Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Quyển 7: Đức Phật Dạy Tu Thiền Và Công Thức Giải Thoát (Nguyễn Nhân)

MỤC LỤC

01. Lời nói đầu

02. Dẫn nhập - Đối đáp

03. Xuất hoàng cung

04. Đức Phật dạy về 10 Pháp Giới Tìm mua: Quyển 7: Đức Phật Dạy Tu Thiền Và Công Thức Giải Thoát TiKi Lazada Shopee

05. Đức Phật dạy về 16 thứ Tánh Người

06. Đức Phật dạy tu Thanh tịnh Thiền

07. Công dụng 3 phần Thanh tịnh - Rỗng lặng - Hằng tri?

08. Con người có TÂM không?

09. Sao không thể nhìn được cửa “Hải triều Dương”?

10. “Nhất tự Thiền” là tu làm sao?

11. Sao chúng con lại nói Như Lai bị ma ám?

12. Làm nghề buôn bán, làm sao tu theo Thanh tịnh Thiền?

13. Đang làm việc tự nhiên bị “mất thân”?

14. Phương pháp giải thoát tiện và nhanh nhất?

15. Công Đức lưu giữ ở đâu và để làm gì?

16. Sao con được “Rơi vào Bể Tánh thanh tịnh Phật Tánh” dễ như vậy?

17. Lý do gì loài người bị luân hồi?

18. Làm cách nào cho tâm tự nhiên thanh tịnh?

19. Sao gọi là Địa Ngục và Ngục tối?

20. Tại sao khi lìa bỏ thế giới này mà thân vẫn còn đau nhức?

21. Ngoài thế giới này ra, còn gọi là gì nữa?

22. Để không bị luân hồi

23. Làm sao để Giải thoát?

24. Pháp môn Thanh tịnh thiền đơn giản vậy mà sao không ai thực hành?

25. Thế Tôn dạy có mấy pháp môn nơi thế giới này?

26. Tri Kiến lập Tri, tức vô minh bổn?

27. Pháp môn Thanh tịnh Thiền, đời sau có nhiều người tu theo không?

28. Căn bản Phật Tánh?

29. Nguyên lý trở về Bể Tánh thanh tịnh

30. Tiếng nói có còn hoài trong không gian không?

31. Tu các pháp môn khác không giải thoát được sao?

32. Con đường nhanh nhất để trở về nguồn cội?

33. Tu làm sao để trở về Bể Tánh thanh tịnh?

34. Vì sao Như Lai dạy 5 pháp môn tu dụng công?

35. Cách vượt ra thế giới loài người để trở về Phật Giới?

36. Đoán biết sự luân hồi của người thân trước khi họ qua đời?

37. Thôi! Dứt!

38. Sao Như Lai lại dạy các pháp môn trước?

39. Cách tu pháp môn Thanh tịnh thiền

40. Sau khi con người rời thân tứ đại, thời gian luân hồi các nơi là bao lâu?

41. Đức Phật thọ ký cho một cư sỹ thành Phật

42. Kệ kính mừng Phật Đản

43. Phân tích 6 pháp môn tu

44. Đức Lục Tổ dạy về ý sâu mầu của pháp môn Thanh tịnh thiền

45. Đức Lục Tổ dạy về cấp giấy và bằng chứng nhận

46. Đức Lục Tổ dạy về nguy hiểm của pháp môn Thanh tịnh Thiền

47. Ngọc Xá Lợi hiện nay lấy từ đâu ra?

48. Sao hiện nay có đến 3 nơi dạy tu Thiền tông?

49. Sao tu theo Thiền tông có cấp bằng chứng nhận?

50. Đã là Thiền tông của Đức Phật dạy, sao lại có khác?

51. Tiêu chuẩn của một Thiền sư?

52. Khi tu dẹp hết vọng tưởng có thành Phật được không?

53. Cách “nếm” mùi vị của Thanh tịnh Thiền?

54. Thiền gia đối đáp với Thiền sư

55. “Tâm ta không ngữ cú, không một pháp cho người”?

56. Sao pháp môn Thanh tịnh thiền có sức “công phá” các pháp môn trước?

57. Người khi Ngộ Tánh như thế nào?

58. Sao lại nói “nghiệp chướng bổn lai không”?

59. Không lẽ các pháp môn khác của nhà Phật, không giải thoát được sao?

60. Truyền tâm ấn có phải là truyền Thiền tông không?

61. Tu cần, tu chánh, tu tối, tu sáng?

62. Người tu theo Thiền tông, tại sao không được dụng công?

63. Tâm hằng sanh muôn pháp?

64. Lý giải cụ thể về Tam Giới mà Đức Phật nói

65. Sao Phật Hoàng Trần Nhân Tông lại để hiệu là “Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử”?

66. Tánh và linh hồn có giống nhau không?

67. Cúng trai tăng thế nào cho đúng?

68. Tôi là một giảng sư, nếu tu theo Thiền tông, tôi thất nghiệp sao?

69. “Tánh Thấy, không Thấy, chỗ xưa Niết Bàn” là thế nào?

70. Tại sao dụng công tu là còn bị luân hồi?

71. Phật là gì? Ai Thấy? Ai Nghe?

72. Sao tôi nói pháp Thiền tông cho người khác nghe lại bị chửi?

73. Sao không công khai đứng ra phổ biến Thiền tông cho nhiều người biết?

74. Lộ trình của người hành Thiền tông để trở về nguồn cội?

75. 48 Lời nguyện của Đức Phật A Di Đà là sai sao?

76. Xin chứng minh là Thầy nhận được “mạch nguồn Thiền thanh tịnh”

77. Trong 12 bộ Kinh Đại thừa, chẳng lẽ không có Kinh nào dạy chỗ Giải thoát?

78. Căn cứ vào đâu mà nói các pháp môn tu hiện nay không Giải thoát?

79. Mê tín dị đoan là sao?

80. Hùn xây 3 chùa lớn và phụ xây 7 ngôi chùa nhỏ, có được Giải thoát?

81. Tu theo Thiền tông cốt để thành Phật?

82. Thí nghiệm đo đạt Thanh tịnh thiền bằng máy đo “Gia tốc”

83. Những gia đình đặc biệt Ngộ Thiền

84. Lời soạn giả

85. Liên hệ để biết thêm Thiền tôngDưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyễn Nhân":Quyển 1: Tu Theo Pháp Môn Nào Của Đạo Phật Dễ Giác NgộQuyển 2: Những Câu Hỏi Về Thiền Tông - Tập 1Quyển 3: Hành Đúng Lời Đức Phật Dạy Chắc Chắn Được Giải ThoátQuyển 4: Những Câu Hỏi Về Thiền Tông - Tập 2Quyển 5: Khai Thị Thiền TôngQuyển 6: Huyền Ký Của Đức Phật Và Những Vị Ngộ ThiềnQuyển 7: Đức Phật Dạy Tu Thiền Và Công Thức Giải ThoátQuyển 9: Sách Trắng Thiền TôngQuyển 10: Huyền Ký Của Đức Phật Truyền Theo Dòng Thiền TôngQuyển 8: Cuộc Đời Và Ngộ Đạo Của 36 Vị Tổ Sư Thiền TôngQuyển 11: Đức Vua Trần Nhân Tông Dạy Con Cách Giữ Nước, Tín Ngưỡng, Công Thức Giải Thoát...

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Quyển 7: Đức Phật Dạy Tu Thiền Và Công Thức Giải Thoát PDF của tác giả Nguyễn Nhân nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Đạo Phật Và Hàm Oan (NXB Viên Đề 1940) - Nhiều Tác Giả
Đạo Phật là đạo từ bi, bác ái, đại đồng, thiết thiệt, còn Phật pháp thì cao siêu huyền diệu, lợi ích, tích tục, chẳng những gồm cả nhân luân, mỹ tục, đạo đức mà thôi, lại còn hàm xúc các môn triết học, khoa học, hóa học nữa. Bởi vậy, nên thập phương thế giới đều công nhận một cách quả quyết đạo Phật là đạo VÔ THƯỢNG từ vô thỉ đến nay. Đã dành đạo Thích có một không hai, sao lại suy bại điêu tàn ở giữa thế kỹ 20 này? Cao Miên Phật Giáo HộiĐạo Phật Và Hàm OanNXB Viên Đề 1940Nhiều Tác Giả22 TrangFile PDF-SCAN
Công Phu - Nguyễn Kim Muôn (NXB Xưa Nay 1935)
Cái công phu là cái phần việc của mổi người tu làm qua mổi ngày, ấy cũng cho là như làm việc vậy. Thế thì, cái sự công phu này chắc là của ai ai cũng không giống nhau được, vì hoặc công phu ngoại, hoặc công phu nội, rồi trong hai lẻ nội ngoại lại còn có nhiều thứ, nhiều lớp, nhiều bực khác nhau nữa. Đây tôi muốn nói về cái công phu nội, mà có một bức thôi. Công PhuNXB Xưa Nay 1935Nguyễn Kim Muôn16 TrangFile PDF-SCAN
Tam Ngươn Giác Thế Kinh - Chiếu Minh Đàn (NXB An Hà 1932)
Trong Trời Đất có ba Ngươn: Thượng ngươn - Trung Ngươn - Hạ Ngươn. Ba Ngươn ấy là cái số cuối cùng của Trời Đất. Thượng Ngươn là: ngươn đã gây dựng CKVT. Nên còn gọi là Ngươn Tạo Hóa hay Ngươn Thượng Đức, con người lúc ấy tánh chất hiền lương chất phát. Thuận tùng Thiên Lý, trên hòa dưới hiệp bảo vệ thương yêu nâng đỡ nhau, cùng chung nhau hưởng đời an lạc, gọi là đời Thượng Lực. Đến đời trung Ngươn, thì con người bỏ mất tánh thiện lương, càng ngày càng học hỏi thu thập nhiều thói hư xấu, rồi nghĩ ra nhiều mưu lược tương tàn, tương sát giết hại lẫn nhau, mạnh đặng yếu thua, miễn sao mình vinh thân phì da, không kể gì đến tính đồng loại, nghĩa đồng bào, bởi vậy nên còn gọi là Ngươn tranh đấu. Hạ Ngươn còn gọi là đời mạt kiếp: sự đấu tranh càng ngày càng gay go hung tợn. Chế tạo ra nhiều vũ khí tối tân, giết người hàng loạt. Mưu quỉ kế là ác độc phi thường. Thậm chí còn bày ra hạt nhân nguyên tử. Nếu đấu tranh càng lắm, thì cũng phải tới thời kỳ tiêu diệt, bởi thế còn gọi là đời mạt kiếp hay ngươn điêu tàn. Tam Ngươn Giác Thế KinhNXB An Hà 1932Chiếu Minh Đàn213 TrangFile PDF-SCAN
Đập vỡ vỏ hồ đào - Thích Nhất Hạnh
Lời tựaĐập vỡ vỏ hồ đào – Thiền sư Nhất Hạnh giảng Trung Quán LuậnNếu trong khoa học có những khối óc như Einstein thì trong Phật học cũng có những trái tim như Long Thọ. Bộ óc là để thấy và để hiểu, trái tim cũng là để thấy và để hiểu. Không phải chỉ có bộ óc mới biết lý luận. Trái tim cũng biết lý luận, và có khi trái tim có thể đi xa hơn bộ óc, bởi vì trong trái tim có nhiều trực giác hơn. Biện chứng pháp của Long Thọ là một loại lý luận siêu tuyệt có công năng phá vỡ mọi phạm trù khái niệm để thực tại có cơ hội hiển bày. Ngôn ngữ của biện chứng pháp có khả năng phá tung được màng lưới khái niệm. Ngôn ngữ của toán học chưa làm được như thế. Bồ tát Long Thọ ra đời khi các cánh cửa của Phật giáo Đại thừa được bắt đầu mở rộng. Long Thọ thừa hưởng không gian khoáng đạt do các cánh cửa ấy cung cấp và vì vậy đã có khả năng khám phá trong kinh điển Phật giáo những viên bảo châu sáng ngời bị chôn lấp trong nền văn học Nikaya. Long Thọ nắm được cái tinh hoa của phương pháp học Phật giáo: loại bỏ được cái nhìn nhị nguyên để giúp tiếp xúc được với thực tại, một thứ thực tại bất khả đắc đối với những ai còn kẹt vào những phạm trù của khái niệm. Khoa học còn đang vùng vẫy để thoát ra khỏi cái nhìn nhị nguyên ấy: sinh-diệt, có-không, thành-hoại, tới-đi, trong-ngoài, chủ thể và đối tượng. Bụt Thích Ca nói: Có cái không sinh, không diệt, không có, không không, không thành, không hoại để làm chỗ quay về cho tất cả những cái có, không, sinh, diệt, thành, hoại. Mà cái không sinh không diệt ấy, cái không chủ thể không đối tượng ấy, mình chỉ có thể tiếp cận được khi mình vượt thoát màn lưới khái niệm nhị nguyên. Trung Quán là nhìn cho rõ để vượt ra được màn lưới nhị nguyên. Biện chứng pháp Trung Quán, theo Long Thọ, là chìa khóa của phương pháp học Phật giáo. Tác phẩm tiêu biểu nhất của bộ óc và trái tim Phật học này là Trung Quán Luận. Long Thọ không cần sử dụng tới bất cứ một kinh điển Đại thừa nào để thiết lập pháp môn của mình. Ông chỉ sử dụng các kinh điển truyền thống nguyên thỉ. Ông chỉ cần trích dẫn một vài kinh như kinh Kaccāyanagotta Sutta. Ông không cần viện dẫn bất cứ một kinh Đại thừa nào.Nếu Einstein có thuyết Tương Đối Luận thì Long Thọ có Tương Đãi Luận. Tương đãi có khác với tương đối. Trong tuệ giác của đạo Phật, cái này có mặt vì cái kia có mặt, cái kia không có mặt thì cái này cũng không. Vì ngắn cho nên mới có dài, vì có cho nên mới có không, vì sinh cho nên mới có diệt, vì nhơ cho nên mới có sạch, nhờ sáng cho nên mới có tối. Ta có thể vượt thoát cái thế tương đãi ấy để đi tới cái thấy bất nhị. Biện chứng pháp Trung Quán giúp ta làm việc ấy. Theo tuệ giác Trung Quán, nếu khoa học không đi mau được là vì khoa học gia còn kẹt vào cái thấy nhị nguyên, nhất là về mặt chủ thể và đối tượng, tâm thức và đối tượng tâm thức. Kinh Kaccāyanagotta cho ta biết là người đời phần lớn đang bị kẹt vào hai ý niệm có và không. Kinh Bản Pháp (S.2, 149-150) và kinh tương đương Tạp A Hàm (Tạp 456) cho ta thấy cái sáng có là nhờ cái tối, cái sạch có là nhờ cái nhơ, cái không gian có là vì có cái vật thể, cái không có là nhờ cái có, cái diệt có là vì có cái sinh. Đó là những câu kinh làm nền tảng cho tuệ giác tương đãi. Niết bàn là cái thực tại không sinh, không diệt, không có, không không, không không gian cũng không vật thể… và Niết bàn có thể chứng đắc nhờ cái thấy bất nhị. Ban đầu ta có ý niệm tương duyên (pratītyasamutpāda), rồi ta có các ý niệm tương sinh, tương đãi. Sau đó ta lại có ý niệm tương tức và tương nhập. Tất cả cũng đều có một nội dung như nhau. Những ý niệm không, giả danh và trung đạo cũng đều có ý nghĩa đó.Hạt hồ đào (walnut) ăn rất ngon nhưng cái vỏ của nó rất cứng. Ở Tây phương người ta có chế ra một cái kẹp sắt, chỉ cần bóp mạnh cái kẹp thì vỏ hồ đào vỡ và ta có thể thưởng thức ngay hương vị thơm ngọt và bùi của hồ đào. Có những kẻ trong chúng ta đã từng bị lúng túng trong khi đọc những bài kệ Trung Quán Luận. Nhưng trong hai mùa Đông năm 2001-2002 và 2002-2003, thầy của chúng tôi là thiền sư Nhất Hạnh đã giảng giải cho chúng tôi nghe và hiểu được những bài kệ ấy một cách dễ dàng và thích thú. Sách này ghi lại những bài giảng của thầy về sáu phẩm căn bản của Trung Quán Luận, các phẩm Nhân Duyên, Khứ Lai, Tứ Đế, Hữu Vô, Nhiên Khả Nhiên và Niết Bàn. Những phẩm này đại diện được cho toàn bộ Trung Quán Luận.Thầy Long Thọ sinh vào khoảng cuối thế kỷ thứ hai trước Thiên chúa giáng sinh(B.C.), trong một gia đình Ấn Độ giáo. Lớn lên thầy đã học Phật và theo Phật giáo. Thầy đã sáng tác bằng tiếng Phạn thuần túy, thay vì bằng tiếng Pali hay bằng tiếng Phạn lai Phật giáo.Tác phẩm Trung Quán Luận của thầy có mục đích xiển dương Đệ Nhất Nghĩa Đế (Paramartha) của đạo Bụt. Đệ nhất nghĩa đế là sự thật tuyệt đối. Ngoài sự thật tuyệt đối còn sự thật tương đối, tức là Thế tục đế (Saṃvrti). Sự thật tương đối tuy không phải là sự thật tuyệt đối nhưng cũng có khả năng chỉ bày, chuyển hóa và trị liệu, do đó không phải là cái gì chống đối lại với sự thật tuyệt đối. Mục đích của Long Thọ, như thế không phải là để bài bác chống đối sự thật tương đối mà chỉ là để diễn bày sự thật tuyệt đối. Nếu không có sự thật tuyệt đối thì thiếu phương tiện hướng dẫn thể nhập thực tại tuyệt đối, tức chân như hay Niết bàn. Vì vậy trong khi đọc Trung Quán Luận, ta thấy có khi như Long Thọ đang phê bình các bộ phái Phật giáo đương thời như Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) hay Độc Tử Bộ (Pudgalavāda) hay Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika). Long Thọ không đứng về phía một bộ phái nào, không bênh vực một bộ phái nào, cũng không chỉ trích bài bác một bộ phái nào. Ông chỉ có ý nguyện trình bày Đệ Nhất Nghĩa Đế của đạo Bụt, thế thôi.