Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Đến Muộn

Hai người đẹp đôi, đính ước vui vẻ và quan hệ với nhau ở mức hợp tác. Họ quý mến chứ không đắm say, thân thiện chứ không thân mật, và trước ngày Sara đi Pháp thì kỷ niệm nồng nàn nhất giữa nàng với vị hôn phu chỉ giới hạn vài nụ hôn phớt nhẹ dưới trăng. Nhưng vài tuần sau, Sara trở về với sức hấp dẫn hoàn toàn mới mẻ. Vẫn những đường nét ấy, nhưng Rey thấy khuôn mặt xinh đẹp của nàng trở nên mê hồn, mái tóc đỏ hung thành rực rỡ, tấm thân săn chắc trở thành mềm mại hơn và lúc nào cũng như bốc lửa. Rey không hiểu tại sao, chỉ cố cưỡng để mối quan hệ giữa họ đừng dấn sâu vào gắn bó. Nhưng một buổi tối mất kiềm chế, chàng đã ôm nàng vào lòng, và đúng khoảnh khắc môi chạm môi, chàng nhận ra người đang đứng trong tay chàng không phải là Sara, không phải người chàng đã từng đính ước... *** Trước khi kịp hiểu ra chuyện gì đang xảy ra, Rina thấy nàng bị xoay đi, tay nàng khóa chặt trong tay chàng, và cả hai đang hối hả bước về phía thang máy. “Sara, anh đã gọi cho em suốt một tiếng liền. Anh gọi cả số máy cầm tay và số ở nhà vì không biết chắc em đã quay lại đảo chưa. Anh không hiểu vì sao em không thông báo giờ bay cho anh. Anh có thể đến sân bay đón em mà. Tại sao em không hề gọi cho anh?” “Tôi...” nàng mở miệng. Đầu óc nàng đang cố sức để theo kịp với chàng. Điện thoại di dộng ư? Đương nhiên rồi, Sara chắc chắn đã lờ đi những cuộc gọi của chàng. Số hiện tại của chị ấy đăng kí ở New Zealand nhưng có thể nghe gọi quốc tế, nàng biết nàng không thể đơn giản chỉ nói chị ấy đã thay số. Hãy nghĩ đi nào! Nàng tự bảo mình, Sara sẽ nói gì, làm gì trong trường hợp này? Rina đành bám vào biện pháp đơn giản nhất, “Em xin lỗi, em đánh mất điện thoại. Anh biết em mà”. “Giờ thì chẳng quan trọng nữa. Anh rất mừng vì em đã đến đây”. “Nhưng em...” Ánh nhìn của chàng khiến nàng ớn lạnh. Chỉ một phút trước thôi, đôi mắt ấy ấm áp và chào đón là thế, giờ đã đột ngột lạnh lẽo, vùng trán giữa hai hàng lông mày của chàng nhíu lại. “Anh nhận được tin xấu. Benedict gặp tai nạn. Alex vừa gọi cho anh. Chúng ta sẽ đến thăm nó và Abuelo ở bệnh viện, ơn Chúa là em đã đến, tiết kiệm thời gian cho cả hai ta”. “Benedict ư?” “Thằng ngốc”. Reynard khẽ gật đầu, “Em biết nó lái xe như thế nào rồi đấy. Có vẻ như con đường ven biển dẫn tới vườn nho đã hạ gục nó cùng với cái đống sắt vụn chất lượng cao mà nó vẫn gọi là xe hơi”. “Cậu ấy không sao chứ?” “Có đấy. Chúng ta không biết chắc nó đã mắc kẹt trong xe bao lâu nhưng đội cứu hộ đã mất tới gần một giờ đồng hồ để lôi nó ra khỏi đống đổ nát. Nó đang trong phòng phẫu thuật”. Giọng của Reynard khô khốc khi phát âm những từ cuối Rina vô thức nắm chặt những ngón tay của chàng trong tay nàng, “Em chắc cậu ấy sẽ ổn thôi”, nàng cố gắng bình tĩnh hết mức có thể. Nhưng thực ra sâu trong lòng nàng đang hoang mang cực độ bởi tin xấu. Làm thế nào nàng có thể nói với Reynard nàng không phải người chàng đang nghĩ tới. Benedict là em út trong số ba anh em nhà Castillo, đó là tất cả những gì nàng nhớ từ một email của Sara. Nàng cũng nhớ Sara từng nói Benedict trông coi việc sản xuất rượu nho của gia đình. “Anh rất mừng vì có em ở đây”, Reynard nói, xiết chặt tay nàng, “Em cũng mừng vì mình đã đến đây”. Nàng thì thầm trả lời, và thật kỳ lạ - nhưng đó là suy nghĩ thật của nàng. Nếu đến cả cô dâu đóng thế là nàng cũng biến mất, thì đó có lẽ là điều cuối cùng chàng có thể nghĩ tới. Ngày mai vẫn còn kịp để nói với chàng sự thật, sau khi họ đã biết Benedict sẽ không sao. Reynard im lặng suốt thời gian họ đi thang máy. Rina có thể cảm nhận được sự căng thẳng và lo lắng từ chàng đang truyền sang nàng như những đợt sóng vô hình, trái tim nàng quặn thắt. Nàng biết nếu như ở vị trí của Benedict lúc này là Sara, nàng sẽ cảm thấy như thế nào. Chắc chắn nàng sẽ chẳng thể làm được gì nữa. Cuối cùng, cánh cửa thang máy cũng mở ra, phía trước là khu tầng hầm đỗ xe ô tô. Reynard đút tay vào túi quần và nàng nhìn thấy đèn pha của chiếc xe rọi sáng lối đi. Dù trong ánh sáng lờ mờ của tầng hầm, chiếc xe hơi vẫn tỏa sáng vì lớp vỏ xe tự thân nó cũng là một tấm gương sáng bóng. Biểu tượng chú ngựa đang lồng ở mũi xe đã nói lên xuất xứ xa xỉ của nó. Lòng nàng tràn đầy nỗi băn khoăn. Cho tới lúc này, Reynard del Castillo đã có đầy đủ mọi tiêu chuẩn nóng của chị gái nàng. Chàng cao ráo, lịch duyệt, và rõ ràng tiền không phải là vấn đề với chàng. Rina không thể nhận ra có điểm nào ở chàng không hấp dẫn chị gái mình. Vậy thì vì sao Sara lại băn khoăn về việc có thể chị ấy đã mắc sai lầm? Và vì sao chị ấy nghĩ đến chuyện phải ra đi để tìm câu trả lời? Sara cũng không tỏ vẻ đang trốn chạy một điều gì đó. Thông thường, chị ấy luôn đối mặt với mọi chuyện thay vì bỏ trốn. Rốt cuộc vì sao chị làm như vậy? Dù rõ ràng chàng đang vô cùng lo lắng cho em trai và chỉ nóng lòng muốn lao tới bệnh viện, Reynard vẫn mở cửa sau xe cho nàng và đợi đến khi nàng ngồi vào ghế mới đóng cửa và tiến về phía vô lăng, điều đó khiến nàng ngạc nhiên. Nàng vốn là một phụ nữ độc lập, và luôn làm tốt việc tự chăm sóc bản thân. Nàng tôn trọng và tuân thủ sự công bằng trong mọi việc. Nhưng kiểu lịch lãm cổ điển ấy vẫn hấp dẫn một cách kỳ lạ. Và đó chưa phải là toàn bộ sự hấp dẫn ở người đàn ông này. Trong không gian khép kín của chiếc xe hoi, toàn bộ giác quan của nàng hướng về phía chàng. Dù trên xe có điều hòa, nàng vẫn nhận ra hơi ấm tỏa ra từ chàng, những chuyển động tự tin của bàn tay chàng đặt trên vô lăng và cần lái khi chàng tăng tốc đưa xe vọt khỏi bãi đỗ, hướng ra phía bên ngoài chói nắng, đó còn chưa kể đến mùi thơm tinh tế của nước hoa mà chàng sử dụng. Nàng nhắm mắt, chầm chậm hít thật sâu, bóc tách trong suy nghĩ từng tầng lớp của mùi hương ấy. Mùi hương gợi cho nàng nhớ tới cảm giác đang nhấm nháp từ từ một trái xoài chín mọng, từng lát rất mỏng, và bên dưới hương vị trái cây ấy là một hương thơm khác. Một mùi hương cay nồng. Hoắc hương ư? Có thể lắm chứ. Nhưng dù là gì đi chăng nữa, nó cũng đang khiến nàng ngây dại. Sự ngây dại hoàn toàn không nên có khi mà chính bản thân nàng vừa bị đá phăng bởi chồng sắp cưới và vẫn đang phải suy nghĩ về chị gái nàng. Rina cố mở mắt. Chuyện này thật lố bịch. Nàng không phải kiểu người dễ dàng điên đảo chỉ vì vẻ bề ngoài và sự tồn tại của một người đàn ông. Những hấp dẫn mê đắm hoàn toàn trái ngược với bản năng đầy lý trí, biết điều của nàng, và nó khiến nàng hơi lo sợ. Thậm chí ngay cả trong những ngày tháng yêu đương mặn nồng nhất, khi nàng đồng ý chung sống với Jacob phần đời còn lại của mình, nàng cũng chưa bao giờ có cảm giác mê đắm với anh ta như với người đàn ông đang ngồi cạnh nàng. Nàng cố xua đuổi ý nghĩ đó. Có lẽ do nàng quá mệt... và có thể tình cảm của nàng đang bị tổn thương sau tất cả những chuyện đã xảy ra. Đúng vậy, đó chính là nguyên nhân. Đêm nay nàng sẽ nghỉ ngơi và ngày mai sẽ nói sự thực với Reynard. Nàng hé miệng, ép mình thở bằng miệng, nỗ lực tống khứ nỗi xúc động đang ngày càng lớn bên trong nàng. Bỗng nhiên, việc phải nói sự thật với chàng vào ngày mai trở nên rất xa vời. Khi họ bước ra khỏi xe bên ngoài bệnh viện, Rina đã đứng bên cạnh xe trước khi Reynard đi vòng sang để mở cửa cho nàng. Tuy nhiên, chàng vẫn giữ bàn tay nàng trên cánh tay chàng khi họ bước qua cánh cửa bệnh viện. Quá dễ hiểu vì sao chị gái nàng lại say đắm người đàn ông này nhanh chóng đến thế. Chàng chính là hình mẫu mà chị em nàng mơ ước. Nàng không hề thấp bé, đứng chân trần cũng phải cao đến hơn một mét bảy mươi, nhưng chàng vẫn cao hơn nàng hẳn một cái đầu và có thần thái của kẻ chỉ huy, cùng với vẻ hấp dẫn giới tính tinh tế. Thế là quá đủ để mọi người phụ nữ trưởng thành phải thèm muốn. Tập trung đi, Rina tự dặn mình khi họ bước qua bàn tiếp tân sáng bóng của bệnh viện, Reynard đi thẳng tới thang máy. Tất cả các biển hiệu ở đây đều được viết bằng ba thứ tiếng: Tây Ban Nha, Pháp và Anh, nên nàng hiểu họ đang đi thẳng tới phòng phẫu thuật. Đột nhiên nỗi căng thẳng ập đến trong nàng. Điều gì sẽ xảy ra nếu những thành viên khác trong gia đình nhận ra nàng không phải là Sara? Lúc đó nàng phải làm gì? Nàng cố gắng hít thở để trấn tĩnh. Vì sao người ta cần phải nghi ngờ kia chứ? Nếu chính Reynard, hôn phu của Sara cũng không nhận ra ngay sự khác biệt, nghĩa là không ai khác có thể nhận ra. Ở tầng có phòng phẫu thuật, họ được chỉ tới một phòng đợi riêng. Rina lập tức để ý đến một người đàn ông đẹp trai khác, người mà nàng ngờ rằng chính là anh trai của Reynard, Alexander. Anh đang đứng gần cửa sổ, vòng cánh tay ôm lấy một phụ nữ mảnh mai, an ủi cô dù gương mặt anh cũng thể hiện đầy đủ mọi nỗi lo âu mà họ đang cùng chịu đựng. Mái tóc của anh sẫm màu hơn Reynard, thì đường nét của gia tộc vẫn thể hiện rất rõ ràng. Nhìn kỹ hơn, Rina nhận ra chính người phụ nữ đang an ủi anh chứ không phải điều ngược lại. Khi vừa nhìn thấy em trai, Alex rời khỏi vợ và bước tới bên em trai. Tình cảm mà anh em nhà del Castillo dành cho nhau thể hiện rõ ràng trong cái ôm dài im lặng. “Có gì mới không?”, Reynard hỏi khi họ buông nhau ra. “Không gì hết”, Alex nói, giọng khàn đi. “Bác sĩ nói chắc phải mất vài giờ”, người phụ nữ nhẹ nhàng góp lời. Bỗng cô nhận ra Rina đang đứng gần cánh cửa, cô tiến tới gần nàng, “Hẳn em là Sara. Chị rất tiếc vì lần gặp gỡ đầu tiên của chúng ta lại trong hoàn cảnh như thế này”. Lần gặp gỡ đầu tiên ư? Sara chưa bao giờ gặp gia đình của Reynard ư? “Cô ấy vừa mới trở về sau chuyến thăm bạn bè ở Pháp. Em thậm chí còn không để cho cô ấy kịp thở”. Reynard quay về phía Rina và kéo nàng về phía mình, “Alex, Loren, đây là Sara Woodville, vợ sắp cưới của em . “Mừng em đến với gia đình của chúng ta”, Alex nói, cầm tay nàng và cúi xuống để đặt lên má nàng một nụ hôn kiểu châu Âu, “Loren nói đúng, anh rất tiếc khi gặp em như thế này, nhưng anh mừng em đã đến đây vì Reynard”. “Cảm ơn anh”, nàng đáp, nhưng trước khi nàng kịp nói gì thêm, tiếng ồn ào ngoài phòng đợi khiến họ phải chú ý. Khi cánh cửa mở ra, từng tràng tiếng Tây Ban Nha liến thoắng vang lên. Những đường nét của người nhà del Castillo hiện rõ trên gương mặt người đàn ông lớn tuổi vừa đẩy cửa bước vào. Cả người ông đổ dồn lên một chiếc gậy bằng gỗ sáng bóng phía trước, theo sau là một người đàn ông trung tuổi, với gương mặt vừa lo lắng lại vừa như có lỗi. “Tôi đến thăm ông ấy ở bệnh viện để trực tiếp báo tin, ông ấy đã đánh cắp chìa khóa xe của tôi. Tôi cố gắng ngăn ông ấy lại rồi, thưa các cậu, nhưng ông ấy không nghe”, người trẻ hơn nói. “Nghe ư? Hừ!”. Người tóc bạc nạt, “Cậu nghĩ là ta đã quá già, không hỗ trợ được các cháu trai của ta khi chúng cần đến nữa ư?” “Đừng lo, Javier, Abuelo ở cùng chúng tôi là được rồi. Sao ông không đi tìm xem quanh đây có cà phê tử tế để uống không?”, Reynard nói, bước lên trước đỡ lấy cánh tay của ông mình. “Tôi biết khẩu vị của tất cả những người khác rồi, nhưng còn tiểu thư, cô thích dùng cà phê như thế nào?”, Javier hỏi. “Cà phê đặc có sữa, cám ơn ông”, Rina khẽ cười mỉm trả lời. “Cháu quên hết lễ nghĩa rồi phải không?”, ông già quở trách cháu trai, “Cô gái này là ai?” Giọng nói hơi run với một ngữ điệu Anh đặc sệt của ông trái ngược hẳn với ánh mắt soi thấu sắc lẻm khi ông nhìn Rina. Trong khoảnh khắc, nàng tự hỏi liệu có phải ông đang nhìn xuyên qua nàng không, nhìn ra việc nàng đang giả mạo chị gái sinh đôi của mình. “Đây là Sara Woodville, hôn thê của cháu”, Reynard nhẹ nhàng đáp. “Đã đến lúc cô ấy trở lại. Ta bắt đầu nghĩ cô ấy là sản phẩm do trí tưởng tượng của cháu. Bà gia sư đó không chờ đợi ai, cháu biết đấy. Hãy nhớ lấy lời của ta. Vụ tai nạn này của Benedict”, ông vừa nói, vừa vung tay chém vào không khí, “nó thực ra không phải là vụ tai nạn, ta đảm bảo”. “Abuelo, đủ rồi”. Giọng của Alex sắc lạnh, “Benedict luôn liều lĩnh với tính mạng của mình mỗi khi ngồi sau tay lái. Không sớm thì muộn nó cũng lĩnh đòn đau. Chẳng liên can gì tới việc..”. “Cháu muốn phủ nhận đến bao giờ cũng được, cháu của ta. Nhưng sự thật thì sờ sờ trước mặt cháu đó. Còn bây giờ, cháu trai của ta đâu? Ta muốn gặp nó”. Ông già hung hăng giậm mạnh chiếc gậy bằng bàn tay xương xẩu lên sàn nhà bóng láng, và Rina bỗng nhận ra vì sao mấy anh em không muốn ông đến bệnh viện. Ông hoàn toàn không biết tình trạng thật sự của Benedict nguy hiểm như thế nào. Nàng hết đưa mắt nhìn ông lại nhìn sang các cháu trai của ông, đặc biệt là Reynard. Gương mặt chàng tràn ngập lo âu, bóng đen phủ tối đôi mắt nâu của chàng. Rõ ràng thương tích của Benedict rất nặng, đe dọa tới tính mạng. Tại sao nhất định cả chàng và Alex phải giữ kín bí mật với ông của họ? Và giờ đây, ông đang yêu cầu được gặp mặt cậu cháu út của mình. Rõ ràng họ vô cùng tôn trọng ông, điều này thấy rõ trong cung cách xử sự của họ, làm thế nào để nói với ông sự thật. Không cần suy nghĩ đến lần thứ hai, Rina tiến lên phía trước, vòng tay qua cánh tay của ông già, “Thưa ông del Castillo, cháu đã đi cả ngày hôm nay và rất mệt. Cháu muốn ngồi. Ông có thể cùng cháu ngồi xuống mấy chiếc ghế kia và chúng ta có thể trò chuyện để hiểu rõ về nhau hơn không?” Thực ra nàng không hề phóng đại sự việc. Nàng đã kiệt sức, nàng đã phải di chuyển liên tục, và vẫn đang phải đứng trong suốt hai ngày qua. “Cái gì thế này?”, ông già nhảy dựng lên. Rina lập tức bắn một cái nhìn lo lắng về phía Reynard trong khi chàng chỉ khẽ nhướn lông mày lên. “Cháu xin lỗi. Cháu đã nói gì sai phải không?”, nàng vội vàng nói. “Rey, cháu có thể giải thích không? Tại sao vợ sắp cưới của cháu lại gọi ta là ông del Castillo?” Đôi môi quyến rũ của Reynard giãn ra thành một nụ cười khẽ, báo cho Rina chút thông tin về lý do nàng khiến ông già bực bội. “Cháu nên gọi ông là xê-ni-ô đúng không? Cháu xin lỗi, tiếng Tây Ban Nha của cháu...”. Nàng thấy mình suy sụp hẳn. Nếu tiếng Tây Ban Nha của Sara đã vượt xa trình độ mới bắt đầu mà hai chị em nàng từng học cùng nhau từ xưa trong thời gian sống ở nước ngoài thì sao? “Là lỗi của cháu. Lẽ ra cháu nên giới thiệu cẩn thận cả hai người thay vì chỉ làm một nửa trách nhiệm. Sara, đây là ông của anh, Aston del Castillo”, Reynard chen vào. “Cháu phải gọi ta là Abuelo”, ông già trả lời, mắt đột nhiên lấp lánh, “Nếu cháu thực sự muốn kết hôn với cháu trai của ta”. Từ phía bên kia phòng, Rey quan sát Sara mặt đang tái đi vì những lời của ông chàng, lòng tràn ngập sợ hãi. Đương nhiên nàng sẽ không thể hiện bản chất cuộc đính hôn bốc đồng của họ. Chàng biết cả hai đã nhập cuộc với một chút phóng túng, cả hai đều không có ý định thực sự nghiêm túc trong việc này. Thậm chí Sara từng nói, để xem gió sẽ thổi hai người tới đâu. Chính thái độ ấy đã biến nàng vào vai hôn thê một cách hoàn hảo. Chàng cần một lễ đính hôn mà cô dâu tương lai không đòi hỏi quá nhiều sự cam kết trong khi vẫn đảm bảo ông của chàng thôi hò hét việc chàng phải kết hôn. Chàng ngờ rằng ngay thời điểm này, Sara cũng chẳng kỳ vọng gì ở một đám cưới, cũng như chàng. Nếu Abuelo ngừng kêu than về lời nguyền kì quặc, cả hai lại có thể trở về như bình thường. Và trong vòng vài tháng, chàng và Sara có thể chia tay trong vui vẻ, không để lại những cảm giác nặng nề cho nhau. Đương nhiên, kể từ sau hôn lễ thành công của Alex và Loren, ông già Abuelo còn tranh đấu mạnh mẽ hơn vì lời nguyền ấy. Không thể phủ nhận rằng kể từ sau đám cưới của hai người - tuy chỉ một thời gian ngắn - nhưng tình hình tài chính của gia đình họ cũng như nền kinh tế của toàn đảo Isla Sagrado đã vững mạnh lên rất nhiều. Abuelo càng vin vào cớ đó để tuyên bố nếu cả ba anh em chàng đều kết hôn, lời nguyền sẽ được hóa giải và đem lại sự thịnh vượng cho cả gia tộc. Nhưng Reynard vẫn nghi ngờ về lời nguyền của bà gia sư. Abuelo đã bị ám ảnh quá mức bởi vấn đề này trong những tháng qua, thậm chí ông già còn tuyên bố đã nhìn thấy bóng ma của bà ta. Nếu như lời của ông già là đáng tin, thì những lời nói cuối cùng của bà ta với người tình mang họ del Castillo của mình là nguyên nhân gây ra mọi cái chết trong dòng họ của chàng, đó là chưa kể sự tuột dốc của cả nền kinh tế trên đảo Isla Sagrado. Suy nghĩ đó quá nực cười, nhưng chàng và các anh em của mình rất yêu ông già, cả ba đều chuẩn bị tinh thần làm tất cả mọi việc nếu cần để biến những ngày tháng cuối của ông thật hạnh phúc. Thậm chí cả khi đối với chính Reynard, việc đó đồng nghĩa với chuyện chàng phải kết hôn. Rey tự nhiên nhận ra sự im lặng kéo dài trong căn phòng. Chàng tiến tới phía bên kia của Sara và hôn lên chóp mũi lốm đốm tàn nhang của nàng, chàng thích thú phát hiện ra gò má của nàng đang ửng hồng.Mời các bạn đón đọc Wed At Any Price #2: Tình Yêu Đến Muộn của tác giả Yvonne Lindsay.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Dấu Chân Người Lính - Nguyễn Minh Châu
Nơi đây khi đang mùa thu hãy còn là một cánh rừng già im lìm như ngủ. Lúc bấy giờ những người chiến sĩ bộ binh và cả những người chiến sĩ trinh sát dày dạn và ưa hoạt động nhất của cấp trung đoàn hoặc sư đoàn hãy còn ở tuyến hậu phương. Suốt cả một dải rừng núi âm u rậm rạp, thỉnh thoảng mới thấy sáng bừng lên vài bông hoa chuối rừng đỏ nở trên những thân cây gầy khẳng. Tiếp giáp với bìa rừng là bãi lau hoang vu, rồi lại một cánh rừng khác, một bãi lau khác ăn thẳng ra con đường số 9 rải sỏi dẫn tới một thị trấn và ngoại vi khu đồn địch. Suốt cả mùa thu, ở đây còn hết sức yên tĩnh. Trên mặt đất khô ráo đang đón đợi mùa mưa ngàn tới, chỉ có bước chân những đàn voi đi thủng thỉnh xéo nát từng bãi tranh, và báo trước cho chiến dịch sắp mở là bước chân không để lại chút dấu tích của những người lính trinh sát Bộ Tư lệnh chiến dịch và bọn thám báo Mỹ giậm đè lên nhau. Khuê, chiến sĩ cần vụ của chính ủy trung đoàn 5 đã từng sống trên mảnh đất này suốt từ trận đánh mở màn chiến dịch. Nhưng anh không khỏi bỡ ngỡ mỗi khi có dịp rời khỏi hầm sở chỉ huy, đi trở lại khu rừng trú quân hồi trung đoàn mới từ giã trạm giao liên cuối cùng tận ngoài bờ sông Xê Pôn. Thế là sau một loạt trận đánh, địch đã dự đoán được đôi chút hướng xuất kích của những đơn vị chiến đấu lớn của chúng ta. Chúng rải thuốc độc hóa học và dùng máy bay B.52 rải bom theo lối "rải thảm". Chỉ có trong vòng nửa tháng, từ khi tiếng súng đầu tiên của ta nổ vào giữa thị trấn, các cánh rừng chung quanh đã quang đi từng vạt, từng vạt cỏ tranh bị thiêu cháy, ở các chân lèn đá và dọc khe suối đã bị phát quang, máy bay trinh sát các loại lượn đi lượn lại thăm dò suốt ngày đêm. Ban đêm từng chùm pháo sáng liên tiếp treo lơ lửng trong bầu sương thăm thẳm trắng rừng trắng núi. Mặc cho máy bay địch trinh sát và bắn phá, dưới mặt đất bộ đội vẫn chen chân nhau đi đông nghìn nghịt. Họ tranh thủ đi nhanh hơn, nhận mặt nhau, chào hỏi nhau. Con đường cứ hình thành dần những khu vực tọa độ (1) của địch. Trên chặng đường đầy cây cối đổ ngả nghiêng, khói bom khét lẹt và đất đỏ lật lên lấp hết cây cối, từng đơn vị cứ đi qua, hết đơn vị này đến đơn vị khác, hết binh chủng này đến binh chủng khác. Ban ngày có những khi máy bay trinh sát không làm nhiệm vụ chỉ điểm cho máy bay phóng pháo, với đôi cánh bằng gỗ dán, nó liệng từng vòng tròn rất hẹp trên từng chỏm cây một. Từ bên thành cửa sổ trống hoác như con mắt mù thò ra một chiếc loa phóng thanh và một giọng nói õng ẹo: Các anh bộ đội Việt cộng dũng cảm! Đây là tiếng nói của người em gái mến thương của các anh. Các anh hãy suy nghĩ mau mau trở về với người em gái mến thương và chính phủ Quốc gia. Các anh sẽ được trọng dụng và chiều chuộng. Em đang trông thấy các anh... *** Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi. Các tác phẩm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970) Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983) Bến quê (tập truyện ngắn, 1985) Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, 1987) Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (tiểu luận phê bình, 1987) Phiên chợ Giát (truyện vừa, 1988) Cỏ lau (truyện vừa, 1989) Nguyễn Minh Châu toàn tập (Nhà xuất bản Văn Học, 2001) Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nhà xuất bản Hà Nội, 2009) ... Mời các bạn đón đọc Dấu Chân Người Lính của tác giả Nguyễn Minh Châu.
Cuộc Đời Ngoài Cửa - Nguyễn Danh Lam
Trong vai một người viết tiểu thuyết, Nguyễn Danh Lam hẳn là mẫu nhà văn không thích, thậm chí rất dị ứng, việc cưng nựng chiều chuộng các nhân vật của mình. Từ những “Bến vô thường”, “Giữa vòng vây trần gian”, đến “Giữa dòng chảy lạc”, đã là thế. Và rồi đến cuốn tiểu thuyết mới nhất này, vẫn là thế. Nguyễn Danh Lam không thèm hạ cố ban cho nhân vật một danh tính rõ ràng. Cũng rất hiếm khi nhà văn gắn cho họ những nét phẩm chất tính cách hoặc những năng lực cá nhân trên mức trung bình. Đã vậy, anh lại hay đẩy các nhân vật vào những cảnh huống trớ trêu, những trạng thái sinh tồn nếu không bi đát thì cũng dở khóc dở cười. Điều, vừa quan trọng lại vừa oái oăm, là ở chỗ: trong những cảnh huống những trạng thái ấy, các nhân vật của Nguyễn Danh Lam luôn có một sự tự nhận thức, thường trực và đầy ám ảnh, về cái bất túc và bất lực của mình… Ở cuốn tiểu thuyết mới nhất này, Nguyễn Danh Lam cho nhân vật chính “lên đường”, làm một chuyến du lịch bụi cùng với cô con gái cả ngày chỉ biết dán mắt vào chơi game trên điện thoại di động và luôn miệng kêu than. Sau lưng họ, là một gia đình rạn nứt. Trước mặt họ, là những khúc rẽ bất ngờ, những đứt gãy nhân sinh còn tồi tệ hơn gấp bội. Nguyễn Danh Lam đã kể những chuyện ấy, một cách bình thản và đầy tiết chế. *** ường phố đã vào khuya. Ông không nhận thấy sự khác biệt nhiều lắm giữa thành phố cao nguyên này với thành phố nơi ông sống. Nhà cửa, phố xá cùng một sắc đèn rờ rỡ. Dò đường một lúc, ông mới lần ra cái khách sạn gã bạn chỉ. Trước đó nửa giờ, gã lí nhí qua máy: Mày thông cảm, giờ này tao không đi được, cứ vào cái khách sạn này, nói tên tao. Mai tao đến kiếm sớm. Mở cửa xe mua một gói thuốc, ông nghe gió thốc từng cơn. Thứ gió kỳ lạ, thổi triền miên, không giống gió của những cơn giông, cũng chẳng phải gió biển. Đây chính là sự khác biệt. Bụi quăng vào mặt ông những đám khô khốc. Không gian se lạnh, khá thú vị. Khách sạn có vẻ nằm ở khu trung tâm. Ông nói tên gã bạn với cô nhân viên tiếp tân. Cô gái xinh đẹp lắc đầu cười. Chú thông cảm, có lẽ ông chủ con biết, chứ con không biết chú ấy. Ông ngớ ra, bối rối. Giá đừng đề cập gã có lẽ hay hơn. Ông nghe gã dặn nên hỏi cô, chứ thực sự chẳng có chủ đích gì. Chẳng hạn như việc giảm giá phòng, hay ưu tiên một vị trí tốt nào đó. Hai cha con cùng đói ngấu. Buổi chiều, sau khi lên hết con đèo, ông dừng nơi thị trấn gần đó mua hai ổ bánh mì, định bụng khi tới nơi sẽ ăn bữa chính. Đường lạ, nhiều đèo dốc, khiến kế hoạch dự kiến đổ bể. Mình đi ăn rồi lên phòng, hay lên phòng rồi đi ăn? Đi ăn luôn đi ba. - Con gái ông nhăn nhó. Giờ này còn chỗ nào ăn uống được không cô? - Ông hỏi cô gái tiếp tân. Nhà hàng tụi con đã nghỉ. Mấy chỗ gần đây, họ cũng đóng cửa hết rồi. Chú nên chạy ra chợ trung tâm, thứ gì cũng có. Lại phải lết ra xe, gương mặt con gái ông vốn nhăn nhó, lúc này càng nhăn nhó hơn. Điệp khúc của nó luôn là đói. Ông hiểu, nó đang tuổi ăn tuổi lớn, không thể chịu đựng được như ba. Ông tấp xe vào một dãy quán sáng đèn. Mấy cặp nam nữ chừng tuổi con ông đi chơi về khuya, co ro quanh cái bàn bên cạnh. Họ cười nói và văng tục. Cách phục sức, mấy chiếc xe đời mới, hoàn toàn chẳng có gì khác thanh niên thành phố. Thuở xa xưa, ông nhớ, sự khu biệt khá rõ ràng, bởi những cách ngăn về giao thông, hành chính. Con gái ông bỏ dở gần nửa tô mì, trong khi ông húp cạn. Sao vậy con, mệt không ăn nổi à? Dở quá - Ông không biết món ăn dở thật, hay đó là nhận xét quen thuộc của con gái. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Ngoài Cửa của tác giả Nguyễn Danh Lam.
Cửa Sông - Nguyễn Minh Châu
Tiểu thuyết được viết từ năm 1966, đây là tiểu thuyết đầu tay của Nguyễn Minh Châu, nhưng ông đã chứng tỏ được một bút pháp gây nhiều hứng thú và cảm giác lạ như là một hiện tượng văn học, một sự tìm tòi sáng tạo. Trong tác phẩm của Nguyễn Minh Châu toát lên ba hướng khái quát: chiêm nghiệm những chân lý đời sống, khái quát những tính cách, phát hiện những vấn đề tồn tại xã hội.  Theo lời nhà văn Tô Hoài thì Những cái tưởng như lặt vặt trong cuộc sống hàng ngày, nhưng dưới con mắt và ngòi bút Nguyễn Minh Châu đều trở thành những gợi ý đáng suy nghĩ và có tầm triết lý. Bởi đối với ông, cuộc đời và trang sách như là một, gắn chặt với nhau.  Với Cửa sông, Nguyễn Minh Châu viết về hình ảnh một làng quê hiền hoà bên sông Kiều, dòng sông thơ mộng, những con người hồn hậu và bình dị của ngôi làng nhỏ bé ven sông, nhưng trong khói lửa chiến tranh, mỗi người đều được trui rèn, hun đúc và trở thành những người con quả cảm và gan dạ bên bến sông, kể cả cô giáo Thùy bé nhỏ và hiền dịu năm nào...  ... Thùy cảm thấy trong khuôn ngực bé nhỏ của mình như có một con chim đang vỗ cánh chực bay tung ra. Cô thở rất mạnh. Tuy đã ở làng Kiều bao nhiêu năm, đã ra vào cái trụ sở hợp tác xã này bao nhiêu lần, nhưng hôm nay, đứng ở đây, cô vẫn không sao khỏi bỡ ngỡ như người vừa mới đến. Thuỳ nhìn lá cờ đỏ, trong lòng rất xúc động nghĩ đến bao nhiêu người đảng viên cộng sản của làng Kiều đã ngã xuống... *** Nguyễn Minh Châu sinh năm 1930, quê ở làng Văn Thai, tên nôm là làng Thơi, xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Theo lời kể của vợ ông, bà Nguyễn Thị Doanh, tên khai sinh của Nguyễn Minh Châu là Nguyễn Thí. Chỉ tới khi đi học, bố mẹ mới đổi tên cho ông thành Minh Châu. Trong những ghi chép cuối cùng, Ngồi buồn viết mà chơi ông viết trong những ngày nằm viện ở Bệnh viện Quân y 108, Nguyễn Minh Châu tự nhận xét về mình: "Từ lúc còn nhỏ tôi đã là một thằng bé rụt rè và vô cùng nhút nhát. Tôi sợ từ con chuột nhắt cho đến ma quỷ. Sau này lớn lên, đến gần sáu chục tuổi, đến một nơi đông người tôi chỉ muốn lẻn vào một xó khuất và chỉ có như thế mới cảm thấy được yên ổn và bình tâm như con dế đã chui tọt vào lỗ". Năm 1945, ông tốt nghiệp trường Kỹ nghệ Huế với bằng Thành chung. Tháng 1 năm 1950, ông học chuyên khoa trường Huỳnh Thúc Kháng tại Nghệ Tĩnh và sau đó gia nhập quân đội, học ở trường sĩ quan lục quân Trần Quốc Tuấn. Từ năm 1952 đến 1956, ông công tác tại Ban tham mưu các tiểu đoàn 722, 706 thuộc sư đoàn 320. Từ năm 1956 đến 1958, Nguyễn Minh Châu là trợ lý văn hóa trung đoàn 64 thuộc sư đoàn 320. Năm 1961, ông theo học trường Văn hóa Lạng Sơn. Năm 1962, Nguyễn Minh Châu về công tác tại phòng Văn nghệ quân đội, sau chuyển sang tạp chí Văn nghệ quân đội. Ông được kết nạp vào Hội nhà văn Việt Nam năm 1972. Nguyễn Minh Châu qua đời ngày 23 tháng 1 năm 1989 tại Hà Nội, thọ 59 tuổi. Các tác phẩm: Cửa sông (tiểu thuyết, 1967) Những vùng trời khác nhau (tập truyện ngắn, 1970) Dấu chân người lính (tiểu thuyết, 1972) Miền cháy (tiểu thuyết, 1977) Lửa từ những ngôi nhà (tiểu thuyết, 1977) Những người đi từ trong rừng ra (tiểu thuyết, 1982) Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (tập truyện ngắn, 1983) Bến quê (tập truyện ngắn, 1985) Mảnh dất tình yêu (tiểu thuyết, 1987) Chiếc thuyền ngoài xa (tập truyện ngắn, 1987) Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ (tiểu luận phê bình, 1987) Phiên chợ Giát (truyện vừa, 1988) Cỏ lau (truyện vừa, 1989) Nguyễn Minh Châu toàn tập (Nhà xuất bản Văn Học, 2001) Di cảo Nguyễn Minh Châu (Nhà xuất bản Hà Nội, 2009) ... Mời các bạn đón đọc Cửa Sông của tác giả Nguyễn Minh Châu.
Có Được Là Người - Primo Levi
Khi người ta hai mươi bốn tuổi, hãy còn “ít hiểu biết, không kinh nghiệm và dứt khoát muốn sống trong một thế giới siêu thực của mình”, mà bị bắt rồi đưa vào trại tập trung Auschwitz - nơi sau này sẽ được ghi nhận như một trong những nơi chốn khủng khiếp nhất trong lịch sử loài người - người ta sẽ khó lòng gọi đó là một chuyện may mắn. Có lẽ chỉ khi là một trong số rất ít ỏi người sống sót sau Auschwitz (theo nhiều số liệu thì chỉ khoảng 2% tù nhân Auschwitz là còn sống khi trại được giải phóng) và bắt đầu ghi lại những hồi ức kinh khủng về khoảng thời gian đen tối đó trên những tấm vé tàu ở Turin thì Primo Levi mới, như sau này ông viết trong lời mở đầu cuốn Có được là người, coi việc bị bắt vào Auschwitz tương đối muộn là một điều may mắn: Vào thời điểm ông bị đưa vào Auschwitz, đầu năm 1944, do cần nhân công lao động chính phủ Đức đã quyết định kéo thời gian sống của tù nhân trước khi giết, thay vì đưa thẳng vào trại hơi ngạt. Được viết năm 1947, Có được là người thuật lại câu chuyện thực của chính tác giả từ lúc bị bắt tại Ý đến khi được/bị đưa vào trại tập trung Auschwitz và chuyện ông đã sống sót trong chốn địa ngục đó như thế nào. Cần nói thêm rằng, vào thời điểm tác giả và những người Do Thái khác bị tống lên đoàn tàu chở người nổi tiếng của Đức quốc xã, Auschwitz đối với họ là một cái tên chưa có ý nghĩa gì mấy - thậm chí họ còn cảm thấy “nhẹ cả người” vì ít nhất cái đích đến đó “cũng là một nơi nào đó trên trái đất này”. Họ sẽ nhanh chóng nhận ra cái “nơi nào đó” kia là nơi mà họ bị tước đoạt tất cả: vợ con, bố mẹ già, tư trang, nhân phẩm, thậm chí cả tên - mỗi người tù chỉ còn biết đến như một dãy số xăm vào cánh tay trái; là nơi mà họ sẽ phải sống - nếu như chưa chết hoặc chưa bị giết - dưới những điều kiện phi nhân nhất; là nơi mà rồi họ sẽ chia sẻ những giấc mơ giống nhau đến kỳ lạ: giấc mơ được ăn, mà mỗi khi thức ăn chạm miệng là vụt tan biến thành nghìn mẩu vụn. Ở chốn này, một ngày được coi là tốt lành khi ngày đó họ có vài giờ để “cảm thấy bất hạnh theo cái kiểu của những con người tự do” - tức khi những người tù xoay xở được thêm chút xúp loãng đủ tạm no nê mà có sức nghĩ về gia đình, vốn là việc những khi khác họ không làm nổi. Cho đến bây giờ, đã có hàng nghìn cuốn sách viết về những trại diệt chủng trong thế chiến thứ hai. Còn vào thời điểm Primo Levi quyết định kể lại câu chuyện của mình, chúng cũng đã quá nổi tiếng. Levi khẳng định trong lời mở đầu rằng cuốn sách không nhằm đưa ra “những lời buộc tội mới” mà chỉ cung cấp thêm tư liệu cho những nghiên cứu về “tâm trạng con người”. Cuốn sách đặt ra nhiều câu hỏi nhức nhối: khi nào một con người là người? con người khác gì với con vật? liệu một con người có thể lấy đi nhân phẩm của một con người khác? người có thể làm gì đối với người? thiện, ác, đúng, sai liệu có ý nghĩa gì trong một nơi chốn khủng khiếp như Auschwitz? Trong quá trình học cách tồn tại, và nhờ cả may mắn để tồn tại đến những ngày cuối cùng giữa chốn phi nhân đó, Levi luôn tìm cách nhận ra những dấu hiệu con người: một cái ôm với người đồng hương trẻ tuổi Schlome, thái độ không từ bỏ, không chịu chấp nhận của Steinlauf, tình bạn với Alberto, Thần khúc của thi hào Ý Dante và nhất là sự tốt bụng của Lorenzo - người không ngại hiểm nguy tặng thường xuyên tặng xúp và bánh mì cho Levi. Cho dù sau Auschwitz người ta có thể phục hồi về mặt thể chất, tinh thần là một cái gì đó khó hồi phục hơn nhiều. Không phải ai cũng có thể chịu đựng được những hồi ức về quãng lịch sử đen tối đó. Bản thân con người tốt bụng Lorenzo kia đã không vượt qua nổi chứng rối loạn về tâm lý và cuối cùng chết vì thiếu sự chăm sóc bản thân vào năm 1952. Còn Levi, dù chọn cách đương đầu với quá khứ bằng cách viết sách và đi nói chuyện về Auschwitz, thì chết vào nhà riêng vào năm 1987, và cái chết nhiều bí ẩn của ông được nhiều nguồn tư liệu coi là tự sát. Dẫu sao, thì như Elie Wiesel, một tù nhân Auschwitz khác, đã nói, thực ra Primo Levi đã chết từ bốn mươi năm trước trong Auschwitz. Với một câu chuyện u ám như thế, lẽ ra Có được là người phải là cuốn sách nặng nề và khó đọc. Nhưng thật lạ kỳ, đây lại là một page turner - một cuốn sách bắt người ta phải lật không ngừng. Sức hấp dẫn của cuốn sách không nằm ở câu chuyện mà nằm ở cách tác giả kể chuyện - đó gần như là một giọng kể phi cảm xúc, che giấu sự kinh tởm trước những gì được mô tả - và cách mà cuốn sách gợi ra những suy nghĩ, những truy vấn mênh mang trong người đọc. * Có được là người - Primo Levi, Nhã Nam và NXB Hội nhà văn, Trần Hồng Hạnh dịch từ nguyên bản tiếng Ý  *** Tôi bắt đầu thử thách của mình với một tác phẩm hạng nặng. Số trang vừa phải (287 trang), nhưng những gì nó mang lại đủ để tôi xuống tinh thần trong khoảng thời gian không vừa phải chút nào.  " Nhân vật trong những trang sách này không phải con người. Tính người của họ đã bị vùi lấp, chính họ đã tự chôn nó vì sự xúc phạm phải chịu hay đã gây ra cho người khác. Những tên SS độc ác và bệnh hoạn, những Kapo, tù chính trị, tội phạm, prominent lớn nhỏ cho đến những nô lệ Haftling người này giống hệt người kia, tất cả các bậc trong cái hệ thống điên rồ mà bọn Đức dựng lên ấy đều bị gom lại đầy nghịch lý trong một sự tồi tàn nội tâm giống hệt nhau. " Tôi được tác giả cuốn sách thông báo rằng mọi điều diễn ra trên từng trang sách không có gì là bịa đặt, nói cách khác tôi đang được chứng kiến một khúc phim tài liệu chân thực nhất về những gì diễn ra từ Lager đến Auschwitz, về những người Do Thái khốn cùng trong một công cuộc chà đạp nhân phẩm khốn cùng. Giọng văn của Primo Levi rõ ràng khiến những kẻ quen đọc văn chương nửa thích thú nửa nản lòng, bởi ông không hoa mĩ mà chỉ kể lể, với thứ ngôn ngữ lạnh lùng và thiếu sinh khí chẳng khác gì cuộc sống tối tăm, dở người dở ngợm của những tù nhân DoThái trong những ngày tháng ấy. Làm sao để khiến người đọc ngày hôm nay có thể tưởng tượng rằng thứ chủ nghĩa dân tộc bệnh hoạn của Đức Quốc xã đã sản sinh ra không chỉ một tội ác diệt chủng, mà còn là sự huỷ hoại nhân tính vô cùng tàn khốc mà người với người có thể gây ra cho nhau vào thời đại được xem là văn minh tiên tiến ở Châu Âu, nếu không phải là kể hết ra một cách giản đơn và trần trụi. Sức hấp dẫn trong những con chữ nhuốm màu bi kịch của cuốn tự truyện này nằm ở chỗ đó.  Những người Do Thái thiên tài, trải qua bao nhiêu biến thiên và lăng nhục vẫn tự cường khẳng định vị trí của mình trong guồng quay tàn khốc của lịch sử. Nhưng vào những ngày đen tối nhất trong chiến dịch cưỡng bức và tàn sát của quân đội Đức, Levi chỉ nhìn thấy sự yếu đuối rất con người ở họ. Họ đã bị tước đoạt đến tận răng, từ bộ quần áo đến cái tên làm nên gốc tích của họ, bị lăng nhục đến tận răng, từ giá trị tri thức cho đến phẩm cách làm người đến mức chỉ có thể suy nghĩ về việc tồn tại vật vờ đến từng giây phút sống. Họ sẵn sàng ăn cắp, lọc lừa, chà đạp lên đồng loại, khốn khổ vì miếng bánh mì hay chết chìm trong việc tuân theo trật tự kiểu mẫu của những tên đao phủ. Phần lớn họ tin rằng mình đã chết, đã trở thành thú vật, khước từ mọi tư duy và hi vọng được sống như một con người, và một phần cũng đáng kể hơn vẫn còn suy nghĩ về điều đó, bám chắc lấy nó và chiến đấu đến kiệt lực vì nó.  "Đối mặt với cái thế giới hỗn loạn đáng nguyền rủa này, suy nghĩ của tôi trở nên lộn xộn. Có thật sự cần phải suy ngẫm về một cơ chế đạo đức rồi áp dụng nó không? Ý thức được mình không có cơ chế nào lại chẳng tốt hơn sao?" Chỉ có hai loại người tồn tại trong một thời kì ác mộng: một là những kẻ chết chìm vì sự tàn khốc của nó, hai là những kẻ bước ra khỏi nó và mang những vết thương sâu thẳm không bao giờ chữa lành được. Chiến tranh hay diệt chủng thì càng khủng khiếp hơn bởi sức huỷ diệt của chúng thừa sức vằm nát sự mỏng manh của thân phận con người. Primo Levi có thể là một người may mắn trở về và kể lại câu chuyện đau thương của thế hệ ông, nhưng cũng như bao con người khác nếu còn một trái tim sẽ còn bị hành hạ bởi vô vàn trải nghiệm, sau cùng ông cũng không thể hạnh phúc bởi những trang viết giải độc của chính mình.  "Chúng tôi nằm trong một thế giới của người chết và kiệt sức. Dấu hiệu văn minh cuối cùng đã biến mất xung quanh và cả bên trong chúng tôi. Công trình biến con người thành thú vật mà bọn Đức thời đắc thắng đã dựng lên giờ đây đang được bọn Đức bại trận hoàn thành nốt." Primo Levi tự sát tại nhà riêng vào năm 1987, bốn mươi hai năm sau ngày ông bước chân ra khỏi địa ngục trần gian do chính con người tạo nên. Ít ai hiểu được ông nghĩ gì trước khi chết, nhưng rồi chắc chắn cũng ít ai hiểu được ròng rã bốn mươi hai năm được làm người đó con người ta còn phải mang nặng điều gì khi cơn ác mộng tồi tệ nhất đã qua đi.  Cá nhân tôi suy nghĩ đến một di sản. Thứ di sản đớn đau dai dẳng của một thế kỉ toàn trị. Đó là điều mà đã chấp nhận làm người thì khó có thể quên đi như một giấc mơ phù phiếm được.   Mời các bạn đón đọc Có Được Là Người của tác giả Primo Levi.