Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đứa Trẻ Cát

Tahar Ben Jelloun sinh năm 1944, nhà văn người Ma-rốc viết bằng tiếng Pháp. Đứa trẻ cát xuất bản năm 1985, được báo chí Pháp ca ngợi và độc giả đón đọc say mê ngay từ khi vừa phát hành. Đêm thiêng là phần tiếp nối và bổ sung cho đề tài Đứa trẻ cát nổi tiếng đã đưa ông đến với giải Goncourt 1987.   Chuyện xảy ra tại một khu đông dân của một thành phố Ả Rập, ông chủ lò gốm cay cú vì vợ sau bảy lần sinh chỉ toàn là con gái. Cảm thấy xấu hổ, nhục nhã vì không có con trai thừa kế, ông ta đã đi đến một quyết định thách thức với số mệnh rằng dù thế nào đi nữa, đứa con sắp ra đời dứt khoát phải là một thằng con trai. Thật oái oăm, đứa thứ tám chào đời vẫn là con gái. Thế rồi Ahmed - tên đứa trẻ sơ sinh - được trình làng và nuôi dạy như một đứa con trai. Nhưng sau bao năm tháng, cậu bé lớn lên, bối rối khám phá ra ý nghĩa đích thực của cái mà người ta vẫn che giấu cậu: giới tính.   Những di chứng quái gở của tôn giáo, sự ngu muội ở một bộ phận cộng đồng là lí do dẫn dắt ông bố đi đến một quyết định sai lầm kéo theo sau đó bao nhiêu tai họa cho gia đình, cho đứa con mà ông bất chấp mọi quy luật áp đặt nên. Và đó cũng là mục tiêu mà tác giả cũng đã tập trung phê phán trong một số tiểu thuyết khác của ông. Và không chỉ có vậy, François Nourissier, viện sĩ Viện hàn lâm Pháp, trong khi đánh giá về tiểu thuyết của Tahar Ben Jelloun, đã gọi đó là những tiểu thuyết của sự lưu đày, của trạng thái không thể hòa nhập, của sự chia rẽ của hai nền văn hóa!  ***  Tahar Ben Jelloun (Tiếng Ả Rập: الطاهر بن جلون‎) (sinh ngày 1 tháng 12 năm 1944 tại thành phố Fes, Ma-rốc) là một nhà thơ, nhà văn người Ma-rốc. Mặc dù ngôn ngữ mẹ đẻ của ông là tiếng Ả rập nhưng hiện nay, các tác phẩm của ông đều được viết bằng tiếng Pháp.   Học trung học ở một trường song ngữ (tiếng Ả Rập và tiếng Pháp), sau đó Ben Jelloun học tiếp tiếng Pháp ở thành phố Tangier miền bắc Ma-rốc cho tới năm 18 tuổi. Đỗ vào trường đại học Mohamned-V ở Rabat, ông theo học ngành triết học. Trong những năm học đại học, ông đã viết nên những bài thơ đầu tiên của mình (được tập hợp trong tập thơ Hommes sous linceul de silence (1971)).   Tốt nghiệp, Ben Jelloun trở thành giáo sư dạy triết học ở Tetouan rồi sau đó ở Casablanca, Ma-rốc. Năm 1971, sau sự việc môn triết không được dạy bằng tiếng Ả Rập nữa, ông rời Ma rốc và đến Pháp để tiếp tục sự học môn triết của mình. Ở Pháp, ông bắt đầu viết nhiều hơn.   Đầu năm 1972, Ben Jelloun bắt đầu viết bài cho tờ Le Monde (Thế giới). Năm 1975, ông được công nhận học vị tiến sĩ về tâm thần học. Với những kinh nghiệm về tâm lý liệu pháp (nhờ vào những khảo cứu và lòng say mê), ông viết cuốn La Réclusion solitaire vào năm 1976.   Năm 1985, Ben Jelloun xuất bản cuốn tiểu thuyết L'enfant de sable (Đứa trẻ cát) được ca tụng rộng khắp. Ông được trao giải Goncourt năm 1987 cho tiểu thuyết La Nuit Sacrée (Đêm thiêng).   Năm 1997, cuốn Le Racisme expliqué à ma fille (Giảng cho con gái nghe về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc) được ông cảm tác dựa trên những thực tế trong gia đình mình được xuất bản.   Ông thường xuyên được mời diễn thuyết hoặc thỉnh giảng tại các trường đại học ở Ma-rốc và trên khắp châu Âu.   Năm 2004, Ben Jelloun giành được giải thưởng văn học quốc tế IMPAC Dublin cho tác phẩm This Blinding Absence of Light (do Linda Coverdale dịch sang tiếng Pháp). Ông cũng giành được giải Prix Ulysse vào năm 2005 cho toàn bộ sự nghiệp của mình.   Tháng 9 năm 2006, Ben Jelloun giành được giải đặc biệt vì “hòa bình và tình hữu nghị giữa người với người” tại Lễ hội văn hóa Lazio between Europe and the Mediterranean Festival được tổ chức tại Rome, Lazio nước Ý.   Ngày 1/2/2008, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã trao cho ông Huân chương Bắc đẩu Bội tinh.   Ben Jelloun có 4 người con và hiện đang sống tại Paris.   Hai cuốn tiểu thuyết L'Enfant de sable (Đứa trẻ cát) và La Nuit sacrée (Đêm thiêng) đã được dịch ra 43 thứ tiếng. Cuốn Le racism expliqué à ma fille (Giảng cho con gái nghe về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc) đã được dịch ra 33 thứ tiếng. Bản thân ông cũng tham gia vào việc chuyển ngữ những tác phẩm của chính mình.     Tác phẩm chính:   Harrouda (1973)  Solitaire (Cô đơn) (1976)  The Sand Child (Đứa trẻ cát) (1985)  The Sacred Night (Đêm thiêng) (1987)  Silent Day in Tangiers (Ngày yên lặng ở Tangier) (1990)  With Downcast Eyes (Mắt cúi gằm) (1991)  Corruption (Tham nhũng) (1995)  The Fruits of Hard Work (Thành quả lao động) (1996)  Praise of Friendship (Ca ngợi tình bạn) (1996)  L'Auberge des pauvres (1997)  Racism Explained to My Daughter (Giảng cho con gái nghe về chủ nghĩa phân biệt chủng tộc) (1998)  Islam Explained (Về đạo Hồi) (2002)  This Blinding Absence of Light (2003)  La Belle au bois dormant (Người đẹp ngủ trong rừng) (2004)  The last friend (Người bạn cuối cùng) (2006)  Yemma (2007)  Leaving Tangier (Rời bỏ Tangier) (2009)  The Rising of the Ashes (Tàn tro bốc cao) (2009)   *** Ấn tượng đầu tiên là khuôn mặt ấy dài ngoẵng bởi những nếp nhăn chạy dọc, những nếp nhăn giống như những vết sẹo bị cày xới bởi những trận mất ngủ triền miên, một khuôn mặt râu cạo nham nhở, bị thời gian tàn phá. Cuộc sống - cuộc sống nào đây? Một ngoại hình kì dị được sinh ra để rồi bị lãng quên - có bổn phận ngược đãi, ngáng trở, và thậm chí phải làm cho anh ta tức tối. Người ta có thể đọc hoặc có thể đoán ra được trên gương mặt ấy nỗi đau khổ ê chề mà chỉ cần một cử chỉ vụng về của bàn tay, một ánh mắt bênh vực, một con mắt dò xét hoặc ác ý cũng đủ làm cho vết thương ấy lại tấy lên nhức buốt. Anh ta thường tránh phô bày thân hình ra giữa ánh sáng chói chang và giấu hai con mắt vào sau làn tay áo. Ánh sáng của ban ngày, của một ngọn đèn, hoặc của mặt trăng rằm, đều làm cho anh ta đau đớn: tia sáng ấy muốn lột trần thân xác anh ta, len lỏi vào từng làn da thớ thịt và khám phá ra ở đó nỗi tủi hổ xót xa và những giọt nước mắt thầm kín. Anh ta cảm thấy luồng ánh sáng đó lướt qua cơ thể như một ngọn đuốc thiêu cháy tất cả những chiếc mặt nạ của anh, như lưỡi dao lần lần lột bỏ tấm voan bằng thịt ngăn cách anh ta với những người khác. Anh ta sẽ ra sao nếu khoảng không gian bảo vệ, ngăn cách anh ta với những người khác bị xóa bỏ? Lẽ nào anh ta lại bị phơi ra trần truồng, không một phương tiện tự vệ, trong tay những kẻ luôn rượt đuổi anh chỉ vì muốn thỏa mãn thói tò mò, tính đa nghi và thậm chí chỉ vì một mối hận thù dai dẳng; bọn họ không bao giờ bằng lòng với sự im lặng và trí thông minh của một kẻ luôn gây phiền hà cho họ bằng sự hiện diện độc đoán và đầy bí ẩn.   Ánh sáng lột trần cơ thể anh ta. Tiếng ầm ĩ làm cho anh ta bấn loạn. Từ ngày giam mình trong căn phòng nhìn ra sân thượng, anh ta không còn bị cái thế giới ồn ào kia tra tấn nữa, mỗi ngày một lần, anh ấy tiếp xúc với thế giới bên ngoài thông qua việc mở cửa cho Malika, bà giúp việc vẫn thường đưa thức ăn, đồ uống, báo chí và một bát hoa cam vào phòng cho anh. Anh ta rất quý mến bà lão vì bà đã trở thành một thành viên của gia đình. Kín đáo và dịu dàng, bà không khi nào lục vấn anh ta bất cứ điều gì, mà cả hai cứ như những kẻ tòng phạm, nhờ vậy họ rất gắn bó với nhau.   Tiếng ồn. Tiếng ồn của những giọng nói the thé hoặc nhạt nhẽo. Tiếng ồn của những tiếng cười thô lỗ, từ những tiếng hát chói tai phát ra từ chiếc radio. Tiếng ồn của những xô nước hắt ra ngoài sân. Tiếng ồn của lũ trẻ đang hành hạ một con mèo mù hay một con chó chỉ còn ba chân bị lạc vào giữa những đường phố hẹp, nơi những con vật và những người điên thường bị vướng bẫy. Tiếng ồn của những lời than vãn, nỉ non của những người ăn mày. Tiếng ồn chói tai của một chiếc loa phóng thanh, năm lần mỗi ngày, rè rè phát lời mời cầu nguyện. Đôi khi tiếng loa không còn là lời gọi mời cầu nguyện nữa mà là một cử chỉ xúi giục làm loạn. Tiếng ồn của mọi giọng nói và những tiếng la ó từ ngoài phố vọng vào và neo lại ở kia, ngay phía trên căn phòng của anh ta, đã đến lúc gió hãy cuốn chúng đi hoặc giảm bớt âm lượng của chúng.   Anh ta đã khuếch trương những dị ứng đó; cơ thể quá nhạy cảm và dễ xúc động của anh ta đón nhận mọi thứ dị ứng dù chỉ là một chấn động rất nhỏ, hấp thụ và giữ cho chúng luôn phát huy tác dụng, vì thế giấc ngủ của anh ta thật khó khăn nếu không muốn nói là không thể. Các giác quan của anh ta không hề bị rối loạn như người ta vẫn nghĩ. Mà ngược lại, chúng trở nên đặc biệt sắc sảo, năng động và không biết mệt mỏi. Chúng thực sự phát triển và chiếm lĩnh toàn bộ vị trí trong cái thân xác mà cuộc sống đã làm đảo lộn và số phận bị đổi hướng.   Khứu giác của anh ta có khả năng phân biệt được tất cả. Lỗ mũi đem đến cho anh ta mọi thứ mùi, ngay cả những thứ mùi không còn ở đó nữa. Anh ta nói rằng anh ta có khứu giác của người mù, thính giác của một xác chết đang ấm nóng và thị giác của một nhà tiên tri. Nhưng cuộc sống của anh ta không phải là cuộc sống của một vị thánh, tuy nhiên, cuộc sống ấy cũng có thể trở nên tốt đẹp như thế nếu như anh ta không có quá nhiều thứ phải làm.   Từ khi lui về ẩn dật trong căn phòng trên cao này, anh ta chẳng tiếp chuyện bất cứ ai. Anh ta cần một thời gian dài, có thể là nhiều tháng để thu nhặt các bộ phận của mình, sắp xếp lại quá khứ theo trình tự thời gian, sửa chữa cái hình ảnh bi thảm mà mọi người xung quanh đã dành cho anh ta trong thời gian gần đây, thu xếp một cái chết mà anh ta đã kí thác vào đó tất cả: cuốn nhật ký riêng tư, những điều bí mật của anh ta - có thể chỉ có cuốn sổ này là điều bí mật duy nhất - và cũng có thể đây là bản phác thảo một câu chuyện mà chỉ mình anh ta nắm giữ chìa khóa mà thôi.   Một màn sương mù dày đặc bao bọc dai dẳng xung quanh anh ta, che chắn cho anh những ánh mắt đầy ngờ vực và những lời thị phi của những người bà con và hàng xóm vẫn to nhỏ với nhau trước ngõ. Bức màn màu trắng này làm cho anh ta bình tâm trở lại, đưa anh ta vào giấc ngủ yên lành và nuôi dưỡng những giấc mơ tuyệt vời của anh.   Chuyện ẩn cư của anh ta không làm cho gia đình phải suy nghĩ nhiều. Họ đã quen với cảnh nhìn anh ta đắm chìm trong sự câm lặng ghê người, hoặc trong những cơn cáu giận bùng phát hết sức phi lí. Có cái gì đó không thể xác định được một cách minh bạch đã xen vào giữa anh ta và những người còn lại trong gia đình. Chắc hẳn là anh ta có những lí do riêng, và chỉ có mình anh ta là có thể nói ra được thôi. Anh ta quả quyết rằng thế giới của anh ta chỉ thuộc về anh ta mà thôi, và rằng cái thế giới ấy ưu việt hơn rất nhiều so với thế giới của bà mẹ và các chị của mình - nói tóm lại là rất khác nhau. Thậm chí anh ta còn nghĩ rằng mẹ và các chị không thể có một thế giới riêng nào hết. Họ bằng lòng sống ở bề ngoài sự vật, không đòi hỏi gì lớn, tuân theo quyền uy, những luật lệ và ý muốn của anh ta. Mặc dù không nói với nhau, nhưng phải chăng bà mẹ và những người chị gái đều cho rằng anh ta đã lựa chọn và chấp nhận lối sống lặng lẽ ấy, bởi lẽ anh ta không còn làm chủ được bản thân, không làm chủ được hành vi và sự biến thái trong con người mình do những cú sốc thần kinh căng thẳng tột độ lúc nào cũng chực làm anh ta mất trí? Ít lâu nay, bước chân của anh ta đã bớt đi dáng vẻ của một người đàn ông độc đoán, một chủ nhân không bị ai tranh ngôi đoạt vị trong gia đình, một người đàn ông thay cha quán xuyến mọi việc trong gia đình.   Lưng anh ta đã bắt đầu còng xuống, đôi vai buông xuôi một cách vô duyên, trở nên nhỏ hẹp và mềm nhũn, chúng k còn ý định làm chỗ dựa êm ái cho mái đầu của người tình hoặc là chỗ đặt bàn tay thân tình của bạn bè. Anh ta cảm thấy một khối nặng vô hình đè lên lưng, đến nỗi mỗi bước đi phải gắng ngẩng mặt lên và giữ cho thật cân bằng để khỏi ngã. Anh ta lết đi từng bước, nặng nhọc di chuyển thân mình, âm thầm chống chọi với những cơn đau dồn dập ập đến.   Mời các bạn đón đọc Đứa Trẻ Cát của tác giả Tahar Ben Jelloun.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cô Nàng Tỏa Sáng
Susan Mallery với tác phẩm The Sparkling one (Cô Nàng Tỏa Sáng) - đây là tác phẩm đầu tiên trong Marcellino series của SM về các chị em ruột trong gia đình Marcelli - gia đình Italy sống ở California, LA. Bản thân shiluo thấy truyện này rất hay, nội dung lãng mạn nhưng giọng văn hài hước tưng tửng cực kỳ - nhất là cách dùng từ đặt câu của tác giả. Ngoài ra điểm nội dung nữa làm The Sparkling one riêng và Marcellino series chung hấp dẫn là cái cách xây dựng đại gia đình Marcelli, nếu mọi người từng mê mẩn và ngưỡng mộ nhà McKenzie của Linda Howard hẳn là ko nên bỏ qua chị em nhà Marcelli của Susan Mallery. Marcellino series bao gồm 5 cuốn: 1. The Sparkling one là cuốn đầu tiên về chị cả Katie Marcelli. 2,3. The Sassy one, The Seductive one: 2 cuốn này về 2 em sinh đôi sau Katie - Francesca và Brenna. Trong đó cuốn The Seductive One rất hay về khía cạnh sâu sắc và miêu tả tâm lý nhân vật. 4. The Marcelli bride về ông thất lạc của gia đình Marcelli - Joe Marcelli. 5. The Marcelli princess về em út Mia Marcelli. shiluo mở đầu series này bằng The Sparkling one, tác phẩm theo shi đánh giá là hài hước nhất, nhàng nhất. Trong bản dịch có đôi chỗ thể cá tính người dịch, hi vọng là ko làm các bạn thất vọng. *** “Em hôn nó đi.”   “Không, chị hôn nó đi!”   Cô bé tám tuổi Katie Marcelli đưa ánh mắt từ hai cô em sinh đôi mới lên bảy sang con ếch nhỏ xíu màu xanh lè đang ngồi chễm chệ trên một khúc gỗ ở phía trước mặt chúng. Ánh nắng mặt trời mùa hè chiếu xuyên qua những tán lá cây, tạo nên những hình thù kỳ lạ trên mặt cỏ và khúc gỗ làm nó nghĩ đến những nàng tiên đang nhẹ nhàng lướt đi trong gió.   “Má nói là hôn một con ếch sẽ được trở thành công chúa.” Francesca nói, giọng có vẻ nghi ngờ. “Em không muốn trở thành công chúa đến mức thế.”   Brenna đẩy ra sau chiếc mũ Tiara làm bằng bìa các tông mà Katie đã cẩn thận cắt ra rồi dán lại bằng hồ dán và trang trí sặc sỡ màu mè. “Bọn con trai là đồ đần độn và những con ếch cũng thế. Cả hoàng tử nữa.” Nó bắt chéo tay trên bộ trang phục tả tơi được tạo nên từ vải tuyn và đăng ten và quắc mắt lại. Katie không thích bọn con trai đến mức thế, nhưng hoàng tử thì khác. Hoàng tử cưỡi con ngựa màu trắng và đem những cô gái đến một toà lâu đài lộng lẫy, ở đó họ có thể cùng nhau ăn kem bất cứ lúc nào họ muốn và không bao giờ phải viết những tờ note cảm ơn. Nhưng Francesca có lý, tất cả những điều đó có thực sự đáng để phải hôn một con ếch không?   “Làm thế nào chúng ta biết được nó có phải là một con ếch có phép thuật hay không?” Katie hỏi.   “Theo sách thì nó có một chiếc vương miện nhỏ trên đầu. Em không nghĩ rằng con ếch này đã từng là một hoàng tử đâu.” Francesca nói với nó.   Katie cúi xuống cho đến khi mắt nó ngang tầm với con ếch. Con ếch giương đôi mắt to cồ cộ nhìn nó nhưng không nhảy đi.   Francesca nói đúng – không có chiếc vương miện nào cả, cũng không có ánh sáng lấp lánh tràn ngập không gian. Nhưng trước đây bọn chúng chưa bao giờ nhìn thấy một con ếch nào cả – không ở một nơi đặc biệt như thế này.   Katie liếc nhìn hàng cây và thảm cỏ mềm mại, dập dềnh xung quanh mình. Ở đây nó và hai đứa em gái đang giả vờ tưởng tượng mình là những lữ khách thanh lịch đang chèo một chiếc thuyền đến một vùng đất mới huyền bí, đến nơi ở của nàng Lọ Lem, của những nàng tiên cá. Thi thoảng trò chơi của chúng quá nhiều chi tiết phức tạp nên chúng phải chơi trong vài ngày và Katie đã giúp đỡ ngoại M may những bộ trang phục thật đặc biệt. Hôm nay chúng ăn vận đóng giả làm những nàng công chúa xinh đẹp như tiên. Vào lúc chúng vừa mới quyết định xong xem ai sẽ là người bị Công tước Bóng tối xấu xa bắt cóc thì chúng phát hiện ra con ếch.   “Sẽ thế nào nếu nó có phép thuật và nó muốn chắc chắn rằng chúng ta sẽ tin nó.” Katie hỏi.   Brenna đảo mắt. “Thế thì hôn nó đi cho biết. Nếu nó không có phép thuật, chị sẽ bị nổi mụn cóc đầy mặt và sẽ phải trốn tiệt trong phòng bởi vì nhìn chị quá xấu xí.”   Không phải là một viễn cảnh đẹp đẽ gì, Katie nghĩ. Nhưng nó thực sự muốn tìm được một vị hoàng tử đẹp trai và rồi yêu chàng. Nó muốn có một đám cưới thật lớn với rất nhiều đăng ten, hoa và một bầu trời lấp lánh đầy sao.   “Em tin rằng chàng là một vị hoàng tử cải trang,” nó thì thầm với con ếch, “em sẽ hôn chàng và rồi hằng đêm em sẽ chờ chàng đến tìm em. Chàng sẽ là tình yêu đích thực duy nhất của em, và chúng ta sẽ sống hạnh phúc suốt đời.”   Nó hít vào một hơi thật sâu để lấy can đảm, rồi chồm tới gần hơn và dí đôi môi của mình lên cái mặt bé xíu của con ếch. Con ếch kêu lên ộp ộp rồi nhảy đi mất.   Brenna phá lên cười trong khi Francesca cố gắng giấu một nụ cười mỉm. Katie không nản chí. Khi nó hôn con ếch, nó cảm thấy … một cái gì đó. Như một tiếng tinh tinh. Hay một lời hứa.   “Hai em rồi sẽ thấy,” nó nói với hai đứa em, “một ngày nào đó hoàng tử của chị sẽ đến đón chị. Chàng sẽ chỉ muốn có một mình chị thôi, và hai em sẽ hối tiếc vì mình đã không hôn con ếch.” Mời các bạn đón đọc Cô Nàng Tỏa Sáng của tác giả Susan Mallery.
Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối
“Cứ để thời gian ăn mòn những nỗi oán hận, thế thì dễ dàng hơn. Chính xác như những nụ hôn bị đánh cắp một cách ngớ ngẩn, hãy để chúng chìm vào lãng quên trong nhà kho của sự dối trá. Chủ nghĩa phủ nhận muôn năm. Rồi để xem. Ta chẳng bao giờ dám yên trí nữa. Và nếu như tấm gương phản chiếu lại hình ảnh hơi mờ ảo của người mà ta muốn trở thành. Sau tất cả, ai mà chẳng có khiếm khuyết?”. ------------------- Bạn đã bao giờ nói dối chưa? Với người xa lạ, bạn bè, người yêu, gia đình,…? Về những điều nhỏ nhặt như “Không, em không giận, em vẫn ổn” cho đến những chuyện to tát như “Tôi lỡ có thai và tôi không muốn giữ đứa bé”…? Những lời nói dối luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta, thậm chí trở thành một phần không thể thiếu. Chúng ta nói dối khi sự lừa dối có lợi hơn sự thật. Nhưng liệu cuộc sống được xây dựng trên sự dối trá đó có khiến chúng ta thấy thoải mái và bình yên trong lòng? “Hạnh phúc trong năm lời nói dối” là câu chuyện xoay quanh Chloe Avanel - một cô gái bình thường, có những mối quan hệ bình thường và cần thiết như bao người khác, sống trong một gia đình với người mẹ đã mất và một vài trục trặc nho nhỏ. Mọi thứ được thông qua đôi mắt của cô, từ góc độ của cái tôi nhân vật nhìn ra ngoài cuộc sống và chứng kiến những lời nói dối. Nó khiến cô luôn tự hỏi liệu có thể nào dừng trò chơi lừa bịp này và sống không giả dối dù chỉ một lần không? Cuộc sống của Chloe, chuyện tình yêu của Chloe và Benjamin, mối quan hệ với người chị gái Joséphine và những mâu thuẫn trong gia đình Chloe, tất cả những lời nói dối dần được vô tình phát hiện hoặc hiển hiện và phơi bày rõ ràng. Đến cuối cùng, sau rất nhiều năm trôi qua, Chloe nhận ra rằng: đừng bao giờ tin vào vẻ bề ngoài; hãy tập trung vào thứ gì xứng đáng, tiến lên và nắm lấy nó. Bầu trời khi ấy dù đen tối đến đâu cũng sẽ trở nên bừng sáng một màu trong xanh. *** Không, tôi không muốn. Hoàn toàn không muốn về ra mắt bố mẹ Benjamin trong một hồi trống dồn dập theo kiểu “Tôi là Chloé, hôn thê của con trai cả nhà các vị”. Mặt khác, anh cũng có vẻ không vội để tôi xuất đầu lộ diện như một con thú trong hội chợ ở phòng khách kiểu cách của bố mẹ anh, những người hết sức đứng đắn. Với một nụ cười méo mó, trong cái váy xếp li và lời lẽ lúng túng. Thật quá sức chịu đựng. Tuy nhiên, cuối cùng thì, Benjamin, còn gọi là Benji, đã quen đến ăn tối ở nhà tôi, với những gì còn lại (ý tôi là gia đình, không phải những bữa tối nhé), vì tôi đang sống với chị Joséphine, Édouard - người yêu của chị và em trai tôi Gaspard. Mẹ tôi mất năm tôi mười lăm tuổi và đã năm năm nay bố tôi sống trên một hòn đảo hẻo lánh ngoài khơi Polynésie thế nên chị em tôi sống với nhau, vui vẻ trong tình thương ruột thịt. Một khay bò băm phủ khoai tây nghiền còn nghi ngút khói vừa được đặt lên bàn ngay khi Joséphine ngây ngô hỏi: - Thế bao giờ em ra mắt ông bà Largevent? Một tia hốt hoảng vụt qua mắt Benjamin mà tôi không muốn tố cáo nó. Anh có xấu hổ về tôi không? Lòng tự ái của tôi bị động chạm, nhưng thái độ của anh trấn an tôi. Tôi luôn nhớ kỷ niệm về lần duy nhất tôi thấy bố mẹ anh. Đó là khi họ đi du thuyền trong khi tôi là người chia bài ở sòng bạc trên tàu. Khi trở về, tôi chẳng liên lạc gì với họ. Cũng không cả trong cái lần đáng nhớ khi Benji làm mất chiếc ô tô của họ. Vậy là mọi chuyện đã rõ ràng, cần phải có một buổi ra mắt, tôi sẽ bắt buộc phải có mặt, nhưng nếu có cách nào để tránh nó thì tôi muốn vô cùng. Thật ra, tôi tự hỏi tại sao Benjamin không thấy xấu hổ về bố mẹ anh. Anh chưa bao giờ chỉ trích họ một cách công khai, nhưng kỳ thật tôi biết những mối quan hệ giữa bố mẹ và con cái chẳng bao giờ dễ dàng cả. Chẳng hạn, anh phải báo trước nếu không ăn ở nhà ngày hôm sau. Đó là một dấu hiệu đấy, tôi nghĩ thế. Và cái giọng điệu mà anh dùng để nói chuyện với bố mẹ, nó y như cách anh đối thoại với khách hàng vậy. À đúng rồi, tôi quên kể rằng Benji là một công chứng viên. Nghe cũng không hay ho lắm, nhưng cái nghề này khiến anh hài lòng và giúp anh lấp đầy tài khoản ngân hàng. Chỉ có một điều gây bực bội: đồng nghiệp của anh là một cô nàng gốc Mỹ tên Jessica Dupont, một quả bom tóc vàng với bộ ngực 95C. Cô ta có bộ răng trắng bóc, đều tăm tắp (cảm ơn ngành nha khoa)1* và một giọng nói ngọt ngào có thể làm tan chảy bất cứ nhiễm sắc thể Y nào. Những tiếng giày cao gót lịch thiệp vang lên trên nền đá cẩm thạch, và mùi Chanel số 5 vấn vương mỗi khi cô ta đi qua. Tôi chẳng thù ghét gì cô nàng ngoài việc khiến Benjamin luôn phải liếc theo hình bóng ấy. *Nguyên văn chirurgie = phẫu thuật, hiểu là chirurgie dentaire.. Mặc cho những điều phiền lòng này, đây là lần đầu tiên tôi cảm thấy tuyệt tới vậy với một người khác giới. Ừm, kinh nghiệm của tôi cũng chỉ giới hạn với một người yêu cũ thôi, nhưng vậy cũng đủ để tôi thấy rằng Benji hội tụ rất nhiều ưu điểm. Đầu tiên là anh không hẹn hò ở quán cà phê, bị bám dính bởi lũ bạn bè bợm nhậu. Tiếp theo là anh không thao thao bất tuyệt về đám bạn gái cũ, mấy cô với những số đo như người mẫu, ngực bự và tóc bạch kim. Tóc tôi màu nâu, mũi tôi hơi dài và thân hình có chút mập mạp (dù chẳng nghi ngờ gì là tôi cũng rất thu hút). Một điều đáng quý nữa: Benjamin không quá kiệm lời trên điện thoại. Chỉ là hôm nay, tôi đã nhận được hai tin nhắn, đều rất nhẹ nhàng, dịu dàng và ân cần, vậy đó. Anh nói rằng anh yêu tôi. Điều đó làm tôi dễ chịu. Bởi vì PAF (tôi đang nói về người yêu đầu tiên, Pierre Antoine Fabrège, anh trai của Marjolaine bạn tôi) là một người hay quên. Có cả ngàn điều để làm trong một giây, tôi đã tự đặt tên cho mình là “Đồ vô dụng”2*. Điều này vô cùng ám ảnh tâm trí bạn. Tôi không biết bạn thế nào, chứ với tôi, tâm trạng tôi chỉ càng vững thêm theo số lượng tiếng bíp trên điện thoại. *Nguyên văn “bánh thứ năm của xe ngựa”, ý chỉ người vô dụng thừa thãi.. Và tôi không nói về lý do tại sao chúng tôi chia tay, đó là điều mà tôi muốn bọc trong một cái vỏ đủ dày, khóa lại trong một chiếc hộp thật kín, bỏ vào thùng các-tông dán chặt một cách tỉ mỉ, tất cả được đặt trên gác xép, dưới một lớp bụi. Tóm lại, đừng nhắc thêm về điều đó, tôi đã quên rồi. Hoặc giả là như thế. Chi tiết cuối cùng: tôi yêu cái cách Benji yêu những phẩm chất của tôi. Bởi vì việc anh xoay xở để tìm được những điều đó trong tôi cũng chẳng dễ dàng gì. Và cũng bởi vì anh giúp tôi nhận thức được chúng. Anh thích tính hài hước của tôi, anh thích nụ cười của tôi, anh thích tiếng cười, năng lượng nơi tôi, làn da của tôi (thích lắm đấy, anh nói với tôi thế), lọn tóc nổi loạn cố vượt ra khỏi mái đầu bất trị, và tôi đã bỏ qua chúng, với đầy hối tiếc. Tóm lại, chúng tôi yêu nhau. Chúng tôi thường ăn trưa với nhau, anh cũng ăn tối thường xuyên ở nhà tôi, và sau đó lại trở về nhà để không gây ra ồn ào gì. Bởi vì anh còn ở với bố mẹ và chưa có một buổi giới thiệu chính thức nào. Vậy đó. Điều khập khiễng duy nhất trong cuộc sống thú vị này, đó là: tôi chẳng làm gì khác cả. Không học hành, không nghề nghiệp, không thất nghiệp, chẳng gì cả. Người ta có thể tin rằng đó là một hoàn cảnh lý tưởng, nhưng không. Tôi mười chín tuổi và muốn thay đổi, không muốn loanh quanh trong phòng để huyễn hoặc bản thân rằng tôi rất tuyệt vời, trước tiên là để thuyết phục chính mình. Tôi cho rằng vấn đề sẽ được giải quyết ngay năm học tới, nhưng những ngày trôi qua như một miếng bọt biển: uể oải và vô ích. Nói một cách chính thức, tôi đang trong thời gian tìm kiếm. Nghĩa là: tôi nhìn mình mà chẳng nói năng gì và chỉ lặp đi lặp lại: “Mày muốn làm gì với cuộc đời mày hả Chloé thân mến?” - nhưng mọi chuyện cũng chẳng khá hơn. Cái vòng luẩn quẩn này cứ như thế kể từ khi tôi không còn làm tài hề nữa (cho những ai không biết, tài hề là người phụ trách các trò chơi trong sòng bạc). Chị em tôi thêm nặng gánh. Tôi biết cần phải tìm thấy lối đi cho riêng mình. Giờ đây, tôi có cảm giác trước mặt là một đường hầm dày đặc, vô định, đen tối và dính dấp. Những ngày tâm trạng tốt thì tôi rất có lòng tin, nhưng những ngày khác, tôi như chìm trong cảnh khốn cùng. Làm việc trong một chuỗi hàng ăn nhanh, như là cái cửa hàng với chữ M lớn khoanh tròn trên lưng3* ư? Ừ, có thể. Bắt đầu học lại theo hệ từ xa ư? Cái đó, thực sự, giờ không phải là thời điểm tốt. Tìm một công việc bất kỳ nào khác để cho phép mình dịu đi lũ sói đang gào thét trong lòng ư? Hừm. *Ý chỉ McDonald’s.. Vậy là, không, chẳng có một buổi ra mắt chính thức nào, đề tài này đã khép lại. Chọn một chủ đề khác để nói chuyện, làm ơn đi. - Em biết là em đang làm trái luật đấy, Benjamin nói khi chúng tôi đi lên phòng tôi, sau khi đã ních đầy bụng món bò băm phủ khoai tây nghiền. Em đang hưởng tiền bảo hiểm từ cái chết của mẹ em, khi mà thường thì vì em đã dừng việc học, đáng ra em không nhận được số tiền đó nữa. - Ôi, thôi nào! Em đã đăng ký vào tháng Chín năm ngoái, em đã trả tiền học, nên năm nay chả có gì mà lo cả. Giờ là cuối tháng Tư, tức là năm học cũng sắp hết rồi. Mùa thu tới, để xem. Em sẽ lại trở thành sinh viên thôi, nào. Một cái nhếch mép phiền lòng lướt qua khuôn mặt Benji. Với anh, đó không phải là một cái “nào” chấp nhận được. - Chỉ là… Anh biết những điều này và anh không muốn đảm bảo cho mấy cái việc làm trái với… - Em xin ngắt lời anh ngay lập tức nhé. Em biết anh là công chứng viên và đã tuyên thệ trung thực. Anh đã cảnh báo cho em rồi, và đừng lo, anh sẽ không bị gạch tên khỏi danh sách đâu. Với cả, năm học này, cũng không hẳn là gian lận tiền bảo hiểm, vì em đã đăng ký học tới tháng Sáu rồi. Tuy nhiên, Benjamin chẳng có vẻ gì là tự hào. Gương mặt anh xám xịt, vẻ cương trực như bị bóp méo. Không tự hào, cũng chẳng hạnh phúc. - Được rồi, sự chu đáo của anh được ghi nhận. Em đã ngán phải bắt anh giữ bí mật chuyện này rồi. Một cái nhún vai. Bởi vì anh không thích điều đó, thế thì chọn một chủ đề mới vậy (cái thứ ba). Ờm, nói về… - Anh có thấy lúc này có vẻ lạnh không? Benjamin phá ra cười và đáp: - À, thế thì anh có giải pháp ngay đây: nép vào anh, anh biết làm thế nào để sưởi ấm cho em… Anh bao lấy tôi trong vòng tay và xoa người tôi như thể chúng tôi đang ở dưới một cơn bão tuyết. Benji, tôi yêu tiếng cười và tính tình anh. Làn da màu cà phê sữa của anh và những cử chỉ nhẹ nhàng nữa. - Anh không muốn ở lại đây đêm nay, dù chỉ một lần à? - Không, tốt hơn là anh nên về... Còn em, hãy suy nghĩ về cách làm cho bản thân trở nên bận rộn hơn trong những ngày này đi nhé. Trở nên bận rộn hơn, trở nên bận rộn hơn… Như thể lý do chính là để không gian lận tiền bảo hiểm! Tôi lắc đầu, với một chút buồn phiền. Và Benjamin ra về sau một tiếng thở dài. Bí mật đầu tiên, lời nói dối đầu tiên. Chẳng hề vẻ vang gì, với bất kỳ ai. ♥♥♥ Trong đêm, cả đống suy nghĩ quay cuồng trong đầu tôi, giương ra những hình ảnh kỳ quái. Vấn đề đầu tiên của tôi, đó là tôi chẳng biết phải làm gì với bản thân, với một quả cầu thủy tinh trên tay, tôi tự ngắm mình thật lâu. Nhìn đi, ai là mày, Chloé, mày đang giấu diếm điều gì trong tâm trí? Tôi thấy mình là một cô gái trẻ hấp dẫn và đầy năng lượng - nhưng giờ đây trống rỗng vô nghĩa. Bíp bíp, cần được giúp đỡ để biết cô ấy đã đi đâu. Benjamin cuốn đi những nghĩ suy trong tôi và tập trung vào một chi tiết nhỏ bé nhất, rằng bất kể điều này có làm tôi vui hay không, anh vẫn muốn tôi trở lại làm sinh viên, muốn ngăn tôi tự biến mình thành kẻ lừa đảo chuyên nghiệp. Tôi có muốn hẹn hò với người luôn kiên quyết với loại tội lỗi nhỏ nhặt này, như thể chúng vốn rất cơ bản? Câu trả lời là có. Tôi thích một người quá đỗi trung thực hơn là một kẻ lừa đảo, cơ hội, khôn vặt. Ngay cả khi tính thẳng thắn đôi khi thật nhàm chán. Bất kể ra sao. Ta tin rằng bóng đêm của những người chẳng làm gì trong ngày sẽ yên lặng và thanh tĩnh lắm. Chẳng có gì cả. Kẻ ăn không ngồi rồi cứ lặp đi lặp lại, suy nghĩ một cách đau khổ về mục đích cuộc đời mình, đả kích, tự nhận ra đó là một thứ ngáng chân, một cái dằm nặng nề đối với mọi người xung quanh. Thay vì đi tàu điện, tôi đi bộ. Trên bến Garonne, tôi nhận ra những thay đổi nhỏ nhất, những người quen mặt đã gần như trở thành bạn bè. Có những bà mẹ đang đẩy xe em bé, những người chạy bộ giẫm lên mặt đường rải nhựa những bước vững chắc, những kẻ nhàn rỗi, như tôi. Và lũ trẻ, vào lúc tan trường. Nhưng họ không nhầm đâu: từng chút một, tôi trở thành một quả bóng trong trạng thái bị kích thích. Khi còn làm tài hề trên tàu, tôi thấy thật dễ ngủ, chắc là tôi cần nghỉ ngơi (và la hét với đám cùng phòng, tín đồ của tivi buổi đêm bằng tiếng Indonesia ở âm lượng ít nhất tám mươi đề-xi-ben). Khi đang lo lắng, tôi cứ lần chần tránh né và kiên trì giữ lấy những ý định vốn rất tốn thời gian. Những ý định của đêm nay thật là đa dạng: a) Benji, tôi đã có anh rồi, tôi sẽ giữ lấy anh. b) Tôi sẽ tìm một công việc trong lúc đợi năm học tới, và tại sao không trở lại du thuyền để đếm thẻ bài nhỉ? c) Từ nay, tôi sẽ dậy cùng lúc với những người khác, bởi vì nó chả có lý gì cả. Tôi là một người năng động, và tôi sẽ chứng tỏ điều đó. Có câu châm ngôn gì ấy nhỉ? “Hạnh phúc thuộc về kẻ dậy sớm”, hoặc cái gì đại loại thế. Thế nên, ngay sáng mai, báo thức sẽ kêu lúc bảy giờ. Trừ khi những nghĩ suy trằn trọc lúc nửa đêm này làm tôi kiệt sức. Và tôi hiểu, trong màn sương mờ mịt, rằng không phải hạnh phúc, mà là thế giới thuộc về những kẻ dậy sớm. Và thế gian này có thể đợi tới khi tôi có một tinh thần tươi sáng. Điều này giải thích cho việc tôi cáu kỉnh tắt báo thức. Và rồi ngủ lại ngon lành. Tiếng bíp từ tin nhắn điện thoại đánh thức tôi dậy một giờ sau đó. Là Benjamin. Anh phải đi công tác gấp ở tỉnh, sẽ vắng mặt tới ngày mai. Tốt thôi. Nếu chuyến đi này không phải với Jessica Dupont, quả bom của văn phòng công chứng, thì tôi có thể tiếp tục ngủ. Rốt cuộc tôi cũng thức dậy, ý thức được những trách nhiệm mới mà mình đã tự đặt ra đêm qua và rồi bị gặm nhấm bởi cảm giác tội lỗi. Đó là lý do mà tôi đang lướt Internet, tìm kiếm một công việc trong mơ. Những người chưa bao giờ thử thì không biết điều này, nhưng không phải dễ dàng để tìm thấy một công việc thú vị, trả lương khá và kích thích trí thông minh. Nói đúng hơn, đó là nhiệm vụ bất khả thi. Hoặc nếu thông báo nhấp nháy trên màn hình, với một đề nghị hấp dẫn kiểu “Kiếm thật nhiều tiền mà không cần di chuyển”, thì tức là nó đang che giấu một điều gì đó không rõ ràng, thì không, cảm ơn. Ngoài một công việc dạng như khiêu dâm qua điện thoại, chẳng có gì để xem cả. Đó sẽ là một phương án, và trong một khoảnh khắc, tôi thấy mình, khóa kín trong phòng, trả lời những gã đàn ông bệnh hoạn chỉ có một khao khát duy nhất: nghe những tiếng rên rỉ lừ đừ... Và tôi tưởng tượng ra hình ảnh của Benjamin khi tôi thông báo với anh, đầy hoan hỉ, rằng cuối cùng thì tôi cũng có được công việc trong mơ rồi... Không, dù thế nào thì, nó yêu cầu tài năng mà tôi không có. Lúc ấy, một lần nữa, tôi oải nhàn4* trong căn nhà. Cần có một sức mạnh chắc chắn nào đó, kiểu như để có thể vượt qua ngày dài không quá chán nản mà cũng không cảm thấy tội lỗi. Rõ ràng là tôi không có sức mạnh đó. Sự tội lỗi đã thắng thế, đến nỗi tôi phải giặt giũ quần áo không chút chậm trễ, lấp đầy tủ lạnh và thậm chí còn đi nấu ăn, khi mà thường thì đó là việc của Gaspard. Điều này nói lên là tôi đang cảm thấy tệ thế nào. *Oải nhàn: có một tư thế uể oải và nhàn rỗi (Chloé Avanel, Từ điển tiếng Pháp hay dùng, trang 354).. Điều tệ nhất là những người khác cảm thấy đấy là bình thường. Đã đến lúc tôi cần tìm ra một mối bận tâm thực sự. Mời các bạn đón đọc Hạnh Phúc Trong Năm Lời Nói Dối của tác giả Pascale Perrier.
Con Nai Trong Rừng
Truyện Con Nai Trong Rừng, chuyện nói về một người còn gái rất ngây thơ, cho dù nguy hiểm ngay trước mặt thì cô cũng không biết và cũng không biết rằng mình sắp bị ăn thịt. Cô lớn lên bởi sự bao bọc của gia đình, được chiều chuộng và có một tuổi thơ rất đẹp. Nhưng chính vì sự bao bọc đó khiến cô không bao giờ trưởng thành và tự lập được. Cho đến một ngày cô được gia đình cho đi dã ngoại cùng với bạn bè và rồi cô đã gặp kẻ xấu. Nhưng lúc đó chính cô cũng không biết rằng mình đang gặp nguy hiểm, cũng may là có bạn bè cứu giúp không thì cô đã bị chúng ăn thịt. *** Các vị khách của Tử tước Đờ Terxio đang trên đường từ Biarit trở về, nơi họ vừa vui chơi lúc chiều. Đoàn xe ngựa của họ đang lăn bánh trên con đường đưa đến lâu đài Uxagio, đi giữa những cánh đồng cỏ mà cảnh chiều tà đẹp êm ả đang lan tỏa xuống. Trên những cánh rừng phân định ranh giới của lãnh địa, mặt trời vừa lặn để lại những tia hồng nhạt và ánh sáng đang tắt dần trải dài trên đồng quê lặng lẽ. Trên các xe, những câu truyện bắt đầu từ lúc khởi hành vẫn đang tiếp tục. Phần nhiều là những câu chuyện mảnh về xã hội phù hoa, nói với thiện ý hoặc không thiện ý. Hôm nay họ nói nhiều nhất về một vấn đề; Hoàng thân Đờ Vitengrat hình như đang để ý đến cô ả Myra Nađôpulô xinh đẹp. "Cô ả đỏm dáng đến điên rồ" như bà Đờ Terxiơ đã nhận xét, không phải không có đôi chút chanh chua.  Ông Đờ Ănglơmơ, nhà ngoại giao hưu trí ngồi trước mặt bà chủ lâu đài lưu ý mọi người - Cô ta có sức mê hoặc ghê gớm. Vả lại, cô ta đã thừa kế đúng người. Bà Bá tước Xêminkhốp đẹp đẽ, mẹ cô ấy vẫn là con người mơn trớn như tôi đã gặp ở Matxcơva mười hai, mười ba năm trước đay, lúc bà ta tái giá.  - Bà ta gốc Hy Lạp phải không?  - Hy Lạp, dân phương Đông, Do Thái? Làm sao mà biết được. Tôi cho rằng trong người bà ta có sự pha trộn các chủng tộc.  - Còn người chồng thứ nhất... Ông có biết người ấy không?  -Không. hình như là một thương gia Hy Lạp giàu có mà người đẹp kia làm cho khánh kiệt trong vài năm. Sau đó, bà ta đã quăng lưới bắt được một dại úy quý tộc Nga góa vợ. Ông này không nguôi nhớ thương người vợ diễm lệ thuộc dòng dõi quý tộc danh giá nhất ở Matxcơva. Đó là nữ bá tước Ximinkhốp trẻ trung, đã chết sau ba năm kết hôn, để lại cho chồng một đứa con gái nhỏ. Theo lời khuyên của bạn bè khi thấy ông sắp quỵ trong đau khổ cự độ, ông đã đi du ngoạn. Ở Cairô, ông gặp bà Ixmen Nađôpulô, bà này đã dốc lòng an ui ông - và đã thành công đến nỗi sáu tháng sau bà trở thành Bá tước Phu nhân Xêminkhốp.  Bà Đờ Tembray, người thiếu phụ có bộ tóc vàng hoe thốt ra một tiếng cười mỉa mai:  -Đau buồn của nam giới là như thế đấy! Nhưng ông Xêminkhốp tội nghiệp ấy hình như bị vợ làm đau khổ không ít?  - Đúng thế, nói riêng giữa chúng ta thôi nhé, tôi không tin là ông ấy sung sướng.  - Phải, mụ Ixmen đẹp đẽ này không phải là người vợ đoan trang, điềm đạm và dịu dàng có lẽ không phải là những đức tính quen thuộc của mụ. nhưng bé gái của bà vợ trước như thế nào?  - Đứa bé tội nghiệp đã gặp nạn. Nó chết đưối, cô gia sư người Pháp cũng chết trong vụ tai nạn, có lẽ vì muốn cứu nó.  - Cuộc hôn nhân thứ hai của họ không có con chung sao?  - Có chứ, một đứa con trai, một đứa trẻ tàn tật đáng thương àm mẹ nó không ưa. Mụ chỉ thấy mỗi mình trên đời này, mình trước hết rồi đền đứa con gái.  - Cái cô Myra này kỳ dị thật...! Một cô ả mất nết. Ông có cho là như thế không?  - Con hơn là mất nết ấy chứ. Thật thế. Con người ấy được giáo dục mới hay làm sao. Pie Đurin kể với tôi cô ta đã gây ra bao điều đáng dị nghị về minh ở Pêtécbua vào mùa đông năm ngoái vì thái độ phù phiếm và vẻ đỏm dáng khêu gợi. Ta đã thấy một kiểu mẫu như thế trong cách cư xử của ả đối với Hoàng thân Đờ Vitengrat.... nhưng lần này thì ả phải coi chừng để khỏi mắc lại vài mảnh tim của mình ở đây. Với người này, không ai yêu nửa chừng, nửa vời được đâu!  Bà Đờ Tembray bứt rứt hỏi:  - Nghe nói người ấy là hiện thân của sự không bền vững, đúng không?  - Đúng thế. Nhưng tôi thấy ả Myra xinh đẹp có vẻ rất khôn khéo, biết dâu ả lại thành công trong việc giữ cho tính hay thay đổi của hoàng thân quay vòng lâu hơn một chút.  Trong khi nói, ông Đờ Ăngblomo liếc nhìn người thiếu phụ một cách ranh mãnh, làn da tươi mát của bà ửng hồng vì xúc động mạnh - cả bà này nữa cũng đã vướng mắc rồi đây - ông thích thú nghĩ như vậy.  - Cô myra kia hoàn toàn không có một chút gì là sang trọng.... Đây là một kiểu người du cư hoặc một thứ gì cùng loại. Bà Đờ Terxio khinh khỉnh nói.  - Tôi nghi ngờ ả thực sự làm vừa lòng Hoàng thân, một người rất tinh tế và thông minh phi thường.  Người được nói đến đang ngồi lún sâu vào đệm xe nhìn ngày tàn dần trên khu rừng đang tối thẫm lại. Chàng đã ra lệnh cho người đánh xe ghìm bớt nước kiệu của hai con ngựa đang hăng để xe đi sau các xe khác. Ngồi bên cạnh chàng và tôn trọng sự im lặng của chàng là Ôbe Đờ Griơy, một sĩ quan trẻ đến từ Angiêri trở về, đang trong thời gian nghĩ dưỡng bệnh sau một trận ốm nặng về chơi ít lâu với gia đình người anh em họ Đờ Terxiơ.  Hoàng thân Đờ Vitengrat, người không dễ có thiện cảm với ai, có vẻ nhanh chóng ưu thích người thanh niên đẹp trai có thiên bẩm thông minh và lịch sự này, là con trai của một sĩ quan bị giết năm 1870 trong trận ở Xanh-Priva. Chàng đã coi người sĩ quan như là bạn thân nhất trong suốt thời gian ở lâu đài Heagiơ. Ân huệ ấy không phải là không khơi gợi những ghen tỵ ngấm ngầm, vì có đầy rẫy những kẻ xu nịnh đang vội vã tôn xùng người giữ cương vị rất cao ở Châu Âu do dòng dõi, sản nghiệp, chưa kể đến những thiên bẩm về trí tuệ và hình thức tạo nên.  Mời các bạn đón đọc Con Nai Trong Rừng của tác giả Delly.
Trong Chiến Hào Stalingrad
Vích-to Nê-cơ-ra-xốp sinh năm 1911 ở thành phố Ki-ép, trong một gia đình bác sĩ. Sau khi tốt nghiệp khoa kiến trúc của Học viện Kiến thiết và trường diễn viên sân khấu năm 1936 ở thành phố Ki-ép, Nê-cơ-ra-xốp đã làm diễn viên và họa sĩ ở nhiều thành phố trong nước. Từ năm 1941, nhà văn tương lai, trung đội trưởng trung đội công binh, đã chiến đấu trên mặt trận chống bọn phát-xít xâm lược, trong cuộc Chiến tranh Ái quốc vĩ đại và đã bị thương nặng. Nê-cơ-ra-xốp được tặng thưởng huân chương Sao Đỏ và nhiều huy chương. Sau khi chiến tranh chấm dứt, Nê-cơ-ra-xốp đi vào con đường sáng tác văn nghệ. Cuốn Trong chiến hào Xta-lin-gơ-rát của ông, xuất bản năm 1946, được tặng Giải thưởng Quốc gia. Nhà văn - chiến sĩ Xê-vô-lốt Vít-snhép-xki, tác giả cuốn Bi kịch lạc quan đã viết: «Đến nay, tác phẩm đó có giá trị nhất và chính xác nhất viết về những sự kiện ở Xta-lin-gơ-rát». Những năm tiếp sau, Nê-cơ-ra-xốp đã viết nhiều truyện ngắn về đề tài chiến tranh, truyện vừa Trong thành phố quê hương, Kia-ra Ghê-oóc-ghi-ép-na, truyện phim và bút ký đi đường. Hầu hết các tác phẩm của V. Nê-cơ-ra-xốp đều đã được dịch ra tiếng các dân tộc ở Liên Xô và tiếng nước ngoài. *** Việc chiếm được thành phố Stalingrad có tầm quan trọng rất lớn đối với Hitler và cả Mussolini vì hai lý do chính. Thứ nhất, đây là một thành phố công nghiệp lớn nằm trên sông Volga - con đường giao thông vận tải mang tầm quan trọng chiến lược nối liền Biển Caspi và miền Bắc nước Nga. Vì vậy việc để mất Stalingrad vào tay phát xít Đức sẽ gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng vận chuyển hàng hóa đến phía Bắc của đất nước. Thứ hai, việc đánh chiếm Stalingrad sẽ củng cố sườn phía Đông của quân Đức vốn đang tiến nhanh về vựa dầu tại vùng Kavkaz với mục tiêu cắt đứt nguồn cung ứng dầu hỏa cho Hồng quân Xô Viết.[23] Thêm nữa, thành phố này mang tên của lãnh tụ I. V. Stalin, việc đánh chiếm thành phố này cũng sẽ là một thắng lợi quan trọng về mặt tinh thần và tư tưởng. Hồng quân Xô Viết nhận ra rằng họ đang chịu một sức ép nghiêm trọng về thời gian và nhân lực, vật lực, vì vậy tất cả những ai có thể cầm súng chiến đấu đều được điều về bảo vệ Stalingrad.[24] Vào thời kỳ này của chiến tranh, khả năng tác chiến cơ động cao của Hồng quân vẫn còn kém hơn so với phát xít Đức, tuy nhiên việc chiến đấu trong thành phố đã giúp giảm thiểu những thiệt thòi của Hồng quân vì nơi đây là địa bàn của việc giao tranh bằng vũ khí cầm tay của bộ binh chiếm ưu thế chứ không phải là nơi dành cho việc giao chiến giữa các lực lượng tăng thiết giáp. *** Lệnh rút lui đến rất đột ngột, Chỉ mới hôm qua thôi, từ sư đoàn bộ đã gửi đến một bản kế hoạch chi tiết về các công tác phòng ngự: lập tuyến thứ hai, chữa đường sá, làm cầu con. Các đồng chí bảo tôi cho ba công binh để bố trí câu lạc bộ sư đoàn. Buổi sáng sư đoàn bộ gọi điện bảo phải chuẩn bị đón đoàn văn công ca múa của mặt trận. Thật không còn gì bình tĩnh hơn nữa! Nhân dịp đó, thậm chí tôi và I-go đã cạo râu, cắt tóc và gội đầu, đồng thời giặt áo mai-ô, quần đùi nữa, Và trong lúc chờ áo quần khô, chúng tôi nằm dài trên bờ sông con đã cạn, nhìn xem các chiến sĩ công binh của tôi đang làm những chiếc bè con cho trinh sát viên. Chúng tôi nằm hút thuốc, đánh cho nhau những con ruồi trâu chậm chạp và béo quay bám trên lưng chúng tôi và nhìn xem anh trung đội phó của tôi đang lặn hụp trong nước, nhô cái mông trắng trẻo và những gót chân đen đủi để thử xem chiếc bè có chắc không, Ngay lúc đó, La-da-ren-cô, liên lạc viên của ban chỉ huy, đã hiện ra. Từ xa tôi đã nhận ra anh đang ba chân bốn cẳng phóng qua vườn rau, một tay giữ khẩu súng trường lúc la lúc lắc vỗ vào lưng, Cứ xem cách chạy đó, tôi hiểu ngay là bây giờ chẳng còn có hòa nhạc hòa nhiếc gì nữa rồi. Chắc là lại có phái viên kiểm tra nào đấy từ quân đoàn hay mặt trận đến... Lại phải đi đến tiền duyên, phải trình bày kế hoạch phòng ngự, phải nghe những lời phê bình nhận xét. Thế là mất một đêm. Và người kỹ sư công binh phải chịu trách nhiệm về tất cả. Nằm ở thế phòng ngự, thật chẳng có gì tệ hơn nữa. Đêm nào cũng có phái viên kiểm tra đến. Mà mỗi ông một tính. Cái đó thì nhất định là như thế rồi. Ông này thì bảo là chiến hào quá chật, khó khiêng thương binh, khó vác súng máy. Ông kia thì kêu là chiến hào quá rộng, mảnh bom sẽ rơi vào. Ông thứ ba thì nói là ụ đất phía ngoài công sự thấp: đáng lẽ phải bốn tấc thế mà các ụ của anh, có thấy không, chưa đến hai tấc. Ông thứ tư thì ra lệnh hoàn toàn san phẳng những ụ ấy đi, vì chúng chỉ làm hỏng ngụy trang. Thế thì làm thế nào để vừa lòng mọi người được. Còn kỹ sư công binh của sư đoàn thì chẳng chú ý gì đến cả. Hai tuần ông ta mới đến một lần, nhưng chỉ là cưỡi ngựa xem hoa suốt tiền duyên mà thôi và chẳng nói được điều gì có ích cả. Còn tôi thì lần nào cũng phải bắt đầu làm lại và phải đứng nghiêm nghe những lời quở trách của trung đoàn trưởng: «Này, đồng chí kỹ sư kính mến ơi, đến bao giờ đồng chí mới học đào chiến hào cho ra hồn được, hở?...» La-da-ren-cô phóc qua hàng giậu. - Việc gì thế, hở cậu? Anh vừa lấy mũ ca-lô lau trán ướt đẫm mồ hôi, vừa há mồm răng trắng hếu đáp lại: - Tham mưu trưởng gọi. - Gọi ai? Gọi tôi à? - Gọi cả đồng chí lẫn trưởng ban hóa chất. Tham mưu trưởng bảo là sau năm phút phải có mặt. Không, thế nghĩa là không phải phái viên kiểm tra. - Thế cậu có biết gọi để làm gì không, hở. - Có trời mà biết được. - La-da-ren-cô nhún vai ướt đẫm mồ hôi đáp. - Làm sao mà hiểu được... Tất cả liên lạc đều phái đi hết. Đại úy vừa nằm xuống ngủ, thì ngay lúc đó sĩ quan thông tin đến. Thế là đành phải mặc quần đùi, áo mai ô còn ẩm và đi đến sở chỉ huy. Các trung đội trưởng đều cũng được gọi đến cả. Tham mưu trưởng Mác-xi-mốp không có ở đây. Anh ta đang ở chỗ trung đoàn trưởng. Ở nhà hầm sở chỉ huy có cán bộ chỉ huy các đơn vị đặc biệt và những nhân viên tham mưu. Trong số tiểu đoàn trưởng chỉ có Xéc-ghi-en-cô, chỉ huy tiểu đoàn ba. Chẳng ai hiểu rõ đầu đuôi gì cả. Trung sĩ Dơ-vê-rép, sĩ quan thông tin, cao lêu nghêu đang loay hoay với chiếc yên ngựa. Anh ta vừa thở ì ạch, vừa gắt gỏng, nhưng chẳng tài nào kéo nổi sợi dây chằng. - Sư đoàn bộ đang chuẩn bị rút. Chỉ có thế thôi... Ngoài ra, anh không còn biết gì thêm nữa. Xéc-ghi-en-cô nằm sấp, đang gọt mảnh gỗ gì đấy và lầu bầu như mọi khi: - Chỉ vừa mới thu xếp xong buồng khử trùng, thì đã phải rút. Mẹ kiếp, đời lính chó má thật! Các chiến sĩ thì quào đến bật máu đầu, mà chẳng làm thể nào giết sạch chấy được... Xa-mu-xép, chỉ huy tổ súng chống tăng, có mái tóc vàng và cặp mắt xanh, nhoẻn miệng cười khinh bỉ: - Hừ, buồng khử trùng của cậu thì quan trọng quái gì... Chỗ tớ một nửa quân số sau khi tiêm thuốc xong, lưng bị sưng lên như thế này. Người ta tiêm vào xuýt nữa thì đến một cốc thuốc quỷ quái gì đấy. Bây giờ thì mặc sức mà rên rỉ, kêu ca... Mời các bạn đón đọc Trong Chiến Hào Stalingrad của tác giả V. Nê-cơ-ra-xốp.