chị. Tôi vẫn mơ ước được như thế. Từ hôm nghe có người đến gặp cha tôi xin cưới tôi, tôi đâm ra vừa tò mò vừa bồn chồn. Tôi biết anh ấy chỉ cách nhà tôi ba bốn bước chân. Thỉnh thoảng khi lên sân thượng phơi quần áo tôi vẫn thoáng thấy anh. Tôi biết anh có một chiếc ôtô, mặc âu phục, tay lúc nào cũng xách cái cặp nhỏ đựng giáy tờ và anh làm việc ngoài thành phố, một công việc khá tốt vì anh không bao giờ ăn mặc như công nhân mà luôn luôn chỉnh tề, sang trọng. Tôi rất muốn được nhìn mặt anh rõ hơn nhưng lại sợ bị gia đình bắt gặp tôi đang ngóng anh. Vì thế, khi đi lấy rơm cho một con cừu ốm ở ngoài chuồng, tôi bước thật nhanh trên đường với hy vọng nhìn thấy anh gần hơn. Nhưng anh lại đỗ xe xa quá. Nhờ quan sát, tôi đại khái biết được mấy giờ anh đi làm. Bảy giờ sáng, tôi giả vờ lên sân thượng thu quần áo hay nhặt một quả vả chín hoặc giũ tấm chăn để được, trong một thoáng chốc không đầy một phút, nhìn thấy anh bứơc lên ôtô đi làm. Tôi phải thật nhanh để không ai chú ý. Tôi lên cầu thang, băng qua mấy gian phòng để ra tới sân thượng, vừa cầm một tấm thảm giũ mạnh vừa đưa mắt nhìn qua bức tường xi măng, liếc nhẹ sang phải. Từ xa nếu có ai trông thấy cũng không thể ngờ là tôi đang ngó xuống đường. Thỉnh thoảng tôi cũng có đủ thời gian nhìn thấy anh. Tôi đâm ra phải lòng anh cùng chiếc ôtô của anh! Đứng trên sân thượng, tôi tưởng tượng ra khối chuyện: tôi kết hôn với anh và như hôm nay, tôi nhìn theo chiếc ôtô cho đến khi khuất bóng nhưng đến chiều, khi mặt trời lặn, anh sẽ trở về từ nơi làm việc. Tôi sẽ cởi giày cho anh và tôi sẽ quì xuống lau chân cho anh như mẹ tôi vẫn thường làm cho cha tôi. Tôi sẽ pha trà mời anh, sẽ nhìn anh ngồi oai vệ như một ông vua phì phà chiếc tẩu dài ngay trước cửa nhà. Tôi sẽ là một phụ nữ có chồng! Và thậm chí tôi có thể trang điểm, dạo phố mua hàng, cùng chồng ngồi vào xe và lên thành phố. Tôi sẵn sàng chịu đựng mọi điều tệ hại nhất, miễn là khi nào thấy muốn, tôi được tự do một mình bước qua cánh cửa kia để đi mua bánh mì! Nhưng tôi sẽ không bao giờ là một “charmuta”. Tôi sẽ không nhìn những người đàn ông khác, tôi sẽ tiếp tục bước nhanh, giữ người thẳng, vẻ kiêu hãnh, nhưng không đếm bước, mắt vẫn nhìn xuống và cả làng không ai còn có thể nói xấu tôi bởi lẽ tôi đã có chồng. Câu chuyện kinh khủng của tôi bắt đầu ngay trên cái sân thượng ấy. Tôi đã nhiều tuổi hơn chị cả tôi nếu so với ngày chị ấy lấy chồng, và tôi đã hy vọng để rồi thất vọng. Dạo ấy tôi khoảng mưới tám tuổi hay hơn. Tôi cũng không biết nữa. Ký ức tôi đã tan thành mây khói ngay hôm hoả hình ập xuống đầu tôi. Chú thích [1] Charmuta (Tiếng Ả Rập): Đồ lăng loàn, con đĩ. ... Mời các bạn đón đọc Bị Thiêu Sống của tác giả Souad.