Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Jean Valjean - Victor Hugo

Giăng Vangiăng là một thanh niên nghèo khỏe mạnh sống cùng người em gái đã góa chồng đang nuôi bảy đứa con nhỏ sống rất cơ cực. Anh không có vợ con, chỉ chuyên tâm đi làm thuê qua ngày để nuôi các cháu. Vì khỏe mạnh nên những ngày ban đầu cuộc sống vẫn đủ ăn, nhưng càng về sau công việc càng ít đi, tiền làm thuê không đủ, các cháu anh đã phải nhịn đói mấy ngày. Trước hoàn cảnh đó, Giăng Vangiăng đã đến tiệm bánh mỳ ăn cắp một miếng bánh mỳ nhỏ đem về cho các cháu ăn nhưng không thành công và anh bị bắt, người ta đã tuyên án anh 5 năm tù giam vì tội ăn cắp. Ở trong tù anh tìm cách trốn thoát nhiều lần nhưng đều không thành công, lại bị gia hạn thêm năm tù nên tổng cộng số năm anh ở trong tù là 19 năm. Tại đây anh đã nuôi dưỡng ý chí thù hận đối với cuộc đời. Mãn hạn tù khi đã hơn bốn chục tuổi, anh đi đến đâu cũng gặp sự khinh ghét, xua đuổi của mọi người. Có người đàn bà tốt bụng đã chỉ cho anh đến ngôi nhà của đức Giám mục Myriel để xin ăn ngủ. Tại nhà của đức Giám mục Myriel, anh được đối xử rất tốt như một con người bình thường, chứ không phải như một người bị người ta xua đuổi khi mang giấy thông hành màu vàng. Tuy nhiên, sự thù hận cuộc đời đã nung nấu trong tù của Giăng Vangiăng đã thôi thúc anh ăn cắp bộ đồ bằng bạc của nhà Giám mục Myriel. Anh bị những người lính bắt lại vì có dấu hiệu khả nghi và đem giải đến chỗ nhà Giám mục Myriel, nhưng Giám mục Myriel bảo rằng đó là các đồ vật ông ta cho anh và yêu cầu họ thả Giăng Van Giăng ra, bảo anh từ nay phải trở thành người lương thiện và đối xử tốt với mọi người. Sau đó, Giăng Vangiăng đi qua thị trấn Môngtơrơi, anh đã cứu sống con của ông thị trưởng và phát hiện ra cách làm huyền theo phương pháp mới có thể tiết kiệm giá thành nguyên liệu, anh mở một xưởng làm huyền, làm cho Môngtơrơi trở thành một thị trấn giàu có, giải quyết công ăn việc làm cho rất nhiều người. Từ những việc làm đó, anh được nhà nước cho làm thị trưởng của Môngtơrơi dưới cái tên ông Mađơlen, mọi người hay gọi là bác Mađơlen vì hay làm từ thiện và giúp đỡ mọi người. Lúc này ông gặp Phăngtin trong một hoàn cảnh bi đát và cứu sống cô, hứa sẽ đưa con gái về cho cô. Nhưng một biến cố đã xảy ra, chỉ vì để cứu một người điên tránh khỏi tù chung thân ông đã phải tiết lộ danh tính của mình, ông một lần nữa bị bắt lại, Phăngtin thì bị chết. Nhờ khỏe mạnh, ông một lần nữa chạy thoát khỏi án tù khổ sai, thực hiện lời hứa với Phăngtin để đi cứu bé Côdét lúc đó đang sống ở nhà gia đình Tênácđiê, để chạy trốn khỏi sự truy lùng của Javert, ông đã đưa Côdét vào sống trong một nhà tu kín không ai có thể vào được. Côdét gọi ông là cha. Vài năm sau, lúc này Côdét đã trở thành một cô thiếu nữ, cô đã gặp và yêu chàng thanh niên quý tộc đang sống nghèo khổ là Mariuýt. Giăng Van Giăng cảm thấy khó chịu vì điều này có thể khiến ông mất Côdét. Ông định đi ra nước ngoài để hai người không gặp nhau nữa. Lúc này cuộc cách mạng trong nhân dân đang nổ ra mạnh mẽ, Mariuýt đau đớn vì người yêu sắp phải đi xa, anh tham gia vào cách mạng với các đồng chí của mình. Anh gửi cho Côdét bức thư cuối cùng, nhờ chú bé Gavơrốt chuyển đi nhưng bức thư lại đến tay Giăng Vangiăng. Ông đã đến các chiến lũy để bảo vệ và cứu chữa cho Mariuýt và những người khởi nghĩa. Tại đây, nhóm khởi nghĩa đã bắt được viên thanh tra Giave nhưng Giăng Vangiăng không giết mà lại thả cho hắn ta tự do. Cuộc khởi nghĩa thất bại, mọi người đều bị giết chết, chỉ có Giăng Vangiăng là cứu sống được Mariuýt bằng đường cống ngầm khi anh đang bị thương rất nặng, Mariuýt không hề biết ai đã cứu mình. Ra khỏi đường cống ngầm dưới Paris, Giăng Vangiăng gặp lại viên thanh tra Giave, nhưng hắn không bắt ông mà cũng thả ông tự do, còn hắn thì tự tử vì đã không làm tròn trách nhiệm của một cảnh sát. Giăng Vangiăng đưa Mariuýt về nhà ông của anh, một quý tộc già rất yêu thương anh nhưng không muốn anh giống cha anh đi theo Napôlêông. Mấy tháng sau, Mariuýt khỏi bệnh và cưới Côdét, Giăng Van Giăng cho Côdét của hồi môn là số tiền rất lớn ông kiếm được khi còn làm thị trưởng. Những ngày cuối đời Giăng Vangiăng sống trong cảnh cô đơn, buồn tủi, chỉ được gặp Côdét rất ít bởi vì Mariuýt lúc này vẫn không biết ông là người cứu sống anh, anh vẫn nghi ngờ về số tiền của Giăng Vangiăng cho nên không dùng đến, và biết Giăng Van Giăng từng là một người tù khổ sai. Tuy nhiên, khi Tênácđiê nói ra toàn bộ sự thật thì Mariuýt lúc đó thấy hối hận, anh cùng vợ đi đến chỗ Giăng Vangiăng đang hấp hối. Ông không hề trách ai chỉ khuyên bảo hai vợ chồng yêu thương nhau, ông nhắm mắt trong hạnh phúc với hình ảnh ông Giám mục ở trên thiên đường tươi cười đón ông lên. *** Cuộc nổi dậy tai hại tháng sáu 1832 là cuộc chiến tranh đường phố lớn nhất trong lịch sử. Đó là một cuộc nổi dậy khác thường. Chiến lũy mọc lên khắp Paris. Cái thì chắn cửa ô Saint-Antoine, cái khác lại ngăn cản việc tiến đến gần ô Temple. Chiến lũy Saint-Antoine thật là khủng khiếp, nó cao tới bốn tầng và rộng bảy trăm pi-ê. Mười chín chiến lũy nhỏ trải ra theo chiều dài các đường phố, đằng sau chiến lũy mẹ đó. Trên chiến lũy này, một lá cờ đỏ to phần phật trước gió. Cách đó một phần tư dặm, bên kia con kênh, trên đường phố ngược lên mái dốc Belleville, chỗ đỉnh dốc, người ta nhìn thấy một bức thành lạ, cao tới tầng ba các nhà mặt phố. Bức thành đó được dựng bằng những viên đá lát. Nó thẳng thắn, đúng cách sắp theo dây dọi, lạnh lẽo vuông thành sắc cạnh. Người ta nhận thấy, từng quãng một, trên bề mặt màu xám của bức thành có những lỗ châu mai rất khó nhìn thấy, nó giống như những sợi chỉ đen. ánh nắng chói chang tháng sáu tràn ngập cái vật kinh khủng ấy. Đó là chiến lũy của ô Temple. ở đó, tám mươi người đã chống chọi lại cuộc công kích của mười nghìn vệ binh. Nó giữ được ba ngày, và chỉ một mình thủ lĩnh Barthélimy thoát khỏi cuộc tàn sát. Chiến lũy phố Chanvrerie thì chỉ là một phác họa, một phôi thai, so với hai tên khổng lồ mà chúng tôi vừa tả qua, nhưng, đương thời, nó thật đáng gờm. Jean Valjean vẫn ở chỗ cũ, bất động trên cột mốc. Gavroche đã chết như một anh hùng. Marius đã lượm xác đứa con của Paris và một viên đạn đã sượt qua trán chàng. Courfeyrac, một bạn chiến đấu, lấy khăn tay của mình băng đầu cho chàng. Tuy vậy, Marius chỉ có một ý nghĩ trong đầu: Cosette. Tình hình nghĩa quân ngày càng trở nên gay cấn. Người ta làm hết sức mình để củng cố chiến lũy. Đá lát được dùng để lấp kín đến tận nửa chiều cao của cửa sổ tầng hai và các cửa con tầng áp mái. Rồi người ta chặn cửa sổ phía dưới và để sẵn những gióng sắt để, đêm đến, ngáng bên trong cánh cửa quán rượu. Pháo đài thật hoàn chỉnh. Chiến lũy là thành, quán rượu là chòi canh. Công việc chuẩn bị pháo kích bao giờ cũng hơi chậm chạp, có phương pháp; sau đó là sấm sét. Sự chậm chạp đó cho phép Enjolras xem xét lại tất cả và hoàn thiện lại tất cả. Anh cảm thấy rằng tất cả những người như thế sẽ chết và cái chết của họ phải là một kiệt tác. Anh nói với Marius: - Chúng ta là hai người chỉ huy. Mình sẽ ra những lệnh cuối cùng ở bên trong pháo đài. Cậu ở lại bên ngoài mà quan sát. Marius lên vị trí quan sát trên đỉnh chiến lũy. Enjolras cho đóng đinh cánh cửa nhà bếp mà ta nhớ là nó được dùng làm trạm quân y. - Không được để nước bẩn bắn lên thương binh. Anh nói. Anh cho những chỉ thị cuối cùng trong căn phòng thấp, bằng một giọng ngắn gọn, nhưng rất mực điềm tĩnh, Feuilly lắng nghe và, thay mặt mọi người, trả lời: - ở tầng hai, phải có sẵn rìu để chặt cầu thang. Ta có không? - Có. - Feuilly nói. - Bao nhiêu cái? - Hai cái rìu và một cái búa. - Được đấy. Chúng ta gồm hai mươi sáu chiến sĩ còn vững vàng. Có bao nhiêu súng? - Ba mươi tư. - Dôi ra tám. Cứ giữ tám khẩu súng ấy, nạp đạn như những khẩu khác và cầm ở tay. Đai lưng đeo kiếm và súng ngắn. Hai mươi người ở chiến lũy. Sáu mai phục trên tầng áp mái và ở cửa sổ tầng hai để nổ súng vào bọn tấn công qua những lỗ châu mai. Mong rằng nơi đây không còn một người lao động nào là vô ích. Chốc nữa, khi trống đánh khai hỏa, hai mươi người ở dưới xông ngay lên chiến lũy. Những người tới đầu tiên sẽ là những người chiếm được chỗ tốt nhất. Cắt đặt xong, anh quay về phía Javert, và bảo hắn: - Ta không quên ngươi đâu. Rồi đặt một khẩu súng ngắn lên bàn, anh nói thêm:.- Người cuối cùng ra khỏi đây sẽ bắn vỡ đầu tên gián điệp này. - ở đây ư? - Một giọng hỏi. - Không, đừng để lẫn xác tên này với bọn ta. Ta có thể bước qua chiến lũy nhỏ trên ngõ Mondétour. Nó chỉ cao có bốn pi-ê. Tên này đã bị trói chặt. Ta sẽ dẫn hắn ra đấy mà xử. Lúc này, có ai đó thản nhiên hơn cả Enjolras: chính là Javert. Đến đây, Jean Valjean hiện ra. Ông đã đứng lẫn vào nhóm nghĩa quân. ông bước ra, và nói với Enjolras: - ông là người chỉ huy à? - Vâng. - Lúc nãy ông đã cảm ơn tôi. - Nhân danh nền Cộng hòa. Chiến lũy có hai cứu tinh, Marius Pommercy và ông. - ông có nghĩ rằng tôi xứng đáng được một phần thưởng không? - Tất nhiên rồi. - Thế thì tôi xin một phần thưởng. - Thưởng gì? - Tự tay tôi bắn vào đầu con người này. Javert ngẩng đầu lên, trông thấy Jean Valjean, liền làm một động tác khó nhận thấy, và nói: - Đúng đấy. Còn về Enjolras, anh đã bắt đầu nạp đạn khẩu các bin của mình. Anh đảo mắt nhìn xung quanh: - ông hãy nhận lấy tên mật thám. Quả vậy, Jean Valjean chiếm lấy Javert bằng cách ngồi lên đầu bàn. ông cầm lấy khẩu súng ngắn, và một tiếng lạch xạch nhỏ cho biết ông vừa nạp đạn. Gần như cùng lúc đó, người ta nghe thấy tiếng kèn vang lên. - Báo động! - Từ trên đỉnh chiến lũy, Marius kêu to. Javert cất tiếng cười, cái cười không thành tiếng rất riêng của hắn, và, vừa chằm chằm nhìn nghĩa quân, hắn vừa nói với họ: - Các người chẳng khỏe hơn ta là mấy. - Tất cả ra ngoài! - Enjolras kêu to. Nghĩa quân ồn ào lao ra, và, họ nghe được sau lưng, lời nói này của Javert: - Hẹn tý nữa nhé! ... Mời các bạn đón đọc Jean Valjean của tác giả Victor Hugo.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Yêu Trong Cơn Mơ - Maureen Child
Nghĩ ít đi và hôn nhiều hơn. Nghe theo lời khuyên ấy, Erica đi tìm Christian. Ngay từ phút đầu gặp mặt, họ đã mê nhau như phải bùa phải bả. Nhưng Erica tích cực tiến lại gần bao nhiêu thì Chris cố nhích ra xa bấy nhiêu, bất chấp thể xác nhức nhối đòi hỏi mỗi khi anh ở quanh nàng, thậm chí chỉ với ý nghĩ về nàng. Anh một mực ép bản thân né Erica, luôn tự nhủ trái mọng cũng là trái cấm. Song cuối cùng không chịu nổi khao khát giày vò, anh đành quỵ ngã trước sức quyến rũ của nàng và buông thả mình vào bể tình ấm áp. Tệ một nỗi đam mê chưa trọn vẹn, Chris đã vội cư xử như chàng hèn , hối hận rút ngay về hàng rào phòng vệ cũ và chối bỏ mọi thứ họ vừa chia sẻ với nhau. Nghĩ ít hôn nhiều hóa ra chỉ đủ cho một lần khơi ngọn, phải làm sao mới giữ được lửa tình lâu dài. *** G uy Jarrod từng là 1 đầu bếp được săn đuổi, có tiếng tăm nhưng khi anh mở nhà hàng riêng, anh đã bước ra khỏi bếp. Anh đã học cách yêu kinh doanh nhà hàng còn hơn cả yêu nấu nướng. Giờ đây, anh tuyển chọn và sa thải đầu bếp, đảm bảo mọi việc vận hành theo cách mà anh muốn. Nhưng quay trở lại Jarrod Ridge làm công việc mà anh thích không nằm trong kế hoạch của anh. Tuy vẫn còn bực mình vì bị điều khiển từ dưới mồ, Guy phải công nhận rằng điều hành nhà hàng 5 sao ở Ridge hóa ra lại hay hơn anh tưởng nhiều. Anh có những kế hoạch lớn với chỗ này. Qua năm tháng, nhà hàng và giám đốc của khách sạn đẵ trở nên không hẳn là dễ dãi nhưng khá tự mãn. Họ cứ làm theo cách cũ chứ không chịu thử những cái mới. Điều đó đã đến lúc phải thay đổi. Tất cả những gì anh phải làm là làm quen lại với nơi này. "Xin lỗi ông Jarrod?" "Có chuyện gì thế?" Anh ngẩng lên khi thấy một người bồi bàn chạy từ bếp vào hầm rượu. Một cậu bé trông quen quen, Guy còn chưa có thời gian để nhớ hết tên của tất cả mọi người. "Ông Hanford đang ở ngoài phòng ăn cùng 1 vị khách. Ông ấy hỏi liệu ông có thể ra gặp và nói chuyện với họ được không" ... Mời các bạn đón đọc Yêu Trong Cơn Mơ của tác giả Maureen Child.
Tàn Uế - Ono Fuyumi
Tiếng soàn soạt vang vọng sau lưng, tiếng lạch cạch từ gian phòng bên cạnh, tiếng nỉ non văng vẳng dưới lòng đất, hay tiếng rên rỉ oán than ám trong giấc ngủ… cùng tạo nên câu chuyện rùng rợn về ma lực của thính giác. Kubo chuyển đến nhà trọ mới chưa được bao lâu thì phát hiện tiếng động bất thường vọng đến từ phòng ngủ. Không chỉ có phòng của cô, các hộ gia đình khác cũng nghe được những âm thanh kì lạ Có người bỏ mạng chỉ vì nghe phải những tiếng động ấy. Lại có người hại chết cả nhà theo mệnh lệnh của tiếng gọi từ âm phủ. Liệu đây là “ma ám” hay chỉ là “trùng lặp ngẫu nhiên”? Càng băn khoăn, những kẻ tò mò càng tiến sâu vào gốc rễ của nguồn phát ra âm thanh dị thường, thậm chí, họ còn trở thành những vị khách không mời, to gan chạm đến “câu chuyện bị phong ấn” với những bí mật kinh hoàng... Tàn uế là ghi chép ngược dòng lịch sử về những vụ án thảm khốc và những sự kiện ma quái trở đi trở lại trên mảnh đất đã nhiễm uế khi có người chết, là sự đấu tranh giữa những suy luận lý trí và một niềm tin tâm linh không thể dập tắt vào những thế lực siêu nhiên. *** Chúng tôi không hề từ bỏ cuộc điều tra, nhưng nó vẫn ì ạch không kết quả, chẳng có thông tin gì về nhà Yoshikane, hay nên nói ngay là cả phương pháp điều tra chúng tôi cũng chưa tìm được. Cách duy nhất lâu dò hỏi tất cả các chùa chiền ở địa phương xem có chùa nào lưu giữ tro cốt của gia đình Yoshikane không ( nhưng có thể nhà chùa không nói cho chúng tôi biết), hoặc là xem xét các bia mộ; đồng thời tiếp tục tìm kiếm những người đã rời khỏi nơi này và những người ở gần khu vực xây dựng nhà máy. Chúng tôi gặp gỡ từng người tìm được, nhưng mạng lưới này rồi cũng hết. Chúng tôi muốn tìm kiếm "cái gì đó" từng tồn tại trong quá khứ, bởi vậy mới chú ý đến tất cả những người từng ở mấy căn có vấn đề của nhà trọ Okaya, nhưng phần lớn bọn họ đều không gặp phải điều gì khác thường. Saijo ở căn 401 vẫn bình an vô sự, Henmi ở căn 403 cũng vậy. Mùa thu năm 2002, căn 203 - vốn là căn không ai ở được lâu - đã có hộ chuyển vào và đến giờ vẫn yên ổn. Khách trọ mới là một gia đình bốn người vui vẻ ấm áp, gồm một đôi vợ chồng trẻ cùng hai đứa con nhỏ. Người vợ cũng nhập hội các bà mẹ trẻ, hòa đồng với mọi người. Người dọn đến sau Kubo hiện vẫn ở đấy. Khu tập thể Okaya cũng thế. ... Mời các bạn đón đọc Tàn Uế của tác giả Ono Fuyumi.
Sự Ràng Buộc Êm Đềm - Maxine Sullivan
Nick Valente hoàn toàn bất bình khi cha yêu cầu phải cưới Sasha Blake. Không phải anh không ham muốn nàng. Nụ hôn chớp nhoáng lên đôi môi nũng nịu ấy bảy năm về trước đã khơi gợi một điều gì đó gần như rạo rực. Nhưng anh không thích một mối duyên cưỡng ép, càng không thích trói chân mình vào một chiếc giường trong khi còn nhiều giường khác luôn nồng nàn mời gọi. Vậy mà chẳng bao lâu sau khi rời bàn thờ Chúa, Nick nhận ra anh không cần viện đến những ảo ảnh êm đềm để duy trì cuộc hôn nhân này đủ lâu như cha mong mỏi. Một thứ tình cảm đắm say pha lẫn nồng nhiệt khát khao thể xác mau chóng phủ lấy anh. Màn sương đượm mùi da thịt của những đêm ân ái chưa tan, Nick đã cồn cào trong thèm khát vắng xa về một hạnh phúc miên viễn. Đúng lúc sắp thu hết can đảm để thổ lộ lòng mình, Nick ngẫu nhiên phát hiện ra động cơ hôn nhân thật sự của Sasha. Bấy giờ chỉ có tình yêu, một tình yêu thấu hiểu và độ lượng mới thực sự gắn kết họ lại được. Nick có, nhưng Sasha thì sao? *** Mỗi buổi sáng tiếp theo giống như một kỳ trăng mật nhỏ với cả hai. Thời tiết vẫn ấm áp và Nick luôn về nhà sau giờ làm, họ bơi cùng nhau, cùng thong thả ăn tối cho đến khi trời tối hẳn rồi lui về phòng ngủ. Và dần dần, Sasha nhận ra mình cũng không phải là người hay e thẹn. Nàng chỉ cần khắc phục tâm lý dè dặt của mình, với sự chỉ dẫn tận tình của Nick. Nàng cảm thấy hạnh phúc, và cả tình yêu ngập tràn với Nick. Rồi một sáng nàng đi xem xét khu nhà, trời xui đất khiến thế nào nàng lại đi qua phòng hồi nhỏ của Nick, nàng dừng lại trước cửa một lúc rồi bước vào. Trong phòng có một chiếc giường lớn cùng những đồ trang trí với các tông màu nâu từ đậm đến nhạt thể hiện rõ chủ nhân là một đứa trẻ nhà giàu rất có phong cách. Trên kệ tủ là cúp thi đấu các giải trường học về crickê, bóng đá và bơi lội. Nàng không biết mình định sẽ tìm thấy điều gì ở đây nhưng chắc chắn nơi này lưu giữ, một điều gì đó, điều đó sẽ khiến nàng tin chắc Nick là người sâu sắc hơn nàng từng biết. Nhưng nàng không biết chính xác đó là điều gì. Có lẽ tốt nhất là nàng không nên tìm kiếm nó. Kệ anh ấy, thế thôi. Nàng không muốn cuộc đời mình có thêm chút rắc rối nào nữa. Lại nói về rắc rối... Sasha thấy lòng buồn bã vì mẹ nàng đã ghé thăm vài giờ trước, đúng vào bữa trưa, bà lấy cớ là sang thăm hai vợ chồng nàng. Nàng đã mời mẹ ăn cơm cùng. Nhưng việc đó không phải là lý do để nàng bận tâm, mà điều khiến nàng lo lắng là chắc chắn bà đang có một dự định gì đó. Nàng cảm thấy chuyến viếng thăm có liên quan đến cha mình. ... Mời các bạn đón đọc Sự Ràng Buộc Êm Đềm của tác giả Maxine Sullivan.
Một Nỗi Đau Riêng - Kenzaburo Oe
Kenzaburo Oe là nhà văn Nhật Bản thứ hai được trao giải Nobel Văn học (năm 1994). Buổi lễ mừng giải thưởng danh giá của Kenzaburo Oe là một ngày hội vô cùng đặc biệt. Các nhạc công hàng đầu của "đất nước mặt trời mọc" đã biểu diễn mười tác phẩm của nhạc sĩ trẻ Hikari Oe- người con trai tật nguyền, người đã khiến Kenzaburo Oe tìm được "lối đi" trong sáng tác văn chương và khiến ông cùng con trai như được "tái sinh"... Kenzaburo Oe thuộc lớp nhà văn hậu chiến, hiện tên tuổi đang được xếp hàng đầu trong danh sách các nhà văn Nhật Bản. Sinh ngày 31 tháng 1 năm 1935 tại đảo Shikoku, một trong bốn hòn đảo lớn nhất của Nhật Bản, cuộc đời ông đã chứng kiến và đồng hành cùng những thăng trầm của một đất nước được bao bọc bởi biển cả, với ba ngàn hòn đảo lớn nhỏ.  Năm Kenzaburo Oe lên 4 tuổi, Thế chiến thứ hai bùng nổ ở khu vực châu Âu và năm sau lan sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đất nước của ông dưới thời Nhật Hoàng Hirohito là một thành viên của trục phát xít Berlin - Roma - Tokyo, đã gây ra biết bao tội ác đối với nhân dân các nước trong khu vực châu Á. Giống như hết thảy những người Nhật Bản cùng thế hệ, những hồi ức ảm đạm về cuộc chiến tranh phi nghĩa, về sự ngã gục của nước nhà khi Thế chiến hai kết thúc luôn đè nặng trong lòng Kenzaburo Oe. Nhưng nổi lên trên hết, trong tâm hồn nhạy cảm của một người có khiếu văn chương như Kenzaburo Oe, hình ảnh của hai cột nấm khổng lồ màu vàng cùng với hàng ngàn cột lửa đỏ lựng bùng lên ở Hirosima và Nagasaki vào cái ngày mồng 8 và mồng 10 tháng 8 năm 1945 ấy hình như mỗi ngày mỗi to hơn, rộng hơn, nóng bỏng hơn, khủng khiếp hơn. Hai cột nấm ấy đã hủy diệt sinh mạng của mấy chục vạn người dân Nhật vô tội. Những cơn mưa phóng xạ khởi nguồn từ hai cột nấm ấy đã làm cho không ít người chết dần, chết mòn trong vòng vài chục năm sau đó và một số người khác, trong đó có người con trai đầu của Kenzaburo Oe, ngay từ khi mới sinh ra đã mang trong mình những căn bệnh trầm kha mà y học đến nay vẫn phải bó tay. Trong Diễn văn trao giải Nobel Văn học cho Kenzaburo Oe, Viện Hàn lâm Thụy Điển khẳng định: "Một đề tài xuyên suốt các tác phẩm của Kenzaburo Oe là bi kịch gia đình cùng tình thương và trách nhiệm đối với người con trai cả Hikari sinh ra đã bị dị tật. Kenzaburo Oe đã sáng tạo ra một thế giới tưởng tượng đầy chất thơ, đã miêu tả tình trạng đau đớn trong khổ cảnh của con người thời hiện đại bằng sự ngưng kết những ngụ ngôn và sinh hoạt hiện thực. Đồng thời ông cũng miêu tả thành công quan hệ của con người trong một thế giới hỗn độn, một thế giới mà ở đó trí thức, tình cảm, giấc mơ, dã tâm, thái độ đã hòa quyện với nhau một cách kỳ diệu"… Trong diễn văn đáp từ, Kenzaburo Oe cũng thừa nhận "Phong cách viết của tôi khởi nguồn từ những vấn đề cá nhân, sau đó gắn kết chúng với xã hội, với cuộc đời và thế giới này. Với tư cách nhà văn, tôi phải thừa nhận rằng chủ đề trung tâm của các tác phẩm trong hầu hết văn nghiệp của tôi là cái cách gia đình tôi đã học cách sống với đứa con tật nguyền…". Có thể kiểm chứng những lời phát biểu này trong "Một nỗi đau riêng", "Sự cố cá nhân", "Sổ tay Hirosima", "Nước ngập hồn tôi", "Trận bóng đá năm Vạn diên thứ nhất", "Trò chơi đương đại", "Hãy đứng lên, hỡi những chàng trai của thế hệ mới"… Kenzaburo Oe bắt đầu sáng tác khi còn là sinh viên chuyên ngành Văn học Pháp tại Đại học Tokyo và năm 23 tuổi, với tiểu thuyết "Nuôi thù", ông đã nhận được giải thưởng Akutagawa, một giải thưởng mà các nghệ sĩ Nhật Bản hằng mong ước. Từ đó trở đi ông sáng tác đều đặn và coi viết văn là nghề mà ông trọn đời theo đuổi. Ba năm sau khi nhận giải thưởng Akutagawa, cuộc đời Kenzaburo Oe bắt đầu rẽ sang một lối khác. Sau khi kết hôn cùng Yukan, con gái của một đạo diễn điện ảnh danh tiếng,  vợ chồng Kenzaburo Oe sinh được một bé trai. Nhưng chẳng như mong đợi và kỳ vọng của đôi vợ chồng trẻ, Hikari là một dị nhân: đầu to quá mức bình thường, đôi mắt không có khả năng nhận biết ánh sáng. Cậu bé cũng không có khả năng nhận biết và nói tiếng người, chỉ có thể phát ra tiếng chiêm chiếp như loài chim. Sự chào đời của Hikari là một "cú giáng trí mạng" đối với Kenzaburo Oe. Đã có lúc ông nghĩ đến việc tự tử để trốn chạy đứa trẻ. Rồi có lần ông định giết Hikari để giải thoát cho chính mình và cho cả đứa con tội nghiệp. Cũng may mà ông đã không đủ điên rồ và gan không đủ lớn để làm cả hai việc đê hèn đó. Ông đã chọn cách chấp nhận, chấp nhận Hikari cùng những bất hạnh của số phận, đồng thời nỗ lực tìm kiếm cách làm cho đứa trẻ "tái sinh". Thường thì bậc làm cha làm mẹ chẳng bao giờ muốn nói về những khuyết tật cùng những thói hư tật xấu của con mình. Nhưng Kenzaburo Oe đã dũng cảm nói về đứa con tật nguyền của mình, không phải một lần, mà là rất nhiều lần. Ông muốn từ nỗi đau của riêng mình nói đến một điều lớn lao hơn: Cần phải học cách chấp nhận những nỗi đau của con người cùng với việc tìm kiếm những cách thức để "tái sinh" những con người bất hạnh.  Kenzaburo Oe đặt tên cho con trai đầu lòng là Hikari, tiếng Nhật có nghĩa là "ánh sáng". Quả thực, Hikari bé bỏng, luôn "cô đơn như hòn sỏi nhỏ trên đám cỏ" đã tạo ra luồng ánh sáng, những vầng hào quang rực rỡ cho những tác phẩm của người cha. Trả lời phỏng vấn một nhà báo nước ngoài, Kenzaburo đã thẳng thắn: "Năm tôi hai mươi tám tuổi, đứa con đầu của tôi chào đời. Lúc đó tôi đã là một nhà văn khá nổi tiếng và đang là sinh viên ngành văn chương Pháp. Nhưng từ khi con trai tôi ra đời với một chứng bệnh trầm kha về não, vào một đêm kia, tôi muốn tìm sự khích lệ từ cuốn sách đầu tiên. Vài ngày sau tôi nhận thấy mình không thể tìm được niềm an ủi trong quyển sách của chính mình, có nghĩa là độc giả cũng sẽ không tìm thấy sự an ủi từ tác phẩm của tôi. Tôi lâm vào tình cảnh chán nản. Nhưng sau chuyến đi thăm một bệnh viện dành cho những nạn nhân bom nguyên tử ở Hiroshima, tôi đã quyết định viết về Hikari, chia sẻ với độc giả những cảm giác của mình khi phải đối mặt với đứa con mang trên mình những di chứng của thảm họa Hiroshima...". Tất cả những gì tích tụ trong lòng từ khi Hikari chào đời được ông giãi bày trong "Một nỗi đau riêng". Kenzaburo Oe cho rằng, chỉ bằng cách ấy, ông và đứa con trai tội nghiệp mới thể "tái sinh". Cái "tầm" của "Một nỗi đau riêng" là ở chỗ, Kenzaburo Oe đã viết về thảm kịch Hiroshima theo một cách rất riêng. Đó là cái cách ông gắn hành trình "tái sinh" của đứa trẻ bị bại não với quá trình hồi sinh của dân tộc Nhật Bản sau thảm họa thất trận năm 1945. Không chỉ dừng lại ở "Một nỗi đau riêng", trong tập tiểu luận "Một gia đình tự chữa lành", Kenzaburo Oe đã miêu tả thế giới nội tâm phức tạp của nhân vật Điểu khi muốn chối bỏ đứa con tật nguyền của mình, tìm quên trong gái, rượu và những chuyến đi xa. Điểu đã muốn chấm dứt đời của đứa con mang khối u não ác tính bằng một ly sữa độc. Nhưng trong một lần lái xe, khi cố tránh một con chim đã chết trên đường, Điểu ngộ ra rằng cần phải cứu đứa con trước khi quá muộn. Rốt cuộc, cái u ác tính kia chỉ là một cái u thường, sau khi cắt bỏ, đứa bé đã xuất viện bình an… Hành trình tái sinh của Điểu trong "Một nỗi đau riêng", mà thực ra là nỗi đau chung của đồng bào ông, chính là hành trình tái sinh của ông và Hikari. Trong 6 năm trời ròng rã, hai vợ chồng ông đã kiên nhẫn cho Hikari nghe đi nghe lại một cuốn băng ghi âm tiếng hót của các loài chim kèm theo lời thuyết minh về tên của từng loài chim đó. Và điều kỳ diệu đã đến sau ba năm nghe cuộn băng ấy. Khi lên sáu tuổi, Hikari đã bật nói câu đầu tiên: "Đó là chim sẻ", và sau đó là nói đến tên của từng loài chim mà cậu bé đã được nghe qua băng ghi âm trong suốt mấy năm trời. Hikari được cha mẹ đưa đến trường dành cho trẻ em thiểu năng trí tuệ. Ở đây cậu bé được nghe nhạc của Handel, Bach và đến năm 16 tuổi, Hikari trở thành một thiếu niên khỏe mạnh nhưng lại mất thị giác. Vì không thể chơi piano, Hikari đã học sáng tác dưới sự chỉ dẫn của người mẹ… Và đến độ trưởng thành, Hikari đã là một nhạc sĩ danh tiếng, cả ở Nhật và trên thế giới. Những CD nhạc của anh có mặt ở rất nhiều quốc gia, ngay cả nơi dành để bán những ấn phẩm nghệ thuật phục vụ cho lễ trao giải Nobel Văn học. Những bản nhạc của Hikari, theo lời Kenzaburo Oe, "có một nguồn năng lực chữa lành cho trái tim". Ông còn nói: "Khi ta thể hiện ra một cách rốt ráo nỗi tuyệt vọng của con người, ta sẽ chữa lành được chính mình và biết được niềm vui của sự hồi phục…". Trong lễ nhận giải Nobel, Kenzaburo Oe nói rằng, giải thưởng này đúng ra phải trao cho Hikari con trai ông. Ông cũng thông báo từ nay sẽ "gác bút" để tập trung cho Hikari tỏa sáng trên bầu trời âm nhạc. Ông cũng hy vọng âm nhạc của Hikari sẽ mãi là thứ thần dược để chữa lành nỗi đau nhân thế *** Kenzaburo Oe, sinh năm 1935 tại đảo Shikoku (Nhật Bản), đã sáng tác nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết và tiểu luận. Ông đoạt nhiều giải thưởng văn học giá trị tại Nhật như Giải Akutagawa với tác phẩm The Catch, Giải Tanizaki với Football in the First Year of Mannen, Giải Văn học Shinchosha với A Personal Matter (Một nỗi đau riêng).   Điểu, nhân vật chính trong Một nỗi đau riêng, là một thanh niên có khuynh hướng chống đối xã hội Nhật, đã có lần khi đương đầu với một vấn đề khó giải quyết, anh tự “cho mình trôi dạt trong biển rượu mạnh như một Robinson Crusoe mất phương hướng”. Nhưng chưa bao giờ anh giáp mặt với một cuộc khủng hoảng cá nhân và nghiêm trọng về viễn cảnh một đời sống tù hãm trong lồng của đứa con mới sinh mang chứng thoát vị não. Liệu anh chạy chữa cho đứa bé được sống? Anh dám giết nó không? Trước khi đi đến quyết định cuối cùng, toàn bộ quá khứ sống dậy trong lòng anh, anh đã bừng tỉnh và nhận ra đó chỉ là một cơn ác mộng của sự lừa dối chính mình. Oe đã tạo nhân vật chính của mình trong tác phẩm này trở thành một trong những khuôn mặt đáng nhớ nhất trong tiểu thuyết hiện đại Nhật Bản.   Năm 1994, Kenzaburo Oe đã được Viện Hàn lâm Thụy Điển trao Giải Nobel Văn chương.  *** Điểu chăm chú nhìn tấm bản đồ châu Phi được phơi bày với vẻ thanh lịch kiêu kỳ của một chú nai rừng trong tủ hàng, anh cố nén tiếng thở dài. Các cô bán hàng không để ý đến anh. Bộ đồng phục họ mặc để lộ ra đôi cánh tay và chiếc cổ nõn nà. Đêm xuống dần. Cái nóng đầu hè, giống như nhiệt độ của một xác chết khổng lồ hạ hẳn xuống. Người ta di chuyển như đang mò mẫm từng bước trong bóng tối của tiềm thức, mong tìm lại ký ức về cái ấm áp ban trưa còn nấn ná chút hơi tàn trong da thịt: họ thốt lên tiếng thở dài mơ hồ. Tháng sáu, sáu giờ rưỡi: không một ai trong phố lại đổ mồ hôi vào lúc này. Nhưng vợ của Điểu thì nằm trần truồng trên một tấm nệm cao su, đôi mắt nhắm nghiền giống như một con gà lôi bị trúng đạn từ trên trời rơi xuống, và trong khi nàng than vãn cơn đau, bày tỏ nỗi âu lo cùng niềm mong đợi thì mồ hôi nhỏ giọt trên cơ thể nàng.   Điểu nhún vai, chăm chú vào những chi tiết của tấm bản đồ. B quanh lục địa châu Phi là màu biển xanh da trời mùa đông của buổi bình minh. Kinh độ và vĩ độ không phải là những đường nét máy móc của chiếc com-pa: những đường nét rõ ràng gợi lên sự phóng khoáng và thất thường của người vẽ. Lục địa trôi giống như chiếc sọ của một người bị treo đầu. Với đôi mắt sầu thảm, chán chường, một con người có cái đầu to tướng đang đăm đăm nhìn châu Úc, miền đất của gấu koala, thú mỏ vịt và kanguru. Bức tiểu họa châu Phi chỉ sự phân bổ dân số nằm dưới góc bản đồ, giống đầu người chết bắt đầu thối rữa. Một bức khác, hiện lên những con đường giao thông, giống đầu người bị lột da lộ ra những mao mạch đau đớn. Cả hai bản đồ châu Phi nhỏ bé này gợi lên sự chết chóc bất thường, nguyên sơ và quá tàn bạo.   “Tôi lấy tập bản đồ cho anh xem?”   “Không, đừng bận tâm,” Điểu nói. “Tôi đang tìm những tấm bản đồ chỉ đường của Tây Phi, Trung và Nam Phi do hãng Michelin in.” Cô gái cúi xuống chiếc ngăn kéo đựng đầy bản đồ Michelin và bắt đầu lăng xăng lục lọi. “Dãy số 182 và 185,” Điểu chỉ cho cô bán hàng, rõ ràng anh là một tay sành sõi về châu Phi.   Tấm bản đồ mà Điểu khao khát bấy lâu nay là một trang trong tập bản đồ bìa da, nặng ký. Một vài tuần trước, anh đã dò giá tập bản đồ và biết nó bằng năm tháng lương giáo viên của anh dạy tại một trường luyện thi. Nếu muốn có đủ tiền mua, anh có thể làm thêm công việc phiên dịch và phải mất ba tháng. Nhưng Điểu còn phải nuôi thân mình và nuôi vợ, vợ anh lại sắp sinh. Điểu là cột trụ của gia đình!   Cô bán hàng chọn hai tấm bản đồ bìa đỏ đặt lên quầy. Đôi tay nàng gầy và vấy bẩn, những ngón tay kỳ nhông bám trên cành cây. Mắt Điểu dán vào nhãn hiệu Michelin nằm dưới ngón tay nàng: một gã đàn ông hằng cao su trông giống như con cóc đang lăn cái ruột xe chạy xuống đường làm anh cảm thấy việc mua bản đồ là điều ngớ ngẩn. Nhưng đây là những tấm bản đồ mà anh muốn dùng vào mục đích quan trọng. ... Mời các bạn đón đọc Một Nỗi Đau Riêng của tác giả Kenzaburo Oe.