Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Đứa Con Phố Arbat - Anatoli Rybakov

Anatoly Naumovich Rybakov (Anatoli Rybakov) sinh ngày 14.1.1911 trong một gia đình gốc Do Thái ở Chernygov, từ năm 1919 chuyển về Moskva sống tại phố cổ Arbat. Tốt nghiệp phổ thông, nhà văn tương lai phải làm nhiều nghề kiếm sống: công nhân xưởng hóa chất, bốc vác, lái xe… nên hai mươi chín tuổi mới bước chân vào trường đại học Giao thông vận tải. Thế nhưng, học được ba năm, ngày 5 -11.1933, A. Rybakov bị bắt và lĩnh án tù giam ba năm vì tội “tuyên truyền phản cách mạng”. Mãn hạn tù, không được phép cư trú trong thành phố, anh lang thang hầu khắp nước Nga, nhận làm tất cả các công việc kiếm sống miễn là không phải khai báo, cho đến năm 1938 mới được vào biên chế chính thức, làm kỹ sư trưởng phòng quản lý vận tải đường bộ khu vực Riazan. Năm 1941, chiến tranh bùng nổ, A. Rybakov vào phục vụ trong các đơn vị vận tải quân đội, tham gia chiến đấu ở hầu khắp các mặt trận từ Moskva đến Berlin, năm 1946 làm đến chức trưởng ban cơ giới của quân đoàn, mang hàm kỹ sư thiếu tá. Do những thành tích xuất sắc trong chiến đấu chống quân phát xít, Rybakov được sửa lý lịch, thành “không có tiền sự, tiền án” và đến năm 1960 thì được khôi phục danh dự hoàn toàn. Một trường đời như thế mà để ngoài văn chương thì thậm vô lý - và năm 1947, Rybakov bắt đầu hướng vào hoạt động văn học, mở đầu là thiên truyện phiêu lưu li kỳ dành cho tuổi thiếu niên Thanh đoản kiếm (1948, được đưa lên màn ảnh hai lần, vào năm 1954, 1973) rồi hai phần tiếp theo: Con chim đồng (1956, thành phim năm 1974) và Tiếng súng (1975, trước đó, năm 1974 đã được dựng thành phim Mùa hè cuối cùng của tuổi thơ). Thành công của hai cuốn sách đầu tay giúp nhà văn tự tin đi tiếp mạch truyện viết cho thiếu niên: từ Những cuộc phiêu lưu của Krosh (1960, thành phim năm 1961) ông viết hai cuốn tiếp theo Những kỳ nghỉ của Krosh (1966, thành phim năm 1979), Người lính vô danh (1970, hai lần lên màn ảnh - Phút mặc niệm, 1971 và Người lính vô danh, 1984).  Ở thể loại tiểu thuyết dành cho người lớn, Rybakov thử sức bằng cuốn Những người cầm lái (1950, về những chiến sĩ lái xe vận tải, cựu đồng nghiệp của mình), và năm sau được giải thưởng Stalin hạng nhì. Khi Stalin thấy trong danh sách những nhà văn được đề nghị tặng giải thưởng mang tên mình có Rybakov, ông bèn bảo A. Fadeev, người đứng đầu Hội Nhà văn Liên Xô hồi ấy: “Thế đồng chí có biết người này đã bị khai trừ đảng và ba lần bị tòa xử về tội phản cách mạng?” Và Rybakov đã giải trình được: ông chưa hề được kết nạp nên không có chuyện khai trừ, còn án tù thì đã được hủy từ khi ông đang ở chiến trường. Tiếp đó, Rybakov thành công lớn với Ekaterina Voronina (1955, về đường đời một cô gái mồ côi trở thành nhà quản lý giao thông đường sông với những thăng trầm theo thời cuộc, được dựng thành phim năm 1957) rồi cho ra đời Mùa hè ở Sosnyaky (1964, về nhân tình thế thái tại công trường xây dựng một khu liên hợp hóa chất bên bờ hồ Baikal). Năm 1978, cuốn Cát nặng ra đời. Tiểu thuyết này kể về chặng đời 1910 - 1950 của một gia đình người Do Thái tại một địa phương có nhiều dân tộc chung sống ở miền bắc Ukraina, về mối tình sâu nặng bất chấp mọi rào cản qua hàng chục năm, về thảm kịch lò thiêu người của bọn phát xít làm thiệt mạng hàng triệu người dân tộc thiểu số thuộc những quốc gia khác và xóa sổ gần 1/3 tổng số người Do Thái trên toàn cầu, đồng thời kể lại gương chiến đấu dũng cảm của những chiến sĩ du kích chống phát xít. Tác phẩm đỉnh cao này kết hợp được cả vẻ đẹp văn chương, cả chiều sâu triết học, vừa có sự phân tích lý giải những sự kiện lịch sử, vừa có tính biểu tượng cao: hình tượng nữ nhân vật chính trong mối tình kể trên, và sau đó, ở phần cuối tiểu thuyết, là người mẹ, người vợ của Rakhile đầy tính ẩn dụ về lòng căm thù của dân Do Thái đối với phát xít Đức. Tác phẩm được chuyển thể thành phim truyền hình nhiều tập năm 2008. Chịu số phận lận đận hơn cả là tiểu thuyết Những đứa con của phố Arbat: được tác giả viết xong từ những năm 1960, thời Khrutshov, nhưng đến năm 1987 thời Gorbachov phát động cuộc cải tổ mới có thể đến với độc giả và năm 2005 thành phim truyền hình nhiều tập. Trong lứa thiếu niên ở phố Arbat đầu thế kỷ XX khá nhiều người tài, trong đó có nhà thơ - nhạc sĩ Bulat Okudjava và nhà văn Anatoli Rybakov cùng sống ở dãy nhà đánh số lẻ. Cả hai nhà văn bậc thầy này đều đã ra mặt trận chiến đấu: Okudjava - con trai của một tù nhân - tình nguyện nhập ngũ khi mới mười bảy tuổi, còn Rybakov – cựu tù nhân về tội “tuyên truyền phản cách mạng” – sung vào đơn vị vận tải quân sự và được phục hồi danh dự khi Okudjava đã có năm năm tuổi Đảng. Những đứa con của phố Arbat là tác phẩm sớm nhất viết về số phận lứa thanh niên mới lớn vào những năm 1930 và được dịch giả Lê Khánh Trường nhanh chóng chuyển sang tiếng Việt. Cốt truyện tự nhiên dựa trên những biến cố có thật trong đời tác giả, với nhãn quan đúng đắn của nhà văn, nhìn nhận chuyện quá khứ tuy vương nỗi buồn thương, nhưng bao trùm là một thái độ khoan dung, không oán thán, Những đứa con của phố Arbat được coi như một “quả bom tấn trong văn học”, mang lại vinh quang thực thụ cho nhà văn. Được đà, tác giả sau đó viết tiếp cả một chùm ba tiểu thuyết nữa: 1935 và những năm khác (1989), Kinh hoàng (1990), Bụi và tro (1994).  Cũng như đối với nhiều tác phẩm trước đó, Rybakov thường đi tiếp mạch của cuốn truyện thành công để làm thành những cuốn sách trọn bộ. Đặc biệt, giữa bộ truyện này với bộ truyện kia vẫn có mối liên quan gắn bó: nhân vật chính trong Những đứa con của phố Arbat là Sasha Pankratov từng xuất hiện thấp thoáng trong cuốn Tiếng súng. Người đọc có thể thấy nét đặc sắc này khi có trong tay bộ Tuyển tập tác phẩm Anatoli Rybakov gồm bảy cuốn, xuất bản năm 1995.  Anatoli Rybakov mất ngày 23.12.1998 tại New York, được đưa về an táng tại Moskva. Những đứa con phố Arbat NXB văn học 198x Mời các bạn đón đọc Những Đứa Con Phố Arbat của tác giả Anatoli Rybakov.

Nguồn: dtv-ebook.com

Đọc Sách

Mối Chúa - Đãng Khấu
Thông qua cuộc tìm kiếm li kỳ nhân vật quyền lực đứng đằng sau tất cả các dự án động trời, các hợp đồng béo bở, tiểu thuyết Mối Chúa tái hiện những vấn đề nóng bỏng của xã hội đương thời: công nghiệp hóa và sự tan vỡ của nông thôn, hình ảnh những bố già quyền lực, thế lực bóng tối, lòng tham và sự bất chấp pháp luật, đạo lý, thân phận của những người nông dân thấp cổ bé họng… Những trang văn trần trụi của tác giả không khỏi mang lại cảm giác ớn lạnh và chua chát, và đặt ra câu hỏi: chúng ta có thể làm được gì? *** Kính cẩn tưởng niệm: Ba mươi năm ngày mất của Bà nội Hai mươi năm ngày mất của Mẹ Mười lăm năm ngày mất của Bố Và để kính lễ Đức Ngài linh thiêng, người luôn trở lại thế gian trong những giấc mơ của tôi. Lời tác giả cho lần xuất bản đầu tiên Từ bé tôi luôn đau khổ với cái tên Đãng của mình. Cô giáo chủ nhiệm hồi tôi học lớp năm thì bảo tôi có một cái tên khi gọi thấy đau hết cả miệng! Nó luôn bị biến thành Đăng, thành Dũng, ngay cả khi tôi đã cẩn thận đánh vần cho người gọi, người đọc, người chép nào đó từng âm tiết một, nói rõ luôn cả dấu ngã. Vậy mà có tới 99 phần trăm sau đó vẫn cứ nhầm! Nhưng nếu chỉ thế thì cũng chưa phải quá bi kịch. Tôi suýt còn gặp nạn lớn chỉ vì cái tên có âm trúc trắc đó. Tôi đã kể điều này trong một bài viết có đầu đề Nhớ lại để cười, thuật lại căn nguyên ra đời của truyện ngắn Người khác đầy tai ương. Đôi khi tôi nghĩ, đời mình khốn nạn ngay từ cái tên. Muôn sự chỉ tại bố. Bố tôi là người luôn muốn sơ lược hóa tối đa mọi chuyện. Đặt tên con, có gì mà phải cầu kỳ, khi nó chỉ như một thứ ký hiệu để gọi và phân biệt người này với người kia. Tên anh họ tôi là Vinh, ra đời trước mấy tháng, thì tên anh ruột tôi còn phải chọn đâu xa mà không là Quang (Vinh Quang), sau Quang là Đãng (Quang Đãng), quá thuận miệng và dễ nhớ. Chấm hết. Chả cần phải mang theo nghĩa bóng nghĩa gió nào cả. Nào ngờ, khi đọc bộ Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, tôi sướng phát điên khi thấy cái tên mình, khô khốc và khó phát âm thế, hóa ra cũng có nghĩa nếu luận theo tiếng Hán. Đãng, được Phùng Hữu Lan giải thích là trừ hại. Ô kìa, chả lẽ chó ngáp phải ruồi là chuyện có thật! Một cái tên đặt cốt cho có, hoàn toàn ngẫu hứng dựa theo một cái tên khác, lại mang một ý nghĩa không đến nỗi nào. Từ đó tôi cứ thấy âm ỉ một thứ khoái cảm rất trẻ con. Nhưng phải mới đây, nhờ Cục xuất bản in và Phát hành, tôi mới nhận ra giá trị hiển nhiên của cái tên bố đặt cho, gọi là tên cúng cơm. Cục nhắc Nhà xuất bản bằng một công văn có số má đàng hoàng [1], yêu cầu Nhà xuất bản nghiêm khắc nhắc tôi không được tiếp tục dùng cái tên Tạ Duy Anh khi ký biên tập, mà nhất định phải là Tạ Viết Đãng, như ghi trong chứng chỉ hành nghề. Đã là luật thì không có chuyện du di, chiếu cố. Vốn cũng là người thượng tôn pháp luật có phần còn thái quá, bản tính lại nhát, tôi răm rắp chấp hành mà không dám có ý kiến gì. Thế là bạn bè bắt buộc phải làm quen với cái tên Đãng bị chính tôi biến thành ra lạ hoắc với cuộc đời chả ra gì của mình. Để chuộc lỗi bất kính với cụ thân sinh, đồng thời cho bạn bè thấy, rằng cái tên Đãng cũng xứng đáng là cái tên đặt cho người, chứ không chỉ là một ký hiệu vô hồn, tôi quyết định lấy tên cúng cơm của mình, ghép thêm chữ Khấu, thành Đãng Khấu, làm tên tác giả cho lần in đầu tiên của cuốn sách này, vốn được viết để tưởng niệm ông bà hai bên, bố và mẹ, gọi là báo đáp công sinh thành, dưỡng dục, che chở, phù trợ của các cụ. Ngoài chút tình riêng ấy, chẳng vì bất cứ điều gì khác. Nay xin kính báo bạn đọc xa gần và mong mọi người rộng lòng thứ lỗi cho sự rắc rối không do cố ý này. Hà Nội tháng 3 năm 2017 Đãng (Tạ Duy Anh) [1] Công văn số 102/CXBIPH-QLXB ngày 19 tháng 02 năm 2016. Mời các bạn đón đọc Mối Chúa của tác giả Đãng Khấu.
Lệ Dung - Nguyễn Công Hoan
Độc giả thân mến. Nhắc đến Nguyễn Công Hoan, chắc Quý Vị không còn xa lạ gì nhà văn ấy. Trong thời tiền chiến, ai mà chẳng đọc qua các quyển: Tắt lửa lòng, Bước đường cùng, Tấm lòng vàng, Cô giáo Minh, Trên đường sự nghiệp, Lệ Dung, Nợ nần, Bơ vơ, v. v... Hơn nữa, một số tác phẩm của ông đã được và Đoàn Kịch nghệ nổi tiếng thời ấy phóng tác thành tuồng cải lương, lưu diễn từ Nam chí Bắc và được đồng bào các giới tán thưởng nồng nhiệt! Ông sáng tác đủ mọi chiều hướng: Trữ tình, Xã hội, Tranh đấu, Giáo dục,... nhưng có một điểm nổi bật hơn hết là mỗi tác phẩm của ông đều mang một sắc thái đặc biệt... đánh dấu một bước tiến mới cho bộ môn tiểu thuyết thời ấy. Nhưng, từ 20 năm qua... những tác phẩm của ông hầu hết bị thất lạc, bị mai một vì nạn Đất Nước qua phân! ... cho đến bây giờ, một số tác phẩm của ông đã được tuyển chọn làm Tài liệu Tham khao Văn chương cho Chương trình Đại học Văn khoa. Vì vậy, để giúp cho các sinh viên Đại học có đầy đủ tài liệu tham khảo cũng như sưu tập và bồi dưỡng lại những áng văn hay của nền văn học nước nhà, chúng tôi cho tái bản một số tác phẩm chọn lọc của ông. Ngoài ra, nhắc và nói đến ông, chúng tôi không vì mục đích chính trị hay một tham vọng nào khác. Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc và nói đến ông: con người Nguyễn Công Hoan của thời xa xưa chứ hiện tại, ông là một nhà văn đang phục vụ cho chính quyền Miền Bắc thì, dù muốn dù không, ngòi bút của ông cũng không thể phục vụ thiết thực và hữu ích cho nền văn học hiện đại. Và, sống dưới chế độ đảng trị, với lối suy tưởng một chiều, chúng ta không tin rằng ông sẽ sáng tác được những tác phẩm tương đối có một tầm giá trị sâu rộng; và được quần chúng ưa chuộng như những tác phẩm mà ông đã sáng tác trong thời Tiền chiến. Saigon, ngày 1 tháng 4 năm 1967. *** Tiểu thuyết xoay quanh bốn số phận khác nhau, đáng thương và đáng trân trọng. Lệ Dung trong truyện cùng tên, là cô con gái xinh đẹp, may mắn sống trong sự giáo dục chu đáo của gia đình và nền học vấn tiến bộ. Cô có một tình yêu đằm thắm với người bạn học Liêm Khê. Nhưng đến ngày cưới thì Liêm Khê bị bắt, để lại Lệ Dung với nỗi buồn đau tuyệt vọng, không tin tức. *** Hai năm sau. Vào ngày cuối tháng Một, nhà ông Tú có một quang cảnh vui vẻ, ngày vu quy của Lệ Dung. Nàng kết hôn với Hải Ngọc. Từ ngày Hải Ngọc chữa cho ông Tú khỏi bệnh thương hàn, thì chàng đi lại nhà ông thân mật hơn trước. Có một lần, ông đã về chơi quê chàng. Ông Tú quý chàng và yêu chàng, nên coi chàng như người nhà. Lại thấy chàng cũng là con nhà nho, nên có lần ông nói chuyện riêng với bà rằng: - Giá anh ta hỏi con Lệ Dung, thì dù con bé không bằng lòng, tôi cũng ép. Nhưng ông không phải ép tí nào. Vì chính Lệ Dung cũng đã hiến trái tim cho chàng từ lâu. Hai người tha thiết yêu nhau trong ngót một năm, yêu nhau bẳng tấm tình của người lớn, và cùng hẹn nhau là khi nào tòa báo có cơ sở vững vàng, hãy làm lễ thành hôn. Thì đến nay, Hải Ngọc đã trở nên một kiện tướng ... Mời các bạn đón đọc  Lệ Dung của tác giả Nguyễn Công Hoan.
Giọt Máu Chung Tình - Tân Dân Tử
Giọt máu chung tình viết về tình yêu chung thủy, son sắt của cặp trai tài, gái sắc. Võ Đông Sơ là con trai của Hoài Quốc công Võ Tánh (một danh tướng thời Nguyễn), còn Bạch Thu Hà là tiểu thư con quan tổng trấn Bạch Công. Cặp trai anh hùng, gái thuyền quyên gặp rất nhiều trắc trở để có thể đến với nhau. Khi họ đã có thể hẹn ước chung tình, sau đó vẫn vấp phải quá nhiều sóng gió. Anh trai của Bạch Thu Hà là Bạch Xuân Phương vốn là một công tử độc ác, ghen ghét, đố kỵ với Võ Đông Sơ, tìm nhiều cách hãm hại anh. Khi Đông Sơ được phong làm Đô úy, lãnh quân đi dẹp giặc Tàu ô, ở nhà, Bạch Thu Hà bị gia đình bắt phải lấy một tên vô lại vốn là bạn của Bạch Xuân Phương. Thu Hà trốn nhà, phiêu bạt đi tìm người yêu. Thân gái dặm trường gặp bao trắc trở, cám dỗ, Thu Hà vẫn quyết tìm cho được Đông Sơ. Trùng phùng chưa được bao lâu, Võ Đông Sơ lại nhận lệnh cầm binh lên Lạng Sơn đánh giặc xâm lăng. Chiến trường khốc liệt, trải qua nhiều trận đánh, Võ Đông Sơ tử trận. Bạch Thu Hà nhận tin khóc thảm thiết. Bên linh cữu Võ Đông Sơ, nàng quyên sinh để giữ trọn chung tình. Ngay khi ra mắt, Giọt máu chung tình trở thành một tác phẩm ăn khách. Cuốn tiểu thuyết có đời sống phong phú khi lần lượt được chuyển thể, tạo cảm hứng cho những tác phẩm nghệ thuật khác ra đời, trở nên nổi tiếng. *** Xưa nay những nhà văn chương hễ có xúc cảnh quan tình thì hay ngâm thi vịnh phú, hoặc đặt ra những trường thiên đoản cú, cho đặng tỏa cái tình tứ ức uất ưu sầu. Song các sách ấy, duy tiểu-thuyết là một truyện có tình-tứ cao xa, có tư tưởng rộng rãi hơn hết, chẳng những đọc đến thì đặng khiển muộn tiêu sầu mà thôi, lại cũng đặng mở mang trí thức thêm nữa. Vì vậy trong lúc mưa Âu gió Mỹ, thời đợi văn-minh nầy, tiểu-thuyết cũng đặng chiếm một địa vị cao đẳng, để làm phương châm mà chỉ vẽ những việc phải quấy của thế thới nhơn tình ; và làm cái gương khuyến trừng cho đám dân đoàn xã-hội. Nên những nhà tiểu-thuyết đại danh bên Tây-Âu, và các tay Hồng nho danh sĩ bên Đông-Á, mỗi năm xuất bản cũng đã sa số hằng hà. Như : Victor Hugo, Alexandre Dumas là nhà tiểu-thuyết đại danh bên Pháp-quốc ; như Bồ-tòng-Linh, Trần-Cầu là nhà trước tác đại danh bên Trung-Hoa. Còn Việt-Nam ta thì có Nguyễn-Du, Nguyễn-đình-Chiểu, và các ông khác nữa. Những truyện sách của các ông ấy, để đến ngày nay hãy còn miệng thế nhắc nhở bia truyền, người tuy mất mà phương danh chẳng mất. Nay Tân-dân-Tử đại nhơn ra quyển tiểu-thuyết nầy chẳng phải dám đối với các bực tiền triết trên đây, song nhơn lúc phong triều tiểu-thuyết đã phấn phát nơi cõi Á-Đông nên đem sự tích của một công-tử là con của một vị tướng quân đã vị quốc vong xu trong lúc Hoàng-triều Gia-Long phục nghiệp, ngõ đặng xem đến sự tích công-tử, thì nhớ tới lịch sử của tướng quân ngày xưa, cho khỏi tiếng mai một những người anh-hùng trong xứ sở. Quyển tiểu-thuyết nầy dùng theo thể cách Tây-Âu mà bố trí một sự tích hoàn toàn ước gần hai trăm trương, đem những sự tử biệt sanh ly của gái sắc trai tài, mà diễn nên một pho tình sử, rất thanh tân tao nhã, như mấy lối bi tình thảm trạng, cũng khiến cho kẻ đọc xót dạ, mà ủ mặt châu mày ; như mấy cơn hân hạnh kỳ phùng, cũng khiến cho người xem được vui lòng, mà chơn xoan tay múa. Vậy nếu quyển tiểu-thuyết nầy, may mà đặng hậu thế ham mộ ban hành, và đem mà khai diễn nơi các võ-đài trong xứ ta thì cũng chẳng khác chi truyện sách của các đứng tiền triết trước đây, chừng ấy cái danh dự của tác-giả có lẽ cũng đặng chút thơm rơi trong đất Việt. Thủ-đức Châu-sơn : NGUYỄN-ĐĂNG-CAO Mời các bạn đón đọc Giọt Máu Chung Tình của tác giả Tân Dân Tử.
Chân Dung Dorian Gray
Năm 1890, Oscar Wilde ra mắt cuốn tiểu thuyết duy nhất của mình và đã gây sốc với văn đàn Anh bấy giờ. Trong suốt hơn 100 năm sau, cuốn tiểu thuyết Bức họa Dorian Gray nổi tiếng trên toàn thế giới, trở thành tác phẩm tiêu biểu cho quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật" và được đông đảo công chúng đón nhận. Bức họa Dorian Gray của văn hào Anh Oscar Wilde kể về cuộc đời của chàng trai Dorian Gray - người sở hữu vẻ đẹp ngoại hình đầy mê hoặc - trong mối quan hệ với họa sĩ Basil Hallward và quý tộc Henry Wotton. Trong niềm say mê vẻ ngoài của chàng thanh niên trẻ trung, Basil đã vẽ nên bức chân dung Dorian Gray, để rồi bức họa đó đã thay Dorian lưu lại tất cả những gì xấu xí nhất, suy đồi nhất mà anh đã làm. Nhờ bức họa, dù hưởng thụ lối sống sa đọa và xấu xa, Dorian vẫn giữ mãi được dáng vẻ ngây thơ, tươi trẻ của mình cho đến khi lìa đời. Cuốn tiểu thuyết của Oscar Wilde khai thác môtíp quen thuộc là "giao kèo với quỷ dữ". Mặc dù đây không phải môtíp mới, nhưng Oscar Wilde vẫn đem đến cho độc giả một trải nghiệm hoàn toàn mới mẻ. Từ đầu đến cuối, tác giả tập trung mô tả vẻ đẹp trong sáng, ngây thơ, tươi trẻ của Dorian khi anh ta sống và yêu, đồng thời cũng mô tả cả sự suy đồi của vẻ trong sáng, ngây thơ, tươi trẻ ấy ẩn hiện qua bức chân dung mà Basil vẽ khi Dorian sa đọa về cả đạo đức và lối sống. Càng sa đọa, Dorian càng trẻ đẹp, bức họa càng tồi tàn.   Toàn bộ tác phẩm không nhấn mạnh đến lợi ích hay tác hại của "sự giao kèo", mà khiến người đọc trăn trở về nghệ thuật và cái đẹp: Thế nào là cái đẹp? Cái đẹp có đi liền với đạo đức không? Cái đẹp có chức năng hay tác dụng gì? Cái đẹp tồn tại độc lập hay phụ thuộc vào người ngắm? Khi Dorian nhìn vào chính mình trong bức chân dung đã tàn tạ đến mức khủng khiếp, cậu quyết định dùng dao hủy đi bức tranh. Thế nhưng bức tranh có bị hủy hoại hay không, vẻ đẹp đích thực có bị hủy hoại hay không, người đọc khó lòng trả lời được. Bởi cuối cùng, thứ mà mấy người làm công nhìn thấy trong phòng không phải một bức tranh bị đâm nát, mà là một Dorian mang vẻ tàn ác và nhàu nát vô cùng. Nếu Basil là đại diện cho người nghệ sĩ truy cầu cái đẹp và tình cảm mù quáng khi đứng trước vẻ đẹp bên ngoài, Henry đại diện cho sự châm biếm cùng cực đối với con người và xã hội đương thời, thì nhân vật Dorian Gray vừa là đại diện dễ thấy nhất cho cái đẹp, nhưng anh ta cũng là đại diện rõ ràng nhất cho con người: vừa mang vẻ đẹp hoàn hảo, lại vừa mang khả năng suy đồi rõ ràng nhất. Còn bức họa Dorian đại diện cho điều gì, đây là điều mỗi người đọc cần tự mình khám phá. Không chỉ lưu giữ nét đẹp cổ điển của ngôn ngữ Anh thế kỷ 19, những vấn đề về nghệ thuật và nhân sinh từng được đề cập trong sách cho đến nay cũng vẫn còn nguyên giá trị. *** Bức Chân dung Dorian Gray đưa người đọc nhận ra những điều kích sâu lắng, phức tạp và thiêng liêng hơn của thân phận con người. Dorian Gray, nhân vật chính của tiểu thuyết, với những khác khao ích kỷ của bản năng và trăn trở của mặc cảm, ngộ nhận; những cám dỗ cố hữu của nhục thể và sự kháng cự quyết liệt của tinh thần, những cú trượt ngã không phanh, những nổ lực trong tuyệt vọng, và cả sự tự vấn, phản tỉnh... tất cả đang quyện vào nhau như một bức thảm được dệt nên bằng những sợi chỉ tối tăm hoảng loạn nhuộm bằng máu. Chân dung Dorian Gray là hành trình đi tìm lương tâm của một chàng trai trẻ. Đây là một hành trình của những cung bậc cảm xúc: tâm tư giằng xé, trượt qua những dằn vặt tàng khốc, giãy dụa vật vã, đối diện với những thử thách cám dỗ giữ dội để tìm cái đẹp, cái thiện...  *** Oscar Wilde, tên đầy đủ là Oscar Fingal O'Flahertie Wills Wilde, là một nhà văn nổi tiếng của Ireland. Ông ra đời tại Dublin, Ireland, ngày 16 tháng 10 năm 1854 và mất tại Paris vì viêm não, ngày 30 tháng 11 năm 1900. Nguyên nhân cái chết của ông vẫn còn là một nghi vấn đối với các nhà khoa học. Cha Oscar Wilde là Sir William Robert Wills Wilde, một bác sĩ phẫu thuật và nhà khảo cổ học Ireland được phong tước Hiệp sĩ (Knight). Mẹ ông là bà Jane Francesca Elgee, nhà thơ theo chủ nghĩa dân tộc. Cả hai đều là người Ailen. Oscar Wilde tốt nghiệp trường Trinity College tại Dublin với kết quả học tập xuất sắc. Sau đó, ông tiếp tục học tại trường Magdalen Oxford. Ở trường đại học ông là một học giả xuất sắc và là một nhà thơ đầy hứa hẹn. ông được biết đến như một nhà mĩ học nổi bật, ông còn là người đầu tiên giảng giải về phong trào nghệ thuật vị nghệ thuật lúc bấy giờ. nổi tiếng về tài tranh luận và phong cách ăn mặc lịch lãm. Điều này khiến ông bị các bạn học trêu chọc và ông đã không ngần ngại tự vệ bằng... nắm đấm, cách phản ứng phần nào trái ngược với hình ảnh công tử bảnh bao mà ông để lại. ***   Ngài sẽ làm một người tốt à? Huân tước Henry nói. “Đừng nói thế. Hiện giờ, ngài đã là một người tuyệt vời rồi. Xin đừng thay đổi.” Những ngón tay dài, trắng của ông nghịch ngợm một bông hoa trên bàn. Ở London đang là mùa xuân, và hai người đang dùng bữa tối tại nhà của Huân tước Henry. Dorian Gray lắc đầu. “Không, Harry, tôi đã làm quá nhiều việc kinh khủng trong đời, và tôi sẽ phải thay đổi. Hôm qua tôi đã bắt đầu sống tốt, ở quê.” “Anh bạn trẻ của tôi ơi,” Huân tước Henry mỉm cười. “Mọi người đều có thể sống tốt ở quê. Ở quê chẳng có việc gì để làm cả, nên người ta không có cơ hội để làm điều xấu. Nhưng nói cho tôi nghe xem, ngài đã bắt đầu cuộc sống tốt của ngài như thế nào nào?” “Có một người con gái ở cái làng kia. Một người con gái rất đẹp, một cô gái quê chất phác. Nàng ta yêu tôi và sẵn sàng đi theo tôi, nhưng tôi đã nói không. Tôi đã từ chối hủy hoại cuộc đời non trẻ của nàng và đã giữ cho nàng được chất phác chân thật như khi tôi mới gặp nàng.” Huân tước Henry cười. “Ngài đã để lại cho cô ta một trái tim tan nát thì đúng hơn. Làm sao mà cô ta còn có thể tìm được hạnh phúc với một anh chàng nhà quê sau khi cô ta đã quen biết ngài?” “Đừng, Harry!” Dorian kêu lên. “Ông không bao giờ nghiêm túc được sao? Bây giờ tôi thấy hối hận là đã cho ông biết chuyện này. Chúng ta hãy nói chuyện khác đi. Đã xảy ra những gì ở London?” ... Mời các bạn đón đọc Chân Dung Của Dorian Gray của tác giả Oscar Wilde & Nguyễn Thơ Sinh (dịch).