Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Của Phế Tích

Hoa của phế tích là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Từ câu chuyện một đôi vợ chồng trẻ tự sát vì những lí do bí hiểm mở ra một cuộc điều tra, theo đó là những bước chân lần theo những khu phố cũ, những đại lộ, những tòa nhà… đậm dấu tích của quá khứ. Giọng văn chậm rãi với những câu chữ buồn mà đẹp đến nao lòng của Modiano mang đến cho độc giả những dư âm mãi váng vất. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Patrick Modiano là Nhà văn Pháp với hơn 30 tác phẩm bao gồm tiểu thuyết, kịch bản phim,... các tác phẩm của ông đã được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, đạt nhiều giải thưởng danh tiếng, phải kể đến giải Nobel Văn học năm 2014. "Lối viết văn của Modiano rất dễ đọc. Các tác phẩm của ông trông có vẻ đơn giản bởi vì nó tinh tế, thẳng thắn, đơn giản và rõ ràng. Bạn mở sách đọc một trang, và sẽ nhận ra ngay là sách của ông ta, rất thẳng thắn, câu văn ngắn gọn, không cầu kỳ - nhưng nó rất là tinh vi trong cách đơn giản của nó."_ Bí thư thường trực của học viện Nobel Peter Englund Con chó mùa xuân là một trong bộ ba tiểu thuyết được phanbook phát hành vào năm nay. Vẫn với lối viết đơn giản mà tinh tế, Patick Modiano đã dần người đọc vào một hành trình lạ lùng khi hai con đường ngược nhau, cắt nhau nơi ký ức. Như một tất định của đời sống, có tồn tại rồi sẽ có lãng quên, cuối cùng thì không gì có thể níu kéo được hiện hữu thuộc về quá khứ, và tất cả được chứa đựng trong lặng im vĩnh viễn. Để từ đó người đọc có thể thấy được văn chương của Patick Modiano là văn chương của ký ức, bất định tương lai. *** Kho đựng nỗi đau (tựa gốc: Remise de peine, viết năm 1988), Hoa của phế tích (tựa gốc: Fleurs de ruine, 1991), Con chó mùa xuân (tựa gốc: Chien de printemps, 1993) được nhà văn Patrick Modiano (giải Nobel Văn học, 2014) hoàn thành trong ba mốc thời gian khác nhau, nhưng mang đầy đủ những nét đặc thù của không khí, phong cách văn chương ông. Kho đựng nỗi đau lần đầu tiên bức chân dung thời thơ ấu của chú bé Patrick cùng em trai sống trong căn hộ của những diễn viên xiếc ở vùng ngoại vi Paris. Hoa của phế tích là cuộc lần theo manh mối về một vụ tự sát với lý do bí hiểm của đôi vợ chồng kỹ sư trẻ tuổi vào một ngày tháng 3 năm 1933. Còn Con chó mùa xuân là cuộc dò tìm của một người viết tiểu thuyết trẻ tuổi với nỗ lực phục dựng bản tiểu sử của Jasen - một nhiếp ảnh gia sống và ghi chép về Paris nhưng căn cước cá nhân lại nhiều điểm mù bởi dư chấn của thời Đức tạm chiếm… Ba cuốn tiểu thuyết này là dẫn chứng xuất sắc, thuyết phục cho điều mà Patrick Modiano viết trong diễn từ nhận giải Nobel Văn học vào năm 2014: “Người ta có thể lạc lối hoặc biến mất trong một đô thị. Người ta thậm chí có thể thay đổi căn cước và sống một đời khác. Người ta có thể lao mình vào một cuộc điều tra rất dài lâu để tìm lại những dấu vết của một ai đó, và lúc khởi đầu chỉ có một hoặc hai địa chỉ trong một khu phố đã mất biệt. Chỉ dấu ngắn ngủi đôi khi hiện lên trên những phiếu tra cứu luôn luôn tìm được một âm hưởng trong tôi: Nơi cư trú cuối cùng được biết.” Trong lần ấn hành ba tiểu thuyết này, Phanbook cũng phát hành hộp giấy đựng sách Patrick Modiano với thiết kế đẹp, trang nhã dành cho độc giả sưu tầm đủ ba tác phẩm. *** VỀ NHÀ VĂN PATRICK MODIANO Patrick Modiano là nhà văn người Pháp, sinh năm 1945. Ông đạt giải Nobel văn học năm 2014. Nhiều tác phẩm của Modiano đã được in tại Việt Nam. Ba tác phẩm của Patrick Modiano do Phanbook ấn hành: Kho đựng nỗi đau, Hoa của phế tích, Con chó mùa xuân, đều do Hoàng Lam Vân dịch. *** Buổi tối Chủ nhật tháng Mười một ấy, tôi ở trên phố Abbé-de-l’Épée. Tôi đi dọc theo bức tường lớn của Học viện dành cho người câm điếc. Bên trái là tháp chuông nhà thờ Saint-Jacques-du-Haut-Pas cao cao. Tôi còn giữ kỷ niệm về một quán cà phê nơi góc phố Saint-Jacques, tôi hay đến đó sau khi xem phim, rạp Studio des Ursulines. Trên vỉa hè, lá rụng. Hoặc cũng có thể là các trang đã cháy thui của một quyển từ điển Gaffiot[1] cũ. Đây là khu phố của các trường và các tu viện. Vài cái tên cổ kính quay trở lại trong ký ức tôi: Estrapade, Conttescarpe, Tournefort, Pot-de-Fer... Tôi cảm thấy e sợ khi phải băng ngang những chốn tôi chưa từng đặt chân kể từ tuổi mười tám, hồi tôi còn hay lai vãng một trường trung học trên đồi Sainte-Geneviève[2]. Tôi có cảm giác các địa điểm vẫn cứ ở trong tình trạng mà tôi đã để chúng lại từ đầu thập niên sáu mươi, chúng bị bỏ hoang cùng quãng đó, cách đây đã hơn hăm lăm năm. Phố Gay-Lussac - cái phố im lìm ấy, nơi trước đây người ta từng dỡ đá lát và dựng chiến lũy[3] - cửa ra vào một khách sạn đã bị xây bịt lại và phần lớn cửa sổ không còn kính. Nhưng biển hiệu thì vẫn gắn ở đó, trên tường: Khách sạn Tương lai. Tương lai nào? Là tương lai, đã chấm dứt, của một sinh viên hồi những năm ba mươi, thuê lấy một căn phòng nhỏ tại khách sạn ấy, lúc vừa rời trường Sư phạm, và tối thứ Bảy thì mời các bạn học cũ đến chơi. Và họ đi vòng qua mấy khối nhà để tới rạp Studio des Ursulines xem một bộ phim. Tôi đi qua trước rào sắt và ngôi nhà màu trắng nhiều chớp cửa sổ, với rạp chiếu phim chiếm tầng trệt. Sảnh vào sáng đèn. Hẳn tôi có thể đi tiếp tới Val-de-Grâce, cái vùng yên bình ấy, nơi chúng tôi từng trốn, Jacqueline và tôi, để ông hầu tước không có cơ may gặp được nàng. Chúng tôi sống tại một khách sạn nằm đầu phố Pierre-Nicole. Chúng tôi tằn tiện với số tiền mà Jacqueline kiếm được bằng cách bán chiếc măng tô lông thú của nàng. Phố ngập nắng, vào buổi chiều Chủ nhật. Đám thủy lạp của ngôi nhà gạch nhỏ, đối diện trường Sévigné. Dây thường xuân phủ kín các ban công khách sạn. Con chó ngủ trong hành lang lối vào. Tôi đi đến phố Ulm. Nó hoang vắng. Có tự nhủ rằng vậy thì đâu có gì kỳ cục vào một tối Chủ nhật, tại cái khu phố chuyên cần và nhiều chất tỉnh lẻ này, thì tôi vẫn tự hỏi mình có đang còn ở Paris hay không. Trước mặt tôi là vòm tròn của Panthéon. Tôi sợ lại thấy chỉ có độc mình tôi, dưới chân tòa công trình cho người chết ấy, dưới ánh trăng, thế là tôi vội rẽ sang phố Lhomond. Tôi dừng lại trước trường Ái Nhĩ Lan. Một cái chuông điểm tám tiếng, có lẽ chuông của giáo đoàn Thánh Linh mà mặt tiền đồ sộ đang ở kia, bên tay phải tôi. Thêm vài bước nữa, tôi bước vào quảng trường Estrapade. Tôi tìm số 26 phố Fossés-Saint-Jacques. Một tòa nhà hiện đại, kia, trước mặt tôi. Chắc hẳn tòa nhà cũ đã bị phá đi chừng hai mươi năm về trước. Ngày 24 tháng Tư năm 1933. Cặp vợ chồng trẻ tự sát vì những lý do bí hiểm. Đúng là một câu chuyện lạ thường, những gì đã xảy ra đêm qua trong tòa nhà số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, gần Panthéon, ở nhà ông và bà T. Ông Urbain T., kỹ sư trẻ tuổi, tốt nghiệp thủ khoa trường Hóa học, cách đó ba năm lấy cô Gisèle S., hăm sáu tuổi, hơn ông một tuổi. Bà T. là một phụ nữ xinh đẹp tóc vàng, cao và thanh mảnh. Về phần chồng bà, ông thuộc típ đàn ông tóc nâu đẹp trai. Cặp vợ chồng hồi tháng Bảy vừa rồi chuyển vào sống ở tầng trệt số 26, phố Fossés-Saint-Jacques, trong một cái xưởng được họ cải tạo thành nhà ở. Cặp vợ chồng trẻ rất gắn bó với nhau. Dường như chẳng mối lo lắng nào nhuốm lên hạnh phúc của họ. Tối thứ Bảy, Urbain T. quyết định cùng vợ ra ngoài đi ăn tối. Họ rời khỏi nhà vào quãng bảy giờ. Mãi khoảng hai giờ sáng họ mới về, cùng hai cặp khác. Gây ồn ào chối tai, họ đánh thức các hàng xóm vốn dĩ chẳng mấy quen thuộc với những biểu hiện ầm ĩ như vậy từ phía những người thuê nhà thông thường rất kín đáo. Chắc hẳn bữa tiệc đã có các biến cố bất ngờ. Quãng bốn giờ sáng, những người khách đi khỏi. Trong vòng nửa tiếng sau đó, vốn dĩ trôi qua trong im lặng, hai phát nổ sượng đục vang lên. Chín giờ, một hàng xóm, ra khỏi nhà, đi qua trước cửa nhà của vợ chồng T. Bà ta nghe thấy có tiếng rên rỉ. Đột nhiên nhớ đến những tiếng nổ trong đêm, bà ta thấy lo lắng nên đập cửa. Cửa mở ra và Gisèle T. xuất hiện. Máu chầm chậm chảy từ một vết thương thấy rõ dưới vú trái. Cô thì thầm: “Chồng tôi! Chồng tôi! Chết rồi”. Một lúc sau, ông Magnan, cảnh sát trưởng, tới nơi. Gisèle T. rên rỉ, nằm trên một cái đi văng. Trong phòng bên cạnh, người ta phát hiện xác chồng cô. Anh vẫn giữ chặt một khẩu súng ngắn trong bàn tay co quắp. Anh ta đã tự sát bằng một viên đạn bắn thẳng vào tim. Bên cạnh anh, một bức thư nguệch ngoạc: “Vợ tôi đã tự sát. Chúng tôi đã say rượu. Tôi tự sát đây. Đừng tìm...”.   Dường như, theo cuộc điều tra, Urbain và Gisèle T., sau bữa tối, đã đến một quán bar ở Montparnasse. Tối hôm trước, từ phố Fossés-Saint-Jacques, tôi đã đi bộ tới giao lộ nơi có quán Dôme và quán Rotonde, sau khi để lại sau lưng khu vườn Đài Thiên văn tối tăm. Vợ chồng T. hẳn đã đi theo cùng con đường như tôi, vào cái đêm năm 1933 ấy. Tôi chợt thấy mình đang ở một cái nơi mà tôi đã tránh kể từ những năm sáu mươi. Cũng như khu Ursulines, khu Montparnasse làm tôi nghĩ đến tòa lâu đài của nàng công chúa trong khu rừng ngủ. Tôi từng có cùng cảm giác ấy, hồi hai mươi tuổi, khi thuê phòng để trú vài đêm tại một khách sạn trên phố Delambre: Thời ấy Montparnasse đối với tôi đã có dáng vẻ của một khu phố sống sót sau chính nó và đang chậm rãi thối rữa, cách xa khỏi Paris. Những lúc trời mưa trên phố Odessa hay phố Khởi Hành, tôi thấy như thể mình đang ở một bến cảng vùng Bretagne, dưới làn mưa phùn. Từ nhà ga, hẵng còn chưa bị phá hủy, bốc lên những bụm không khí của Brest hay Lorient. Bữa tiệc, ở đây, đã kết thúc từ lâu. Tôi còn nhớ rằng biển hiệu của quán Jimmy’s ngày xưa vẫn còn treo trên bức tường của phố Huyghens, và nó bị rơi mất dăm ba chữ, gió ngoài khơi đã thổi tung chúng đi mất. Đó là lần đầu tiên - theo các báo hồi tháng Tư năm 1933 - cặp vợ chồng trẻ bước vào một quán ban đêm của khu Montparnasse. Họ đã hơi quá chén trong bữa tối chăng? Hoặc giả, hết sức đơn giản, họ muốn phá vỡ, dẫu chỉ trong một buổi tối, dòng chảy êm đềm cuộc đời họ? Một nhân chứng khẳng định đã trông thấy họ, quãng mười giờ tối, tại quán Café de la Marine, một sàn dancing, ở số 243, đại lộ Raspail; một người khác, ở quán cabaret tên là Isles, trên phố Vavin, đi cùng hai phụ nữ. Cảnh sát cho công bố ảnh họ nhằm kêu gọi những lời chứng rất có nguy cơ cần phải được thẩm tra kỹ vì có rất nhiều phụ nữ trẻ tóc vàng và chàng trai tóc nâu, như Urbain và Gisèle T. Trong vòng vài ngày, người ta tìm cách xác định hai cặp trai gái mà vợ chồng T. đã đưa về nhà họ, trên phố Fossés-Saint-Jacques, rồi cuộc điều tra được khép lại. Gisèle T., trước khi chết vì các vết thương, đã cất tiếng nói, nhưng những kỷ niệm của cô mơ hồ. Đúng, họ đã gặp, tại Montparnasse, hai phụ nữ, hai người xa lạ mà cô chẳng hề biết gì... Và những người đó đã lôi kéo họ tới Le Perreux, tại một sàn dancing nơi có hai người đàn ông đến với họ. Rồi họ tới một ngôi nhà, ở đó có một cái thang máy màu đỏ. Tối nay, tôi đi theo dấu chân họ trong một khu phố ủ dột được tòa tháp Montparnasse phủ tấm màn tang tóc. Trong ngày, nó che giấu mặt trời và phóng cái bóng của nó lên đại lộ Edgar-Quinet cùng các phố lân cận. Tôi để lại sau lưng quán Coupole mà người ta đang phá đi dưới một mặt tiền bằng bê tông. Tôi thấy thật khó mà tin rằng Montparnasse xưa kia từng biết đến một cuộc sống về đêm... Chính xác thì vào thời nào tôi từng sống ở cái khách sạn trên phố Delambre kia? Quãng năm 1965, khi tôi làm quen với Jacqueline và không lâu trước khi tôi lên đường đi Viên, bên Áo. Căn phòng bên cạnh phòng tôi được thuê bởi một người đàn ông trạc ba lăm tuổi, một người đàn ông tóc vàng mà tôi hay gặp trong hành lang, rốt cuộc tôi cũng bắt đầu quen biết ông ta. Tên ông ta? Cái gì đó giống như Devez hay Duvelz. Lúc nào ông ta cũng ăn vận hết sức chỉn chu và đính một huy chương trên hàng cúc áo. Nhiều lần, ông ta từng mời tôi uống một cốc, rất gần khách sạn, tại một quán bar, Rosebud. Tôi không dám từ chối, ông ta có vẻ rất thích nơi đó. - Ở đây tuyệt quá... Ông ta nói giọng nhiều âm răng, giọng của một người con nhà gia giáo, ông ta đã kể với tôi là ông ta từng ở hơn ba năm “vùng bưng biền”[4] và tại đó, ông ta đã kiếm được tấm huy chương kia. Nhưng cuộc chiến tranh Algérie khiến ông ta thấy lộn mửa. Ông ta đã cần rất nhiều thời gian thì mới hồi phục được từ đó. Ông ta sắp sửa kế tục bố ông ta làm chủ một doanh nghiệp dệt sợi lớn trên miền Bắc. Rất mau chóng, tôi nhận ra rằng ông ta không nói cho tôi sự thật: Về “doanh nghiệp dệt sợi” ấy, ông ta luôn luôn mơ hồ. Và ông ta tự nói ngược với chính mình, một hôm khẳng định với tôi là từng tốt nghiệp trường Saint-Maixent, ngay trước khi sang Algérie, rồi, tới hôm sau, rằng ông ta đã hoàn toàn học bên Anh. Đôi khi, cái giọng đầy âm răng của ông ta nhường chỗ cho giọng đớt của một kẻ bán hàng rong. Chắc cần phải có chuyện tôi bước đi, tối Chủ nhật ấy, trong khu Montparnasse, thì cái tay Duvelz - hay Devez - kia mới có thể đột nhiên hiện ra từ hư vô như thế. Một hôm, tôi còn nhớ, chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trên phố Rennes, và ông ta đã mời tôi một bốc bia - như ông ta nói - tại một trong những quán cà phê thuộc giao lộ Saint-Placide buồn thảm. Quán cabaret tên Isles, trên phố Vavin, nơi hẳn người ta phải để ý thấy sự hiện diện của cặp vợ chồng, chiếm tầng hầm của tiệm Vikings. Bầu không khí đậm màu sắc Scandinavia cùng gỗ ốp tường sáng màu của Vikings trông thật tương phản với cái quán rượu nhọ nhem ấy. Chỉ cần đi xuống hết cầu thang: Từ những ly cocktail và các món nhẹ Na-uy ở tầng trệt, người ta sục thẳng vào giữa những điệu nhảy Martinique. Có phải vợ chồng T. đã gặp hai người phụ nữ ở đó? Tôi có cảm giác phải là tại Café de la Marine, đại lộ Raspail, về phía Denfert-Rochereau. Tôi còn nhớ căn hộ nơi Duvelz từng dẫn chúng tôi, Jacqueline và tôi, đến, cũng nằm ở đầu đại lộ Raspail đó. Cả lần ấy nữa, tôi cũng không dám từ chối lời mời của ông ta. Trong vòng gần một tuần, ông ta đã nằn nì cả hai chúng tôi một tối thứ Bảy nào đó cần phải tới nhà một người bạn gái của ông ta, ông ta rất muốn giới thiệu chúng tôi với người ấy. Bà mở cửa cho chúng tôi và, trong bóng tối lờ mờ của tiền phòng, tôi không nhìn rõ khuôn mặt bà. Phòng khách lớn, nơi chúng tôi bước vào, khiến tôi choáng váng vì vẻ xa xỉ của nó, chẳng hề tương hợp với căn phòng nhỏ của Duvelz, trên phố Delambre. Ông ta ở đó. Ông ta giới thiệu chúng tôi với nhau. Tôi đã quên mất tên bà: Đó là một phụ nữ tóc nâu đường nét hài hòa, một bên mặt, ở đoạn gò má, có vết sẹo lớn. Chúng tôi, Jacqueline và tôi, ngồi xuống trường kỷ. Duvelz và người phụ nữ, trong phô tơi, đối diện với chúng tôi. Chắc bà khoảng ba lăm, cùng độ tuổi với Duvelz. Bà tò mò nhìn chúng tôi. - Em có thấy họ thật duyên dáng không, cả hai?, Duvelz hỏi, bằng giọng nói nhiều âm răng của mình. Bà chăm chăm nhìn chúng tôi. Bà hỏi chúng tôi: - Hai người có muốn uống gì không? Giữa chúng tôi xuất hiện một quãng ngại ngần. Bà rót rượu porto mời chúng tôi. Duvelz uống một ngụm lớn. - Thoải mái đi, ông ta nói. Đây là một người bạn lâu năm... Bà ném về phía chúng tôi một nụ cười rụt rè. - Thậm chí chúng tôi từng đính hôn với nhau. Nhưng cô ấy đã phải lấy người khác... Bà không hề nhíu mày. Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi, tay cầm ly rượu. - Chồng cô ấy hay đi vắng... Chắc chúng ta có thể tận dụng điều đó để đi chơi chung cả bốn người... Các bạn nghĩ sao? - Đi chơi đâu? Jacqueline hỏi. - Nơi nào các bạn muốn... Thậm chí chúng tôi còn không có nhu cầu ra ngoài. Ông ta nhún vai. - Ở đây thật hay... Phải không? Bà vẫn ngồi rất thẳng ở phô tơi. Bà châm một điếu thuốc lá, có lẽ để che giấu sự căng thẳng. Duvelz đã lại làm thêm một ngụm porto nữa. Ông ta đặt ly của mình lên cái bàn thấp, ông ta đứng dậy và bước về phía bà. - Cô ấy thật xinh đẹp, phải không? Ông ta đưa ngón tay trỏ lướt trên vết sẹo ở má. Rồi ông ta cởi cúc cái áo của bà và vuốt ve hai vú. Bà không hề động cựa. - Hồi trước chúng tôi đã gặp một tai nạn ô tô rất nghiêm trọng, ông ta nói. Bà hất tay ông ta ra bằng một động tác dữ tợn. Bà lại mỉm cười với chúng tôi. - Chắc hai người đói rồi... Giọng bà trầm và thoáng có âm sắc nước ngoài, dường như vậy. - Anh có thể giúp em mang bữa tối vào đây không? bà hỏi ông ta, giọng khá xẵng. - Tất nhiên rồi. Họ đứng dậy, cả hai. - Toàn đồ lạnh thôi, bà nói. Hai người thấy có được không? - Rất được, Jacqueline đáp. Ông ta đã choàng tay quanh vai bà và kéo bà ra khỏi phòng khách, ông ta thò đầu qua khe cửa mở. - Các bạn có thích sâm banh không? Ông ta đã đánh mất cái giọng nhiều âm răng. - Rất thích, Jacqueline đáp. - Có ngay đây. Chỉ còn lại chúng tôi trong phòng khách, vài phút, và tôi dồn hết nỗ lực ký ức để tập hợp lại càng nhiều chi tiết càng tốt. Những cửa sổ bệ thấp nhìn xuống đại lộ mở hé vì trời nóng. Đó là số 19 đại lộ Raspail. Năm 1965. Một cây đàn piano loại có đuôi đặt tận về cuối phòng. Trường kỷ và hai phô tơi đều làm bằng cùng một thứ da màu đen. Cái bàn thấp, bằng kim loại dát bạc. Một cái tên như là Devez hay Duvelz. Vết sẹo trên má. Cái áo bị cởi cúc. Một làn ánh sáng rất rực của đèn chiếu, hay nói đúng hơn là của đèn pin. Nó chỉ rọi sáng một mảnh nhỏ của décor, một giây phút đơn lẻ, mà để những gì còn lại trong bóng tối, bởi chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được đoạn sau các sự kiện và nói cho đúng thì hai người kia là ai. Chúng tôi lẻn ra khỏi phòng khách và, thậm chí còn không khép cửa lại, chúng tôi đi xuống cầu thang. Lúc nãy, chúng tôi đã dùng thang máy để lên, nhưng nó không màu đỏ, giống cái thang máy mà Gisèle T. từng nhắc đến. Mời các bạn đón đọc Hoa Của Phế Tích của tác giả Patrick Modiano & Hoàng Lam Vân (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Định Mệnh
Zachary Benedict Stanhope được sinh ra trong một gia đình giàu có nhất ở Ridgemont. Anh có vẻ ngoài đẹp trai, sang trọng với tính tình kiêu ngạo đặc trưng cho đám đàn ông nhà Stanhope. Nhưng khi một vụ xô xát bi thảm dẫn đến việc anh bị tống ra khỏi nhà, anh phải làm việc ở một xưởng phim ở Hollywood để kiếm sống. Nhờ vào vẻ ngoài của anh, anh sớm được khám phá và trở thành một ngôi sao điện ảnh và cuối cùng đã đoạt giải giải thưởng Oscar cho diễn viên / đạo diễn xuất sắc nhất. Nhưng định mệnh lại một lần nữa thay đổi số phận của anh khi người vợ ngoại tình của anh bị giết chết ngay trên cảnh quay do anh làm đạo diễn, Zack bị kết tội 45 năm tù ... Julie Mathison là một cô bé mồ côi lớn lên ở những trại mồ côi. Vì vậy, cho đến năm 11 tuổi, cô là một cô bé thất học chưa từng được người lớn chỉ dẫn, và cô dành nhiều thời gian trên đường phố học cách đánh cắp và nối dây nóng khởi động xe hơi. Số phận của Julie được thay đổi khi một bác sĩ tâm lý để mắt đến cô. Kể từ đó cô được gia đình Mathisons nhận nuôi. Julie tự hứa với lòng là sẽ làm hết sức mình để trở thành một người hoàn hảo để đáp lại tình cảm của gia đình Mathisons. Hơn một thập niên sau, định mệnh sắp đặt hai người gặp nhau. Khi Zack trốn tù và buộc phải bắt cóc Julie khi cuộc đào tẩu của anh không diễn ra theo đúng kế hoạch. Chẳng bao lâu, sự rắc rối bắt đầu khi Julie thấy mình là một con tin sốt sắng, và Zack phát triển cảm giác muốn bảo vệ cô, một chuyện mà anh chưa bao giờ cảm thấy đối với bất cứ phụ nữ nào trước đây, thậm chí với đối vợ anh cũng không. Khi Zack cho cô quay về nhà, cô đã cố gắng hết sức để thuyết phục cả thế giới rằng Zack vô tội. Nhưng cô bắt đầu khám phá ra nhiều chuyện làm cho cô nghi ngờ sự vô tội của Zack. Kết thúc là cô đã phản bội anh, vì thế gây cho cả hai nhiều sự đau khổ và bất hạnh. Liệu Zack có tha thứ cho những gì cô đã làm? Và liệu anh sẽ mãi phải sống như một tên tù vượt ngục ? Muốn biết kết quả thì mời lót dép ngồi đọc. Truyện này nếu dịch đúng theo tựa đề là "Hoàn Hảo", nhưng TT thấy dùng tên "Định Mệnh" hợp với truyện hơn ... *** Nhận định "Judith McNaught là một đẳng cấp riêng." - USA Today "Tác giả ăn khách bậc nhất New York Times đã khéo léo dệt nên một câu chuyện ly kỳ đắm chìm trong bầu không khí căng thẳng hồi hộp, đầy những nhân vật không thể quên và chằng chịt những mạch ngầm dữ dội của khát khao, tham vọng." - Amazon.com "Một câu chuyện tình yêu đích thực hòa trộn giữa sự hài hước, hồi hộp, bí ẩn và lãng mạn khôn cùng."- Regan *** JUDITH McNAUGHT (1944) được xem là một trong những tác giả được yêu thích nhất mọi thời đại với thể loại tiểu thuyết lãng mạn cổ điển. Trước khi bước vào sự nghiệp viết lách, McNaught đã thành công trong lĩnh vực phát thanh, điện ảnh và tài chính. Bà đã quyên góp và làm rất nhiều việc từ thiện. Judith McNaught hiện đang sống ở Houston, Texas. Tác phẩm: Hơn Cả Tuyệt Vời Như Cõi Thiên Đường 11 Năm chờ 11 Tuần yêu Ai Đó Dõi Theo Em Whitney Yêu Dấu Vương Quốc Của Những Giấc Mơ Em Có Để Ta Hôn Em Không? Hạnh Phúc Nhân Đôi Tender Triumph Trong Từng Hơi Thở Tiếng Sét Xanh Định Mệnh Yêu Em Cho Đến Hơi Thở Cuối Cùng Một Lần Và Mãi Mãi Điều Kỳ Diệu Remember When Thiên Đường ... *** Trong căn hộ áp mái ở thành phố Chicago, bạn hàng xóm và phù rể trước đây của Zack, Matt Farrell, nhìn thấy cô con gái đang chạy như bay vào phòng, theo sau là mẹ bé, rồi nhảy chồm lên đùi anh. Với mái tóc vàng óng mượt mà và đôi mắt xanh, Marissa giống hệt Meredith, luôn luôn làm Matt  phải phì cười mỗi khi thấy họ   “Cha nghĩ bây giờ là giờ ngủ trưa cơ mà” anh nói với cô con gái   Cô bé nhìn vào kho sách báo khổng lồ mà anh đang theo dõi, và nhanh chóng hiểu lầm đó là những cuốn truyện cổ tích.   “Đọc truyện. Cha. Trước đã. Làm ơn mà”   Trước khi trả lời, Matt tò mò nhìn Meredith, chủ tịch Bancroft & Company, một chuỗi thương hiệu độc quyền được sáng lập bởi tổ tiên cô, và cô nhìn anh cười vô vọng.   “Hôm nay là chủ nhật mà” cô nói “Những ngày chủ nhật thì khá đặc biệt. Em nghĩ giấc ngủ trưa có thể đợi thêm vài phút”   “Mẹ nói được rồi kìa” anh vừa nói vừa ôm cô bé vào lòng, trong đầu nghĩ ra câu chuyện. Meredith thấy tia sáng thú vị lóe lên trong mắt anh khi cô xếp ghế ngồi nghe, và cô nhận ra nguyên do của việc đó ngay khi Matt bắt đầu   “Ngày xửa ngày xưa” giọng anh ra chiều nghiêm túc “có một nàng công chúa xinh đẹp ngồi trên ngai vàng ở Bancroft&Company”   “Mẹ?”   “Mẹ” Matt xác nhận “Bên cạnh xinh đẹp và tuyệt diệu, nàng công chúa này còn rất thông minh. Nhưng một ngày kia” giọng anh trở nên nghiêm trọng đến tàn khốc “nàng để một tay nhà băng đầu độc ác tư tiền của nàng vào một công ty mà – ”   “Chú Parker?” Marissa toe toét hỏi   Meredith che dấu nụ cười vì lời miêu tả vị hôn phu trước đây của Matt và vội vàng nói   “Cha nói đùa đấy. Chú Parker không độc ác đâu con”   “Đây là câu chuyện của anh mà” Matt tóe miệng cười tranh cãi rồi lại tiếp tục “Trong lúc đó chồng của công chúa là một người rất rành về lãnh vực kinh doanh đã cảnh báo cô không được làm vậy, nhưng cô vẫn làm bằng mọi giá” anh nhấn mạnh “Nàng công chúa còn tin chắc đến mức đánh cược với chồng là thị trường cổ phiếu sẽ lên, nhưng nó đã không. Nó đã giảm hai điểm hôm thứ 6. Con có biết nàng công chúa thua cái gì trong cuộc cá cược với chồng không?” .... Mời các bạn đón đọc Định Mệnh của tác giả Judith McNaught.
Điều Kỳ Diệu
Với một bà mẹ đáng ghét và mưu mô luôn kìm kẹp sát sao nàng trong việc kết hôn, Julianna Skeffington biết rằng nàng chỉ có một cơ hội cho bản thân mình để có một cuộc sống như nàng muốn: trở nên trọn vẹn, hoàn toàn, tuyệt đối BỊ HỦY HOẠI. Lang thang trong một khu vườn vào một buổi tối muộn, nàng tình cờ gặp một người đàn ông đeo mặt nạ và cầu xin chàng hủy hoại nàng, làm say mê chàng với sự trong trắng và hấp dẫn của nàng. Đổi lại chàng cũng quyến rũ nàng bằng kinh nghiệm của chàng, và cả hai người đều chìm đắm trong sự ham muốn lẫn nhau. Nàng không biết rằng người đàn ông đeo mặt nạ là người mà nàng đã kiên quyết chối từ - Nicholas DuVille. Cuốn sách này là một truyện ngắn trong tuyển tập "A holiday of Love" được viết bởi các tác giả Jill Barnett, Annette Lamb, Jude Deveraux, và Judith McNaught." Bốn cuốn trong tuyển tập này là: + Change of Heart, By Jude Deveraux + Miracles, By Judith McNaught + Daniel& the Angel, By Jill Barnett + Hark! The Herald, By Arnette Lamb --- ------ ------ ------- Đây là cuốn truyện dành cho những người yêu thích Nicholas DuVille qua Whitney, my love và Until you. Cuối cùng, chàng Nicki cũng đã tìm được một nửa của mình, tìm được điều kỳ diệu của mình. *** Nhận định "Judith McNaught là một đẳng cấp riêng." - USA Today "Tác giả ăn khách bậc nhất New York Times đã khéo léo dệt nên một câu chuyện ly kỳ đắm chìm trong bầu không khí căng thẳng hồi hộp, đầy những nhân vật không thể quên và chằng chịt những mạch ngầm dữ dội của khát khao, tham vọng." - Amazon.com "Một câu chuyện tình yêu đích thực hòa trộn giữa sự hài hước, hồi hộp, bí ẩn và lãng mạn khôn cùng."- Regan *** JUDITH McNAUGHT (1944) được xem là một trong những tác giả được yêu thích nhất mọi thời đại với thể loại tiểu thuyết lãng mạn cổ điển. Trước khi bước vào sự nghiệp viết lách, McNaught đã thành công trong lĩnh vực phát thanh, điện ảnh và tài chính. Bà đã quyên góp và làm rất nhiều việc từ thiện. Judith McNaught hiện đang sống ở Houston, Texas. Tác phẩm: Hơn Cả Tuyệt Vời Như Cõi Thiên Đường 11 Năm chờ 11 Tuần yêu Ai Đó Dõi Theo Em Whitney Yêu Dấu Vương Quốc Của Những Giấc Mơ Em Có Để Ta Hôn Em Không? Hạnh Phúc Nhân Đôi Tender Triumph Trong Từng Hơi Thở Tiếng Sét Xanh Định Mệnh Yêu Em Cho Đến Hơi Thở Cuối Cùng Một Lần Và Mãi Mãi Điều Kỳ Diệu Remember When Thiên Đường ... *** Những bức tường bọc lụa của căn phòng khách rộng lớn trong ngôi nhà thôn quê oai vệ gần London của Nicholas DuVille được nối liên tiếp bởi những bức tranh vô giá của các bậc thầy vĩ đại và được trang hoàng bằng những báu vật đã từng làm vinh danh các cung điện. Ngay lúc này trong phòng đang có vị chủ nhân của nó cùng với bốn người bạn thân thiết nhất của chàng – Whitney và Clayton Westmoreland và Stephen và Sheridan Westmoreland. Cha mẹ của vị chủ nhân cũng hiện diện trong dịp đặc biệt này – Eugenia và Henri DuVille. Vị khách thứ bảy là Bà công tước quả phụ Claymore, người mà ngoài việc là bạn đặc biệt của hai vị trưởng bối nhà DuVille, còn có vinh dự là mẹ của cả Clayton và Stephen. Trong ngày đặc biệt này, những vị khách ngồi theo hai nhóm tách biệt trong căn phòng rộng rãi. Một nhóm gồm có những ông bố bà mẹ, Eugenia, Henri, và bà Công tước quả phụ. Nhóm còn lại gồm có bốn người bạn của Nicholas DuVille, những người cũng đã trở thành những ông bố bà mẹ, nhưng tất nhiên là trẻ hơn nhóm kia . Người thứ bảy trong căn phòng, Nicholas DuVille, không ngồi với nhóm nào, bởi vì chàng vẫn chưa phải là một ông bố. Chàng đang chờ để trở thành một ông bố, ngay đây thôi. Hai người bạn cùng giới với chàng, những người đã phải chịu đựng và đã vượt qua được sự chờ đợi thử thách hệ thần kinh này thì đang khá thích thú quan sát sự khổ sở của chàng. Họ thích thú là bởi vì Nicholas DuVille đã nổi tiếng trong những thành viên của giới quí tộc cấp cao nhờ vào khả năng giữ điềm tĩnh, thậm chí là khiếu hài hước không gì sánh được của chàng, trong những tình huống làm cho những quí ông cũng từng trải như chàng phải vã mồ hôi và chửi thề. Tuy nhiên, ngày hôm nay huyền thoại về sự tự kiềm chế đó không còn tồn tại. Chàng đang đứng bên cửa sổ, bàn tay phải lơ đãng nắn bóp những cơ bắp căng thẳng nơi gáy. Chàng đang đứng đó bởi vì chàng đã đi qua đi lại chỗ cái thảm nhiều đến nỗi khiến cho mẹ của chàng phải nói với chàng một cách vui vẻ là chỉ nhìn thấy chàng làm việc đó thôi cũng khiến bà sắp kiệt sức. .... Mời các bạn đón đọc Điều Kỳ Diệu của tác giả Judith McNaught.
Nghị Lực Người Đàn Bà
Những trang cuối cùng của Người đàn bà đích thực khép lại, tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng thì cũng xong, nó dày quá. Sau mỗi trận vật vã với sách như này, tôi tự nhủ lòng rằng lần sau không đọc những cuốn tiểu thuyết quá dày như thế này nữa. Nhưng rồi lần nào tôi cũng chịu thua chính mình khi những cuốn sách dày cộm cứ hút hồn tôi. Lần này lại là văn học cổ điển. Có người nhận xét Người đàn bà đích thực là đối thủ nặng kí của Cuốn theo chiều gió. Tôi thì không biết, vì Cuốn theo chiều gió tôi mới đọc được ½ vì một cái lí do vớ vẩn nào đó tôi đã bỏ ngang mà chưa có cơ hội đọc lại. Gấp trang cuối lại, tôi biết mình sẽ không bao giờ đọc lại cuốn tiểu thuyết này một lần nào nữa. Bởi giống như người ta chỉ sống một lần trên đời, tôi cũng muốn chỉ nhìn thấy Emma Hactor sống một lần trước mắt thôi thôi. Tôi đã quan sát cuộc đời ấy với một sự tò mò mãnh liệt, từ khi nàng còn là cô gái 14 tuổi cho đến khi nàng là bà cụ 89. Chứng kiến sự thăng trầm của một đời người, mà lại không phải là một người bình thường cho lắm, thì là một chuyện rất thú vị. Nhìn cô gái 17 ấy yêu, rồi nhìn người đó đi lấy chồng, mà đời nàng cay nghiệt, lấy tới 3 người chồng, thực đọc xong tôi cũng không nhớ nổi hết chồng nàng nữa. Nàng đẹp, tất nhiên là không phải đẹp tầm thường, không chỉ đẹp vẻ bề ngoài mà cái đẹp tỏa ra từ khí chất con người nàng. Bởi vậy đàn ông yêu nàng, si mê nàng. Thế mà rồi khổ, nàng toàn lấy những người nàng không yêu, nàng lấy chồng vì cần một tấm chồng. Cuộc đời nàng là hành trình của sự trả thù, hành trình tìm kiếm sự giàu có và quyền lực. Rồi cuối cùng thì nàng cũng đã đạt đến đỉnh cao, từ một kẻ hầu trở thành người đàn bà giàu nhất nước Anh. Nhưng liệu cuộc đời nàng có hạnh phúc? Tôi không thể trả lời được, vì chính tôi cũng không biết thế nào mới là một cuộc đời hạnh phúc. Tôi đọc, đôi khi tự so sánh mình với Emma. Rõ ràng là tôi không giống chút nào, Emma ngay từ trẻ đã là một cô gái thông minh, sắc sảo và đặc biệt là sức mạnh, là nghị lực phi thường của nàng. Tôi đương nhiên là một bánh bèo vô dụng chính gốc, chả làm được việc gì cho ra hồn chứ đừng nói đến việc lập một đế chế như người đàn bà ấy. Tất nhiên là nếu ngoài đời có một người phụ nữ như vậy, thì tôi phải trăm lần ngã mũ kính phục. Cuộc đời Emma có quá nhiều thăng trầm, và có thể gọi đó là một cuộc đời lớn. Đọc Người đàn bà đích thực, ta sẽ có thêm một hình mẫu để học tập về nghị lực sống phi thường. Và còn một điều rất quan trọng góp phần làm nên giá trị tác phẩm, đó là bối cảnh lịch sử làm nền cho cuốn sách, một phần câu chuyện diễn ra trong cuộc tấn công của phát xít Đức nhằm vào Anh và các nước đồng minh. Những yếu tố lịch sử này luôn tạo cho những cuốn sách mang sức hút riêng, mang màu sắc thực hơn. Có lẽ dư âm đọng lại lớn nhất trong tôi là hình ảnh người đàn bà với đầu óc thông minh, trái tim nhân hậu nhưng cũng là một khối rắn chắc của tinh thần mạnh mẽ quật cường mà không một khó khăn nào trên cuộc đời có thể quật ngã, Emma Hactor, đó là một hình ảnh đẹp lạ lùng, gây ám ảnh cho người đọc mãi về sau. Tôi thì tôi không nghĩ một vài dòng review có thể nói lên được cái hay của tác phẩm, chỉ là tôi muốn ghi lại cảm xúc của mình mà thôi. Còn tác phẩm, nó là dành cho những kẻ chịu khó đọc nó, quả ngọt không dành cho những người không chịu lao động mà. ---------------------------------- -- [ ad Cỏ ????] -- *** Vài nét về Barbara Taylor Bradford Sinh ra ở Lees, Yorkshire, nước Anh. Năm 16 tuổi, bà làm phóng viên cho tờ The Yorkshire Evening Post. Đến năm 20 tuổi, bà là ký giả chuyên viết bình luận cho báo chí ở Luân Đôn. Năm 1979, bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Woman of Substance. Và tiếp theo là 7 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất:Voice of the heart, Hold the dream, Act of Will, To be the best, The woman in his life, Remember và Angel. Phần lớn các tác phẩm của bà đã được thực hiện thành phim truyền hình nhiều tập. Các tác phẩm cửa bà đã được ấn hành 21 triệu bản tại Mỹ và 48 triệu bản bằng 34 thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới. Một số trong các tác phẩm nói trên của bà cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Barbara Taylor Bradford hiện sống ở New York và Connecticut với chổng là ông Robert Bradord, một nhà sản xuất phim điện ảnh. Tác phẩm:   Thiên Thần Ba Tuần Ở Paris Chuyện Tình Như Huyền Thoại Tên Gọi Khác Của Tình Yêu Những Người Đàn Bà Trong Đời Anh Người Thừa Kế Khát Vọng Yêu Đương Đời Vẫn Đáng Sống Niềm Vui Chiến Thắng Nghị Lực Người Đàn Bà Em Thuộc Về Đâu Nhớ Người đàn bà đích thực ... Mời các bạn đón đọc Thiên Thần của tác giả Barbara Taylor Bradford.
Giai Điệu Hạnh Phúc
ZURICK, 2002 Người phụ nữ cao mảnh khảnh, mặc áo quần rất đẹp. Cô ta đứng bên cửa sổ trong căn phòng sáng lờ mờ, đưa mắt nhìn ra những đỉnh núi phủ đầy tuyết sáng long lanh trong ánh mặt trời chiều. Cô thích Zurick, đây là nơi xinh đẹp. Cô hy vọng sẽ sống ở đây. Cô quay người lại khi cửa phòng mở, một người đàn ông bước vào, chìa tay ra để bắt tay cô. Cô vội bước tới bắt lấy tay ông ta, mắt nhìn ông đăm đăm. - Kết quả như thế nào? - Cô hỏi bằng giọng nho nhỏ, bình tĩnh. - Tôi sung sướng được nói rằng X quang cho chúng ta biết có nhiều dấu hiệu khả quan hơn chúng ta đã lo sợ vào lúc đầu. Vấn đề khó khăn không đúng, chúng tôi có thể giúp cô được. Tôi tin chắc ông ấy sẽ bình phục. Nhưng phải chậm chứ không nhanh được. Cuối cùng được như thế là quý hóa rồi, phải không? Chúng tôi tin chúng tôi có thể làm được như thế. - Phải, ông nói đúng, thời gian và sức lực mới đáng giá. Và tiền bạc nữa. Tôi rất tin tưởng ông. Tôi hoàn toàn tin ông. Người đàn ông nghiêng đầu đáp lễ một cách duyên dáng. - Làm ơn chờ tôi ít phút, sau đó tôi sẽ đến văn phòng của ông để bàn về các chi tiết. - Được thôi, thưa bà, - ông ta đáp và đi ra khỏi phòng. Người phụ nữ bước đến góc phòng, nhìn xuống thi thể nằm bất động trên chiếc giường hẹp, đầu và mặt băng bó. Cô ta để tay lên vai y, thì thào nói: - Sẽ ổn thôi. Anh sẽ ổn. Không có tiếng trả lời, không nhúc nhích động đậy. Không có gì hết. Cô ta biết y còn sống. Các bác sĩ đã xác nhận như thế. Bây giờ cô biết họ sẽ đem sự sống của y về cho cô. Ông giám đốc bệnh viện vừa nói với cô như thế. Cô ta cúi xuống hôn lên một bên má được băng bó, rồi bước đi. Cô không muốn rời khỏi y, nhưng cô phải đi. Cô băng qua phòng để ra cửa, miệng lẩm bẩm: - Anh sẽ khỏi, anh yêu à. Y phải khỏi. Cô ta đang mang thai đứa con của y, đứa con được mong ước. Đứa con sẽ được đặt tên Jonathan Ainsley, giống như bố nó, Angharad Hughes Ainsley cười một mình. Cuối cùng họ sẽ thắng. Vì họ là những kẻ thắng cuộc. Jonathan đã nói với cô ta như thế vào hôm y kết hôn với cô. *** Vài nét về Barbara Taylor Bradford Sinh ra ở Lees, Yorkshire, nước Anh. Năm 16 tuổi, bà làm phóng viên cho tờ The Yorkshire Evening Post. Đến năm 20 tuổi, bà là ký giả chuyên viết bình luận cho báo chí ở Luân Đôn. Năm 1979, bà viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên: Woman of Substance. Và tiếp theo là 7 cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất:Voice of the heart, Hold the dream, Act of Will, To be the best, The woman in his life, Remember và Angel. Phần lớn các tác phẩm của bà đã được thực hiện thành phim truyền hình nhiều tập. Các tác phẩm cửa bà đã được ấn hành 21 triệu bản tại Mỹ và 48 triệu bản bằng 34 thứ tiếng khác nhau trên toàn thế giới. Một số trong các tác phẩm nói trên của bà cũng đã được dịch ra tiếng Việt. Barbara Taylor Bradford hiện sống ở New York và Connecticut với chổng là ông Robert Bradord, một nhà sản xuất phim điện ảnh. Tác phẩm:   Thiên Thần Ba Tuần Ở Paris Chuyện Tình Như Huyền Thoại Tên Gọi Khác Của Tình Yêu Những Người Đàn Bà Trong Đời Anh Người Thừa Kế Khát Vọng Yêu Đương Đời Vẫn Đáng Sống Niềm Vui Chiến Thắng Nghị Lực Người Đàn Bà Em Thuộc Về Đâu Nhớ Người đàn bà đích thực ... Mời các bạn đón đọc Giai Điệu Hạnh Phúc của tác giả Barbara Taylor Bradford.