Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Trong Lưới

Ở chung cư nọ, cứ chiều xuống là các cụ già lại ra ngồi bên cửa sổ ngắm nhìn phố xá. Chiều hôm ấy, đang ngắm phố xá như thường lệ, có hai cụ trông thấy một cô bé ở tòa nhà đối diện mở cửa sổ, leo lên bệ cửa rồi nhảy xuống. Một trong hai cụ sợ đến ngất xỉu, cụ còn lại hô hoán người nhà báo cảnh sát. Cả hai đều khai, lúc cô bé nhảy xuống không có bất cứ ai đứng sau lưng cả. Chung cư này cũng là nơi dân tình hay ném đồ đạc trên cao xuống, người ta phải lắp camera giám sát để bắt phạt, một trong các camera cũng trung thực ghi lại cảnh cô bé nhảy lầu. Còn rất nhiều nhân chứng vật chứng khác cho thấy đây là một vụ tự sát, nhưng chị cô bé không tin. Không chấp nhận kết quả điều tra chính thức, không muốn em gái phải chết mù mờ oan ức, cô đã bắt tay lùng tìm theo một hướng bất hợp pháp, để lần lượt lôi ra từng kẻ thủ ác đang thu lu sau màn hình. Đặt cuộc trả thù cá nhân vào bối cảnh Hồng Kông hiện đại, khi ai nấy vô hồn với xung quanh vì chỉ biết cắm mặt vào điện thoại, Người trong lưới là một sự thật nhức nhối về ranh giới mỏng manh giữa vô tâm và ác tâm. *** Tác giả: Chan Ho Kei. Dịch giả: Thu Hường Thể loại: Trinh thám hiện đại Hong Kong Mức độ yêu thích: Gấp đôi điểm tuyệt đối . . “… dẫu số phận bi thảm đến đâu, thì việc gây bất hạnh cho người khác cũng không mang lại hạnh phúc cho bản thân, trái lại còn khiến nỗi đau thêm dai dẳng. Thù hận tưởng chừng tiêu tan, thật ra là tồn tại dưới một hình hài khác, gặm nhấm thêm nhiều linh hồn lương thiện, đem lại khổ đau cho nhiều người nữa”. Tết cổ truyền VN năm nay rơi vào đúng các ngày ngay trước Lễ Tình Thương, nên từ hai mấy tháng Chạp tôi đã cân nhắc chọn đọc cuốn nào đem lại tâm trạng tốt cho mình để hên cả năm. Điểm qua một lượt các “em” sách giấy trên kệ, tôi quyết định gửi gắm vận may của mình cho tác giả Chan Ho Kei. Ngay đêm Giao Thừa, ôm quyển “Người trong lưới” đọc được gần trăm trang thì tôi biết ngay mình đã chọn đúng. Suốt mấy ngày đầu năm, tôi cứ lải nhải với người nhà rằng “Ôi con chọn được cuốn sách quá đỉnh để đọc mấy ngày này”.   Âu Nhã Văn là cô bé 15 tuổi đang học trung học. Cha bị tai nạn lao động qua đời nhưng công ty toa rập với bên bảo hiểm để ăn chặn tiền bồi thường của gia đình cô, mẹ vất vả cả đời cũng không đủ sức đem đến cuộc sống sung túc cho cả nhà, chị gái Âu Nhã Di không học ĐH mà đi làm để kiếm tiền nuôi hai chị em. Vốn là người nội tâm, nhạy cảm, không thể chống chọi với sóng to gió lớn ập đến với mình, Văn nhảy lầu tự sát ngay lúc chị gái Di vừa đi làm về. Rơi vào hố sâu tuyệt vọng điên cuồng, Âu Nhã Di cảm thấy mục đích sống của mình đã trở nên vô nghĩa. Thế nhưng, mục đích sống mới xuất hiện, đó là tìm và báo thù những kẻ trực tiếp hoặc gián tiếp gây nên cái chết thê thảm của em gái cô. Di thuê thám tử tư điều tra, nhưng vụ việc nhanh chóng hiện rõ tính chất phức tạp đến mức thám tử cũng từ chối.   Khi đọc phần giới thiệu nội dung truyện, tôi nửa tin nửa ngờ vào độ lôi cuốn của “Người trong lưới”, vì nghĩ rằng nạn nhân là một cô bé nhảy lầu tự sát, không ai đẩy xuống, không có di thư, vụ án nghe có vẻ đơn giản làm sao có thể viết nên một cuốn sách to dày như thế. Thế nhưng, chỉ mới đọc mười mấy trang, tôi đã nghẹn lòng xót thương gia cảnh của Âu Nhã Di, đồng thời lập tức đặt mình vào vị thế của cô khi thấy cô cũng là mọt sách và làm việc trong thư viện. Nghề nghiệp của nữ chính khiến tôi chủ quan cho rằng cuốn “Người trong lưới” đúng là viết ra dành riêng cho mình! Đây là câu chuyện trinh thám – tâm lý XH phản ánh rõ nét XH Hong Kong nói riêng và XH hiện đại của loài người nói chung. Cả truyện chỉ có một nạn nhân tử vong, còn lại đều là quá trình điều tra diễn tiến đầy phức tạp, nhưng tôi thấy từng đoạn từng câu đều hấp dẫn. Có nhiều chỗ tôi không hiểu vì dùng nhiều thuật ngữ thuộc ngành Công nghệ Thông tin (IT) nhưng tôi cố gắng không đọc lướt đoạn nào. Sau vài chục trang, tôi tự hỏi tác giả phải tìm hiểu kỹ về IT đến mức nào để có thể viết được những đoạn văn chứa đựng nhiều kiến thức phức tạp và chính xác như thế, nhưng khi giở bìa gấp trước ra xem thì tôi vỡ lẽ rằng tác giả Chan Ho Kei đã tốt nghiệp khoa Khoa học Máy tính thuộc ĐH Trung văn Hong Kong. Một người học và làm trong ngành công nghệ mà viết tiểu thuyết điêu luyện như thế, thật sự đáng ngưỡng mộ và học hỏi. Chan Ho Kei đã chiếm trọn sự yêu thích và quan tâm của tôi từ sau cuốn 13.67. Tôi cũng có thể khẳng định tác giả Hong Kong này đọc RẤT nhiều sách (vì đọc nhiều là một trong những yếu tố giúp viết hay), trong cuốn này có đề cập đến vài tựa sách tiểu thuyết cổ điển lẫn hiện đại thuộc vài thể loại khác nhau, cả truyện kiếm hiệp và thể loại trinh thám Nhật, cụ thể như sau: + “Thiên long bát bộ” của Kim Dung + “Thú tội” của Minato Kanae + “Đêm trắng đi hoang” của Higashino Keigo + “Bí kíp quá giang vào ngân hà” của Douglas Adams   Đọc khoảng trăm trang đầu thì tôi nghĩ cốt truyện cũng đơn giản, nhưng càng đọc tôi càng nhận ra mình đã lầm. Phía sau vụ nhảy lầu tự sát của cô bé 15 tuổi là mạng lưới đan xen dày đặc của các mối quan hệ trường lớp, ác tâm của những kẻ gọi là bạn bè, ác ý và sự vô cảm của cư dân mạng, sự thờ ơ không cố tình của người chị ruột… tất cả hình thành nên tấm lưới uất ức từ từ siết chặt lấy cô gái nhỏ. Trong truyện có hơn ba lần tác giả nhắc đến “chọn lọc tự nhiên” bằng những câu văn tương tự nhau, chẳng hạn như “Ở thành phố này, chỉ kẻ mạnh mới sống sót được. Nếu không muốn làm kẻ bị bóc lột, chúng ta chỉ còn cách trở thành kẻ đi bóc lột… Đừng khờ khạo cho rằng ở hiền gặp lành” hoặc “Trong xã hội cá lớn nuốt cá bé, người ta chia nhau ra đóng vai kẻ lợi dụng và người bị lợi dụng, ai am hiểu cách lợi dụng nhược điểm của con người đều có thể đặt chân lên con đường thành công”. ____ Tuy vậy, độc giả sẽ hiểu rõ không phải ý tác giả là “chỉ kẻ mạnh mới tồn tại nổi”, mà sẽ cảm nhận được tính nhân văn sâu sắc của truyện. Không biết vì tôi đọc lúc thể trạng đang không tốt hay vì bắt gặp những chi tiết đau lòng mà đôi lúc tôi phát hiện mắt mình ươn ướt.   Nếu trong 13.67, người đọc thích thú khi ngay chương đầu đã bắt gặp việc ứng dụng khoa học công nghệ vào điều tra phá án, thì đến “Người trong lưới”, các chi tiết về khoa học máy tính xuất hiện dày đặc khiến tôi không khỏi liên tưởng mạnh mẽ đến cuốn “Sát nhân mạng” của Jeffery Deaver, đương nhiên là những dòng viết về công nghệ trong “Second Sister” mang tính thời đại hơn “The blue nowhere” nhiều, vì cuốn của Trần Hạo Cơ ra đời sau cuốn của bác Deaver tận 19 năm, tính theo thời gian trong truyện là 14 năm. Qua phần Lời Bạt cuối truyện của tác giả Chan Ho Kei, tôi cũng biết thêm một từ mới, là “thủ pháp cá trích đỏ” (red herring). Nhưng cụm từ tôi thích nhất, sẽ học hỏi và áp dụng sau khi đọc cuốn này là “tấn công phi kỹ thuật”.   Như đã viết ở trên, tôi cảm thương với gia cảnh và đồng cảm với nghề nghiệp của Âu Nhã Di, nhưng khi thấy Di hơi kém cỏi trong việc cập nhật công nghệ thì tôi có chút ngán ngẩm (tội lỗi quá), nhưng tôi buộc mình phải thấu hiểu rằng một phụ nữ trẻ vất vả kiếm sống trong một XH chỉ cho phép kẻ mạnh tồn tại thì không còn hơi sức và khả năng kinh tế để quan tâm đến những thứ đồ chơi công nghệ phức tạp đắt đỏ. ____ Còn nhân vật Nem, ban đầu tôi không ưa anh ta, chỉ thích bí danh của anh ta vì nó khiến tôi liên tưởng đến đồ ăn. Sau đó tôi đoán anh ta tên thật là Inoue Satoshi. Càng đọc, tôi càng liên tưởng Nem với thiên tài hacker trong cuốn “Sát nhân mạng”.   Tuy bối cảnh truyện là XH Hong Kong hiện đại năm 2015, cốt truyện phức tạp nhiều chi tiết nhưng tôi vẫn tự cho phép mình đúc kết khuôn mẫu của mối quan hệ giữa nam nữ chính trong truyện: Di giống như nàng Lọ Lem nghèo khổ kiên cường vượt qua những trắc trở trong cuộc sống, nhưng trong cái rủi có cái xui à không có cái may, số phận đưa đẩy khiến nàng tình cờ gặp được bậc quân vương đội lốt ăn mày, văn võ toàn tài, hào hiệp giúp đỡ kẻ yếu nhưng cứ luôn khẩu xà tâm Phật. Tuy bây giờ tôi không còn mơ mộng ảo tưởng như hồi trước nhưng với diễn biến + phần cuối truyện, tôi không khỏi nghĩ đến mấy bộ phim cổ tích Disney với câu “Và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau”! (thêm n+1 cái chấm than)   Tôi đồng ý với lý thuyết chọn lọc tự nhiên – kẻ mạnh mới tồn tại được – mà tác giả Chan Ho Kei nhiều lần nêu lên trong truyện, nhưng tôi không đồng ý với tư tưởng rằng để trở thành kẻ mạnh / hoặc đã vốn là kẻ mạnh thì tự cho mình quyền sinh sát, không quan tâm đến nỗi khổ của người khác, có thể thản nhiên giết người hoặc nhìn người khác lâm vào chỗ chết, miễn là họ không ảnh hưởng đến lợi ích của mình. Nếu ai cũng nghĩ vậy mà sống thì trần gian sẽ trở thành địa ngục. Trong khoảng thời gian đọc “Người trong lưới”, tôi có duyên nghe được vài câu rất hay, khiến tôi cảm thán sâu sắc với nội dung cuốn sách này: “Con người phải biết đủ trong cuộc sống, gặp nghịch cảnh không oán hận, gặp thuận cảnh không cao ngạo, chỉ có luôn tu sửa hành vi chính mình và biết quan tâm giúp đỡ người khác thì bản thân mới đạt được hạnh phúc”.   Nghe nói cuốn này dịch thiếu nửa chương 9 và toàn bộ chương 10, tuy đã được một đại công tử nhân hậu tặng ebook tiếng Anh nhưng vì lười nên tôi chưa đọc bản Anh, chỉ mới đọc bản Việt + chương 10 do anh Nabil Kamal dịch (xin cảm ơn anh nhiều). Về bản dịch Việt của IPM, kẻ mù công nghệ như tôi đọc thấy rất hay, rất dễ hiểu trừ những đoạn tôi không hiểu. Sách được trình bày đẹp, chữ in to rõ, bìa trước dường như thiết kế theo phong cách truyện tranh Nhật, bạn nào nếu vì cái bìa của 13.67 mà chưa muốn mua đọc thì có lẽ cũng không quá thích bìa của “Người trong lưới”, riêng tôi thì yêu cả hai cuốn. Cũng như với 13.67, “Người trong lưới” được tôi đưa vào danh mục sách mà tôi sẽ mua thêm để tặng người khác.   Tôi cố gắng viết và cố ý đăng review cuốn này vào 14-2 như một cách bày tỏ lòng hâm mộ của mình đối với tác giả Trần Hạo Cơ, nhưng nếu có ai thành lập fanclub thì tôi không tham gia đâu. Lần sau có dịp vào tiệm mì Tàu, tôi sẽ thử gọi “Sen lớn thêm xanh ít bánh nước riêng cải trụng rưới không dầu” xem chủ quán sẽ trầm trồ hay sẽ nhìn tôi bằng ánh mắt kỳ dị.   (Sea, 14-2-2021) Cáo Biển Non Xanh *** MỞ ĐẦU 8 giờ sáng sửa soạn đi làm, Di không hề biết hôm nay sẽ là ngày thay đổi cuộc đời cô. Tưởng đâu chỉ cần cắn răng chịu đựng, bao khốn khổ dồn dập ập xuống suốt một năm qua sẽ chấm dứt, ắt có ngày mưa tạnh trời quang. Thế nhưng số phận biến động khôn lường, ông trời không chỉ thích đùa giỡn người trần, mà còn đùa toàn những trò thảm khốc. Hơn 6 giờ chiều, Di lê tấm thân mệt mỏi từ bến xe buýt mini xanh*về khu nhà ở xã hội, vừa đi vừa nhẩm tính xem thức ăn trong tủ lạnh có đủ nấu một bữa cho hai người không. Xe buýt loại nhỏ chỉ dừng ở điểm quy định, phân biệt với xe buýt mini đỏ cho phép khách xuống dọc đường. Mấy năm nay giá cả đắt đỏ khủng khiếp. Ngày xưa một cân* thịt cùng lắm hơn 20 đô*, bây giờ ngần ấy tiền chỉ mua được nửa cân. Gọi là “ngày xưa” nhưng cũng mới bảy, tám năm trước thôi. Thịt thà rau dưa giờ tăng giá gấp đôi là ít, nhưng lương lậu của giai cấp vô sản thì vẫn còm cõi như cũ. Giá thực phẩm tăng vọt không đơn giản vì giá bán buôn tăng. Di từng nghe một hàng xóm lớn tuổi nói đùa, “Người Hồng Kông không ăn cơm mà ăn gạch*.” Sau khi chính phủ bán chợ và cửa hàng bách hóa ở khu nhà xã hội cho doanh nghiệp tư nhân, các hộ kinh doanh phải đối mặt với áp lực tiền thuê tăng. 1 cân Hồng Kông tương đương 600 g. Đô la Hồng Kông. Từ đây đến cuối sách, nếu chỉ nói “đô” không, tức là đô la Hồng Kông. Ngụ ý giá nhà đất quá cao nên ảnh hưởng nặng nề đến miếng cơm manh áo. Để có thêm thu nhập đập vào tiền thuê đắt đỏ, đương nhiên họ sẽ đẩy gánh nặng lên người mua hàng. Di nhớ trong tủ lạnh còn vài lạng thịt và cải bó xôi. Làm món thịt xào cải bó xôi với gừng, thêm đĩa trứng hấp là được bữa tối đơn giản giàu dinh dưỡng. Tiểu Văn, cô em nhỏ hơn Di tám tuổi, từ bé đã thích ăn trứng hấp. Mỗi khi nhà thiếu thức ăn, Di lại lấy hai quả trứng gà ra hấp, rắc ít hành lá, rưới chút nước tương, bưng lên bàn ăn trông vừa ngon vừa đẹp. Quan trọng là rất rẻ. Bữa tối nay thế là đủ rồi, nhưng Di vẫn định đi chợ xem thế nào. Vốn tính lo xa, cô rất sợ cảnh tủ lạnh trống trơn. Hơn nữa, khá nhiều quầy thực phẩm giảm giá trước giờ đóng cửa, tranh thủ dạo một vòng có khi lại kiếm được đồ rẻ, mai khỏi phải đau đầu nhức óc chuyện ăn uống. Úúúú… Xe cảnh sát thình lình lao vụt qua cạnh Di, tiếng còi đinh tai nhức óc kéo suy nghĩ của cô từ hàng giảm giá về thực tại. Cô dõi mắt nhìn thì thấy một đám đông đang xúm xít trước tòa nhà Hoán Hoa mình ở. Có chuyện gì sao? Di nghĩ thầm, nhưng vốn không phải dạng ưa hóng chuyện nên chân vẫn bước rất thong thả. “Á, Di! Di ơi…” Trong đám đông, một bác gái tầm 50 tuổi, tóc xoăn, người đậm, đang cuống cuồng vẫy gọi. Di biết người này, đây là bác gái họ Trần thuê nhà cùng tầng 22 với cô, bình thường chạm mặt ngoài hành lang vẫn gật đầu chào hỏi. Song trừ biết tên và thi thoảng xã giao dăm ba câu thì đôi bên chẳng qua lại mấy. Chỉ còn cách nhau một quãng ngắn thôi, nhưng bác Trần vẫn sốt ruột chạy lại túm tay lôi tuột Di về phía tòa nhà. Di không nghe rõ bác nói gì. Ngoại trừ tên mình, cô thấy những lời tuôn ra từ miệng bác chẳng khác nào tiếng nước ngoài. Mất mấy giây định thần, cô mới vỡ lẽ bác Trần hoảng quá nói chẳng nên lời. Vỡ lẽ xong, cô nghe thêm được hai chữ “em gái”. Di bước tới gần đám đông. Cảnh tượng quái dị hiện ra trước mắt cô, dưới trời chiều còn chưa tắt nắng. Dân tình đang túm tụm quanh khoảnh sân xi măng trước cửa chính cư xá Hoán Hoa. Thường ngày sân trống trơn, nhưng hôm nay lại có cô bé mười mấy tuổi mặc đồng phục trắng nằm ngửa ở đó, tóc rối tung phủ lên mặt, chất lỏng đỏ sậm rỉ ra từ cổ đọng thành vũng nhỏ. Suy nghĩ đầu tiên vụt qua óc Di là, đó chẳng phải đồng phục trường Tiểu Văn sao? Hai giây sau Di nhận ra, cô bé nắm bất động trên sân kia, chẳng phải chính là Tiểu Văn sao? Người thân của cô. Người thân duy nhất. Khoảnh khắc ấy, Di cảm thấy mọi thứ quanh mình thật lạ lẫm. Mình đang nằm mơ ư? Chắc là mơ rồi. Di quay sang nhìn bên cạnh, toàn những gương mặt quen thuộc, nhưng giờ phút này lại xa lạ vô cùng. “Di! Di ơi!” Bác Trần tóm bả vai Di lắc mạnh. “Tiểu… Tiểu Văn?” Di lắp bắp gọi tên, không tài nào liên hệ nổi vật thể hình người dưới đất với em gái mình. Đáng lẽ giờ này Tiểu Văn phải ở nhà, chờ Di về nấu cơm cho nó ăn chứ. Đấy mới là “hiện thực bình thường” đối với Di. “Lùi lại nào, lùi lại.” Một cảnh sát ăn mặc chỉnh tề chen vào giữa đám đông, ra hiệu bảo mọi người đứng giãn ra. Cùng lúc, hai nhân viên y tế đẩy xe cáng từ phía sau vượt lên trên Di rồi ngồi xổm xuống cạnh Tiểu Văn. Nhân viên y tế lớn tuổi hơn kiểm tra hơi thở của cô bé, ấn ngón tay lên cổ tay trái cô, sau đó lần túi lấy đèn pin khám, tay trái vạch mắt tay phải rọi đèn soi đồng tử. Chuỗi hành động diễn ra chỉ vỏn vẹn vài giây, nhưng trong mắt Di từng động tác của nhân viên y tế lại ì trệ như những khung hình tĩnh. Di không còn nhận thức về thời gian nữa. Hay nói cách khác, tiềm thức Di muốn ngăn cô đối mặt với hiện thực. Nhân viên y tế đứng lên, lắc đầu với đồng nghiệp đẩy xe cáng và mấy cảnh sát đang chắn đám đông. “Mọi người lùi lại, đừng cản trở quá trình điều tra…” Lúc cảnh sát nói câu này, hai nhân viên y tế nghiêm mặt lại, từ từ rời khỏi chỗ Tiểu Văn. “Tiểu… Tiểu Văn? Tiểu Văn! Tiểu Văn!” Di hất tay bác Trần đang giữ vai mình, chạy tới chỗ Tiểu Văn. “Cô gái!” Một cảnh sát cao to nhanh nhẹn giơ tay ngang hông chặn Di lại. “Tiểu Văn!” Di vừa giãy giụa vừa ngoảnh nhìn cảnh sát, nôn nóng nói, “Đó, đó là em tôi, cứu con bé với!” “Thưa cô, cô bình tĩnh đã…” Cảnh sát cố trấn an Di, nhưng anh ta biết lời mình nói không mấy tác dụng. “Xin, xin anh cứu con bé! Bác sĩ ơi!” Mặt mày tái nhợt, Di bỗng xoay phắt lại, hét lên với hai nhân viên y tế đang chăm chú nhìn mình. “Sao không đỡ Tiểu Văn lên xe? Nhanh lên! Mau cứu Tiểu Văn đi!” Hai nhân viên y tế đứng lặng cạnh xe cứu thương lộ vẻ khó xử. Người lớn tuổi hơn rất muốn nói thẳng sự thật với cô, nhưng dù gặp cảnh sinh ly tử biệt mỗi ngày, anh vẫn không đành lòng làm cô gái mới đôi mươi này đau đớn. “Cô là chị của em này sao? Cô bình tĩnh lại đã…” Anh cảnh sát chặn Di thử nhẹ nhàng khuyên bảo. “Tiểu Văn…” Di ngoảnh nhìn em gái nằm trơ như tượng dưới đất, thì thấy hai cảnh sát khác cầm khung kim loại và vải bạt chống thấm màu xanh sẫm đến dựng lều nhỏ xung quanh che Tiểu Văn lại. “Các… các người làm gì thế? Dừng tay! Dừng tay đi!” “Cô gái! Cô gái à!” “Đừng che người nó! Nó còn thở! Nhất định tim nó còn đập!” Di yếu ớt nhoài người tới trước. Anh cảnh sát vốn có nhiệm vụ ngăn cản đề phòng cô phá hỏng hiện trường, giờ trở thành điểm tựa duy nhất đỡ lấy cô. “Cứu em gái tôi với! Xin các anh cứu em tôi… Tôi xin các anh đấy… Nó, nó là em gái tôi, là em gái duy nhất của tôi…” Xế chiều một ngày thứ Ba bình thường, tại khoảnh sân trống trước tòa nhà Hoán Hoa thuộc cư xá Lạc Hoa* quận Quan Đường, những cư dân thường ngày ưa ngồi lê đôi mách giờ đều nín lặng. Giữa những tòa nhà lạnh lẽo, chỉ còn vang vọng tiếng khóc thống thiết cùa một người chị, tựa tiếng gió len vào tai mỗi người, để lại từng giọt buồn không thể xua đi. Lok Wah. Khu nhà ở xã hội thuộc quận Quan Đường, bán đảo Cửu Long, nổi tiếng với bãi để xe có kiến trúc ô cửa sổ tròn sơn xanh độc đáo rất thu hút khách du lịch. Mời các bạn đón đọc Người Trong Lưới của tác giả Chan Ho Kei & Thu Hường (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Những vụ kỳ án của Sherlock Holmes - Arthur Conan Doyle (Bản Đinh Tị - Thái Hà dịch)
Sherlock Holmes là một nhân vật thám tử hư cấu vào cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, xuất hiện lần đầu trong tác phẩm của nhà văn Arthur Conan Doyle xuất bản năm 1887. Ông là một thám tử tư ở Luân Đôn nổi tiếng nhờ trí thông minh, khả năng suy diễn logic và quan sát tinh tường trong khi phá những vụ án mà cảnh sát phải bó tay. Nhiều người cho rằng Sherlock Holmes là nhân vật thám tử hư cấu nổi tiếng nhất trong lịch sử văn học và là một trong những nhân vật văn học được biết đến nhiều nhất trên toàn thế giới. Đã có rất nhiều vở kịch và bộ phim được sáng tác dựa trên những tác phẩm của Conan Doyle về Holmes, về mặt này có thể so sánh Holmes với những nhân vật hư cấu nổi tiếng khác như Hamlet hay Dracula. Sherlock Holmes được độc giả hâm mộ tới mức đã có rất nhiều hội những người hâm mộ ông được thành lập. Năm 1990 người ta đã mở Bảo tàng Sherlock Holmes ở phố Baker, đây là bảo tàng cho một nhân vật hư cấu đầu tiên được mở trên thế giới. Sherlock Holmes đã xuất hiện trong 4 tiểu thuyết và 56 truyện ngắn của nhà văn Conan Doyle. Hầu như tất cả các tác phẩm đều được viết dưới dạng ghi chép của bác sĩ John H. Watson, người bạn thân thiết và người ghi chép tiểu sử của Holmes, chỉ có 2 tác phẩm được viết dưới dạng ghi chép của chính Holmes và 2 tác phẩm khác dưới dạng ghi chép của người thứ ba. Hai tác phẩm đầu tiên trong số này, 2 tiểu thuyết ngắn, xuất hiện lần đầu tiên trên tờ Beeton's Christmas Annual năm 1887 và tờ Lippincott's Monthly Magazine năm 1890. Thám tử Holmes trở nên cực kì nổi tiếng khi loạt truyện ngắn của Doyle được xuất bản trên tạp chí The strand Magazine năm 1891. Các tác phẩm được viết xoay quanh thời gian từ năm 1878 đến năm 1903 với vụ án cuối cùng vào năm 1914. *** Một buổi sáng cuối năm 1896, tôi nhận được tờ giấy viết vội của Sherlock Holmes, mời tôi lập tức tới phố Baker ngay. Tới nơi, tôi thấy anh đang ngồi trong một căn phòng mù mịt khói thuốc, trên chiếc ghế đối diện là một phụ nữ đẫy đà đã luống tuổi và có dáng dấp một bà chủ nhà trọ. - Anh Watson, đây là bà Merrilow ở quận South Brixton. - Ông bạn tôi giơ tay giới thiệu - Bà đây không phản đối việc hút thuốc, nên anh cứ mặc sức tận hưởng thú vui của mình. Bà Merrilow muốn kể cho chúng ta nghe một câu chuyện vô cùng thú vị. Và có thể sự việc sẽ còn tiến triển, nên sự có mặt của anh ở đây là vô cùng hữu ích. - Nếu tôi có thể giúp được gì… - Bà Merrilow, chắc bà cũng hiểu rằng nếu tôi tới gặp bà Ronder thì tôi hy vọng có một người làm chứng. Xin bà hãy nói với bà ấy về điều này trước. - Chúa sẽ phù hộ cho ông, ông Holmes ạ! - Người khách nói - Bà ấy rất muốn gặp ông, nên ông có gọi tất cả mọi người trong khu này đến thì bà ấy cũng chả bận tâm gì đâu. - Vậy chiều nay chúng ta nên xuất phát sớm một chút. Trước khi đi, phải đảm bảo là chúng ta đã nắm rõ mọi việc. Bà hãy kể lại tất cả một lần nữa, giúp bác sĩ Watson có thể hiểu được tình hình. Ban nãy bà có nói, bà Ronder đã trọ ở nhà bà bảy năm rồi, nhưng bà mới nhìn rõ mặt bà ấy chỉ một lần duy nhất phải không? Bà Merrilow nói: - Thề có Chúa, tôi ước gì mình chưa bao giờ nhìn thấy mặt bà ấy thì hơn! - Mặt bà ấy bị thương tổn rất nặng nề, phải vậy chứ? - Thưa ông Holmes, không thể gọi đó là một cái mặt người được! Thật là vô cùng khủng khiếp. Một lần, người đưa sữa cho tôi nhác thấy bà ấy đang đứng ngắm cảnh ở cửa sổ tầng trên, anh ta kinh hoàng tới mức làm đổ cả thùng sữa! Lần nọ, bất ngờ tôi chợt nhìn thấy mặt bà ấy, bà ấy lập tức che mặt lại và nói: “Bà Merrilow, chắc bây giờ bà đã hiểu vì sao tôi luôn luôn che mặt bằng tấm mạng này rồi chứ?”. - Bà có biết tí gì về quá khứ của bà ấy không? - Tôi hoàn toàn không biết gì về bà ấy cả. - Khi bà ấy tới thuê nhà, có sự giới thiệu của ai không? - Không, nhưng bà ấy trả bằng tiền mặt và luôn trả trước rất nhiều. Tiền thuê nhà trả cả quý, hơn nữa cũng không hề cò kè mặc cả. Tôi ngần này tuổi rồi, lại bơ vơ một mình trong thời buổi khó khăn, ngài bảo làm sao có thể từ chối được một người khách giàu có và hào phóng như vậy được? - Lý do gì khiến bà ấy chọn thuê căn hộ của bà? - Căn hộ của tôi cách đường khá xa, yên tĩnh hơn so với các căn hộ cho thuê khác. Hơn nữa, tôi chỉ nhận mỗi một người khách trọ; bản thân tôi cũng không có người thân. Tôi đoán rằng bà ấy đã từng thuê nhiều nơi, nhưng bà ấy thích căn hộ của tôi nhất. Bà ấy cần yên tĩnh và không tiếc tiền. - Bà có nói rằng, kể từ khi tới ở, bà ấy chưa bao giờ để lộ khuôn mặt của mình, chỉ trừ một lần duy nhất kia thôi. Đây quả là một chuyện khá đặc biệt và vô cùng kỳ lạ. Do đó tôi hiểu vì sao bà muốn điều tra xác minh nó đến vậy. - Không phải tôi muốn thế, thưa ông Holmes. Với tôi mà nói, chỉ cần có tiền thuê nhà là tôi đã cảm thấy rất hài lòng rồi. Không có vị khách thuê nhà nào yên lặng hơn, ít chuyện hơn bà ấy. - Vậy thì tại sao bà lại tới đây? - Thưa ông Holmes, đó là vì sức khỏe của bà ấy. Bà ấy càng ngày càng yếu đi. Hơn nữa, trong lòng bà ấy có những bí mật rất hãi hùng nào đó. Có lúc bà ấy la to: “Giết người! Giết người!”. Lần khác lại nghe tiếng bà ấy hét toáng: “Đồ súc sinh tàn ác! Đồ yêu ma quỷ quái!”. Bà ấy kêu gào vào lúc nửa đêm, tiếng hét của bà ấy vang dội khắp nhà làm tôi sợ run lên. Sáng hôm sau, tôi lên thăm bà ấy. Tôi chân thành khuyên: “Bà Ronder này! Nếu trong lòng bà có điều gì u uất không thể nói ra, bà có thể tìm tới cha xứ hoặc cảnh sát, biết đâu họ có cách giúp bà”. “Ơn Chúa, tôi không cần tới cảnh sát!” - Bà ấy nói - “Cha xứ thì không thể làm gì để thay đổi được quá khứ. Nhưng trước khi tôi chết, nếu có một ai đó biết được toàn bộ câu chuyện này thì tôi có thể được an ủi phần nào”. Tôi mách cho bà ấy: “Ồ, nếu bà không muốn nhờ cảnh sát, thì bà hãy nhờ đến ông thám tử nổi tiếng mà mọi người đều biết là Sherlock Holmes ấy”. Thưa ngài, xin lỗi vì tôi đã nhanh mồm như vậy. Nhưng bà ấy vừa nghe liền đồng ý ngay: “Đúng rồi, tôi cần một người như thế”. Bà ấy nói: “Tại sao tôi lại không nghĩ ra nhỉ? Xin bà hãy mau chóng mời ông ta tới đây, bà Merrilow! Nếu ông ta không chịu tới, bà hãy nói với ông ta rằng tôi là vợ của Ronder, người dạy thú ở đoàn xiếc. Bà chỉ cần nói vậy thôi và cho ông ta cái tên “Abbas Parva””. Bà ấy viết chữ đó lên mảnh giấy đưa cho tôi rồi nói: “Cái tên này sẽ khiến ông ta tới ngay, nếu ông ta đúng là người như tôi nghĩ”. - Đúng là tôi phải đi thật, bà Merrilow ạ! - Holmes nói - Giờ tôi cần trao đổi với bác sĩ Watson một lúc và cuộc nói chuyện này phải kéo dài tới bữa trưa. Khoảng ba giờ chiều, chúng tôi mới có thể tới nhà bà được. Vị khách của chúng tôi vừa lạch bạch bước ra khỏi phòng, vì không còn từ nào có thể miêu tả đúng hơn dáng đi của bà ấy, thì Holmes liền đứng bật dậy, vùi đầu vào lật tìm đống tài liệu trong góc phòng. Vài phút sau, chỉ có tiếng lật giấy “soạt, soạt”, sau đó anh à lên một tiếng đầy thoả mãn. Nghe thế, tôi biết là Holmes đã tìm ra được điều gì đó. Anh ngồi bệt xuống sàn nhà, hai chân khoanh lại, một đống sách to đùng bao quanh, và trên đùi lại có một tập báo đang mở nữa. ... Mời các bạn đón đọc Những vụ kỳ án của Sherlock Holmes của tác giả Arthur Conan Doyle. Mời các bạn đón đọc Những vụ kỳ án của Sherlock Holmes của tác giả Arthur Conan Doyle.
Mười Người Da Đen Nhỏ - Agatha Christie
Mười người phát hiện rằng mình đã bị lừa ra đảo để "trả giá" cho "tội ác" đã gây ra, họ ứng với 10 bức tượng nhỏ đặt trên bàn ở phòng khách. Những ngày sau đó từng người lần lượt thiệt mạng tương tự cái cách bài đồng dao trong phòng mỗi người đã mô tả. Kỳ lạ hơn là sau khi một người qua đời, số tượng trong phòng khách bằng cách nào đó đều giảm đi một. Người đầu tiên thiệt mạng là Anthony Marston, anh ta chết vì ngộ độc với triệu chứng tương tự người bị nghẹn. Sau Marston là Ethel Rogers, bà quản gia chết được chồng phát hiện đã chết vì dùng thuốc ngủ quá liều. Vị tướng Macarthur dường như linh cảm được cái chết sẽ đến nên đã bỏ ăn mà ngồi nhìn ra biển và lảm nhảm một mình, bác sĩ Armstrong sau đó phát hiện ông đã chết vì bị một vật cứng đập vào sau đầu. Người thứ tư thiệt mạng là Thomas Rogers, trong lúc bổ củi chuẩn bị cho bữa sáng, dường như Thomas đã để trượt tay và làm lưỡi búa bay thẳng vào đầu. Là người luôn tin rằng mình không làm gì trái với Đức tin, rằng những người khác chết là do bị Chúa trừng phạt, tuy nhiên Emily Brent cũng không thể sống sót, bà bị tiêm thuốc độc vào cổ sau bữa ăn trưa, vết tiêm trên cổ bà tương tự như vết ong đốt. Buổi tối hôm đó đến lượt quan tòa Wargrave được bác sĩ Armstrong phát hiện đã thiệt mạng vì bị bắn vào đầu trong khi đang đội bộ tóc giả của quan tòa. Bản thân bác sĩ vào ngày hôm sau cũng được những người còn lại phát hiện đã chết đuối ở vách đá. Blore là người thứ tám thiệt mạng trên đảo, viên thám tử tư bị bức tượng trong phòng cô Vera Claythorne rơi trúng đầu trong lúc hai người còn lại đang ở ngoài bờ biển bên xác bác sĩ Armstrong. Rơi vào trạng thái hoảng loạn, Claythorne lừa cướp được súng của Lombard và giết chết tay cựu lính đánh thuê. Cuối cùng cô trở lại phòng và treo cổ tự tử với chiếc ghế và dây thòng lọng do một ai đó đã bày sẵn… Đây là một vụ án mà không hề có sự hiện diện hay dấu vết của thủ phạm. *** Mười người da đen nhỏ, nguyên bản tựa gốc tiếng Anh: Ten Little Niggers (10 gã mọi đen nhỏ) hoặc And Then There Were None (Và rồi chẳng còn ai) là một tiểu thuyết hình sự của nhà văn Agatha Christie được nhà xuất bản Collins Crime Club phát hành lần đầu ở Anh ngày 6 tháng 11 năm 1939[2]. Tác phẩm đôi khi còn được xuất bản (và chuyển thể thành phim) dưới tên Ten Little Indians (10 gã da đỏ nhỏ). Tiểu thuyết nói về vụ án bí ẩn trên hòn đảo Soldier Island với 10 người bằng cách này hay cách khác đã thiệt mạng mà không hề có sự hiện diện hay dấu vết của thủ phạm. Đây được coi là một trong những tiểu thuyết hình sự xuất sắc và nổi tiếng nhất của Agatha Christie, trên 100 triệu bản sách đã được bán ra khiến tác phẩm này trở thành tiểu thuyết hình sự bán chạy nhất trong lịch sử xuất bản thế giới. Mười người da đen nhỏ cũng là tác phẩm của Agatha Christie được chuyển thể nhiều lần nhất, cả trực tiếp và gián tiếp, dưới dạng phim điện ảnh, truyền hình và kịch sân khấu. Mời các bạn đón đọc Mười Người Da Đen Nhỏ của tác giả Agatha Christie.
Xác Chết - Carter Brown
Cô gái tóc vàng đã có thể. Cô gái tóc nâu đã sẵn sàng. Và Al Wheeler đã sẵn sàng ... vì tình yêu. Cho đến khi tìm thấy ba xác chết. Cảnh sát California bắt đầu cuộc chạy đua truy tìm hung thủ khi xác chết đầu tiên xuất hiện. Xác chết thứ hai xuất hiện trong một căn nhà phòng. Và rồi người thứ ba. Xác chết là một câu chuyện về những cô gái tóc vàng, và những kẻ tống tiền. Và viên cảnh sát tên là Al Wheeler xuất hiện với mục tiêu ngăn chặn tên sát nhân. *** Annabelle Jackson sôi nổi quảng cáo, “Đó là một nơi ăn chơi thật độc đáo, rồi anh sẽ thấy!” Tôi như một thằng ngố mặc cho Annabelle muốn dẫn đi đâu thì dẫn. Khi Annabelle dừng lại trước tấm bảng cũ kỹ có hai chữ ‘Guốc Vàng’ chạy đèn néon vàng óng, tôi ngước nhìn lên và thấy rõ hàng chữ cũng được chạy đèn néon nổi bật “Minuit - nửa đêm”. Tôi giơ tay gãi đầu, hỏi, “Ở đây à?” Không trả lời, Annabelle chộp tay tôi lôi tới trước một cánh cửa, nơi có cầu thang dẫn xuống nhà hầm. Khi đã chọn được chiếc bàn sát tường ưng ý, tôi kéo ghế ngồi và bắt đầu quan sát xung quanh. Nhà hầm rộng mênh mông nhưng nom nó có vẻ giống một cái hang nhiều hơn là một nhà hàng, chẳng có tới một cái máy điều hòa không khí dù là loại tồi tàn nhất. Không khí nóng bức trộn lẫn mùi nước hoa lan tỏa càng tạo cho tôi một cảm giác khó chịu. Thêm vào đó là thứ ánh sáng lờ mờ của nhà hầm khiến tôi phải cố gắng căng mắt lắm mới nhìn thấy được một mái đầu với mớ tóc vàng đang lắc lư bên cạnh. Tôi chồm tới ghé sát mặt để yên chí rằng mình không nhìn lầm. Một gã hầu phòng béo mỡ, thứ lề mề bất cần việc, cặp mắt láo liên tiến đến, gã chống hai bàn tay bẩn thỉu lên mặt bàn và hỏi một cách xấc xược, “Hai người ăn uống ra làm sao? Kể mau nghe!” Tôi ngáp dài, “Hai scotch có đá. Mà này, lần sau nên lịch sự một chút nhé. Nhớ tráng sạch ly trước khi mang ra cho chúng tôi!” Gã nhe răng cười nhăn nhở, “Tại sao vậy? Đêm nay anh không định thầu hết chỗ này chứ?” Gã trả đòn, rồi nhún vai biến nhanh như gió. Tôi nheo một bên mắt, nhìn cô bạn, “Trước đó anh luôn thắc mắc, không hiểu em sẽ tìm đâu ra thứ hang ổ hắc ám trong Pin City này. Bây giờ mới hiểu ra. Thánh thật!” Cô nàng đáp nhanh, “Nếu chịu khó nhìn chung quanh, anh sẽ nhìn thấy tín đồ ở đây đều có trán bóng lưỡng và những tròng kính dày cộm. Chúng ta đang trong hậu cung của các nhà học giả đấy!” “Quí vị đó chui vào hốc bò tó này làm gì?” “Họ đến vì… Jazz. Đó là bộ sậu gồm Clarence Nesbitt đàn bass, Cubn Carter trống và Wesley Stewart kèn đồng, ba tay này trước đây là những kẻ vô danh tiểu tốt, giờ thì mọi người đều ngưỡng mộ họ.” “Hừ, không có tôi trong số đó đâu nhé.” “Chưa hết, còn một nguyên nhân nữa.” “Nguyên nhân gì?” “Cái này dứt khoái là anh ngưỡng mộ: Nàng Minuit, như tấm biển đề ngoài cửa.” “Chà, hấp dẫn đấy. Nàng trốn đâu, sao không thấy? Biệt danh à?” “Không, nàng có tên Minuit O’Hara, chỉ xuất hiện vào.nửa đêm. Lý do như thế nào, hiện giờ chưa rõ. Còn ít phút nữa…” Tôi cắt ngang, lay nhẹ khuỷu tay Annabelle. “Các ca sĩ lớn đang chờ em, ở nhà anh, trong băng nhựa. Máy thu băng của anh thuộc loại thượng hảo hạng, một trong những…” “Anh khoan kể nốt,” cô chặn lại giọng lạnh tanh. “Annabelle là cô gái không dễ mắc câu!” Rượu Scotch được mang ra và gã hầu phòng béo mỡ đang ném cái nhìn chòng chọc vào Annabelle, trước khi đặt chiếc ly trước mặt nàng. “Ối dào, phù… phù! Xin cho biết.” Gã hít một hơi thật sâu. “Cái gì đây?” “Một cô gái,” tôi quát vẻn vẹn ba chữ tạo thành câu. “Tôi nhắc nhở anh! Có cần hiểu rộng thêm ý nghĩa tôi muốn nói không?” “Mẹ kiếp, đêm nay mình gặp hên..” Thốt xong, hắn phe phẩy chiếc khăn trên tay như chó vẫy đuôi, rồi lỉnh vào bếp. Annabelle đầy hưng phấn, nói với vẻ háo hức, “Anh nghe đấy, ta còn thưởng thức dài dài. Từ New Orleans thuần nhất có thể rút tỉa ra vài câu thơ theo cung cách Chicago. Qua thể điệu Wing anh sẽ túy lúy bằng những tiếng ‘hí… hê’ thoát ra từ…” Lạy chúa, giọng lưỡi của cô nữ tín đồ sùng bái được bộ tam sên trên bục diễn che lấp mất qua bản “Có một đứa ngu”. Tôi lơ đãng nhấm nháp Whisky, những điều nghi ngờ tệ hại nhất của tôi về Annabelle Jackson đã được xác nhận rồi. Khi bài hát vừa dứt, Annabelle quay sang tôi, đôi mắt lóng lánh, cuồng nhiệt. Cô hăm hở, “Anh cảm thấy thế nào?” Tôi nhăn mặt, ngáp dài, “Ồn ào quá,” tôi đáp. “Trong khi anh chỉ cần ấn nhẹ cái nút, âm thanh đã vừa đủ nghe và hàng loạt ca sĩ nổi danh đương thời lần lượt cất giọng…” Annabelle vờ ngơ ngác, “Chúa ơi, ở đâu có?” “Trong băng nhựa! Xin nói thêm, tủ rượu của anh có vô số rượu khai vị. Còn Whisky thì khỏi nói, toàn là thứ còn nguyên con dấu và nhãn hiệu đàng hoàng, chưa hết…” ... Mời các bạn đón đọc Al Wheeler [#6]: Xác Chết của tác giả Carter Brown.
Tiếng Chó Tru Trong Đêm - Erle Stanley Gardner
Truyện rất tuyệt, một trong những #Mason hay nhất tôi từng đọc. Tình tiết hấp dẫn, lôi cuốn, đoạn kết phải nói là: Hảo Hảo - Mỳ tép số 1 VN. *** Theo GUINNESS, quyển sách ghi các kỷ lực thế giới, Erle Stanley Gardner được ghi nhận là tác giả sách bán chạy nhất của mọi thời đại. - Erle Stanley Gardner có trên 150 tác phẩm trinh thám tin cậy, đáng giá và hợp thời đại. - Erle Stanley Gardner, người đã tạo nên nhân vặt truyền kỳ luật sư Perry Mason, cô thư ký tinh ý Della Street, và viên thám tử tài ba Paul Drake. - Erle Stanley Gardner, tác giả duy nhất có sách bán chạy hơn cả bốn tác giả nổi tiếng khác cộng lại gồm: Agathe Chistie, Harold Robbins, Barbara Cartland và Louis L’amour   *** Một số tác phẩm đã được xuất bản tại Việt Nam:   1. Móng vuốt bọc nhung (Đôi tất nhung) [Perry Mason #1 - The Case of the Velvet Claws] (1933) 2. Cháu gái người mộng du [Perry Mason #8 - The Case of the Sleepwalker's Niece] (1936) 3. Vị giám mục nói lắp [Perry Mason #9 - The Case of the Stuttering Bishop] (1936) 4. Kẻ hùn vốn [Perry Mason #17 - The Case of the Silent Partner] (1940) 5. Con vịt chết chìm (Mười tám năm sau) [Perry Mason #20 - The Case of the Drowning Duck (Le Canard Qui Se Noie)] (1942) 6. Cô gái có vết bầm trên mặt [Perry Mason #25 - The Case of the Black-Eyed Blonde (La Blonde au Coquard)] (1944) 7. Lá thư buộc tội [Perry Mason # 44 - The Case of the Runaway Corpse] (1954) 8. Viên đạn thứ hai [Perry Mason #45 - The Case of the Restless Redhead] (1954) 9. Con mồi táo bạo [Perry Mason #54 - The Case of the Daring Decoy] (1957) 10. Kẻ mạo danh [Perry Mason #64 - The Case of the Spurious Spinster] (1961) 11. Người đàn bà đáng ngờ [Perry Mason #69 - The Case of the Mischievous Doll] (1963) 12. Vụ Án Hoa Hậu Áo Tắm [The Case of the Queenly Contestant] 13. Kẻ Giết Người Đội Lốt [Perry Mason #40 - The Case of the Grinning Gorilla] (1952) 14. Tiếng Chó Tru Trong Đêm [Perry Mason #04 - The Case of the Howling Dog] (1934) 15. Người Được Minh Oan [Perry Mason #27 - The Case of the Half-Wakened Wife] (1945) *** - Xin mời vào, thưa ngài Cartrait, - Della Street mở cửa. - Ông Mason đang đợi ngài ạ. Người đàn ông cao lớn vai rộng gật đầu và đi vào văn phòng. - Ngài là Perry Mason? - Ông ta hỏi. - Ngài là luật sư ạ? - Vâng, - Mason đáp. - Xin mời ngài ngồi. Người đàn ông ngả xuống ghế bành, rút thuốc lá nhét một điếu vào miệng và chìa bao thuốc cho Mason. Trầm ngâm ngó bàn tay run rẩy, Mason lắc đầu từ chối. - Cảm ơn ngài, tôi thích loại thuốc khác hơn. Người đàn ông hấp tấp nhét bao thuốc vào túi. Quẹt diêm, tựa khuỷu tay vào tay vịn của ghế và châm thuốc hút. - Thư kí của tôi báo với tôi rằng. - Mason thong thả nói. - ngài muốn trò chuyện cùng tôi về con chó và về bản di chúc. - Về con chó và di chúc, - người đàn ông lặp lại như tiếng vọng. - Được rồi. Đầu tiên chúng ta bàn về bản di chúc, bởi vì tôi hiểu biết về chó ít lắm! Mason kéo cuốn sổ tay lại gần mình và cầm lấy bút máy. - Tên ngài là gì? - Artur Cartrait. - Tuổi? - Ba mươi hai. - Địa chỉ thường trú? - 4893, Milpas Draiv. - Có vợ hay độc thân? - Lẽ nào điều đó lại có ý nghĩa gì chăng? - Vâng, - Mason nói, ngước nhìn khách hàng. - Điều đó không quan trọng đối với di chúc, - ông kia cự lại. - Mặc dù thế vẫn cần. - Nhưng tôi đã nói rồi, điều đó không liên quan gì với di chúc của tôi. - Vợ ngài tên là gì? - Paula Cartrait. - Bà ấy sống với ngài chứ? - Không. - Vậy thì ở đâu? - Tôi không rõ. Mason ngẩng đầu lên khỏi cuốn sổ tay. - Được rồi, - ông nói sau một khoảng im lặng ngắn, - trước khi chúng ta quay lại những chi tiết về cuộc sống gia đình ngài, chúng ta hãy nói về việc ngài định làm gì với tài sản của ngài. Ngài có con cái không? - Không. - Ngài muốn để tài sản của mình lại cho ai? - Trước hết hãy nói với tôi, bất kể việc người viết ra di chúc chết như thế nào, nó có còn hiệu lực hay không? Mason im lặng gật đầu. - Chúng ta cứ cho rằng, - Cartrait tiếp tục. - theo phán quyết của toà vì vụ án mạng con người gây ra, y sẽ chết trên giá treo cổ hoặc trên ghế điện. Chuyện gì sẽ xảy ra với di chúc của y? - Con người có từ giã cuộc đời bằng cách nào đi nữa thì cũng không ảnh hưởng đến hiệu lực di chúc về mặt pháp lí, - Mason đáp. - Cần bao nhiêu người làm chứng cho một bản di chúc? - Hai, với một loại tình huống và không cần một ai, với những tình huống khác. - Ngài có ý gì? - Nếu di chúc được đánh máy và ngài kí, thì chữ kí được khẳng định bởi hai nhân chứng. Nếu bản di chúc được viết tay toàn bộ, kể cả ngày tháng và chữ kí, và không có một chữ nào được đánh máy, thì theo luật pháp của bang này, không cần đến nhân chứng. Bản di chúc như thế có hiệu lực pháp lí và việc thi hành nó là một điều tất yếu. Artur Cartrait thở phào nhẹ nhõm. - Gì đi nữa, thì ít nhất với điều này mọi thứ cũng đã rõ. - Ngài muốn để tài sản lại cho ai? - Mason nhắc lại. - Bà Clinton Fouli, sống tại Milpas Draiv, 4889. Mason sửng sốt nhướng lông mày. - Cho bà hàng xóm ư? - Cho bà hàng xóm, - Cartrait khẳng định. - Rất tốt. Nhưng hãy lưu ý, ngài Cartrait, ngài đang nói với luật sư của mình. Ngài không nên có bí mật gì đối với tôi. Xin đừng lo, tất cả những điều nói ra tại đây, sẽ ở lại giữa hai chúng ta mà thôi. - Thì tôi có giấu giếm gì đâu! - Cartrait kêu lên nôn nóng. - Tôi không tin chắc vào điều đó, - Mason nhận xét trầm tĩnh. - Thế nhưng chúng ta quay lại với di chúc của ngài đã. - Tôi nói hết rồi. - Hết là thế nào? - Sở hữu riêng của tôi tôi di chúc lại cho bà Clinton Fouli. Perry Mason đặt bút xuống bàn. - Nếu thế thì chuyển sang chuyện con chó vậy. - Con chó tru. Mason gật đầu vẻ khuyến khích. - Cơ bản là nó tru vào ban đêm, nhưng đôi khi cả ban ngày. Tiếng tru này đẩy tôi đến chỗ phát điên. Thì ngài cũng biết, lũ chó tru khi có ai đó chết. - Con chó này sống ở đâu? - Trong ngôi nhà bên cạnh. - Tức là bà Clinton Fouli sống một phía nhà ngài, còn từ phía khác, con chó đã tru? - Không, con chó tru trong nhà của Clinton Fouli. - Hiểu rồi, - Mason gật đầu. - Hãy kể cho tôi nghe về mọi chuyện đi, thưa ngài Cartrait. Người khách dụi đầu mẩu thuốc lá vào cái gạt tàn, đứng lên, đi đi lại lại trong văn phòng và quay trở lại ghế bành. - Ngài nghe này, tôi rất muốn hỏi ngài thêm một câu về bản di chúc. - Tôi nghe đây. - Chúng ta cứ giả sử rằng, bà Clinton Fouli trong thực tế không phải là bà Clinton Fouli. - Ngài có ý nói gì? - Chúng ta cứ cho là bà ta sống với ông Clinton Fouli như một người vợ chính thức, nhưng đám cưới của họ không có đăng kí hợp pháp. - Điều đó không có ý nghĩa gì, - Mason chậm rãi đáp, - nếu trong bản di chúc của mình, ngài miêu tả bà ta như “bà Clinton Fouli, sống với ông Clinton Fouli, theo địa chỉ Milpas Draiv, 4889”. Nói đúng hơn, người làm di chúc có quyền để lại sở hữu của mình cho bất cứ ai, nếu bản di chúc xác định rõ ràng ý định của người đó. Ví dụ, người đàn ông để tài sản của mình cho vợ, nhưng sau đó hoá ra rằng họ đã không đăng kí một cách chính thức. Đôi khi gia tài được để lại cho các con trai, mà lại không phải là con trai họ... - Tôi không quan tâm điều đó, - Cartrait sốt ruột cắt lời ông. - Tôi muốn biết sự thế sẽ thế nào trong trường hợp cụ thể của tôi thôi. Bà Clinton Fouli có cần phải là vợ hợp pháp của Clinton Fouli hay không? - Điều đó không nhất thiết. - Thế nếu như, - cặp mắt Cartrait biến thành hai khe hẹp, - vẫn tồn tại bà Clinton Fouli đích thực? Nếu Clinton Fouli có vợ và chưa li dị với người vợ hợp pháp của mình, còn tôi di chúc lại sở hữu của mình cho bà Clinton Fouli đang sống với ông ta trong một ngôi nhà? - Tôi đã giải thích với ngài rồi, - Mason nhẫn nại đáp, - điều chủ yếu: Đó là dự định của người lập di chúc. Nếu ngài viết là ngài để lại sở hữu riêng của ngài cho người phụ nữ hiện đang sống theo địa chỉ được nêu như là vợ của Clinton Fouli là đủ. Nhưng như tôi hiểu, ông Fouli vẫn còn sống chứ? - Dĩ nhiên, ông ta vẫn sống. Ông ta là hàng xóm của tôi. - Hiểu rồi. Và ông Fouli có biết ngài sắp để lại tài sản cho vợ ông ấy không? - Tất nhiên không, - Cartrait cắt ngang. - Ông ta chẳng biết gì hết và sẽ không được biết gì cả. - Được rồi, với điều đó mọi sự đã rõ. Chúng ta chuyến sang chuyện con chó. - Ngài phải làm gì đó với con chó này. - Đề xuất của ngài? - Tôi muốn để người ta bắt Fouli vào tù. - Dựa trên cơ sở nào? - Trên cơ sở là tiếng chó tru làm tôi phát điên. Đó như là sự tra tấn. Lão dạy cho nó tru. Trước đây con chó không tru. Nó chỉ mới tru một, hai đêm vừa rồi thôi. Lão cố ý chọc tức tôi và vợ của lão. Vợ lão đang ốm, mà con chó cứ tru như trước cái chết của ai đó vậy, - Cartrait lặng đi, thở nặng nhọc. Mason lắc đầu. - Thật tiếc, thưa ngài Cartrait, tôi sẽ chẳng giúp gì được cho ngài. Trong lúc này tôi rất bận. Thêm nữa, lại vừa kết thúc một vụ tố tụng khó khăn và... - Tôi biết, tôi biết, - Cartrait cắt lời ông. - Và ngài nghĩ rằng tôi là một gã thần kinh. Ngài cho rằng tôi đề nghị ngài một thứ vặt vãnh gì đó. Đâu phải như thế. Tôi đề nghị ngài làm một việc cực kì quan trọng. Và tôi đến với ngài chính là bởi vì ngài đã thắng vụ tố tụng ấy. Tôi theo dõi tiến trình của nó, thậm chí đã đến phòng xử án để nghe ngài. Ngài là một trạng sư chân chính. Lần nào ngài cũng vượt lên trước biện lí tối thiểu là một nước đi. Mason mỉm cười yếu ớt. - Cảm ơn vì những lời tốt lành, ngài Cartrait ạ, nhưng xin ngài hiểu cho. Tôi là luật sư tư pháp. Việc lập các bản di chúc không phải là lĩnh vực của tôi, còn tất cả những gì dính líu đến con chó, thì chúng ta có thể điều chỉnh được mà không cần sự can thiệp của luật sư. - Không! - Cartrait kêu lên. - Ngài chưa biết Fouli đấy thôi. Ngài không tưởng tượng nổi đó là hạng người thế nào đâu. Có thể là ngài nghĩ rằng tôi không có tiền? Tôi có tiền, và tôi sẽ trả rất khá cho ngài, - ông ta lôi từ túi ra cái ví căng phồng, mở nó, bàn tay run rẩy rút ra ba tờ giấy bạc và đặt chúng lên bàn. - Ba trăm đôla. Đó là đặt cọc. Sau này ngài sẽ được nhận nhiều hơn. Các ngón tay của Mason đánh nhịp trên mặt bàn. - Thưa ngài Cartrait, - ông thốt ra dè dặt, - nếu ngài muốn để tôi làm luật sư cho ngài, tôi yêu cầu lưu ý tới điểm sau: Tôi sẽ chỉ làm điều gì mà theo niềm tin của tôi là đem lại lợi ích cho ngài. Chắc ngài hiểu? - Tôi mong được như thế. - Có nghĩa là tự tôi sẽ quyết nên làm gì để bảo vệ trọn vẹn nhất các quyền lợi của ngài. - Tốt, - Cartrait đáp. Mason cầm tiền ở bàn và bỏ chúng vào túi. - Đã thoả thuận xong. Tôi sẽ đại diện cho ngài trong vụ này. Nghĩa là ngài muốn Fouli bị bắt? - Vâng. - Đành thế, điều đó cũng không phức tạp gì lắm. Ngài cần đâm đơn kiện, và chánh án sẽ viết lệnh bắt giữ. Nhưng tại sao ngài lại nhờ cậy tôi? Ngài muốn để tôi giữ vai trò đại diện của nguyên cáo? - Ngài chưa biết Fouli, - Artur Cartrait nhắc lại. - Lão sẽ chẳng để cho yên thế đâu. Lão sẽ đâm đơn ra toà hặc tôi vì sự buộc tội giả trá. Có thể là lão bắt con chó tru, nhằm nhử tôi vào bẫy đấy. - Con chó giống gì? - Bécgiê cảnh sát to tướng. Perry Mason liếc nhìn Cartrait và mỉm cười. - Nếu người đưa đơn kiện đã sơ bộ nhờ đến luật sư, kể hết với ông ta tất cả không che giấu điều gì, và trong tương lai tuân thủ các lời khuyên của luật sư, thì trong khi xem xét tố tụng về sự buộc tội giả trá, điều đó sẽ có lợi cho người kiện. Còn bây giờ, tôi muốn làm để sao cho Clinton Fouli không có nguyên cớ đâm đơn kiện ngài lên toà. Tôi sẽ đưa ngài đến gặp trợ lí ngài biện lí khu, người phụ trách những vấn đề tương tự. Tôi muốn để ngài nhắc lại với ông ấy tất cả những gì liên quan đến con chó. Có thể không nhắc tới bản di chúc. Nếu ông ấy quyết rằng điều ngài nói là đủ để có lệnh bắt giam, thì lệnh sẽ được viết. Nhưng tôi cảnh báo trước, ngài không nên giấu giếm gì cả. Hãy đưa ra trước ông ấy tất cả các cứ liệu, và lúc ấy bất cứ đơn kiện nào của Fouli cũng không làm hại được ngài. Cartrait thở phào nhẹ nhõm. - Giờ ngài mới nói ra vấn đề. Chính tôi cần một lời khuyên như thế. Chúng ta tìm ông trợ lí ở đâu đây? - Bây giờ tôi sẽ gọi điện thoại cho ông ấy và thỏa thuận về cuộc gặp, - Mason đáp. - Xin thứ lỗi, tôi phải ra ngoài một lát. Xin ngài hãy cứ tự nhiên như ở nhà vậy. - Hãy cố thoả thuận với ông ấy vào ngay hôm nay. Tôi sẽ không chịu đựng thêm nổi một đêm nữa với con chó tru đâu. Khi Mason rời khỏi văn phòng, Cartrait lấy thuốc lá ra. Để châm thuốc, ông ta buộc phải lấy tay khác đỡ bàn tay cầm que diêm... Ở phòng tiếp khách Della Street ngẩng đầu lên. - Bị cắm sừng à? - Cô hỏi. - Tôi không biết, - Mason đáp, - nhưng tôi cố làm sáng tỏ điều đó. Hãy nối tôi với Pit Dorcas. Tôi dự định chuyển vụ này cho ông ta. Trong khi Della quay số, Mason đứng cạnh cửa sổ, ngó xuống cái giếng xi măng, từ đó vọng lại tiếng động của xe cộ. Dorcas ở đầu dây. Mason quay lại, đi đến chiếc bàn đặt trong góc phòng tiếp khách và nhấc ống nói. - Chào anh Pit. Perry Mason đây. Tôi sẽ đưa khách hàng của tôi tới chỗ anh, nhưng tôi muốn cho anh biết trước vấn đề nói về việc gì. - Ông ta cần gì? - Ông ta muốn đâm đơn kiện. - Về lí do gì? - Về con chó tru. - Về... - Phải, phải, con chó tru. Hình như trong khu chúng ta đã có một nghị định cấm giữ chó tru sủa trong vùng dân cư. - Đúng là có, nhưng có ai để ý đến nó đâu. Chí ít tôi cũng chưa vấp phải những lời than phiền như thế. - Đây là trường hợp đặc biệt. Khách hàng của tôi đang phát điên hoặc đã điên rồi vì tiếng tru này. - Chỉ vì tiếng chó tru ấy à? - Tôi muốn làm sáng tỏ chính cái điều đó. Nếu khách hàng của tôi cần đến sự giúp đỡ về y tế, hẳn tôi muốn để ông ta nhận được nó. Chính anh cũng hiểu, ở người này tiếng chó tru chỉ gây ra sự bực bội, với người khác có thể làm họ phát điên. - Điều đó là chính xác, - Dorcas đồng ý. - Anh đưa ông ta đến gặp tôi chứ? - Vâng. Và tôi muốn buổi trò chuyện của chúng ta diễn ra với sự có mặt của nhà tâm thần học. Không nên nói với ông ta đó là bác sĩ, anh cứ giới thiệu ông ấy như trợ lí của anh, và cứ để ông ấy đặt vài ba câu hỏi. Lúc đó, chắc chắn chúng ta sẽ rõ ngay trạng thái tâm lí khách hàng của tôi. - Tôi sẽ đợi các anh, - ngừng một chút, Dorcas nói. - Chúng tôi sẽ có mặt sau mười lăm phút. - Mason đặt ống nói xuống. ... Mời các bạn đón đọc Perry Mason #04: Tiếng Chó Tru Trong Đêm của tác giả Erle Stanley Gardner.