Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Jude Kẻ Vô Danh

Một câu chuyện đời, cũng là một chuyện tình, rất đỗi đau thương. Jude làm tôi nhớ tới Kiếp người của Somerset Maugham. Nhưng Philip Carey rốt cuộc cũng tìm được hạnh phúc muộn màng, còn Jude cả đời phấn đấu, mà không vẫn hoàn không. Nada y pues Nada. Kính mừng hư vô toàn hư vô. Những nhà phê bình Anh Mỹ nói rất nhiều điều, nhiều khía cạnh về tác phẩm này, nhưng họ bỏ quên một điều: Ý nghĩa của Hư vô bàng bạc mênh mang trong Jude. *** [Review sách hay] Jude – Kẻ Vô Danh: Cơ hồ một tình yêu lý tưởng  ELLE Team Đăng ngày: 19/02/2020 15:00:54 Hiếm có một tình yêu nào vừa trong trẻo, vừa cuồng nhiệt, vừa đẫm bi kịch như mối tình của Jude Fawley và Sue Bridehead, hai nhân vật chính trong cuốn tiểu thuyết cuối cùng, “Jude – Kẻ vô danh” của tiểu thuyết gia kinh điển người Anh Thomas Hardy. Không trái ngang vì gia đình như Romeo và Juliet, không dữ dội đầy hoang dã như Heathcliff và Catherine trong Đồi gió hú, không hề được một chút kết thúc có hậu như Elizabeth và Darcy trong Kiêu hãnh và định kiến, chuyện tình yêu của Jude và Sue, gần chạm đến mức lý tưởng, kể về hạnh phúc thoáng qua trong một chuỗi những khổ đau và dằn vặt của cặp đôi chống lại định chế xã hội thủ cựu và gia trưởng, để rồi bị chính thời đại đè bẹp. Jude, một cậu bé mồ côi cha mẹ, được cô nuôi nấng lớn lên ở làng Marygreen, một làng cổ ở nước Anh thời Victoria. Tình cờ được một người thầy khai sáng về trường Đại học Christminter (mà nguyên mẫu vốn là Đại học Oxford), Jude đã mơ mộng dựng nên mục tiêu của đời mình là trở thành một vị giáo sư. Chính tại nơi mà từ bé đến lớn Jude vẫn luôn tự nhủ là nơi có cây tri thức mọc lên, Jude gặp Sue, cô em họ và tình yêu của đời mình. Dẫu đã bị bà cô can ngăn và gièm pha từ đầu, Jude gần như rơi vào lưới tình với Sue ngay từ cái nhìn đầu tiên. Jude không chỉ bị choáng ngợp bởi vẻ ngoài xinh đẹp của nàng mà còn bị mê mẩn bởi sự độc lập và phóng khoáng của kiểu phụ nữ mới. Sue tự lao động để trang trải chi phí cho mình. Nàng nhạy cảm, bốc đồng, thoát tục. Nàng đòi hỏi và ích kỷ. Và trên hết, Sue với những tư tưởng khai phóng về hôn nhân và tín ngưỡng, như một cơn bão ập tới cuốn phăng tinh thần của Jude. Mối tình tuyệt vọng mà Jude dành cho cô em họ sắc sảo và có phần tàn nhẫn trải qua muôn khúc thăng trầm. Nó hiện ra cực kỳ rõ nét dưới ngòi bút phân tích tâm lý bậc thầy của Hardy, mà đỉnh cao nhất có lẽ ở trường đoạn Jude với tình yêu thầm lặng, buộc phải chấp nhận lời yêu cầu của Sue: Đóng vai người cha của Sue trong hôn lễ để chúc phúc và trao tay nàng cho chồng nàng, chính là người thầy năm xưa đã khai sáng cho Jude về trường đại học, Richard Phillotson. Bền bỉ, tận tụy, không đòi hỏi, lý tưởng hóa người yêu nhưng đồng thời lại chấp nhận mọi mặt tốt xấu của nàng, tha thứ cho mọi lỗi lầm trong quá khứ, là cách mà Jude yêu Sue. Và có lẽ đấy cũng là lý do vì sao mối tình của Jude được so sánh với khái niệm tình yêu thuần khiết. Tình yêu của Jude và Sue tiến đến một bước ngoặt bất ngờ khi Sue nhận ra mình đã sai lầm thế nào khi đồng ý kết hôn, và xin phép chồng từ nay được sống với tình nhân là Jude. Công khai chống lại định kiến xã hội, chống lại mọi ràng buộc và nghĩa vụ về hôn nhân, đạo đức, tôn giáo, Sue muốn sống với tư cách nàng tự chọn, không phải tư cách mà xã hội hay bất cứ ai phân cho nàng. Hardy đã xây dựng một nhân vật nữ mang đầy cảm hứng nữ quyền, nơi người phụ nữ một mình chống lại cả xã hội nam quyền và không chịu bó buộc trong quy ước mà mọi người đều tuân thủ. Tình yêu của họ mạnh mẽ, lý tưởng là vậy, nhưng liệu họ có vượt qua được thực tế xã hội khắc nghiệt với những lời chỉ trích, những lần bị đuổi việc, bị đuổi khỏi nhà cho thuê chỉ vì lối sống quá khác? Sự chuyển mình từ xã hội Victoria đầy những quy tắc lỗi thời về đạo đức sang một xã hội hiện đại phóng khoáng hơn được ghi chép lại đầy tỉ mỉ trong Jude – Kẻ vô danh. Dẫu bị các nhà phê bình tấn công kịch liệt lúc mới ra đời, giờ đây, Jude – Kẻ vô danh luôn nằm trong danh sách các tác phẩm kinh điển bắt buộc phải đọc. Nó bao chứa không chỉ những chủ đề lớn của văn chương Anh thời Victoria mà còn nêu cao hình tượng người phụ nữ mới và phê phán những định kiến bóp nghẹt tình yêu và ước vọng. Nhóm thực hiện   Bài: Zét Nguyễn *** VỀ TÁC GIẢ Thomas Hardy (02/6/1840 - 11/01/1928) - tiểu thuyết gia, nhà thơ và nhà soạn kịch nổi tiếng người Anh - chào đời tại làng Higher Bockhampton, một trong những làng quê xa xôi hẻo lánh nhất của hạt Dorset, nước Anh. Ông là con cả trong số bốn người con của Thomas Hardy, một thợ xây, và Jemima, một thôn nữ có học thức. Ông lớn lên trong một ngôi nhà tranh nằm biệt lập ở rìa một cánh đồng thạch nam. Những trải nghiệm đầu đời của ông về đời sống nông thôn, với nhịp điệu theo mùa và nền văn hóa dân gian truyền khẩu, là nền tảng cho phần lớn các tác phẩm sau này của ông. Ông được mẹ dạy học tại nhà cho tới năm tám tuổi; sau một năm học ở trường làng, ông chuyển tới trường học ở Dorchester, một thị trấn gần đó. Tại đây ông đã tiếp thu được một nền tảng vững chắc về toán học và tiếng La-tinh. Năm 1856, ông trở thành người học việc của John Hicks, một kiến trúc sư địa phương; năm 1862, ông chuyển tới London và trở thành chuyên viên bản vẽ kỹ thuật trong văn phòng của Arthur Blomfield, một kiến trúc sư nổi tiếng. Do sức khỏe kém, năm 1867 ông trở về Dorset, lại làm việc cho Hicks và sau đó cho kiến trúc sư G.R. Crickmay ở thị trấn Weymouth. Dù nghề kiến trúc mang lại cho Hardy sự thăng tiến ở cả hai mặt kinh tế và xã hội, giữa những năm 1860, sự thiếu thốn tài chính và sự sụt giảm niềm tin tôn giáo buộc ông phải từ bỏ khát vọng học đại học và trở thành một linh mục. Ông bắt đầu tập trung vào sáng tác thơ, nhưng do các tác phẩm này bị từ chối xuất bản, ông miễn cưỡng quay sang sáng tác văn xuôi. Trong hai năm 1867-1868, ông viết tiểu thuyết đầu tay Gã nhà nghèo và nàng tiểu thư (The Poor Man and the Lady). Dù được ba nhà xuất bản ở London xem xét với sự cảm thông, tác phẩm này không bao giờ được xuất bản và thất lạc luôn. Sau đó, theo lời khuyên của George Meredith, một người điểm sách của nhà xuất bản, ông viết Các liệu pháp tuyệt vọng (Desperate Remedies - 1871), một tác phẩm chịu ảnh hưởng của dòng tiểu thuyết “cảm giác” của Wilkie Collins. Tuy nhiên, trong tác phẩm tiếp theo, Dưới tán cây xanh (Under the Greenwood Tree - 1872), Hardy đã tìm thấy giọng điệu riêng biệt của chính mình. Tháng 3/1870, Hardy được cử đến để trùng tu ngôi nhà thờ St. Juliot đổ nát ở Cornwall. Ông đã gặp Emma Lavinia Gifford, người trở thành vợ của ông bốn năm sau đó. Bà đã tích cực khuyến khích và hỗ trợ ông trong những nỗ lực văn chương, và cuốn tiểu thuyết kế tiếp của ông, Mắt biếc (A Pair of Blue Eyes - 1873), được viết dựa trên chính những trải nghiệm lãng mạn trong mối tình giữa ông và Emma. Mùa hè năm 1872, Hardy dứt khoát từ bỏ sự nghiệp kiến trúc và toàn tâm theo đuổi văn chương khi tạp chí Tinsley ký kết hợp đồng sử dụng Mắt biếc trong 11 kỳ đăng mỗi tháng. Sau đó, Cornhill, một tạp chí có uy tín hơn nhiều mời ông cung cấp một tác phẩm đăng nhiều kỳ. Kết quả là tác phẩm Xa đám đông điên loạn (Far From the Madding Crowd - 1874) ra đời, giới thiệu cái tên Wessex lần đầu. Và cũng từ đây trở đi, hầu hết các tác phẩm của ông đều có bối cảnh nền là Wessex, vốn là một vương quốc của người Anglo-Saxon ở miền nam đảo Great Britain từ năm 519 cho tới đầu thế kỷ 10, khi vua Æthelstan của người Anglo-Saxon thống nhất nước Anh; với Hardy, địa danh Wessex bao gồm các hạt ở vùng tây nam nước Anh hiện nay. Tháng 9/1874, Hardy kết hôn với Emma Gifford, bất chấp sự phản đối của gia đình cả hai bên. Trong thời gian đầu, họ liên tục di chuyển, khi sống ở London, khi ở Dorset. Trong thời gian này ông viết tiểu thuyết Bàn tay của Ethelberta (The Hand of Ethelberta - 1876); tác phẩm này được đón nhận khá thờ ơ và không phổ biến mấy. Bù lại, tiểu thuyết Trở lại cố hương (The Return of the Native -1878)[1] ngày càng được nhiều người hâm mộ do bối cảnh nổi bật của Egdon Heath, dựa trên vùng hoang địa ảm đạm và khắc nghiệt mà ông từng biết hồi thơ ấu. Cái chết của đột ngột của Emma vào năm 1912 kết thúc hai mươi năm sống chung với nhau trong tình trạng xa lạ, nhưng nó cũng khơi gợi lại những tháng ngày tươi đẹp trong mối tình của họ, và là nguồn cảm hứng để ông hoàn thành một số tác phẩm thơ xuất sắc. Năm 1914, Hardy kết hôn với Florence Emily Dugdale, trẻ hơn ông 38 tuổi. Dù đôi khi người vợ thứ hai này gặp khó khăn, vì Hardy quá nặng lòng với những hoài niệm về người vợ cũ, bà vẫn toàn tâm chăm sóc cho sức khỏe tuổi già của ông cho tới lúc ông qua đời vào tháng 11/1928. Tro cốt của ông được đặt trong “Góc của các nhà thơ” (Poets’ Corner) tại Tu viện Westminster, còn quả tim được chôn cất chung một nấm mộ với Emma tại nghĩa trang giáo xứ Stinsford. Trọn đời văn nghiệp, Thomas Hardy đã sáng tác tổng cộng 14 tiểu thuyết (các tác phẩm nổi bật nhất là Far From the Madding Crowd, The Return of the Native, The Major of Casterbridge, Tess of The d’Urbervilles, và Jude the Obcure), hàng trăm truyện ngắn, hai vở kịch và chín tập thơ. Ông được công nhận rộng rãi là một nhà văn lớn của thế kỷ 19 và nhà thơ lớn của thế kỷ 20. Năm 1910, ông được tặng thưởng Huân chương Công trạng (Order of Merit)[2]. Ngoài ra, ông được vinh hạnh đề cử cho giải Nobel Văn chương nhiều lần (1910 - 1914, 1920, 1923 - 1927). Nhiều tác phẩm của ông được chuyển thể thành phim như Tess of The d’Urbervilles (1913; 1979; 1998, 2008), The Return of the Native (1994), Jude the Obscure (1996), The Mayor of Casterbridge(2000, 2003), Under the Greenwood Tree (2005), Far From the Madding Crowd (2015). Nhiều nhà văn trẻ hơn, bao gồm D. H. Lawrence, John Cowper Powys và Virginia Woolf rất hâm mộ các tác phẩm của ông. Một số nhà soạn nhạc nổi tiếng, bao gồm Gerald Finzi, Benjamin Britten và Gustav Holst đã lấy thơ của ông để phổ nhạc. Holst cũng soạn bản giao hưởng dựa trên chủ đề của tiểu thuyết The Return of the Native nhan đề Egdon Heath; A Homage to Thomas Hardy vào năm 1927.   Mời các bạn đón đọc Jude Kẻ Vô Danh - Thomas Hardy & Nguyễn Thành Nhân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Tình Của Tiểu Thư Sophia - Lisa Kleypas
Những uẩn khúc quá khứ đã đưa Sophia Sydney, một tiểu thư thất thế, tới làm việc tại văn phòng của Ngài Ross Cannon, một chánh án nổi tiếng sắt đá khắp thành London. Nàng tới cùng đôi mắt xanh thông minh, mái tóc vàng sóng sánh, và một âm mưu được tính toán kỹ lưỡng nhằm dìm danh tiếng của anh xuống bùn nhơ. Có điều nàng đã tính sót vài điều, chẳng hạn như hóa ra Ross Cannon không như nàng tưởng tượng, hóa ra cái động cơ đã đưa nàng tới London lại hoàn toàn sai lầm; hoặc là, chẳng hạn như, hóa ra giữa họ lại thực sự bùng cháy một ngọn lửa đam mê vô phương kiểm soát, khuất phục lòng thù hận mù quáng của nàng và khỏa lấp nỗi cô đơn sâu thẳm trong anh, ngay trước khi mọi sự thật được phơi bày ra ánh sáng. *** Nhận định: "Lisa Kleypas đã lại thêm một người hùng đỉnh cao nữa vào đền thờ những nhân vật tuyệt vời của cô. Và mặc dù vẫn biết Ngài Ross Cannon không hề có thật, tôi vẫn cảm ơn tác giả sâu sắc vì đã để tôi tưởng tượng trong vòng vài tiếng đồng hồ rằng anh có thể đã tồn tại trên đời." - Sandy Coleman, likesbooks.com "Một phần sự quyến rũ của các tác phẩm lãng mạn lịch sử viết bởi Kleypas là ở chỗ chúng không diễn ra trong bối cảnh toàn các cư dân lười nhác của tầng lớp trên. Trái lại, các nhân vật của cô tham gia thế giới thực một cách rất thú vị. [...] Kleypas đã tạo ra một cặp nam nữ chính hấp dẫn, miêu tả chi tiết quá trình phát triển mối quan hệ giữa họ, bao gồm cả một số cảnh nóng bỏng tuyệt vời." - theromancereader.com *** Lisa Kleypas sinh năm 1964, là một trong những tác giả Mỹ nổi tiếng nhất của dòng tiểu thuyết lãng mạn lịch sử và đương đại. Năm 1985, sau khi tốt nghiệp trường Đại học Wellesley với tấm bằng cử nhân khoa học chính trị, Lisa xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tay. Cũng trong khoảng thời gian đó, cô đăng quang danh hiệu Hoa hậu bang Massachusetts và tham gia cuộc thi Hoa hậu Mỹ. Nhìn chung hầu hết tác phẩm của Lisa Kleypas đều có những kết thúc rất hậu, truyện của bà mang phong cách nhẹ nhàng là chính, tuy nhiên bà cũng theo đuổi dòng trinh thám một ít. Bà được xem là một trong những tác giả dòng lãng mạng có những cuốn sách bán chạy nhất, tác phẩm của bà được bán trên toàn thế giới và dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau. Các tác phẩm của cô đã được dịch sang 14 thứ tiếng, nằm trong danh sách bán chạy trên toàn thế giới và đem lại cho cô rất nhiều giải thưởng. Hiện cô đang sống ở Washington cùng chồng và hai con. *** Ross bị bẩn từ đầu đến chân khi anh theo chân Gentry lên được mái nhà tù. Cảm thấy như thể mình sẽ không bao giờ còn sạch sẽ được nữa, anh trèo ra ngoài vùng không khí thoáng đãng, nó ngọt ngào không tả nổi sau thứ mùi hôi thối bên trong. Đi bộ dọc theo rìa mái, anh tìm thấy một bức tường nhà tù nối với toà nhà bên cạnh. Đầu tiên không có dấu hiệu nào của Gentry, nhưng rồi Ross nhìn thấy cái chăn đen phấp phới đu đưa trên thanh xà bằng đá. Anh gầm lên tức tối. Giờ thì không ai biết được hắn đã chạy xa đến đâu rồi. Cúi mình trên bức tường, anh kiểm tra nó bằng chân, phát hiện ra nó yếu như lâu đài cát. Ở vào thời điểm này, lao theo con đường tìm tự do của Gentry đã không còn là sự lựa chọn nữa. Ross sẽ bị nguyền rủa nếu anh cố thử một cú nhảy mà ngay cả những diễn viên xiếc cũng sẽ từ chối. Tuy nhiên, trước khi anh có thể lùi lại anh nghe thấy một người phụ nữ gọi lên từ dưới đất. "Ross?" Trái tim anh ngừng đập khi nhìn thấy hình dáng người vợ bé nhỏ từ chỗ đứng cách nàng bốn tầng lầu. "Sophia," anh rống lên, "nếu đó là em, anh sẽ đánh em một trận bất tỉnh nhân sự." "Gentry đang đợi cùng với em," lại giọng nói của nàng. "Đừng có cố vượt qua bức tường đó!" "Anh cũng không định làm thế," anh đáp lại, vật lộn để kiềm chế cơn giận khi anh nhận ra nàng đã bất tuân lệnh anh để ở lại nơi an toàn. "Ở nguyên đó." ... Mời các bạn đón đọc Người Tình Của Tiểu Thư Sophia của tác giả Lisa Kleypas.
Nợ Nần - Nguyễn Công Hoan
Cuốn sách Nợ Nần là một trong những tác phẩm nổi tiếng của Nguyễn Công Hoan, được chọn lọc và biên tập một cách rất kỹ lưỡng. *** ĐỘC GIẢ thân mến, Nhắc đến NGUYỄN CÔNG HOAN, chắc Quý Vị không còn xa lạ gì nhà văn ấy. Trong thời Tiền chiến, ai mà chẳng dọc qua các quyển: Tắt lửa lòng, Bước đường cùng, Tấm lòng vàng, Cô giáo Minh, Trên đường sự nghiệp, Lệ Dung, Nợ nần, Bơ vơ, v. v... Hơn nữa, một số tác phẩm của ông đã được vài Đoàn Kịch nghệ nổi tiếng thời ấy phóng tác thành tuồng cải lương, lưu diễn từ Nam chí Bắc và được đồng bào các giới tán thưởng nồng nhiệt! Ông sáng tác đủ mọi chiều hướng: Trữ tình, Xã hội, Tranh đấu, Giáo dục,... nhưng có một điểm nổi bật hơn hết là mỗi tác phẩm của ông đều mang một sắc thái đặc biệt..., đánh dấu một bước tiến mới cho bộ môn Tiểu thuyết thời ấy. Nhưng, từ 20 năm qua... những tác phẩm của ông hầu hết đều thất lạc, hay mai một vì nạn Đất Nước qua phân! ... Cho đến bây giờ, một số tác phẩm của ông đã được tuyển chọn làm Tài liệu Tham khảo Văn chương cho Chương trình Đại học Văn khoa. Vì vậy, để giúp cho các sinh viên Đại học có đầy đủ tài liệu tham khảo cũng như sưu tập và bồi dưỡng lại những áng văn hay của nền văn học nước nhà, chúng tôi không ngại, tái bản một số tác phẩm chọn lọc của ông. Ngoài ra, nhắc và nói đến ông, chúng tôi không vì mục đích chính trị hay một tham vọng nào khắc. Ở dây, chúng tôi chỉ nhắc và nói đến ông: con người NGUYỄN CÔNG HOAN của thời xa xưa... Chứ hiện tại, ông là một nhà văn đang phục vụ cho chính quyền Miền Bắc thì, dù muốn dù không, ngòi bút của ông cũng không thể phục vụ thiệt thực và hữu ích cho nền văn học hiện đại. Và, sống dưới chế độ đảng trị, với lối suy tưởng một chiều, chúng ta không tin rằng ông sẽ sáng tác được những tác phẩm mà tương đối, có dược một tầm giá trị sâu rộng, và được quần chúng ưa chuộng như những tác phẩm mà ông đã sáng tác trong thời Tiền chiến. SAIGON, ngày 1 tháng 4 năm 1967 *** Nguyễn Công Hoan quê ở làng Xuân Cầu, tổng Xuân Cầu, huyện Văn Giang, phủ Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Ông sinh trong một gia đình quan lại xuất thân Nho học thất thế. Trong gia đình, từ nhỏ Nguyễn Công Hoan đã được nghe và thuộc rất nhiều câu thơ, câu đối và những giai thoại có tính chất trào lộng, châm biếm, đả kích tầng lớp quan lại. Điều đó ảnh hưởng mạnh mẽ đến phong cách văn chương của ông sau này. Ông có ba người em trai đều tham gia hoạt động cách mạng và giữ cương vị quan trọng là Nguyễn Công Miều (Lê Văn Lương) Ủy viên Bộ Chính trị, Nguyễn Công Bồng nguyên Phó Tổng Giám đốc Nha Công an và Nguyễn Công Mỹ nguyên Tổng Giám đốc đầu tiên của Nha bình dân học vụ. Năm 1926, ông tốt nghiệp cao đẳng sư phạm, làm nghề dạy học ở nhiều nơi (như Hải Dương, Lào Cai, Nam Định,…) cho đến khi Cách mạng tháng Tám nổ ra. Nguyễn Công Hoan viết văn từ sớm, tác phẩm đầu tay Kiếp hồng nhan (viết năm 1920, được Tản Đà thư điếm xuất bản năm 1923) là một đóng góp cho nền văn xuôi Việt Nam bằng chữ Quốc ngữ. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Giám đốc kiểm duyệt báo chí Bắc Bộ, kiêm Giám đốc Sở Tuyên truyền Bắc Bộ. Sau đó ông gia nhập Vệ quốc quân, làm biên tập viên báo Vệ quốc quân, giám đốc trường Văn hóa quân nhân, chủ nhiệm và biên tập tờ Quân nhân học báo. Ông là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam từ năm 1948. Năm 1951 ông làm việc ở Trại tu thư của ngành giáo dục, biên soạn sách giáo khoa và sách Sử Việt Nam hiện đại từ Pháp thuộc đến năm 1950 dùng cho lớp 7 hệ 9 năm. Ông cũng viết bài cho báo Giáo dục nhân dân, cơ quan ngôn luận đầu tiên của Bộ Quốc gia giáo dục lúc bấy giờ. Từ sau năm 1954, ông trở lại nghề văn với cương vị Chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam (khóa đầu tiên 1957-1958), ủy viên Ban Thường vụ trong Ban Chấp hành Hội nhà văn Việt Nam các khóa sau đó. Ông cũng là ủy viên Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, chủ nhiệm tuần báo Văn (tiền thân của báo Văn nghệ). Nguyễn Công Hoan mất ngày 6 tháng 6 năm 1977 tại Hà Nội. Tên ông được đặt cho một phố ở Hà Nội, đoạn giữa hai phố Ngọc Khánh và Nguyễn Chí Thanh. Nguyễn Công Hoan được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 1996. *** Thuyết khóc nhiều quá, đâm ra lòa. Và ốm một trận thật nặng, lúc khỏi, bà thành lẩn thẩn. Trừ khi kể lại những sự đau đớn trong đời bà là được rành mạch, còn câu nào bà nói cũng như người mất trí. Bà không còn một đồng một chữ làm vốn, và cũng không thể làm được việc gì để kiếm ra tiền. Bà ở với rể. Chiều chiều, nếu không đợi được thằng Cún nó dắt, thì một mình, bà lấy gậy để dò đường. Bà đi lẩn vào những lối khuất, tránh các nhà bà còn chịu tiền. Ai nỡ đòi bà nữa, song bà vẫn còn sáng suốt ở chỗ lo nợ. Bà đi như thế để ra đồng, thăm mả con gái. Lúc ấy, giữa chỗ hiu quạnh, nổi lên tiếng khóc thảm thiết, giọng khà khàn và run run. Bà khóc con gái. Bà khóc con trai. Bà khóc chồng. Bà lại khóc bà. Người ta an ủi bà rằng số Hồ chết nên đã định lên bờ, thuê thuyền nan đi với bà rồi lại thôi. Nhưng bà bảo trời muốn đày đọa bà, nên xui người lái đò đuổi bà lên, để bà không những không được chết mà còn trông thấy con chết. Bà mong được chết. Một ngày của bà sống thêm là một ngày thảm. Bà thèm về Phượng và về Rừng để trối già, nhưng không có tiền, ngửa tay xin rể, bà ngượng. Thành ra bà đành ở Tru để ôm cháu nội cháu ngoại mà khóc, khóc để hai mắt hóa thong manh. ...
Khi Yêu Cần Nhiều Dũng Cảm - Chetan Bhagat
Trên thế giới này những cuộc hôn nhân dựa trên tình yêu luôn theo một quy trình tuần tự: chàng trai yêu cô gái, cô gái yêu chàng trai và họ kết hôn. Tuy nhiên ở Ấn Độ có thêm vài bước nữa: chàng trai yêu cô gái, cô gái yêu chàng trai; gia đình cô gái thích chàng trai; họ hàng cô gái thích họ hàng chàng trai; họ hàng chàng trai thích họ hàng cô gái; chàng trai và cô gái vẫn yêu nhau và họ kết hôn. Đó chính là câu chuyện của Krish và Ananya, trai tài gái sắc là đôi bạn đồng chí hướng trong những tháng năm học MBA tại ngôi trường danh giá hàng đầu Ấn Độ, họ chỉ còn chờ một lễ cưới rực rỡ, nhưng trăm núi nghìn sông còn dễ vượt qua hơn so với sự phản đối của hai bên gia đình, hai người phải làm thế nào đây, khi nổi loạn thì dễ, thuyết phục mới là điều khó? Thành danh với tiểu thuyết đình đám Ba chàng ngốc, lần này Chetan Bhagat mang đến một tác phẩm gần như tự truyện của mình. Khi yêu cần nhiều dũng cảm-cuốn tiểu thuyết di dỏm về cuộc hôn nhân liên cộng đồng tại Ấn Độ hiện đại, cũng được chuyển thể thành phim điện ảnh với những ca ngợi của giới phê bình và công phá mãnh liệt doanh số phòng vé. *** “Tại sao tôi lại được giới thiệu tới đây? Tôi có bị làm sao đâu,” tôi nói. Chị ta không đáp lại. Chỉ ra hiệu cho tôi cởi giày và ngồi xuống ghế. Chị ta có một phòng khám cũng giống như phòng khám của bất cứ bác sĩ nào khác, có điều không có mùi thuốc và những dụng cụ y tế nguy hiểm, lạnh lùng. Chị ta chờ cho tôi nói nhiều hơn. Tôi do dự rồi lại cất lời. “Tôi dám chắc người ta đến đây với những vấn đề to tát, khó vượt qua. Các cô nàng đá đít bạn trai họ thì là chuyện cơm bữa. Cần gì phải đến gặp bác sĩ tâm thần, phải không? Tôi là ai, một kẻ thần kinh chắc?” “Không, tôi mới thần kinh, bác sĩ thần kinh. Chính xác ra là bác sĩ tâm lý. Nếu anh không phiền thì tôi thích cách gọi đó hơn,” chị ta nói. “Tôi xin lỗi,” tôi nói. “Không sao,” chị ta nói và dựa người vào ghế. Chưa quá ba mươi, chị ta dường như quá trẻ để trở thành một bác sĩ tâm thần, xin lỗi, bác sĩ tâm lý. Bằng cấp từ những trường đại học hàng đầu nước Mỹ trang điểm cho những bức tường như những cái đầu hổ treo trong nhà một thợ săn. Vâng, lại một người Nam Ấn nữa đã chinh phục thế giới học thuật. Bác sĩ Neeta Iyer, tốt nghiệp thủ khoa Đại học Vassar. “Tôi tính tiền năm trăm rupi một giờ đấy,” chị ta nói. “Anh cứ trân trối nhìn tường hay nói chuyện, với tôi kiểu nào cũng được.” Tôi đã xài hết mười hai phút rồi, tức là một trăm rupi, mà chẳng đi đến đâu cả. Tôi tự hỏi liệu rằng chị ta có chấp nhận trả tiền từng phần và để cho tôi đi không. “Bác sĩ Iyer …” “Gọi tôi Neeta được rồi,” chị ta nói. “Được rồi, chị Neeta, tôi không nghĩ chuyện của tôi lại cần đến việc này. Tôi không biết tại sao bác sĩ Ramachandran lại giới thiệu tôi đến đây.” Chị ta cầm quyển bệnh án của tôi trên bàn. “Xem nào. Đây là những gì bác sĩ Ram thông tin cho tôi - bệnh nhân mắc chứng mất ngủ, đã cắt đứt liên lạc với loài người trong vòng một tuần, không chịu ăn, đã lên Google để tìm cách tự tử tốt nhất.” Chị ta dừng lại và nhìn tôi, mày nhướng lên. “Tôi Google tất cả mọi thứ,” tôi lẩm bẩm, “chị không làm thế à?” “Bệnh án ghi rằng nội việc thoáng nhắc tới tên cô ấy, nơi cô ấy ở hay bất cứ mối liên hệ nào khác, chẳng hạn như món ăn yêu thích của cô ấy, cũng sẽ đưa tới những cảm xúc khó lường từ nước mắt tới giận dữ tới thất vọng.” “Tôi vừa mới chia tay. Chị nghĩ phải thế nào?” tôi cáu kỉnh. “Đúng rồi, với Ananya ở Mylapore. Món ăn yêu thích của cô ấy là gì nhỉ? Cơm cà ri?” Tôi ngồi thẳng dậy. “Đừng,” tôi nói một cách yếu ớt và cảm thấy nghẹn trong cổ. Tôi cố kìm cho nước mắt khỏi tuôn ra. “Đừng,” tôi nhắc lại. “Đừng cái gì cơ?” Neeta khích tôi. “Chẳng phải chuyện nhỏ sao?” “Nhỏ cái con khỉ. Nó đang giết tôi đây.” Tôi đứng phắt dậy đầy kích động. “Người Nam Ấn các người có biết tình cảm là cái gì không?” “Tôi sẽ lờ đi các nhận xét mang tính phân biệt vùng miền của anh. Anh có thể đứng mà nói, nhưng nếu đó là một câu chuyện dài thì hãy ngồi xuống ghế. Tôi muốn được nghe có đầu có đuôi,” chị ta nói. Tôi bật khóc. “Sao chuyện này lại xảy ra với tôi?” tôi nức nở. Chị ta đưa tôi một tờ khăn giấy. “Tôi phải bắt đầu từ đâu đây?” tôi nói và cẩn trọng ngồi xuống ghế. “Từ nơi tất cả những câu chuyện tình bắt đầu. Khi anh gặp cô ấy lần đầu tiên,” chị ta nói. Chị ta kéo rèm và bật điều hòa. Tôi bắt đầu nói và bắt đầu làm cho tiền của mình có giá trị. ... Mời các bạn đón đọc Khi Yêu Cần Nhiều Dũng Cảm của tác giả Chetan Bhagat. Người đăng: dtv-ebook
Thời Thơ Ấu Gian Khổ - Iamin Muxtaphin
CUỐN SÁCH VỀ THỜI THƠ ẤU GIAN KHỔ VÀ ANH HÙNG     Đây là truyện ngắn trong tuyển tập "Điều kỳ diệu của Xibêri" xuất bản năm 1972 của Iamin Muxtaphin     Nữ văn sĩ Marieta Saghinhian, người được giải thưởng Lênin, một nghệ sĩ có tên tuổi, một nhà phê bình nghệ thuật rất nghiêm khắc đã viết trong lời tựa cho cuốn sách "Điều kỳ diệu của Xibêri" như sau: "Những truyện ngắn của anh làm say mê lòng người bằng sự tươi mát, sự độc đáo, bằng chủ nghĩa nhân đạo cao cả và sự trong sáng rất hiếm thấy trong cách diễn giải của mình" (Mátxcơva, 1972).     Cuốn truyện "Thời thơ ấu gian khổ" đã kể về những năm tháng khó khăn và ác liệt của cuộc chiến tranh. Ở tiền tuyến cũng như ở hậu phương, toàn dân đều phải chiến đấu chống bọn phát xít xâm lược. Và không những chỉ có người lớn mà cả trẻ em đã lập nên những chiến tích phi thường. Chính tác giả là người đã biết, đã trải qua nhiều sự kiện được mô tả trong cuốn sách "Thời thơ ấu gian khổ". Cũng như Giamin, một thiếu niên mười bốn tuổi, nhân vật chính của cuốn truyện là hiện thân của tác giả. *** Đ ã mấy ngày nay một mùi củi cháy nồng nặc bao trùm lên khu làng nhỏ. Mọi người lo lắng nhìn về phía Đông, ở đấy, đêm đêm, từng đám vừng hồng lại bừng lên trên rừng Taiga, như có một người nào đấy không ngớt vẫy tung một chiếc khăn khổng lồ màu đỏ. Thậm chí cả những con chó trước đây suốt ngày chỉ gầm ghè nhau, bây giờ con nào cũng nằm im cạnh cổng nhà mình, lắng nghe tiếng ầm ì từ xa vọng lại, vẻ sợ sệt lộ ra mặt. Ban ngày, mặt trời như một chiếc đĩa bằng đồng chiếu qua các đám mây khói. Lũ trẻ Tai sét nhìn thẳng lên thiên thể đỏ rực ấy mà không cần nheo mắt, và chúng nhận thấy có vết đen trên đó. - Trông kìa, trên ấy có núi, cậu ạ! - Giamin, một cậu bé mười bốn tuổi, sau khi đã leo hẳn lên mái nhà, sung sướng reo lên như vậy. - Cứ như là không có cậu thì tớ không nhìn thấy đấy! Hừ! - Gô-ga vừa tiếp tục dùng chiếc dao nhíp cũ chăm chú cạo nhựa khô từ một khúc gỗ tùng lá rụng, vừa đáp lại. Rồi cậu ngẩng mái đầu bù xù đã lâu ngày không cắt tóc, dùng lưỡi đảo đi đảo lại cục nhựa thông thơm thơm trong miệng, phều phào nói: - Bà tớ còn nói thế này: sẽ còn lắm chuyện nữa đấy. - Thì hãy nhổ cái cục kia ra đã, rõ đồ tham. Bà cậu nói cái gì? - Giamin vừa thận trọng bước trên mái nhà lợp bằng những thanh gỗ mỏng, vừa hỏi bạn. Gô-ga khó nhọc dùng lưỡi ùn cục nhựa cây màu vàng ra khỏi miệng - Xem này, mình nhai được nhiều! Đủ dùng cho cả ngày nhé - Cậu ta khoái trí cười. Chỗ sún thoáng hiện lên như một hạt bá hương giữa hàng răng đều và trắng muốt. Cậu lấy tay vo tròn cục nhựa, cẩn thận gói lại bằng một chiếc mã đề rộng rồi đút vào chiếc túi rất sâu của mình. Trong túi đó, cậu luôn luôn giữ các mẩu kim loại, các lõi chỉ và các loại diêm khác nhau, những thứ này làm bọn bạn thèm rỏ dãi. ... Mời các bạn đón đọc Thời Thơ Ấu Gian Khổ của tác giả Iamin Muxtaphin.