Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Về Từ Cõi Chết

Lời tựa của Francois Mauriac: Các ký giả nước ngoài thường đến thăm tôi.  Tôi sợ những cuộc gặp gỡ ấy vì tôi bị dằng co giữa niềm ao ước thố lộ tất cả những gì trong lòng mình và nỗi kinh hãi là đặt vũ khí vào tay người phỏng vấn khi mình không hiểu chút nào thái độ của người đó đối với nước Pháp.  Tôi luôn luôn thận trọng trong những cuộc gặp gỡ thuộc loại ấy.   Sáng đó, người ký giả Do thái trẻ tuổi này đến phỏng vấn tôi cho một tờ báo xuất bản ở Tel Aviv, đã  tức khắc chinh phục được thiện cảm của tôi.  Cuộc đàm đạo của chúng tôi nhanh chóng trở thành trò chuyện tâm tình.  Nó đưa dẫn tôi trở lại những hồi tưởng Thời Bị Chiếm Đóng.  Không phải chỉ những biến cố dính líu trực tiếp tới chúng ta mới làm cho chúng ta có nhiều xúc động sâu xa.  Tôi tâm sự với người khách trẻ tuổi của mình rằng trong những năm ảm đạm ấy, không có gì tôi thấy mà để lại vết hằn sâu đậm trong lòng tôi cho bằng những toa tàu chất đầy ứ trẻ em Do thái đậu ở sân ga Austerlitz, tuy tôi chưa từng tận mắt  chứng kiến!  Khi vợ tôi mô tả cho tôi nghe về chúng, giọng bà vẫn ngập tràn kinh hãi.  Vào thời ấy, chúng tôi chẳng hiểu chút gì về những phương cách hủy diệt của Đức Quốc Xã.  Và ai mà có thể tưởng tượng ra nổi những phương cách đó!  Cho đến lúc ấy, cách mà những con cừu non ấy bị giựt khỏi mẹ chúng  cũng đã vượt quá những điều chúng tôi có thể nghĩ tưởng.  Tôi tin rằng vào ngày ấy, lần đầu tiên tôi chạm đến bí ẩn của tội ác mà sự phát hiện ra nó đã đánh dấu việc kết thúc một kỷ nguyên và mở đầu một kỷ nguyên khác.  Giấc mơ người phương Tây cưu mang suốt thế kỷ mười tám, buổi bình minh người ấy tưởng đã thấy vào năm 1789 và kéo dài đến tháng Tám 1914, giấc mơ ấy bền vững thêm nhờ những tiến bộ của trí tuệ và khám phá của khoa học - với tôi, giấc mơ ấy cuối cùng vỡ vụn trước những toa tàu đầy ứ trẻ con đó.  Tuy thế tôi vẫn còn xa vạn đặm mới với tới được ý nghĩ rằng những đứa trẻ đó là nhiên liệu cho phòng hơi ngạt và lò thiêu xác.   Lúc ấy, tôi bày tỏ điều đó với người ký giả trẻ tuổi này.  Và khi tôi nói trong tiếng thở dài, “Tôi thường nghĩ tới những đứa bé đó biết ngần nào!” thì anh đáp lại rằng “Tôi là một đứa trong chúng nó.”  Anh đã là một trong những đứa trẻ đó.  Anh đã nhìn mẹ mình, đứa em gái út yêu dấu của mình, và cả nhà, trừ cha anh, biến mất trong chiếc lò nướng được chụm bằng những tạo vật sống.  Về phần người cha thì ngày này sang ngày khác, đứa trẻ đó bị  buộc phải làm khán giả chứng kiến nỗi thống khổ, quằn quại và cái chết tuẫn nạn của cha mình.  Và chết mà lại chết như thế đó! Những tình cảnh của cái chết đó được đề cập tới trong cuốn sách này; và tôi muốn để dành sự khám phá về chúng và về phép lạ khiến bản thân cậu bé đã thoát ra được cho người đọc mà sẽ lên tới con số đông đảo như khối lượng độc giả của cuốn Nhật Ký Của Anne Frank.   Bản ghi nhận riêng tư này ra đời sau nhiều bản khác cùng loại mà sự mô tả của chúng làm tổn thương tính tự mãn của chúng ta, những người cứ tưởng mình đã hiểu tường tận những gì có thể hiểu, tuy nhiên, tôi xác nhận đây là một tường trình khác biệt, cá biệt, dị thường.  Số phận của người Do thái tại một thành phố nhỏ vùng Transylvania có tên là Sighet, mù lòa khi đối mặt với định mệnh trong lúc họ vẫn còn đủ thì giờ cao bay xa chạy; họ đã tự mình thụ động đầu hàng một cách ngoài sức tưởng tượng, tai lơ mắt điếc trước lời cảnh cáo van nài của một nhân chứng mà chính bản thân người ấy đã trốn thoát khỏi cuộc tàn sát, người ấy mang về cho họ tin tức anh thấy tận mắt, nhưng họ không chịu tin anh, đối xử với anh như với một người điên - những trạng huống đó, đối với tôi, hình như tự chúng đã đủ cảm hứng cho một cuốn sách mà chẳng cuốn sách nào khác có thể sánh bằng.   Tuy thế, tận cùng chốn sâu thẳm của lòng tôi đã bị cuốn hút bởi một khía cạnh khác của cuốn sách dị thường này.  Cậu bé, người  kể cho chúng ta nghe chuyện của cậu ở đây, là kẻ được Thượng đế chọn lựa.  Từ thuở lần đầu giác ngộ ý thức, cậu chỉ sống cho Thượng đế và lớn lên trong sách Talmud, khao khát được khởi sự làm quen với các bí pháp nhằm cắt nghĩa Kinh thánh Do thái giáo, tận hiến bản thân cho Thượng đế.  Chúng ta có bao giờ nghĩ tới hậu quả của sự khủng khiếp ấy, dù ít có tính cách hiển nhiên, ít có tính cách kích động hơn những sự phạm thượng khác, tuy thế nó lại là sự tệ hại nhất cho chúng ta, những kẻ có đức tin: cái chết của Thượng đế trong lòng một đứa bé khi nó đột nhiên khám phá ra tính chất tuyệt đối của cái ác.   Chúng ta thử tưởng tượng điều gì xảy ra trong lòng cậu bé ấy khi mắt cậu nhìn những cuộn khói đen tỏa ra trên bầu trời, từ những lò thiêu mà đứa em gái nhỏ và mẹ mình sắp bị ném vào cùng với hàng ngàn người khác:  “Sẽ không bao giờ tôi quên được đêm đó, đêm đầu tiên ở trại, đêm xoay chuyển đời tôi thành một đêm trường, bảy lần bị nguyền rủa và bảy lần bị đóng dấu.  Sẽ không bao giờ tôi quên được làn khói đó.  Sẽ không bao giờ tôi quên được khuôn mặt nhỏ nhắn của những đứa trẻ, mà da thịt chúng biến thành các luồng khói cuồn cuộn dưới bầu trời xanh thẳm lặng câm.   Sẽ không bao giờ tôi quên được những ngọn lửa đã thiêu rụi mãi mãi Đức tin của tôi. Sẽ không bao giờ tôi quên được sự yên lặng hoài cảm đó đã tước đoạt đến tận cùng thiên thu nỗi khát khao được sống của tôi.  Sẽ không bao giờ tôi quên được những khoảnh khắc lúc đó Thượng đế của tôi, linh hồn của tôi bị giết chết và biến những giấc mơ của tôi thành tro than.  Sẽ không bao giờ tôi quên được những điều đó cho dù tôi có bị kết án sống lâu như chính Bản thân Thượng đế.  Không bao giờ.”   Và lúc đó tôi hiểu ra cái đầu tiên kéo tôi tới với người Do thái trẻ tuổi này: ánh mắt đó, như của một La-da-rô chỗi dậy từ cõi chết, anh vẫn là người tù mà lòng còn giam giữ mãnh liệt hình ảnh những nơi anh đã lang thang, vấp ngã giữa những xác người bị ruồng bỏ.  Đối với anh, tiếng kêu trầm thống của Nietzsche biểu lộ một thực tại gần như có tính cách vật lý:  Thượng đế đã chết, đấng Thượng đế của tình thương, dịu dàng, ủi an, đấng Thượng đế của Áp-ra-ham, I-sa-ac, của Gia-cóp, đang biến mất vĩnh viễn, hơn nữa, dưới mắt nhìn đăm đăm của cậu bé này, trong làn khói của sự tàn sát con người hàng loạt chỉ vì lý do Chủng tộc, tiêu biểu cho sự phàm ăn nhất của tất cả các ngẫu tượng.  Và biết bao người Do thái ngoan đạo trải qua cái chết như thế!  Vào ngày đó, khủng khiếp ngay trong những ngày ghê rợn đó, khi nhìn một đứa bé khác mang nét mặt của một thiên thần u sầu, bị treo cổ (đúng!), thì lúc đó, một cậu bé khác, người kể cho chúng ta nghe chuyện này, đã nghe ai đó sau lưng mình kêu lên:  “Lúc này Thượng đế ở đâu?Và tôi nghe bên trong tôi có tiếng trả lời: Ở đâu ư?  Ngài ở đây - Ngài đang bị treo cổ ở đây, trên giá treo cổ này....”   Vào ngày cuối một năm theo lịch Do thái, cậu bé này có mặt tại buổi lễ trọng thể Rosh Hashanah.  Cậu nghe hàng ngàn người đang bị đày ải này cất lên cùng một giọng: “Vinh danh Thượng đế, Đấng Hằng sống.”  Trước đó không lâu, cậu cũng đã nằm sấp mặt xuống đất với lòng tôn sùng như thế, với nỗi kính sợ như thế, với tâm hồn yêu thương như thế!  Nhưng hôm nay, cậu không quì nữa.  Con người thụ tạo, bị thương tổn và bị lăng nhục vượt quá sức chịu đựng của tâm tư và tinh thần, đã chỉ rõ ra rằng kẻ được bái lạy kia là một kẻ vừa câm vừa điếc:  “Hôm nay tôi không còn nài xin.  Tôi không còn khả năng than khóc.  Trái lại, tôi cảm thấy mình mạnh mẽ.  Tôi là người lên án, Thượng đế là kẻ bị kết án.  Mắt tôi mở ra và tôi cô độc - cô độc kinh khủng trong một thế giới không Thượng đế và không con người.  Không tình yêu không ân sủng.  Tôi thôi không còn là gì ngoài tro than, tuy thế tôi cảm thấy mình mạnh mẽ hơn Đấng Toàn năng, kẻ mà đời tôi đã bị ràng buộc vào trong một thời gian quá dài.  Tôi đứng giữa cộng đoàn đang cầu nguyện, quan sát nó như thể mình là người lạ.”   Và tôi, kẻ tin rằng Thượng đế là tình yêu, tôi có thể có câu trả lời nào để trao cho người chất vấn trẻ tuổi này, kẻ mà đôi mắt đầy bóng tối vẫn giữ mãi ánh phản chiếu nỗi u sầu thiên thần đã xuất hiện trên nét mặt đứa bé bị treo cổ ngày nọ?  Tôi đã nói gì với anh?  Có phải tôi đã nói tới một người Do thái khác, anh em của anh, kẻ có lẽ giống như anh - Người Bị Đóng Đinh,  Thánh Giá của người đó đã và đang chinh phục thế giới?  Có phải tôi đã khẳng định rằng vật chướng ngại làm đức tin của anh vấp ngã cũng chính là hòn đá tảng của tôi, và rằng, trong sự phù hợp giữa Thánh Giá với những khổ đau con người, theo ý tôi, là chìa khoá mở vào sự mầu nhiệm không thể dò thấu được mà trên đó đã tàn lụi đức tin từ thời thơ ấu của anh?  Tuy thế, Sion đã thêm lần nữa chỗi dậy từ những lò thiêu và những nhà để hài cốt.  Quốc gia Do thái sống lại từ giữa hàng ngàn kẻ chết.  Quốc gia này hiện hữu qua họ và sẽ trường tồn.  Chúng ta không biết cái giá của từng giọt máu riêng rẽ, tường giọt nước mắt riêng rẽ.  Tất cả đều là ân sủng.  Nếu Thượng đế là đấng Vĩnh cửu thì lời cuối cùng dành cho mỗi người chúng ta đều thuộc vào Ngài.  Đấy là điều tôi nên nói với đứa con của dân tộc Do thái này.  Nhưng tôi chỉ có thể ôm anh trong vòng tay, nghẹn ngào. Mời các bạn đón đọc Về Từ Cõi Chết của tác giả Elie Wiesl.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Hãy Chăm Sóc Mẹ - Shin Kyung-Sook
Sẽ không bất ngờ nếu bạn đã đọc xong rồi nhưng vẫn bị ám ảnh bởi hình ảnh người mẹ đi lạc, chân đi dép lê màu xanh, ngón chân bị toạc ra đến nỗi “ruồi bu quanh”. Nhẹ nhàng, lắng đọng và buồn đến nao lòng – cuốn tiểu thuyết Hãy chăm sóc mẹ của Shin Kyung-sook là câu chuyện về một người mẹ giản dị, mộc mạc với đức hy sinh lớn lao và tình yêu thương vô bờ bến dành cho gia đình. Với những ai chưa đọc Hãy chăm sóc mẹ của Shin Kyung-sook, thì khi nghĩ về nó, hãy tạm quên đi tất cả những số liệu về doanh số cũng như những danh hiệu vẻ vang mà nó mang về cho nền văn học Hàn Quốc lúc bấy giờ. Đứng trên cương vị một người đam mê đọc sách và đam mê những vẻ đẹp cao thượng mà một cuốn sách có thể mang lại, nên chỉ nghĩ đến Hãy chăm sóc mẹ như một cuốn sách của tâm hồn, cuốn sách ấm áp và lấp lánh những giá trị thuần Á Châu của tình mẫu tử, tình thương và sự cao cả của hình ảnh người mẹ - hình ảnh chân phương và đáng ngưỡng mộ nhất. Kể cả khi cuốn sách đã gấp lại, bạn cũng sẽ nhận được một âm hưởng của thứ cảm xúc để lại dư vị xúc động mãi không nguôi… Có thể nói, Hãy chăm sóc mẹ là tiếng nói thức tỉnh của tác giả dành cho tất cả mọi người. Đó là sự thức tỉnh ấm áp, sự thức tỉnh mang cả nước mắt và nỗi đớn đau, ngấm lâu và ngấm sâu vào tận trong tiềm thức. Cuốn sách đã trở thành một hiện tượng văn chương Hàn Quốc vào năm 2009, được dịch và xuất bản sang 19 nước khác ngay sau khi phát hành. *** Những lời khen tặng dành cho cuốn sách: “Cuốn sách của tác giả nổi tiếng nhất Hàn Quốc này có thể làm mọi độc giả phải rơi nước mắt” - Library Journal. “Cảm động và ám ảnh”  - Newsday. “Phần là câu chuyện về sự chuyển dịch của xã hội Hàn Quốc từ nông thôn ra thành thị, phần là khúc ca về sức mạnh của mối ràng buộc gia đình được hình thành từ sự quên mình của người phụ nữ; đây là một tác phẩm vô cùng cảm động” - Kirkus Reviews. “Nao lòng… Thấm thía… Người đọc sẽ tìm thấy sự đồng cảm trong câu chuyện về gia đình bán chạy nhất Hàn Quốc từ trước tới nay này” - Publishers Weekly. *** Shin Kyung-sook sinh năm 1963 trong một gia đình nghèo sống tại một ngôi làng nhỏ ở miền Nam Hàn Quốc. Không có điều kiện vào trường trung học, mười sáu tuổi cô lên Seoul lao động kiếm sống. Shin Kyung-sook khởi nghiệp viết văn năm 1985 và sớm gặt hái thành công. Các tác phẩm của cô luôn có lượng độc giả lớn và nhận được nhiều giải thưởng văn học trong nước cũng như trong khu vực. Với Hãy chăm sóc mẹ Shin Kyung-sook trở thành nhà văn châu Á nổi bật nhất năm 2009. Tác phẩm: Chuyện kể trăng nghe Cô gái viết nỗi cô đơn Hãy chăm sóc mẹ *** Mẹ bị lạc đã một tuần. Cả gia đình cô tập trung ở nhà anh cả Hyong-chol. Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, mọi người quyết định soạn tờ rơi để đi phát ở nơi có người nhìn thấy mẹ lần cuối cùng. Việc đầu tiên là thảo tờ rơi. Tờ rơi là giải pháp quen thuộc trong trường hợp này. Gia đình có người lạc vốn chẳng làm được gì nhiều, huống hồ người bị lạc không phải ai khác mà chính là mẹ. Tất cả những gì gia đình cô có thể làm là đăng tin tìm người thân bị lạc, chia nhau đi tìm kiếm khắp nơi, dò hỏi khách qua đường xem có ai nhìn thấy người nào giống mẹ không. Cậu em cô đang kinh doanh quần áo qua mạng đã đăng tin mẹ mất tích, miêu tả địa điểm, tải ảnh của mẹ lên mạng, đề nghị nếu ai thấy người nào giống như vậy thì xin hãy báo cho gia đình. Cô muốn tìm đến những nơi mẹ có thể đã đến, nhưng cô biết rằng mẹ không thể tự đi tới bất cứ nơi nào trong thành phố này. Anh Hyong-chol bảo cô soạn nội dung tờ rơi bởi cô sống bằng nghề viết lách. Cô đỏ dừ mặt như thể vừa bị phát hiện làm một việc xấu xa nào đó. Cô không chắc những gì mình viết liệu sẽ có ích trong việc tìm mẹ hay không. Khi cô viết ngày sinh của mẹ là ngày 24 tháng 7 năm 1938, bố cô nói rằng mẹ sinh năm 1936. Mặc dù trên giấy tờ đều ghi năm 1938 nhưng thực tế mẹ sinh năm 1936. Lần đầu tiên cô được nghe tới điều này. Bố cô bảo ngày xưa tất cả mọi người đều làm như thế. Có rất nhiều đứa trẻ sinh ra chưa đầy trăm ngày đã chết, vì vậy người ta thường nuôi con được vài ba tuổi rồi mới làm giấy khai sinh. Cô sửa số 38 thành 36, nhưng anh cả bảo phải viết năm sinh của mẹ là 1938 theo đúng như trên giấy tờ. Cô thầm nghĩ không biết có cần phải chính xác tới thế không khi đây chỉ là tự soạn tờ rơi chứ không phải khai báo với cơ quan chức năng, nhưng cô vẫn sửa số 36 thành 38, trong lòng tự hỏi không biết đến cả ngày sinh của mẹ cũng có thật là ngày 24 tháng 7 không. ... Mời các bạn đón đọc Hãy Chăm Sóc Mẹ của tác giả Shin Kyung-Sook.
Dưa - Marian Keyes
Claire Webster đã có được một cuộc đời mơ ước: anh xã tên James tuyệt vời, căn hộ London tiện nghi tuyệt vời, và một công việc hấp dẫn tuyệt vời. Nhưng chỉ vài giờ sau khi cô sinh đứa con đầu lòng, giấc mơ đã tan vỡ khi anh xã tuyệt vời bước tới tuyên bố cần phải bỏ rơi cô vì một phụ nữ khác già hơn. Với đứa con còn chưa biết đặt tên là gì, trái tim tan nát và một tủ quần áo chật hơn hai cỡ, trông Claire như một trái dưa tròn xoe xanh lét với lòng tự tin tụt xuống tận gót chân. Không nơi bấu víu, cô quyết định chạy khỏi London về với gia đình thân yêu ở Dublin. Tại đó, được bao bọc trong tình yêu của gia đình tuy kỳ quặc nhưng đầy che chở, chỉ số tinh thần của Claire lại dần nhích lên. Cũng tại đó, một anh chàng kém tuổi quá đẹp trai đã xuất hiện, theo đuổi cô với một động cơ đáng ngờ. Và cũng tại đó, anh xã tuyệt vời lại xuất hiện. Cùng một đề nghị có-vẻ-tuyệt-vời: Về với anh! Vấn đề là mọi chuyện không hề kết thúc tại đó… *** Marian Keyes, Sinh năm 1963 tại Dublin, sau khi tốt nghiệp trường Luật, bà tới London làm phục vụ bàn, sau đó làm nhân viên tại một văn phòng kế toán. Suốt những năm tháng tuổi 20, bà từng gặp nhiều vấn đề về tâm lý, từng nghiện rượu và có ý định tự sát. Sau đợt điều trị tâm lý, từ năm 1993, Marian Keyes bắt đầu viết văn và ngay lập tức trở thành một hiện tượng xuất bản và được gọi là nữ hoàng của dòng tiểu thuyết lãng mạn. Các tác phẩm của bà - thường kể về những người phụ nữ mạnh mẽ, phải vượt qua rất nhiều trở ngại để vươn tới hạnh phúc đích thực - đã bán được hơn 5 triệu bản ở 35 nước trên thế giới.  Về cây bút này, Independent on Sunday bình luận: “Marian Keys mang lại thanh danh tốt cho tiểu thuyết đại chúng, một chiến công không dễ gì đạt được trong một lĩnh vực đầy rẫy những kẻ đạo văn và bất tài được trả quá nhiều tiền so với những gì họ bỏ ra.” *** Vào trong nhà Kate vui hơn rất nhiều. Cười nắc nẻ, bi bô luôn miệng, bàn chân ngúc ngoắc liên tục lúc tôi đặt bé vào cũi. Tôi nắm bàn chân tí xíu còn ấm nóng của bé, quay quay cẳng chân, con bé khoái chí. Ừ thì tôi hy vọng con bé khoái chí vì tôi rất thích làm thế. Tôi bỗng nghe có tiếng gõ cửa. Gì thế nhỉ? Ở nhà này có ai gõ cửa phòng ai bao giờ đâu. Cửa mở. Cái dáng cao lớn của Adam choán hết khung cửa. Mọi thứ bỗng thành ra tí hon, như một ngôi nhà búp bê vậy. Ôi Chúa ơi, tôi hoảng hốt, bỏ bê cả hai chân bé tí của Kate. Cậu ta muốn gì đây? Chắc cậu không tin vào mắt mình là cái quần soóc của tôi trông bê bối đến vậy nên đến nhìn lại cho rõ. - Claire, - cậu dè dặt. - Tôi có thể nói chuyện với chị một chút không? Cậu vẫn đứng yên. To lớn, đẹp quyến rũ, và khuôn mặt điển trai của cậu đầy vẻ lo lắng, chờ đợi. Tôi nhìn cậu. Một cái gì đó đang xáo động bên trong tôi (Không! không phải thứ ấy!). Một cái gì đó tuyệt diệu. ... Mời các bạn đón đọc Dưa của tác giả Marian Keyes.
Cá Thu - Gong Ji Young
Câu chuyện bắt đầu từ Myeong Woo và Eun Rim rủ nhau đi trốn, thật xa khỏi những người quen biết, xa khỏi phong trào sinh viên, và quan trọng nhất, là xa khỏi chồng của Eun Rim.   Nhưng rồi, đến phút cuối, Myeong Woo lại bỏ cuộc. Anh cũng bỏ lại Eun Rim trơ trọi trên con phố đầy gió heo may, một mình đối diện với tất cả những chỉ trích của mọi người. Những tưởng mối tình giữa hai người sẽ đặt dấu chấm hết ở đó, như vô vàn dang dở trong thời đại ấy. Nào ngờ bảy năm sau, dĩ vãng một lần nữa được khơi lại...   Cá Thu khắc họa lại những nỗi đau và mộng tưởng của cả một thế hệ sinh ra vào thập niên 60, trưởng thành trong thập niên 80 của thế kỷ XX đầy biến động. Và khi thời đại đó qua đi, những con người ấy trở nên lạc lõng, không ngừng trăn trở kiếm tìm bản ngã, trong một xã hội giờ đây đã không còn cần đến nhiệt huyết và hy sinh.  *** Gong Ji Young bắt đầu hoạt động sáng tác từ năm 1988 sau khi cho xuất bản tập truyện ngắn mang tên Bình minh đang hé trên tạp chí Sáng tác và phê bình số mùa thu. Các tác phẩm chính Tiểu thuyết: Không có sự lang thang nào tươi đẹp hơn; Và, sự khởi đầu tốt đẹp của họ; Đi một mình như sừng tê giác; Cá thu; Cô gái hiền lành; Chị Bong Soon. Tập truyện ngắn: Lễ nghĩa về con người; Sự tổn tại rơi nước mắt; Cánh đồng của những vì sao. Các tập tản văn: Linh hồn không có vết thương; Hành trình cầu nguyện của Gong Ji-Young. Các giải thưởng Giải thưởng Văn học thế kỷ 21. Giải thưởng Văn học của Hiệp hội tiểu thuyết gia Hàn Quốc. *** Nghĩ đi nghĩ lại thì tôi cũng chẳng thể nhớ rõ trong suốt những năm qua tôi đã mải miết với cuộc đời này ra sao. Lúc nào cũng có gì đó bất an như ngồi trên đống lửa, và đọng lại sau đó chỉ là những ký ức đơn côi của riêng mình… Khoảng mùa hè năm ngoái, có một thời gian ngắn tôi tham gia thuyết giảng trong chương trình đào tạo sinh viên với chủ đề “Thêm một văn hóa khác” do Viện hàm lâm Cơ Đốc đồng tổ chức. Có lẽ những ấn tượng mạnh mẽ tôi nhận được trong quãng thời gian đó đã khởi đầu cho cuổn tiểu thuyết này. Tồi thấy những con người trẻ tuổi của thập niên chín mươi hiện nay, đúng như cái tuổi đôi mươi của họ, thật xinh đẹp và khỏe mạnh hơn tôi tưởng. Ý nghĩ này khiến tôi thấy vui, nhưng sau đó dường như trong tôi lại có chút gì tiếc nuối, trống trải đến lạ kỳ… Ngắm nhìn những người trẻ tuổi hôm nay mà nghĩ về chuyện xưa thì hẳn là tôi cũng đã có tuổi rồi, ý nghĩ đó khiến tôi cười một mình và đồng thời cũng khiến cảm xúc trong tôi lại trào dâng mãnh liệt. Quyết tâm viết nên cuốn tiểu thuyết này có lẽ cũng bắt đầu hình thành từ khi đó. Nhưng nói vậy không có nghĩa là tôi đã bắt tay ngay vào viết. Tôi không thể chỉ rõ theo thứ tự thời gian cái gì diễn ra trước, cái gì diễn ra sau nhưng vào mùa hè năm ngoái tôi đã đến viếng lễ tang một người đàn anh chết trẻ. Khoảng bảy năm trước thì phải, trong số những đàn anh đàn em thường hay đến nhà tôi thì anh ấy là người khi đến sẽ luôn mang theo bên mình một chai rượu, và đến sáng hôm sau thức dậy luôn gấp chăn gọn gàng, ngồi thật nghiêm chỉnh… Tôi cùng anh ấy đã vài lần chứng kiến sự ra đi của một số người trẻ tuổi, nhưng giờ đây chỉ còn mình tôi. Đến khi đó dường như tôi nhận ra, ngay ở giữa thập niên chín mươi này người trẻ tuổi cũng có thể bất ngờ ra đi như thế. Tôi nhận ra rằng họ có thể phải rời bỏ thế gian này, nơi họ vẫn còn nhiều việc phải làm, nhiều việc muốn làm, vẫn còn thật nhiều người để họ yêu thương, vì những tai nạn bất thường rất điển hình của thời đại. Ở một góc nào đó của những lễ tang này, tôi không còn cách nào khác vẫn cứ phải đối mặt với thời xa xưa của chính mình. Những khách khứa, đeo cà vạt, mặc đồ Tây, đến nói với tôi, mong rằng tôi sẽ viết tiểu thuyết về người đã mất, hoặc không thì người đó khi còn trẻ, hoặc không nữa thì là về một người khác vẫn còn đang ở trong bệnh viện tâm thần, nhưng nói thật tâm can là tôi cũng mệt mỏi lắm. Những năm chín mươi tăm tối khiến tôi giờ đây chỉ muốn được tự do với ký ức của thập niên tám mươi. Khi đó tôi đã mong họ đừng nhờ tôi mà hãy giao cho những nhà văn khác, hay những người có tài viết lách hơn, có nhiệt huyết hơn chẳng hạn. Và tôi cũng đã quên mất. Tôi gặp một người bạn đang chực khóc ở quán rượu, khi cậu ta còn ảo tưởng rằng vẫn còn hy vọng. Lúc đó tôi cũng tự cười mỉa trong lòng, rằng đúng là sai lầm của cả một thế hệ. Tôi cũng cho một đồng nghiệp vay tiền khi anh ta bị đuổi khỏi công ty, bỏ dở con đường đảm bảo tiền tài danh lợi lẫn tương lai của anh ta vì lý do không thể thỏa hiệp với bọn bất nghĩa. Lúc đó tôi thật muốn nói với anh ta là, thôi thì bây giờ cứ thỏa hiệp đi vậy. Nói thật, tôi là người dường như rất dễ quên tất cả mọi thứ. ... Mời các bạn đón đọc Cá Thu của tác giả Gong Ji Young.
The Tears Of Love - Barbara Cartland
Cha cô qua đời trên đường về Anh quốc, sự nghiệp của ông dang dở, danh tính của ông bị ô nhục bởi sự cáo buộc mang tội phản quốc. Giờ đây Canuela Arlington và mẹ cô bơ vơ ở London gần như trắng tay. Canuela phải đi tìm việc làm. Biết rằng nhan sắc thanh tú của cô chắc chắn sẽ khơi động những sự theo đuổi phiền toái. Canuela cải trang bằng cách chải tóc sát đầu, đeo đôi kính đen to tướng để che đi đôi mắt đẹp và mặc đồ đen ảm đạm. Khả năng đảm trách công việc xuất sắc của cô mau chóng khiến ông chủ của cô Ramón de Lopez rất thưởng thức. Chàng đẹp trai, thân thế thuộc dòng qúy tộc Argentine, một trong những người giàu có nhất châu Nam Mỹ. Canuela nổi cơn thịnh nộ khi nghe đến tên chàng: Ramón là một người “bạn cũ” của cha cô, một trong những người đã bỏ rơi ông trong cơn khủng hoảng. Canuela nhất định trả lại cho chàng về tội bất trung, nhưng lại không dễ để tiêu diệt chàng. Không những chàng quyến rũ đến điên người mà còn... *** Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Ra đến bên ngoài sứ quán Canuela thấy một chiếc Cabriolet tứ mã đang đợi. Đây là kiểu xe đời mới nhất cô chưa từng thấy trong Buenos Aires nhưng cô biết loại xe này được ưa chuộng ở London như là phương tiện đi lại nhanh chóng, lịch lãm. Thân xe rất nhẹ, bánh lớn, chạy rất nhanh nhưng rất đầm qua các con đường lồi lõm. Nhưng dù sao đi nữa cô lấy làm ngạc nhiên thấy Ramón lái bốn ngựa vào trung tâm Buenos Aires. Anh giúp cô leo lên xe, và mã phu đang giữ ngựa cũng nhảy lên phía sau họ. Đi như thế này có nghĩa là người hầu sẽ nghe được họ trò chuyện, tuy vậy cô lại mừng có gia nhân vào lúc đó. Canuela biết thế nào cũng phải giải thích cặn kẽ với anh và Ramón cũng có nhiều chuyện hỏi cô. Nhưng trong lúc này cô quá phấn chấn, vui mừng không thể tả vì danh dự ba cô đã được khôi phục. Tâm trí cô choáng ngợp không nghĩ nổi đến chuyện nào khác ngoài bóng đen ảm đạm che phủ mẹ con cô đã bị xua đi tan tác. Giờ thì không cần phải lẩn tránh, không cần mai danh ẩn tánh, và cô hãnh diện trở về thân phận của chính mình! Ramón de Lopez cho ngựa chạy tương đối chậm qua dòng xe cộ như mắc cửi, nhưng tài nghệ của anh không chê vào đâu được. Rồi Canuela lấy làm ngạc nhiên khi họ không rẽ vào quảng trường St. Martin nhưng xuôi xuống con đường dài dẫn ra ngoại thành. Cô nhìn anh dò hỏi, tuy nhiên cảm thấy hơi sợ trước nét mặt dường như khá nghiêm nghị của anh. Cô thầm nghĩ có lẽ anh đang giận cô, nhưng cô lại tự hỏi mình thế thì có vấn đề gì. Bây giờ anh đã biết cô là ai, họ có thể mặt đối mặt bình đẳng và cô không cần phải e dè xem chừng tâm trạng anh ra sao hay bực bội với cô như thế nào. ... Mời các bạn đón đọc The Tears Of Love của tác giả Barbara Cartland.