Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Vỡ Tổ

Lời giới thiệu của bản tiếng Anh Cuốn tiểu thuyết ngắn Vỡ tổ (tựa tiếng Anh là The Broken Nest hay Nashtanir theo tiếng Bengal) của Rabindranath Tagore ra mắt lần đầu năm 1901 và được đăng nhiều kì trên tờ tạp chí Bharāti [1] . Năm 1909, ông đưa truyện này vào một tập truyện ngắn chọn lọc, và năm 1926, lần đầu tiên Vỡ tổ có mặt trong tuyển tập chính thức các tiểu thuyết ngắn của ông. Bản này là bản dịch tiếng Anh đầu tiên của tác phẩm. Việc The Broken Nest chậm đến với bạn đọc phương Tây như vậy vừa lạ lùng vừa đáng tiếc, vì đây là một trong những tác phẩm hư cấu hay nhất của Tagore. Cuốn truyện lại càng nổi bật hơn nữa vì lần đầu tiên nó xuất hiện bằng tiếng Bengal tại một thời điểm mà truyện ngắn hiện đại như một hình thức văn học đặt ra những câu hỏi sâu xa mà không nhất thiết đưa ra câu trả lời, một thể loại tương đối mới cả ở Ấn Độ lẫn phương Tây. Trong lúc đó, tiếng Bengal đang có nguy cơ thất bại trong cuộc đấu tranh để được thừa nhận như một phương tiện ngữ ngôn văn học nghệ thuật nghiêm túc. Giải thích lí do cho cuộc đấu tranh này và vai trò của Tagore trong đó sẽ cho thấy rõ ý nghĩa văn học và lịch sử của The Broken Nest . Vào đầu thế kỉ 19, văn xuôi Bengal thực ra không tồn tại. Tiếng Bengal chắc chắn là ngôn ngữ nói hằng ngày ở Bengal, nhưng nó không được xem trọng cả trong đời sống lẫn văn học. Người Thổ Nhĩ Kì xâm lược Ấn Độ vào cuối thế kỉ 12 đã mang theo họ tiếng Ba Tư, mà người Ấn thấy dễ học hơn tiếng Ả Rập. Cho đến năm 1834, khi tiếng Anh chính thức thay thế, tiếng Ba Tư vẫn là ngôn ngữ chính của chính phủ và bộ máy hành chính. Thực ra sau năm 1800, Sankrit, tổ tiên của tất cả các ngôn ngữ Ấn Âu, không có đối thủ nào đáng kể ở Bengal, trở thành một phương tiện có uy tín để biểu đạt văn học, triết học và tôn giáo. Tuy nhiên năm 1801, một nhà truyền giáo người Anh tên là William Carey đã đề xuất một chương trình ngôn ngữ tại trường Cao đẳng Fort ở Calcutta, một trung tâm đào tạo nhân viên cho công ty Đông Ấn Độ, nhà cai trị trên thực tế ở Ấn Độ. Chương trình của Carey ban đầu không có ý định dạy tiếng Anh cho người Bengal, mà dạy tiếng Bengal cho những người Anh được bổ nhiệm điều hành công việc tại các công ty ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Vì lợi ích của các học sinh này - những thường dân được huy động từ London và Edinburgh, các thành phố công nghiệp ở miền Trung và các làng mạc miền Nam nước Anh, Carey và những cộng sự người Bengal của ông đã sử dụng trong một quá trình thử và sai thô sơ nhưng hiệu quả những công cụ này cho một thứ văn xuôi-viết tiếng Bengal đã được chuẩn hóa: những cuốn sách ngữ pháp, tự điển, những qui tắc cú pháp và một hệ thống chấm câu thống nhất. Việc giáo dục văn học Anh không phải là một phần dự tính trước của chương trình này. Các tác phẩm mà Carey và các cộng sự của ông chọn ban đầu để dịch sang tiếng Bengal vì nội dung đạo đức và mô phạm hơn là những giá trị cổ điển của chúng về văn chương. Nhưng những thanh niên Bengal này, và nhiều người khác giống như họ, đang theo học ở những trường như Cao đẳng Hindu ở Calcutta, đã bắt đầu cảm thấy họ bị cách biệt quá lâu khỏi phần còn lại của thế giới. Vì vậy, họ thôi thúc các đồng sự người Anh nói về văn học Anh, dạy họ về lịch sử của nền văn học này, bày cho họ cách viết những bài xon-nê và những tiểu thuyết lịch sử. Đối thủ chính đầu tiên của Sankrit đã xuất hiện. Cuộc cạnh tranh này có những khía cạnh tâm lí và văn chương. Năm 1835, Thomas Babington Macaulay xoay được một quyết định của chính phủ, chấp thuận việc dùng tiếng Anh để giảng dạy trong các trường học ở Ấn Độ. Sau năm 1844, chính phủ qui định Anh ngữ là điều kiện cần thiết trong việc tuyển dụng người Bengal. Nhiều người trong số những người Bengal này kết luận rằng việc tinh thông ngôn ngữ và cung cách của người Anh là những nấc thang đến thành công, và họ bắt đầu vứt bỏ một cách hệ thống tất cả những gì của Bengal, kể cả tiếng mẹ đẻ của họ. Kết quả thường là đau xót hơn khích lệ, và những kẻ thực nghiệm chỉ khiến bản thân họ trở thành lố bịch trước mắt những người mà họ khao khát gây ấn tượng nhất. Những người Bengal khác, trong đó có Tagore của Calcutta, không chấp nhận kiểu thích nghi mù quáng với lối sống phương Tây. Trái lại, họ đi tìm những cách có tính xây dựng, thoả mãn để kết hợp cái mới và cái cũ. Họ hiểu biết tường tận văn học cổ điển Sankrit, nhưng họ cũng say sưa với sự huy hoàng và sôi động của văn học cổ điển Anh. Họ thống nhất hai truyền thống đó trong câu trả lời cho sự thôi thúc ngày càng mạnh khi tiến lên thế kỷ phía trước, sự thôi thúc củng cố một bản sắc văn học “không Sankrit” cũng “không Anh”, hiện đại nhưng không giả Anh, một bản sắc độc đáo, nhấn mạnh tinh thần Bengal. Còn có gì gắn bó mật thiết với ý thức về bản sắc cá nhân hơn là tiếng mẹ đẻ? Các nhà văn bị lay động bởi sự thôi thúc mới này bắt đầu dùng tiếng Bengal trong những thí nghiệm của họ với các hình thức văn học mới du nhập từ phương Tây: Tiểu thuyết, truyện ngắn hoạt kê, tiểu luận theo sự kiện, bình luận báo chí. Lúc này, cuộc đua tranh không phải giữa tiếng Sankrit và tiếng Anh, mà giữa tiếng Anh và tiếng Bengal, và nó hoàn toàn chưa ngã ngũ khi Tagore bắt đầu viết những truyện ngắn đầu tiên của ông, có thể gọi là thật sự hiện đại, vào đầu những năm 1890. Đó là thành quả của những năm ông sống ở miền Đông Bengal, cai quản điền trang của gia đình. Tại đó, lần đầu tiên ông quan sát những chotoloc , những người ‘dân quê nhỏ bé’ của Bengal. Những câu chuyện của ông thời kỳ này tràn ngập cảm giác cay đắng về bi kịch của những con người bị lãng quên, thấp cổ bé miệng, vô danh, dưới sự thống trị của những thế lực kinh tế và chính trị cực kì xa cách, khó hiểu. Lấy những tiêu chuẩn ngày nay về phê bình tiểu thuyết để đánh giá thì nhiều truyện ngắn trong số này bị coi là yếu về kết cấu. Cái “tác động duy nhất” mà Edgar Poe nêu lên làm tiêu chuẩn cho một truyện ngắn hay thì thường bị hỏng vì những đoạn lạc đề, những kết thúc lỏng lẻo, và nhiều chỗ tác giả nhảy vào để thuyết giáo. Nhưng nói cho công bằng, những truyện hay nhất của Tagore trong những năm 1890 là một thành tựu tuyệt vời, chúng chứng tỏ rằng tiếng bản xứ Bengal và những sự kiện hằng ngày trong cuộc sống của những người dân vô nghĩa có thể kết hợp để tạo ra những tác phẩm văn chương mang tính nghệ thuật cao. Những người đàn ông, đàn bà và trẻ con tầm thường vô nghĩa, không phải những nhân vật anh hùng ca, là động lực chính trong các truyện hay nhất của Tagore. Trong tất cả những yếu tố của tiểu thuyết như nhân vật, bố cục, cốt truyện, chủ đề, Tagore nhấn mạnh vào nhân vật. Bằng những gì họ nói và làm, hay những gì họ không nói và không làm, bản thân các nhân vật không chỉ tạo nên những sự kiện bên ngoài, trong những thời gian và địa điểm đã định, mà còn ghi lại những diễn biến không nhìn thấy và thường không ngờ tới, trong trí óc và tâm hồn họ. Sự chú ý này đến các chi tiết tâm lí làm cho The Broken Nest thành một tiểu thuyết ngắn hiện đại. Đó là câu chuyện về mối quan hệ phức tạp của ba nhân vật: Bhupati - một người Bengal tuổi trung niên, Charulata - vợ anh, và Amal - em họ anh. Họ là những cư dân giàu có, nhàn rỗi của Calcutta, thành viên của Bhadralok , “những người có văn hóa” của Bengal, bắt kịp theo dòng ảnh hưởng của phương Tây; bắt kịp, nhưng theo sự phân tích cuối cùng là kém hiểu biết. Sự kém hiểu biết của họ là nguyên nhân chính của thế lưỡng nan về lịch sử, và cảm xúc của ba nhân vật này cũng là của toàn Ấn Độ trong bước ngoặt thế kỉ 19. Tagore đã cho chúng ta một bức tranh có tính giai đoạn nhưng đồng thời là phi thời gian, vì câu chuyện của Bhupati, Charu và Amal là câu chuyện về phản ứng của con người trước những biến động xã hội và trước sự khám phá đột ngột những thế giới mới của tưởng tượng. Bối cảnh của The Broken Nest là một ngôi nhà chung của nhiều gia đình, tương tự với ngôi nhà mà ở đó Tagore đã lớn lên. Ông biết tất cả những cái hay cái dở của kiểu nhà như thế, bao gồm nhiều nhánh của một gia tộc sống dưới một mái nhà, dưới quyền hành và sự bảo trợ của người cha hoặc người anh cả. Hệ thống này có vẻ cổ lỗ và tỏ ra khó đứng vững trong một thời đại thành thị hóa nhanh chóng, nhưng trong thế kỉ 19, nó giúp củng cố cơ cấu xã hội và thường cách xa điểm tan vỡ khi thực dân phương Tây đổ vào Ấn Độ qua ngả Bengal. Các gia đình duy trì những kiểu nhà như thế nhằm tìm kiếm một sự an toàn thật sự, cả về tài chính và tâm lí. The Broken Nest là một bi kịch gia đình, nhưng hiện thực chính trị bao trùm lên toàn bộ câu chuyện. Ngay ở câu thứ hai, Tagore đã ám chỉ một cách hóm hỉnh thực tế này khi ông nhận xét rằng Bhupati không phải làm việc để kiếm sống vì anh có nhiều tiền và vì anh sống ở một xứ nóng. Có lẽ những người sống ở xứ nóng sống được vì dễ dàng nhặt quả chín từ những cái cây gần nhất, nhưng phía sau đó mỉa mai, nhắc nhở đến việc hành nghề báo chí của Bhupati có tham dự vào chính trị, cho thấy bầu không khí chính trị của Ấn Độ cũng nóng như khí hậu vậy. Đảng Quốc dân Đại hội Ấn Độ được tổ chức năm 1885, và các lãnh đạo của Đảng đại diện cho các tầng lớp trung lưu mới, hướng theo những tư tưởng phóng khoáng của Anh. Vào thời gian Đại hội lần thứ ba họp năm 1887, thấy rõ tinh thần phục hưng đạo Hindu đang lớn dần lên chống lại ảnh hưởng của Anh. Các nhà cai trị quen nghĩ về Ấn Độ như một đất nước bị đúc khuôn bởi nền văn hóa Mughal [2] và về đạo Hindu như một tôn giáo tiêu cực nếu không phải là lỗi thời, sẽ giật mình khi thấy họ đứng trước một con phượng hoàng vươn lên từ đống tro tàn chưa bao giờ nguội lạnh. Cả những người ôn hoà trong Đảng Quốc Đại lẫn những nhà cai trị người Anh đều hoảng hồn vì những tổ chức khủng bố bí mật nổi lên ở Bengal và nhiều nơi khác tại Ấn Độ. Các quan chức vội vàng áp dụng những biện pháp hạn chế, nhưng đó chỉ là những vận động thử cho mưu đồ của phó vương Lord Curzon, nhằm chia tách Bengal vào năm 1905. Thực ra, việc chia tách đã là một vấn đề nóng bỏng trong vài năm trước thời điểm 1901, vì tỉnh này quá rộng để cai trị một cách hiệu quả. Vấn đề của chia tách là chính sách biên giới đang “nổi lên dữ dội” mà Bhupati, nhân vật chính của Tagore phải lo lắng trong phần đầu của câu chuyện. Khi Nashtanir được xuất bản năm 1909, sự phản đối chống lại sắc lệnh năm 1905 của Curzon không hề giảm xuống, và tính thời sự của câu chuyện vẫn còn nóng hổi. Có lẽ Lord Curzon chắc chắn đã hi vọng đóng vai Hercules và phá hoại tinh thần dân tộc bằng cách chia tách. Ông ta đã không thành công như Hercules, vì dùng chia tách để kiềm chế sự bất bình của những người Bengal khác nào dùng những lời chửi bới thô tục để chinh phục Hydra [3] , và có một thời gian phe Ôn hòa và phe Quá khích đã đoàn kết về vấn đề này. Một dòng thác lũ ngôn từ, thật đúng vậy, đã giúp cho Bengal trở thành chướng ngại và phiền hà hơn với người Anh. Những người dân tộc chủ nghĩa Bengal và Ấn Độ đã nhanh chóng nhận ra rằng việc Macaulay năm 1835 ủng hộ giảng dạy tiếng Anh ở Ấn Độ đã tặng cho họ một phương tiện lý tưởng để vượt qua các hàng rào ngôn ngữ trong nước. Từ Cape Comorin đến Himalaya, người Ấn Độ nỗ lực sử dụng tiếng Anh trong các cuộc mít-tinh, trong phát biểu ý kiến và trong ấn phẩm báo chí. Trong The Broken Nest, sự nghiệp báo chí của Bhupati phần nào biểu lộ thứ tình cảm dân tộc mới này. Nhưng tính khí và học vấn của anh chàng Bhupati ngây thơ, tốt bụng ít thích hợp hơn ai hết để đối phó với thực tế của báo chí chính trị. Tờ báo của anh là một thứ đồ chơi của anh. Tagore nhân từ đã không để độc giả thưởng thức những mẫu văn xuôi làm báo của Bhupati, nhưng có thể suy đoán mà không sợ sai rằng Chính phủ Ấn Độ chẳng hề thấy trong đó có mối đe dọa nào cho Đế quốc. Việc Bhupati dính với tiếng Anh gắn liền với một khía cạnh khác của mối quan hệ văn hóa giữa Ấn Độ và Anh quốc: Đó chính là sự hồ hởi thật sự và cảm giác tự do đến từ cái nhìn lướt qua thế giới mới của một ngoại ngữ. T.S Eliot đã nói về nhân cách bổ sung mà chúng ta có được nhờ học một ngôn ngữ khác, thậm chí chỉ cần nắm được kết cấu và ngữ điệu của nó là đủ, và những xúc cảm mà thơ ca của nó chuyên chở [4] . Nhiều người Ấn Độ đã học để đọc được, tuy chưa hoàn thiện. Shakespeare và Shelley, Byron và Browning, đã say mê với tinh thần Tây phương mà trước đó họ chưa có trải nghiệm gì. “Nó đã đánh thức chúng tôi,” - Tagore nhớ lại, “và làm cho chúng tôi sống động hơn.” [5] Mặc dầu tiếng Bengal chưa đạt được đến tầm văn học, nhưng nghiên cứu văn học đã có uy tín ở Bengal trong nhiều thế kỉ. Những người thông thạo văn học cổ điển và các qui tắc tu từ được coi như những người canh giữ văn hóa quan trọng của Bengal. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi cho rằng người Bengal đã lĩnh hội các tài liệu văn học Anh một cách dễ dàng và nhiệt tình, nếu không muốn nói là luôn luôn tuyệt đối chính xác. Trong truyện, Tagore đã châm biếm một cách sâu cay sự yếu kém về kiến thức văn học của họ bằng cách nhắc đến một nhà phê bình văn học Bengal khi gọi Amal là “Ruskin của Bengal.” Bất kì ai đưa ra một sự so sánh như thế rõ ràng là biết quá ít về các tác phẩm của Ruskin, tuy có nắm được những khái niệm của Ruskin. Cảm giác của ông về quá khứ có sức kêu gọi mạnh mẽ những người Bengal đang hi vọng tạo nên một dấu ấn mới về bản sắc cá nhân và dân tộc như thời hoàng kim trong quá khứ của Bengal trước khi người Anh đến, trước cả Mughal. Hoàn toàn đúng với tính cách của Bhupati khi anh muốn chuyển từ báo chí sang văn học, đọc Tennyson và Byron đồng thời với đọc Bankimchandra Chatterji, những người đương thời lớn tuổi hơn Tagore, những người đến nay vẫn còn được gọi là Walter Scott của Bengal. Bhupati vẫn chưa hoàn toàn nhận thức được những hệ lụy từ cuộc xâm lăng văn học này của người Anh, nhưng làn gió mới của phương Tây đã khiến anh bồn chồn không yên đồng thời mang đến phương hướng cho cuộc đời vô mục đích của anh. Nhận xét của Eliot về lợi ích của việc biết ngoại ngữ đi kèm với một lời cảnh báo: người ta không bao giờ được chìm đắm vào một ngôn ngữ khác đến mức mất đi khả năng nghĩ và cảm bằng tiếng mẹ đẻ. Việc Bhupati mê đắm tiếng Anh đã khiến anh lơ là việc nhà và những gốc rễ văn hóa. Anh đã bỏ rơi cả người vợ lẫn tiếng mẹ đẻ và sau đó phát hiện ra rằng anh lênh đênh trôi dạt đến mức không thể tìm đường trở về với một trong hai điều đó. Anh chưa học đủ để theo chân những người tìm nơi trú ẩn trong Sankrit cổ điển, và anh không có đủ trí tưởng tượng để nối gót những người, giống như Tagore, quay trở về với việc mô tả hiện thực Bengal hoặc bất cứ thứ gì họ quan sát thấy trong cuộc sống hằng ngày. Amal và Charulata thì may mắn hơn, ít nhất ở khía cạnh này. Khi họ bắt đầu theo đuổi văn chương, Amal bắt chước những nhà văn cổ điển tiếng Sankrit. Tu từ của cậu quá lố và những ẩn dụ của cậu ngớ ngẩn, nhưng ít nhất, cậu còn cố gắng vay mượn phong cách và những biểu tượng của các nhà văn lớn trong quá khứ. Charu trong sự đơn giản của nàng, vô tình gia nhập vào chủ nghĩa hiện đại và viết bằng ngôn ngữ thông dụng thường ngày những sự việc hằng ngày. Việc Charu đứng ngang hàng với những người hiện đại là một trong những điều trớ trêu của The Broken Nest . Sự phụ thuộc của nàng vào ngôn ngữ thông tục và những sự kiện bình thường là kết quả tự nhiên của vai trò phụ nữ trong một hệ thống gia đình khiến chúng ta ngạc nhiên về bất cứ điều gì ngoài tính hiện đại. Giống như phần lớn những vùng đất phải trải qua một thời kì nào đó trong lịch sử dưới sự thống trị của chính quyền Hồi giáo, Bengal đã áp dụng nhiều qui ước của đạo Hồi, đòi hỏi phụ nữ ở những giai cấp xã hội nhất định phải sống qua tuổi trẻ và tuổi trưởng thành của họ bên trong những căn phòng riêng tách biệt của ngôi nhà. Từ Urdu thông dụng zenana vẫn còn để biểu thị khu vực phụ nữ ở [6] . Tagore dùng từ Bengal antahpur , được dịch là “bên trong của ngôi nhà.” Khu vực này được chia thành các phòng hay các nhóm phòng được giao cho các nhánh của gia đình. Đàn ông gặp gỡ vợ mình chỉ trong bữa ăn hoặc ban đêm, việc tiêu quá nhiều thời gian ở đây trong ngày làm sinh ra những sự chỉ trích và ngồi lê đôi mách. Một người phụ nữ không ra khỏi antahpur . Nếu cô ta muốn nói chuyện với các thành viên là đàn ông trong gia đình, cô ta sẽ sai một người đày tớ đưa lời nhắn hoặc thu hút sự chú ý của họ như Charu thu hút sự chú ý của Amal bằng cách vỗ tay hoặc lắc chùm chìa khóa mà họ buộc vào sari cho kêu leng keng. Một bộ qui tắc hành vi ứng xử được qui định rõ ràng, đặt ra khuôn mẫu cho những mối quan hệ trong những gia đình như thế. Một người vợ Hindu chính thống không bao giờ nói với chồng hoặc nhắc về chồng bằng tên riêng của anh ta, cô nói về anh là “chồng tôi” hoặc dùng dạng kính trọng của đại từ này hoặc dạng tương ứng của động từ. Bhupati gọi vợ là “Charu” nhưng nàng không bao giờ gọi anh là “Bhupati”. Amal là em họ ở quê của Bhupati và là thành viên của gia đình khi theo học trường cao đẳng ở Calcutta, được coi như người con nhỏ trong gia đình. Với cương vị như thế, cậu có thể đến và đi khỏi antahpur một cách tự do, tại đó cậu được những người phụ nữ bà con nuông chiều hết mức. Chị dâu và em họ trong lứa tuổi của cậu được phép là những bạn tâm tình. Tuy nhiên không bao giờ Amal gọi Charu bằng tên riêng. Nàng lớn hơn cậu một hoặc hai tuổi và hơn nữa nàng là bà chủ nhà. Cậu gọi nàng là “Chị dâu” hay “Chị”. Cậu cũng không gọi Bhupati bằng tên, cậu gọi “Anh” và dùng từ d ā d ā , một từ thương yêu và kính trọng đối với người anh. Việc dùng những tiếng như “anh”, “chị” trong những gia đình hỗn hợp thường làm những người không phải Ấn Độ nhầm lẫn. Một người Bengal khi bắt buộc phải giải thích tại sao con của bà cô có thể là anh em với anh ta, thường trả lời, “À, anh ấy không phải là anh ruột tôi đâu. Anh ấy là anh họ tôi.” Do đó, Bhupati trong quan hệ với Amal là vai anh họ, và Charu là chị dâu (họ). Qui ước xưng hô này trong tiếng Bengal được điều chỉnh một cách tế nhị. Nó cung cấp những từ ngữ mô tả rõ ràng về xưng hô và sự phân biệt giữa những người họ hàng già hơn hay trẻ hơn, họ nội hay họ ngoại. Nhưng mẫu đời sống thật sự có ý nghĩa đối với những người phụ nữ sống trong ngôi nhà của Bhupati ở Calcutta được thể hiện ở cách Tagore dùng một từ không liên quan gì đến tính trang trọng trong xưng hô. Từ quan trọng ấy là shangsh ā r . Nó được dùng lặp lại nhiều lần trong Nashtanir . Nó có thể có nghĩa là “thế giới”, “những công việc trần tục, vật chất”, “việc nhà, nội trợ” hay “gia đình” và được dịch bằng nhiều cách khác nhau tùy theo ngữ cảnh. Dù ở ngữ cảnh nào trong câu chuyện này, những nghĩa rộng của từ shangsh ā r đều mang sắc thái mỉa mai, vì từ này nhấn mạnh rằng phần của phụ nữ trong một ngôi nhà như thế này là một thế giới nhỏ bé chật hẹp, mà lí do tồn tại của họ là phục dịch và dâng hiến cho những thành viên đàn ông của gia đình. Đối với những phụ nữ như thế, shangsh ā r - “thế giới” hoàn toàn tương đương với shangsh ā r “nội trợ”. Người phụ nữ có thể đôi khi đột nhập vào thế giới bên ngoài, nhưng ước lệ này đã được qui định chặt chẽ. Khi Charu đến thăm một gia đình khác, nàng phải đi trên chiếc xe ngựa có che rèm kín, và chỉ được vào thăm trong antahpur, chơi với phụ nữ của nhà đó. Đám cưới là sự kiện xã hội lớn của những khách phụ nữ, và việc Charu không đi dự lễ cưới của Amal nhấn mạnh chiều sâu những rối loạn cảm xúc ở nàng trước việc cậu ra đi. Các gia đình tiến bộ có thể cung cấp cho các thành viên phụ nữ của họ giáo dục sơ yếu thông qua dịch vụ của một “thầy giáo zenana ”. Chị của Tagore, Svarna Kumari Ghosal, là một nhà văn, một biên tập viên và nhà hoạt động từ thiện tài trợ cho những chương trình đào tạo giáo viên như thế. Nhưng ngay cả với bà, một phụ nữ thông minh và tài năng trong gia đình tiến bộ độc đáo, việc học lên những lớp cao, chính qui cũng không được bàn đến. Việc Charu theo đuổi văn chương xem ra có vẻ ngây thơ khi nhìn trên một bối cảnh như thế. Thật ra, nàng đã can đảm và có óc sáng kiến khác thường so với những phụ nữ trẻ ở vào thời đại của nàng, địa vị của nàng và tuổi của nàng. Cả Bhupati nữa, cũng thật đặc biệt khi anh sẵn lòng khuyến khích vợ học văn chương, nhiều người chồng Bengal khác chắc không dung tha việc này. Tagore hết sức quan tâm đến những thất bại của những phụ nữ như thế. Năm 1883 ông viết Cuốn sổ tay - một câu chuyện khác về một cô vợ trẻ con, đam mê đọc và viết của cô đã bị bóp chết bởi anh chồng hiểu biết lơ mơ và các bà chị chồng vô học [7] ; mãi đến năm 1914 ông còn viết Bức thư của một người vợ , câu chuyện về một người vợ mà những tình cảm phong phú được đánh thức và nuôi dưỡng bởi thơ ca, nhưng đã phải chiến đấu vô vọng chống lại sự phản đối của gia đình và việc chồng nàng không nhìn nhận nàng như một nhân cách [8] . Bên cạnh những người chồng như thế thì Bhupati, với tất cả sự chậm hiểu những nhu cầu tri thức và tình cảm của Charu, là mẫu mực của một tâm hồn rộng lượng. Đáng tiếc là sự bao dung của anh lại bắt nguồn từ việc anh đắm chìm trong tờ báo của anh và việc anh dễ dàng chấp nhận “niềm tin phổ biến rằng một người đàn ông luôn có sẵn những gì cần đòi hỏi ở người vợ của mình.” Tagore không nói đến tuổi của Charu và Bhupati. Sẽ hợp lí nếu giả sử rằng Bhupati bắt đầu làm tờ báo của anh khi hai mươi tuổi và lấy vợ vào tuổi hai lăm. Charu có thể mười ba tuổi khi lấy chồng. Từ đó suy ra Bhupati ba mươi hai khi câu chuyện bắt đầu, và Charu hai mươi [9] . Trong những gia đình Bengal tương đối tiến bộ ngày nay, Charu dễ dàng có học vấn đại học và tiền đồ của nàng cũng rộng mở một cách tương ứng, nhưng với Charu của năm 1901, phạm vi bên ngoài antahpur, trong đó Bhupati sống thế nào nàng không hề hay biết, shangsh ā r là toàn bộ thế giới. Thật ra, Bhupati bị hạn chế bởi lòng tin ngây thơ vào người khác, bởi cái chất tỉnh lẻ và trí tưởng tượng vụng về của anh cũng như Charu bị hạn chế trong những chấn song cửa sổ và luật lệ xã hội thịnh hành. Tagore chọn những cái tên cho nhân vật của ông hoàn toàn có chủ ý. Tên đầy đủ của Charu là Charulata. Trong tiếng Bengal c ā ru có nghĩa là đẹp, và l ā ta có nghĩa là dây leo trong rừng, một thứ nho leo. Phong tục xã hội và cái nhìn của Bhupati về vợ anh như một đồ vật yêu quí trong tài sản đã làm tê liệt ở nàng sự hiểu biết vững vàng về những tài năng của nàng. Hoàn cảnh của nàng càng phức tạp, nàng càng ít khả năng đối phó với nó. Trong sự thiếu vắng hoàn toàn những mối tiếp xúc xã hội mới và thiếu sự hiểu biết của Bhupati sau khi Aman ra đi, Charu ngày càng lẩn sâu dưới cái bóng những kí ức của nàng. Tính không thực của chúng càng được tôn lên bởi sự tương phản ngầm với đời sống của Aman ở Anh, vì cậu đang thật sự trải nghiệm shangsh ā r như một thế giới rộng lớn – cái thế giới mà lịch sử đang kéo Ấn Độ vào. Quan hệ của Aman và Charu với truyền thống văn học Bengal bây giờ bị đảo ngược. Aman đã vứt bỏ văn học cổ điển và bây giờ đang đắm mình trong lối sống Tân Thời , trong đó cậu hi vọng tìm thấy chỗ đứng của mình như một luật sư. Trong khi đó thì Charu rút lui về Thời Hoàng kim của Ấn Độ và cố gắng sống với lí tưởng anh hùng ca của mọi người vợ, như một nàng Sita giữ cho ngọn đèn đêm cháy sáng đợi Rama [10] của nàng trở về. Nhưng Thời Hoàng kim ấy đã qua rồi, như Charu phát hiện cho nỗi buồn của nàng; chỉ lí tưởng không thôi thì không thể nâng đỡ một tâm hồn khao khát tình yêu. Bhupati, người không phân biệt được nhu cầu yêu đương với tình yêu văn chương – đúng như anh không phân biệt được văn chương hay với văn chương dở, là một chỗ dựa tồi cho Charulata. Lòng tốt không phân biệt của anh biến anh thành một thứ anh hùng, nhưng nhược điểm chủ yếu của anh là cứ luôn luôn đặt sự hào phóng của anh nhầm chỗ. Trên cơ sở truyền thống xã hội và các lí tưởng tôn giáo, anh cho rằng sự ổn định của gia đình là điều khoản của một học thuyết vững vàng. Giả định của anh vỡ tan khi đụng độ với những thực tế về nhu cầu tình cảm - của bản thân anh và của Charu. Chữ bhupati có nghĩa là “cột trụ xã hội” nhưng cho đến cuối cùng anh chàng Bhupati lơ lửng trên mây vẫn không hiểu được nguyên nhân thảm họa gia đình anh. Đã có lúc động lực muốn nâng đỡ Charu thắng thế, nhưng bản năng tự bảo toàn mạnh hơn. Thời khắc ấy qua đi, để lại Bhupati và Charu đối mặt với một tương lai trống rỗng. Chữ amal có nghĩa là “trong trắng”, “tinh khiết”. Liệu hạnh kiểm của Aman có thể được coi là hoàn toàn trong trắng được không? Cậu tầm thường và phù phiếm, vô tâm và non nớt, chưa trưởng thành. Nhưng sự non nớt của cậu không đáng trách trừ phi nó được làm thành công cụ phá hoại. Trong ba người của tam giác này, Aman là người đi gần nhất đến con đường hiểu được tình thế, và trong khoảnh khắc loé sáng nhìn rõ bản chất sự vật, dù chỉ một phần, cậu bắt đầu trưởng thành. Đối với một thanh niên dấn mình vào lối sống Tân Thời , việc chấp nhận một cô dâu chưa biết mặt mà không hề băn khoăn thắc mắc có thể cũng đáng trách như việc cậu không thấy trước những trò chơi văn chương nuôi dưỡng tính tự phụ nơi cậu làm nỗi cô đơn nơi Charu nặng thêm khi nuôi dưỡng trí tưởng tượng của nàng. Tuy nhiên, căn cứ vào địa vị xã hội, cuộc hôn nhân của cậu có thể được hiểu như một hành động danh dự. Nhiều cuộc hôn nhân ở Ấn Độ đã và vẫn đang là sắp đặt, và khi nước Anh còn là bí ẩn đối với nhiều người Ấn hơn ngày nay, luôn luôn có hi vọng một người vợ kiên nhẫn chờ chồng ở nhà sẽ là bảo đảm chắc chắn để người trai trẻ trở về, “vượt qua những đại dương xa thẳm”. Aman đã làm một cuộc vượt thoát khỏi tình thế khó xử được xã hội chấp nhận và minh chứng cho hành động của cậu bằng quyết định trở về giúp Bhupati, người có hình ảnh như một người cha trong đời cậu. Có thể nào ba người này không biết gì về những tình cảm của mình lâu đến thế? Một lần nữa, căn cứ vào hoàn cảnh xã hội và những nhánh tâm lí của nó, sự mù quáng rõ ràng của ba nhân vật chính có thể hiểu được thông qua việc họ dần dần gắn mình vào những biến động xã hội to lớn đang diễn ra. Báo chí hiện đại lọt vào Bengal một cách tình cờ, thậm chí nếu Bhupati thật sự có tài năng trong nghề, thì anh vẫn chưa tiếp cận đến những bí thuật của nó. Việc Charu tiếp xúc với những trào lưu mới trong văn học phải được thực hiện thông qua người khác, và được hưởng trong hoàn cảnh tương đối cách biệt. Amal là một cậu bé nhà quê tình cờ lọt vào xã hội thượng lưu trí thức của Calcutta. Trong ba người không ai có hình ảnh đầy đủ về hoàn cảnh sống của hai người kia. Mỗi người trong trạng thái bị kìm hãm trưởng thành; hoàn cảnh này góp phần vào thế lưỡng nan của họ và là một chủ đề chính của The Broken Nest . Bhupati, Charulata, và Aman lơ lửng trong trạng thái bối rối chung diễn ra trước khi những cơ hội mới có thể dạy họ những bổn phận mới. Tagore đã điều hòa giọng điệu của câu chuyện cho hợp với sự tiến triển mà tại đó họ bắt đầu ngờ ngợ, nếu không phải là hiểu rõ, rằng họ sắp đối mặt với những bổn phận mới. Giọng điệu bắt đầu thay đổi khi Aman nhận ra tình cảm của Charu đối với cậu. Những chuyện trò thơ mộng kiểu trẻ con nhường bước cho xung đột cảm xúc nghiêm trọng không tránh khỏi cũng như khu vườn không thực tế của họ nhường bước trước thực tế về kinh tế. Đã rõ rằng những ghen tuông của họ chẳng dính gì mấy đến văn chương, rằng những mưu mẹo vô lí nhưng lõi đời của Manda, chị dâu của Charu, sẽ có những hậu quả nguy hiểm, và rằng lòng tốt không phân biệt của Bhupati sẽ đem lại những kết quả chẳng có gì tốt đẹp. Những đụng độ đầu tiên của Bhupati và Aman với thực tế diễn ra ở nhịp độ nhanh chóng. Một tai nạn bên ngoài ngôi nhà của anh đã khiến Bhupati sững lại, và bộc lộ cho anh thấy anh kém phù hợp như thế nào với vai trò mà anh định mang là một con người của xã hội. Khi anh bạn Motilal của anh giả vờ không biết gì về những món nợ chưa trả, Bhupati theo bản năng chạy về nhà, “giống như một người sợ hãi trước trận lũ đột ngột, tìm một mô đất cao và lao đến đó.” Nhưng về tình hình ở nhà anh vẫn chưa biết chút gì, dù sao chăng nữa, anh cũng không thể đối mặt với nó một cách dứt khoát, thậm chí sau cú đụng độ thứ hai của anh với thực tế dưới dạng âm mưu thống thiết của Charu để liên lạc với Aman ở Anh. Lòng kính trọng và tình thương thật sự của Aman đối với Bhupati là tác nhân để cậu hiểu rằng nguy hiểm đã gần kề. Một chớp loé nhận thức cho cậu thấy Charu hoàn toàn không biết gì về những rắc rối tài chính của Bhupati cũng như về những tình cảm của nàng. Ngay khi Aman nhận ra vai trò của mình, cậu cố gắng rũ bỏ nó. Thậm chí sau khi Charu nhận ra rằng sự thiếu vắng Aman là nguyên nhân nỗi đau khổ của nàng, nàng đã hợp lí hóa cảm xúc của mình bằng cách buồn rầu về sự kiện dường như cậu đã ra đi trong giận dữ. Sự hiến mình thờ phụng chồng là hành động duy nhất mở ra cho nàng phương kế xua đuổi nỗi đau buồn. Nói rằng mặc cảm tội lỗi trong lương tâm nàng cũng cần xua đuổi là nói quá; nàng chẳng biết đường nẻo nào trong cuộc đời cũng như những hoạt động của trái tim nàng. Nàng đã sống trong một thế giới tưởng tượng. Nàng đã “quyết định”, nàng đã “nhất quyết”, nàng đã “hình dung” Aman hay Bhupati hành động theo những vai trò mà nàng phân cho họ. Cả họ nữa, cũng đã phân nàng vào một vai định trước. Khi không biết tại sao và như thế nào nàng không sắm được vai trò đó, họ bỏ mặc nàng. Việc Bhupati từ bỏ địa vị gia trưởng hầu như chắc chắn có nghĩa là Charu sẽ mất chút tự do mà nàng đã có. Những ông chú đến ở trong nhà sẽ mang theo vợ con của họ, người phụ nữ lớn tuổi nhất trong số họ sẽ là bà chủ ngôi nhà. The Broken Nest không phải là câu chuyện của Aman, cậu chỉ là chất xúc tác cho một thảm họa mà những yếu tố của nó đã từ lâu là một phần kết cấu xã hội. Việc nó là câu chuyện của Charu hay của Bhupati phụ thuộc vào thiên hướng của độc giả. Tagore không nói ông có ý định cho nó là câu chuyện của ai. Ông không nói ông có ý định chỉ ra một đạo đức trong những ngẫu nhiên của cuộc đụng độ văn hóa, hoặc văn chương tầm thường là thứ nguy hiểm. Ông đặt các nhân vật ra trước độc giả, Bhupati, Charu và Aman sống qua một giai đoạn không thể đảo ngược và không có cách khắc phục có thể thấy trước. “Cái tổ bị vỡ” không phải là lỗi của ai mà là bi kịch của mọi người, một bi kịch của những tình thương lạc lối và những tài năng chưa phát triển. Như vậy, Tagore đã đặt ra một câu hỏi chi phối nhiều truyện ngắn của ông: liệu Ấn Độ có biết nó đang bỏ phí một kho tàng vô giá như thế nào không? Ông đặt câu hỏi liên hệ với những tài năng và những tình cảm phong phú của phụ nữ đặt Charu ngang hàng với những phụ nữ nổi bật trong văn học phương Tây: Emma Bovary trong Bà Bovary của Flaubert, Dorothea Brooke trong Middlemarch của George Eliot, và Nora Helmer trong vở kịch Nhà búp bê của Ibsen. Với The Broken Nest , Tagore mang tiểu thuyết Bengal hiện đại đầy đủ vào cuộc thảo luận về một đề tài đã và vẫn là một ưu phiền nhức nhối cho các xã hội hiện đại ở khắp nơi. Ông cũng không tụt lại đằng sau các nhà văn Anh trong việc nhận thức và xử lí chủ đề này. Năm 1906 nhân vật đáng nhớ Irene Forsyte trong Một người đàn ông giàu có của John Galsworthy có tính cách táo bạo, hành vi vượt ra khỏi lối sống xã giao kiểu cách của Irene thật sự gây choáng váng. Một người phụ nữ vẫn bị coi là bất nhã và không xứng đáng là một quí bà nếu cô ta dám nói lên những khao khát một điều gì đó vượt ra ngoài mái ấm gia đình. Charu không nói lên những khao khát của nàng, thậm chí không ý thức về chúng một cách rõ rệt, nhưng chúng có sức mạnh như một cái cây đang lớn lên cuối cùng làm nứt toác nền đá rắn. Tagore hết sức can đảm khi viết The Broken Nest và đã bị phê bình gay gắt về nó. Câu chuyện dường như là một âm mưu làm xói mòn hòn đá tảng trên đó thiết lập xã hội Bengal: gia đình. Vào năm 1901 những bất đồng về lối sống hiện đại đã chia lìa nhiều gia đình Bengal. Tagore để ngỏ cái kết câu chuyện làm nhiều độc giả hoang mang và phẫn nộ, vì ông cho thấy quá rõ rằng nếu có cách nào đó để sửa chữa cái tổ bị vỡ, thì Charu và Bhupati (và, nói rộng ra, cái xã hội mà trong đó họ sống) không biết cách nào tìm ra nó. Nhiều bạn đọc cảm thấy không thoải mái nhưng không thể nhầm lẫn những thành tố tạo nên tấn bi kịch tương tự trong cuộc sống của chính họ. Giống như Bhupati, họ ớn lạnh vì nhận ra sự ổn định của gia đình hoàn toàn không phải là một điều khoản của học thuyết đã được mọi người thừa nhận, mà phải giành lấy thông qua những cố gắng liên tục và có ý thức. Họ không hiểu rằng chủ đề thật sự của Tagore là sự bền vững của gia đình và nhu cầu của các thành viên trong gia đình là được hiểu như một con người, được tạo những cơ hội lớn hơn trong một thế giới đang rộng mở. The Broken Nest là tiếng kêu từ trái tim của một nhà văn, bằng cách thay cho những người thấp cổ bé miệng, nói với toàn xã hội. Mary M. Lago Tháng 6, 1969 Columbia, Missouri Hoa Kỳ Mời các bạn đón đọc Vỡ Tổ của tác giả Rabindranath Tagore.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cư Kỉnh
Văn học nghệ thuật của một đất nước thì mang những đặc trưng riêng của đất nước đó. Tuy nhiên trong quá trình phát triển văn học nghệ thuật cũng chịu những tác động của các yếu tố bên ngoài, vì thế khi thì nó phát triển theo con đường đúng đắn, có khi lại đi lệch hướng. Và sự lệch lạc đó trong văn học nghệ thuật nó cũng gây những tác động tiêu cực tới nếp sống và cách suy nghĩ của con người. Trong tiểu thuyết “Cư kỉnh” tác giả Hồ Biểu Chánh đã nói lên được thực tế đó ở Việt Nam thời gian đầu thế kỷ XX. Nhân vật Chí Cao trong “Cư kỉnh” là một điển hình cho sự băng hoại đạo đức của một bộ phận trí thức thế kỷ XX. Chí Cao – một tiểu thuyết gia tên tuổi được nhiều độc giả biết tới, nhưng anh đã lợi dụng văn chương để làm u muội và lừa gạt tình cảm độc giả của mình. Cuối cùng anh đã phải trả giá cho những việc không tốt mà anh đã gây ra. Với cách hành văn giàu chất Nam Bộ, lối nói nhẹ nhàng thủng thỉnh, ngôn từ giản dị, trong khoảng hơn năm mươi trang nội dung Hồ Biểu Chánh đã cho ta thấy được phần nào sự phát triển văn học Việt Nam thời kỳ đầu của thế kỷ XX và sự suy đồi nhân cách của một bộ phận trí thức thời kỳ đó. Tiểu thuyết giàu giá trị phê phán đồng thời cũng giúp ta sáng tỏ một chân lý sống: Gieo nhân nào thì hái quả đó, gieo gió thì phải gặp bão. Vì thế mà Chí Cao lừa gạt tình cảm của cô Túy đã phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ vào những năm đầu thế kỉ 20 với những xáo trộn xã hội do cuộc đấu tranh giữa mới và cũ. Tiểu thuyết của ông, gồm hơn 60 quyển, chủ yếu xoay quanh các vấn đề đạo đức, nhân nghĩa, tình đời bị cuốn trôi, bị xen lẫn, phải vùng vẫy trong làn hương mê muội của tiền bạc. Đọc về Nam Bộ xưa là tiếp xúc với những ngôn từ có phần chân quê, lạ lẫm thêm cách nói chuyện hưỡn đãi, nhưng cũng không kém phần tinh tế vì những khía cạnh của một câu chuyện tưởng như chân chất bình thường lại được xoáy vào ở mọi góc cạnh, và bất giác khiến ta giật mình khi những gai góc của nó lộ ra. Đọc truyện của Hồ Biểu Chánh, cũng là một bước nhìn lại quá khứ, không phải của tôi, mà là của con người, của thiên hạ, đế thấy con tạo xoay vần, nhân gian biến đổi, nói thiệt, không khỏi có chút chạnh lòng. *** Chủ bếp hầu đang ngồi lim dim ngoài cửa, trông cho mau được về trại ăn cơm, thình lình tên Tú bước vô đưa phong thơ của ông Huyện và mượn trình liền cho quan lớn. Chủ bếp thấy quan lớn đang viết nên lấp ló không dám vô. Cách một hồi, quan Chủ quận ngước lên thấy chú bếp thì hỏi: - Muốn chi đó, chú bếp? - Bẩm quan lớn, có thơ của ông Huyện hàm dặn đưa gấp cho quan lớn. - Đem vô đây. Quan Chủ quận lấy thơ mở ra xem, thì thấy thơ như vầy: "Kính bẩm quan lớn, Tôi kính bẩm cho quan lớn rõ: tôi mới nghe dường như trong nhà tôi có manh mối xa gần về vụ án mạng mà quan lớn đương tra xét đó. Tiếc vì tôi không có thể hỏi mà phân manh mối ấy được, vậy tôi cúi xin quan lớn vui lòng dời gót đến nhà tôi đặng tra xét tường tất cho ra chơn lý. Cúi xin quan lớn nhậm lời Huyện Hàm TÂN Kính bái thơ" Quan Chủ quận đọc thơ rồi ngài lắc đầu thở ra, thủng thẳng xếp thơ bỏ vào hộc tủ rồi đứng dậy bước ra cửa mà đi, không nói cho bà lớn hay, mà cũng không dạy bếp hầu đi theo. Bước vào cửa ngõ của ông Huyện Hàm Tân, quan Chủ quận thấy ông đương thơ thẩn trong vườn hoa, thì đi riết vô. Ông Huyện thấy quan Chủ quận đi một mình thì cũng bươn bả đón rước. Chủ khách chào nhau và dắt nhau đi vô nhà. Ông Huyện thấy một tên bạn làm vườn đang lui cui nhổ cỏ gần đó thì kêu mà biểu nó đi mời Hương quản. Quan chủ quận thì nghiêm nghị, còn ông Huyện thì tư lự, cử chỉ ấy làm cho cuộc hội diện chiều nay đã không vui vẻ, mà còn có không khí nặng nề khó chịu. Quan chủ quận vừa ngồi, thì bà Huyện ở trong bước ra chào, nét mặt quyết đoán chớ không có vẻ buồn lo. Quan Chủ quận không nói tới việc ngài mới đọc trong thơ, có ý nhường cho ông Huyện khởi đầu, đặng dọ coi việc nhà của ông Huyện chuyển biến ra thể nào. Công việc đến đây, dường như ông Huyện hối ngộ sự ông viết thơ mời quan Chủ quận. Ông ngó bà với cặp mắt buồn hiu và ngồi im lìm không nói chi hết. Biết chủ nhà khó mở miệng, và quyết đem sự tín nhiệm để thay sự ngần ngại ấy, quan Chủ quận mới chẫm rãi hỏi ông Huyện: - Ông Huyện nghe việc chi mà ông nói vụ án mạng dường như có manh mối? Câu hỏi ấy dường như xô đẩy ông Huyện bước tới, lại cũng chặn đường không cho ông thối lui, bởi vậy ông ngó bà rồi thủng thẳng nói: - Bẩm quan lớn, việc đó như vầy: hồi sớm mơi nầy tôi nghe người ta nói kín cho tôi biết lúc vợ chồng tôi đi Sài Gòn ở trển 10 bữa, thì ở nhà một đêm nọ, lối 10 giờ, có bóng người mặc đồ trắng, không rõ đàn ông hay đàn bà, ở phía sau vườn tôi vạch rào chỗ đám trầu mà qua bên vườn Chí Cao rồi hơn một giờ sau cái bóng ấy trở lại. Đêm sau cũng thấy như vậy nữa, mà lần nầy bên vườn Chí Cao lại có thêm một cái bóng nữa, hai bóng lần lần đi vô nhà Chí Cao, đến gần sáng mới trở ra tới rào, rồi một cái đi qua bên vườn của tôi.    Mời các bạn đón đọc Cư Kỉnh của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Đứa Con Gái Hoang Đàng
"Tiếp nối cuốn tiểu thuyết nổi tiếng HAI SỐ PHẬN về William Kane và Abel Rosnovski, Đứa con gái hoang đàng là một câu chuyện được chắp bút của thế hệ tiếp theo. Câu chuyện đầy trớ trêu, trắc trở nhưng đầy nhân văn. TƯƠNG LAI CỦA CÔ LÀ THAM VỌNG Florentyna Rosnovski – con gái Abel – với một ý chí sắt đá di truyền từ người cha, cô quyết tâm theo đuổi mục tiêu và lý tưởng của mình, đó là trở thành nữ Tổng thống Mỹ đầu tiên. Tuy thế, cuộc đời của cô, cũng giống như người cha của mình, cũng gặp vô cùng nhiều trắc trở mà người phụ nữ tham vọng này nhất định phải vượt qua. Với hình tượng được lấy cảm hứng từ những nhân cách lớn như “bà đầm thép” Margaret Thatcher, Golda Meer, hay Indira Gandhi, Jeffrey Archer đã trả lời cho độc giả những câu hỏi về cuộc đời và số phận, về ý nghĩa của cuộc sống này. Vượt qua cơn giông tố, vươn đến những vì sao chính là thông điệp mà cây bút tài ba muốn truyền tải." 3. Ý NGHĨA NHAN ĐỀ Tiểu thuyết Đứa con gái hoang đàng được dịch từ tên gốc The Prodigal Daughter. Cái tên này được Jeffrey Archer đặt theo một Dụ ngôn trong Kinh Thánh – The Prodigal Son. Ở Việt Nam, tích này được biết đến với cái tên Người con hoang đàng, hay Đứa con hoang đàng trở về. Cách đặt tên này tạo ra một sự kết nối chặt chẽ vói phần 1 – Hai số phận. Tiểu thuyết Hai số phận với tên gốc là Kane and Abel – vốn dĩ cũng là một biến thể của Cain and Abel – một Dụ ngôn khác trong Kinh Thánh. 4. SỨC HẤP DẪN CỦA CUỐN SÁCH ĐỐI VỚI ĐỘC GIẢ “Một trong mười nhà văn có tài kể chuyện hay nhất thế giới.” – Los Angeles Times “Mạch truyện nhanh và lôi cuốn.” – Library Journal “Một bậc thầy trong việc pha trộn các yếu tố quyền lực, chính trị và danh vọng vào trong một cuốn tiểu thuyết.” – Entertainment Weekly “Một người kể chuyện ở đẳng cấp của Alexander Dumas, với kỹ năng vượt trội, Archer khiến độc giả không ngừng tự hỏi điều gì đang đón đợi phía trước.” – Washington Post *** THÔNG TIN VỀ SERIES “KANE VÀ ABEL” Series về Kane và Abel của Jeffrey Archer xoay quanh những nhân vật của gia đình Rosnovski và Kane. Phần một với nhan đề Kane and Abel được xuất bản với tên tiếng Việt Hai số phận đã và đang là một cuốn sách bán chạy bậc nhất tại Việt Nam. Cuốn sách nói về William Kane và Abel Rosnovski – hai người anh em nhưng lại sinh ra ở hai hoàn cảnh trái ngược; cuốn sách là một câu chuyện cảm động về hành trình đi lên và vượt qua những thử thách. Đứa con gái hoang đàng (The Prodigal Daughter) tiếp nối câu chuyện giữa hai gia đình, có thể nói đây là phần hậu truyện của Hai số phận, cuốn sách nói về cuộc đời và số phận của thế hệ thứ hai, cụ thể hơn là Florentyna Rosnovski – con gái của Abel, khi gia đình Rosnovski đã định cư tại Mỹ. Và cuối cùng là phần 3 – Bà Tổng Thống Trước Họng Súng (Shall we tell the President), tiếp nối câu chuyện dang dở của Đứa con gái hoàng đàng. *** Jeffrey Archer (sinh ngày 15/4/1940) là một tiểu thuyết gia người Anh, cựu chính trị gia và là người tiên phong trong làng tiểu thuyết Anh Quốc. Trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình, ông ghi dấu ấn với rất nhiều tiểu thuyết nổi tiếng, có thể kể đến : Hai số phận, Đứa con gái hoang đàng và các cuốn cùng series Biên niên Clifton: Chỉ thời gian có thể cất lời, Tội lỗi của người cha, Bí mật sâu kín nhất… Ông được mệnh danh là một trong những nhà văn có tài kể chuyện hay nhất. Tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Kẻ Mạo Danh - Jeffrey Archer Ấn Tượng Sai Lầm - Jeffrey Archer Quyền Lực Thứ Tư - Jeffrey Archer Bước Ngoặt Trong Câu Chuyện - Jeffrey Archer Hai số phận - Jeffrey Archer Luật Giang Hồ - Jeffrey Archer Điều Lệnh Thứ 11 - Jeffrey Archer Vượt Lên Hàng Đầu - Jeffrey Archer Chỉ Thời Gian Có Thể Cất Lời Tội Lỗi Của Người Cha Không Hơn Một Xu Không Kém Một Xu Bà Tổng Thống Trước Họng Súng ... *** Nếu đã yêu thích “Hai Số Phận”, chắc chắn bạn cũng sẽ yêu thích phần hai mang tên “Đứa Con Gái Hoang Đàng”. Bởi nó cũng cuốn hút và hấp dẫn như tập truyện trước đó, cũng như có cả những sắc thái riêng. Hai Số Phận là một trong những cuốn tiểu thuyết nổi tiếng và được yêu thích của nhà văn Jeffrey Archer. Câu chuyện xoay quanh William Kane và Abel Rosnovski, hai con người có cùng ngày tháng năm sinh, nhưng xuất phát điểm khác nhau. Nếu William Kane sinh trưởng trong sự giàu có, thì Abel Rosnovski lớn lên trong nghèo khổ. Cuộc đời của họ vô tình mà đan xen lẫn nhau, với bao hạnh phúc và thăng trầm, oán thù và lòng biết ơn, mang đến bao cảm xúc mạnh mẽ dội thẳng vào người đọc cho đến tận trang cuối cùng. Đứa Con Gái Hoang Đàng được biết đến là phần tiếp theo của Hai Số Phận. Nhân vật chính của phần này là Florentyna Rosnovski, cô con gái của Abel Rosnovski. Cũng giống như cha mình, cuộc đời của Florentyna trải qua nhiều thử thách, thăng trầm trắc rở, ngay cả khi tuổi thơ của cô ấm no hơn của cha mình. Có lẽ đó là số phận của những người sẽ leo lên tới đỉnh, ai cũng phải trèo qua rất nhiều trở ngại để đến được đích. Được nói đến là phần tiếp theo của Hai Số Phận, Đứa Con Gái Hoang Đàng gợi nhớ đến tinh thần của cuốn tiểu thuyết trước đó, đặc biệt là qua sự kế thừa giấc mơ và ý chí của Florentyna từ người cha Abel. Nhưng ngay cả khi chưa đọc Hai Số Phận, người đọc cũng sẽ nắm được cốt truyện của Đứa Con Gái Hoang Đàng. Jeffrey Archer không hổ danh là một trong những nhà văn có tài kể chuyện hay nhất. Kết cấu cuốn tiểu thuyết chặt chẽ, đầy ắp các tình tiết, những chi tiết nhắc lại và những chi tiết mở rộng được sắp xếp mượt mà để độc giả mải cuốn theo chúng. Và rồi khi đang mải mê như thế, Jeffrey Archer sẽ tạo ra những cú rẽ khiến người ta không thể không sửng sốt, bất ngờ, cảm thán nhưng không thể ngừng đọc. Theo dõi từng trang Đứa Con Gái Hoang Đàng là theo dõi từng bước chân của Florentyna Rosnovski. Khi Florentyna còn bé, cô từng có một chú gấu bông Franklin D. Roosevelt - cựu Tổng thống Mỹ, bập bẹ từ đầu tiên là “Tổng tống” (“Tổng thống” - cô bé lúc này vẫn phát âm chưa rõ). Và rồi khi lớn lên, cô muốn trở thành chú gấu bông đó, trở thành một Tổng thống. Jeffrey Archer dành nhiều bút lực để miêu tả cuộc đời của Florentyna từ lúc mới sinh ra, trở thành thiếu nữ, cho đến ngày cô theo đuổi giấc mơ trở thành Tổng thống. Vẫn là một nhân vật giàu ý chí và nghị lực, nhưng khác với câu chuyện của cha mình là Abel, câu chuyện của Florentyna mang dáng dấp của nữ quyền - nơi giới tính không quyết định ý chí và sức mạnh của người mang một giấc mơ lớn. Ở Florentyna, độc giả thấy hình ảnh của những “bà đầm thép” như Margaret Thatcher - cựu Thủ tướng Anh hay Indira Gandhi - cựu Thủ tướng Ấn Độ… nhưng đồng thời vẫn khá gần gũi. Không chỉ có những giấc mơ lớn cùng ý chí đáng ngưỡng mộ, Đứa Con Gái Hoang Đàng còn mang đến những mảnh ghép khác của cuộc đời Florentyna. Đó là mái ấm gia đình đầy vững chãi - dù không thể tránh được những lúc bất đồng, đó là sự thấu hiểu và chắp cánh của một cô gia sư tận tụy. Và tình bạn - bắt đầu từ tranh đua, rồi trở thành sẻ chia hỗ trợ; dĩ nhiên không thể thiếu tình yêu - điều đã khiến Florentyna thăng hoa, thậm chí đau khổ, nhưng chưa bao giờ ngừng hạnh phúc. *** “Tổng thống Hoa Kỳ.” Cô gái nhắc lại. “Ba có thể nghĩ ra một lí do đáng giá hơn cho việc tự làm mình phá sản đấy.” Người cha vừa nói vừa tháo chiếc gọng kính nửa vầng trăng trên đầu mũi và nhìn chăm chú cô con gái từ phía trên tờ báo đang đọc. “Ba đừng phi lý vậy chứ. Tổng thống Roosevelt đã chứng minh với chúng ta rằng không có sự cống hiến nào vĩ đại hơn việc phục vụ cộng đồng đó thôi.” “Điều duy nhất mà Roosevelt đã chứng minh là...” Người cha cất lời, rồi ông ngừng lại và quay trở về với tờ báo của mình khi nhận ra cô con gái có thể nghĩ lời nhận xét của ông là đùa giỡn. Cô gái tiếp tục câu chuyện bởi rất muốn biết điều gì đang diễn ra trong đầu cha mình. “Con nhận thấy là mọi việc sẽ vô nghĩa nếu con theo đuổi những đam mê như thế mà không được ba ủng hộ. Vấn đề giới tính của con đã thừa đủ rắc rối mà không cần thêm sự bất lợi bởi việc có xuất thân là người Ba Lan đâu.” Tờ báo ngăn giữa người cha và cô con gái đột ngột bị hạ xuống. “Đừng bao giờ nói một cách khinh thường như vậy về người Ba Lan.” Ông nói. “Lịch sử đã chứng minh chúng ta là một dân tộc đáng tự hào với những con người chưa bao giờ nuốt lời. Ba của ta từng là một Nam tước...” “Vâng, con biết. Đó cũng là ông nội của con còn gì, nhưng ông làm gì có ở đây để giúp con trở thành Tổng thống.” “Điều đó lại càng đáng tiếc hơn” cha cô thở dài, “bởi vì ông chắc chắn sẽ trở thành một nhà lãnh đạo tuyệt vời cho cộng đồng chúng ta.” “Thế sao cháu gái ông lại không nên làm điều đó cơ chứ?” “Chẳng tại sao cả.” Abel nói và nhìn xoáy vào đôi mắt màu xám kim loại của đứa con độc nhất. “Vậy thì ba à, ba sẽ ủng hộ con chứ? Bởi vì con không hi vọng thành công nếu không có sự hỗ trợ tài chính của ba.” Người cha lưỡng lự đôi chút trước khi trả lời. Ông đặt gọng kính lên mũi và chậm rãi gập tờ Chicago Tribune1 lại. “Ba sẽ có một thỏa thuận với con, con yêu xét cho cùng thì chính trị cũng chính là những chuyện như vậy. Nếu kết quả của cuộc bầu cử cơ sở tại New Hampshire chuyển sang hướng có lợi, cha sẽ ủng hộ con hết khả năng. Ngược lại, con phải dẹp bỏ ngay ý tưởng đó đi.” “Ba định nghĩa hướng có lợi là thế nào?” Ngay lập tức cô con gái đáp lời. Một lần nữa, người đàn ông lại do dự, cân nhắc những lời nói của mình. “Nếu con thắng cuộc bầu cử cơ sở, hoặc giành được hơn 30% số phiếu bầu, ba sẽ đi với con đến vòng bầu chọn nội bộ Đảng cho vị trí ứng viên Tổng thống, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc ba sẽ khánh kiệt.” Cô gái thả lỏng người lần đầu tiên trong suốt cuộc nói chuyện. “Cảm ơn ba. Con không đòi hỏi gì hơn thế được nữa.” “Không, tất nhiên là không rồi” ông đáp lại. “Giờ thì ba có thể quay lại với việc tìm hiểu xem làm thế nào mà The Cubs2 lại có thể để thua trận thứ bảy trong mùa giải bởi The Tigers3 được chưa?” “Họ là đội yếu nhất, không còn nghi ngờ gì nữa, với cái kết quả thua tận 9-3.” “Quý cô trẻ tuổi à, con có thể cho rằng mình biết một, hai điều gì đó về chính trị, nhưng ba có thể khẳng định với con là con chẳng biết chút gì về bóng chày cả.” người đàn ông nói trong khi mẹ cô gái bước vào phòng. Ông quay thân hình nặng nề của mình về phía vợ. “Con gái chúng ta muốn chạy đua vị trí Tổng thống Hoa Kỳ đấy. Em thấy điều đó thế nào?” Cô gái ngẩng lên nhìn mẹ, háo hức đợi câu trả lời. “Em sẽ nói cho anh điều em nghĩ nhé” người mẹ trả lời. “Em nghĩ là đã quá giờ đi ngủ của con bé rồi, và đấy là lỗi của anh vì đã cho phép nó thức khuya như vậy.” Abel nhìn đồng hồ. “Em nói đúng.” Ông thở dài. “Về giường ngủ thôi, bé con.” Cô gái đến bên cạnh cha, hôn lên má ông và thì thầm. “Con cảm ơn ba.” Ánh mắt người đàn ông dõi theo bước chân của cô con gái mười một tuổi lúc cô bé rời khỏi phòng và ông nhận thấy những ngón tay trên bàn tay phải của cô đang nắm lại với nhau, tạo thành một nắm đấm nhỏ và chặt, một điều mà cô bé luôn làm khi tức giận hoặc quyết tâm. Ông tin rằng cô đang có cả hai cảm xúc đó lúc này, nhưng ông biết là sẽ vô ích nếu cố gắng giải thích cho Zaphia – người vợ của mình – rằng đứa con duy nhất của họ không phải người tầm thường. Abel lâu nay đã từ bỏ cố gắng làm cho vợ có cùng đam mê với mình, và ít nhất hãy cảm ơn Chúa là bà ấy cũng không can thiệp sâu vào sở thích của con gái họ. Ông quay lại với tin tức về đội bóng Chicago Cubs cùng thất bại của họ ở mùa giải này, và phải thừa nhận đánh giá của con gái ông có lẽ là đúng trong chủ đề này. Florentyna Rosnovski không đề cập đến cuộc đối thoại ngày hôm đó thêm một lần nào nữa trong suốt hai mươi hai năm sau, nhưng khi cô nhắc lại chuyện này, cô cho rằng cha mình sẽ thực hiện phần của ông trong thỏa thuận giữa họ. Xét cho cùng, như cách ông luôn nhắc nhở cô, người Ba Lan là một dân tộc đáng tự hào với những con người chưa bao giờ nuốt lời. Mời các bạn đón đọc Đứa Con Gái Hoang Đàng của tác giả Jeffrey Archer.
Hai Đời Chồng
Quảng Ninh trời trở lạnh, tôi đi con xe máy cà tàng về đến sân nhà mà toàn thân cũng run như cầy sấy. Vừa bước đến cửa đã nghe tiếng mẹ tôi rít lên: - Hôm nào cũng như hôm nào, đi đĩ hay sao mà khuya khoắt giờ này mới về, tiền tháng này có tăng được xu nào không mà bày đặt đi sớm về khuya? Tôi mím chặt môi, những câu chửi từ một người mẹ sao tàn nhẫn như mũi kim đâm vào tim mà dù đã quen thuộc tôi vẫn không khỏi xót xa. Mẹ thấy tôi không nói, đập mạnh chén trà xuống dưới bàn ném cả chùm chìa khoá vào mặt tôi rồi dậm chân thình thịch bước lên cầu thang. Tôi đứng nhìn mẹ đi khuất sau mới dám đóng cửa nhẹ nhàng sau đó bước xuống bếp. Trong bếp lạnh tanh, chỉ có chút cơm nguội và vài ba con cá khô còn không được đạy lại cẩn thận. Nhìn vào thùng rác, lòng tôi khẽ nhói lên, xương gà, vài sợi miến rớt rơi cũng đủ hiểu hôm nay cả nhà có bữa ăn thịnh soạn thế nào. Sống mũi tôi cay cay, cầm bát cơm khô khốc mà nuốt cũng không trôi. Đột nhiên đằng sau có tiếng động nhẹ, vừa quay lại chợt thấy chị Linh cầm chiếc đùi gà luộc ấn vào bát cơm của tôi khẽ nói: - Ăn đi, chị giấu mãi mới không bị phát hiện đấy. Sao hôm nay về muộn thế? Chị Linh là chị gái ruột tôi, chị đang học đại học năm cuối, từ nhỏ đã được ba mẹ xem như bảo bối. Nhiều lúc tôi cũng rất ganh tỵ, cũng thường tự hỏi vì sao cùng là con mà chị được yêu thương, được đi học đại học, được sống như một cô công chúa còn tôi lại bị mẹ ghét đến vậy. Thế nhưng có nói thế nào cũng không thể phủ nhận rằng trong nhà này chỉ có chị là thương tôi. Trước kia bà nội còn ở đây, bà rất hay bênh tôi có điều bà và mẹ tôi khắc khẩu, sau một trận cãi vã lớn bà đã về quê sống. Chị Linh thấy tôi ngây người liền đẩy đẩy nhẹ vai tôi: - Này ăn đi chứ muộn quá rồi đấy hay định đợi đêm mới ăn? Tôi bật cười nhận lấy miếng đùi gà gặm khẽ hỏi lại: - Chị về từ lúc nào đấy? Lần này chị về lâu không? - Chị về từ trưa rồi mà xe hôm nay đi chậm quá hơn năm tiếng mới đến nhà, lần này về thực tập sáu tháng cơ. Mà sao em đi làm muộn thế? Đông khách lắm à? - Dạ vâng, trời trở lạnh mà nhà hàng lại mới có thêm món nướng lẩu nên đông lắm. - Làm gì thì làm nhớ chú ý giữ gìn sức khoẻ đấy. Chị lên phòng trước đây, ăn xong thì lên tắm rồi lên ngủ nhé. Tôi gật đầu, nhìn theo bước chị rồi nhanh chóng ăn vội phần cơm, rửa bát sau đó bước vào phòng tắm. Bình nóng lạnh được mẹ tôi quy định chỉ bật đến tám giờ tối, cũng may nước lúc này vẫn hơi ấm, tôi tắm vội rồi đi lên tầng. Bên trong phòng ngủ của ba mẹ có tiếng mẹ tôi cằn nhằn, chửi rủa. Dù đã quen nhưng sao hôm nay tâm trạng tôi lại có chút xót xa. Có lẽ trời lạnh, chút dư vị đầu đông khiến tôi yếu đuối đến vậy. Lên đến phòng chị Linh đã ngủ, tin nhắn của Thắng gửi cho từ tối tôi chưa kịp đọc lúc này mới mở ra. Thế nhưng khi vừa chạm tay vào mình hình điện thoại Thắng đã gọi, tôi vội mở cửa nhà vệ sinh bước vào, đầu dây bên kia trọng trầm ấm cất lên: - Em về đến nhà chưa? Xin lỗi em hôm nay anh có cuộc họp về muộn quá không đưa đón em được. Nghe giọng áy náy của Thắng tôi bật cười đáp: - Xin lỗi gì chứ, ai cũng có công việc mà, vả lại anh đừng coi em là trẻ con như vậy. Em cũng đi làm hai năm rồi có ít đâu. - Thì trong mắt anh lúc nào em cũng trẻ con mà, Phương! Anh nhớ em quá, cuối tháng này anh sẽ đứa em về ra mắt ba mẹ nhé. Câu nói cuối cùng của Thắng khiến tim tôi như ngừng lại, mặc dù yêu nhau cũng đã hơn một năm nay, vậy mà mỗi lần anh nói lời ngọt ngào tôi lại như đứng cả tim. Chỉ có điều, trong lòng tôi lại dấy lên một nỗi bất an mơ hồ, một sự tự ti mà dù Thắng đã nói rất nhiều lần tôi vẫn không thể xua tan đi được. Thấy tôi im lặng, anh lại cất lời: - Sao vậy? Em không nhớ anh hả? - Em… em có… - Vậy nói với anh rằng em nhớ anh đi. - Em… em nhớ anh. Thắng bật cười, điệu cười nghe thôi cũng thấy ấm áp trong cái tiết trời lạnh lẽo này. - Phương, xong dự án này anh rảnh hơn rất nhiều, anh tính cả rồi. Năm sau em hai mươi mốt tuổi rồi, cưới về rồi anh sẽ mở cho em một nhà hàng nho nhỏ, em nấu ăn ngon như vậy, nhất định nhà hàng sẽ thành công. Sống mũi tôi đột nhiên cay xè, hai mươi mốt tuổi còn quá trẻ để lấy chồng nhưng với một đứa như tôi lại cảm thấy quá đỗi bình thường. Thắng vẽ tương lai đẹp quá, đẹp đến mức tôi cũng muốn gạt bỏ mọi thứ mà sống một lần vì bản thân. Phải rồi, Thắng không chê tôi cớ sao tôi lại cứ tự ti, cớ sao lại cứ phải sợ hãi, bất an? Đây không phải lần đầu Thắng đề nghị đưa tôi về ra mắt người lớn, trước kia mỗi lần anh nói ra tôi đều từ chối vì chưa đủ can đảm, nhưng có lẽ đến giờ tôi đã nhận ra mình nên có một gia đình nhỏ riêng rồi. Đêm hôm ấy tôi và anh nói chuyện rất lâu, đến gần sáng khi chị Linh dậy đi vệ sinh tôi mới vội vàng tắt máy rồi đi ngủ. Vừa bước vào giường chị Linh đã cất tiếng: - Người yêu gọi à? - À… - Sao? Đến chị mà em cũng giấu nữa hả? Khai đi, hắn ta làm gì? Bao nhiêu tuổi? Yêu em gái của chị phải vượt qua được bài kiểm tra của chị đấy. Tôi cười gượng gạo nhìn chị không đáp, chị thấy vậy cũng không hỏi thêm gì mà kéo chăn bấu nhẹ tôi một phát. Suốt đêm ấy tôi không chợp mắt nổi, nghĩ đến việc ra mắt ba mẹ Thắng lại hồi hộp vô cùng. Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chị Linh cũng dậy đi nộp hồ sơ. Tôi vội vàng vệ sinh cá nhân rồi khoác chiếc áo mỏng đi xuống dưới. Bên phòng mẹ tôi có tiếng the thé cất lên: - Nấu ăn sáng cho cả nhà rồi đi đâu thì đi. Cả ngày đi hầu thiên hạ, chẳng được cái tích sự gì. Tôi không đáp xuống nấu một nồi bánh đa cua rồi lại tất tưởi lấy đồ đi làm. Khi vừa ra cổng chợt thấy Thắng bên kia đường chờ, thế nhưng không phải mình tôi nhìn thấy mà cả chị Linh cũng vừa hay bước ra. Thắng không để ý mà gọi tên tôi: - Phương! Chị Linh hơi dừng lại ở anh còn tôi đỏ mặt xấu hổ, dù sao nếu sau này lấy thì cũng phải biết nhưng lúc này tôi thật sự chưa đủ tự tin giới thiệu anh với gia đình. Tôi còn ngỡ chị Linh sẽ trêu tôi, thế nhưng không, chị hơi mỉm cười rồi bước lên con xe taxi đi thẳng. Thắng phóng xe lại gần đội chiếc mũ bảo hiểm lên đầu cho tôi khẽ hỏi: - Chị gái mà em hay nhắc đến đấy à? Mấy lần anh đến mà chưa gặp bao giờ nhỉ? - Chị ấy đi học đại học trên Hà Nội ít về, thôi đi đi không tí lại muộn giờ đấy anh. Thắng gật đầu, phóng chiếc xe thẳng đến nhà hàng của tôi làm rồi mới đến công ty. Tôi thay bộ quần áo rồi nhanh chóng bước vào trong. Công việc của tôi hằng ngày đều là dọn dẹp, đến trưa thì phụ bếp nấu nướng cho khách sau đó nghỉ một lát đến chiều lại tiếp tục như vậy. Nhà hàng này rất đông khách, lương cũng tương đối cao, tuy vất vả nhưng bù lại hàng tháng đều có thưởng cho nhân viên. Tôi vào lau lại cho sạch bàn ghế vừa nhìn ra tiết trời lạnh lẽo bỗng dưng tôi nghĩ đến Thắng, tôi và anh gặp nhau cũng ở nơi này, trong một lần anh cùng đối tác ăn cơm ở đây thế rồi không hiểu sao anh có số điện thoại của tôi mà gọi điện nhắn tin làm quen. Mãi sau này anh mới nói, khi anh đến nhìn thấy tôi đã như bị sét đánh không kìm được liền vội xin số từ cô bé nhân viên khác. Tôi cũng không hiểu sao anh thích tôi, tuy rằng tôi nhận thức được rằng mình cũng khá xinh xắn, thanh tú nhưng với một phó phòng nhân sự như anh... thực lòng mà nói tôi và anh có chút không tương xứng. Thắng tốt nghiệp đại học kinh tế Quốc Dân, nghe đâu bố anh làm bộ đội, mẹ anh làm giáo viên. Anh thực sự rất giỏi, ra trường mới chỉ ba năm đã được đề bạt lên phó phòng nhân sự. Trước kia khi mới yêu anh tôi rất tự ti, nhưng dần dần tôi nhận thấy việc bằng cấp cũng không quan trọng đối với anh, anh chưa bao giờ chê bai, coi thường tôi, thậm chí còn luôn động viên an ủi tôi rằng việc tôi bươn trải, đi làm sớm mà không học đại học không hề là con đường tồi tệ, xã hội hiện đại, nhiều người vẫn khởi nghiệp và giàu có mà không có bằng cấp. Mỗi lần anh nói vậy, tôi lại cảm thấy bản thân may mắn và tự tin hơn rất nhiều. Những ngày tiếp theo tôi vẫn đi sớm về khuya như vậy, mãi đến thứ hai tuần sau đó tôi được về sớm một hôm do có người thay ca của mình nên nhắn tin cho Thắng không cần đón. Thế nhưng khi chạy ra ngoài đã thấy anh chờ sẵn. Anh không đưa tôi thẳng về nhà mà lòng vòng vào một con hẻm nhỏ rồi đột nhiên ôm chặt lấy tôi khẽ thì thầm: - Phương, anh yêu em. Tôi nghe trong gió có mùi rượu hơi thoảng nhẹ, anh càng siết chặt, hơi thở có phần gấp gáp: - Mai anh đi công tác Đà Nẵng một tuần. Thực sự anh sợ nhớ em không chịu nổi mất. - Bình thường anh vẫn đi công tác đấy thôi, sao hôm nay lại yếu đuối thế? - Tôi vừa cười vừa vòng tay qua bờ ngực rắn chắc của anh Thắng cúi xuống, hôn lên môi tôi, gió rít từng cơn nhưng nụ hôn lại nóng bỏng khiến toàn thân tôi cũng không còn cảm nhận được hơi lạnh. Anh như điên như dại, đôi tay bất chợt mân mê luồn vào chiếc áo rồi chạm khẽ lên ngực tôi. Khi còn đang say đắm trong nụ hôn ngọt ngào, tôi chợt bừng tỉnh kéo tay anh ra lắp bắp: - Anh... nhỡ có người - Vậy... mình... mình đi nhà nghỉ nhé. Anh... anh muốn chúng ta là của nhau, đừng từ chối anh nữa được không? Đằng nào chúng mình cũng cưới nhau mà. Tôi nhìn ánh mắt cầu khẩn của Thắng, chợt thấy có lỗi, đấy là lần thứ en nờ anh đề nghị chuyện này. Có điều... lúc này đây bản thân tôi vẫn chưa đủ sẵn sàng cúi đầu áy náy đáp: - Em chưa sẵn sàng. - Sao lúc nào em cũng chưa sẵn sàng thế? Người ta yêu nhau còn chửa trước, đằng này chỉ là cho nhau thứ quý giá nhất, mai anh đi công tác cả tuần, chẳng lẽ em không chiều anh một chút được sao? Hay em không thực sự yêu anh? Không muốn lấy anh - Không phải, em chỉ muốn dành thứ tốt đẹp nhất đến đêm tân hôn. - Nếu thật sự yêu nhau, nếu thật sự xác định đến với nhau đêm nào chẳng là đêm tân hôn? Tôi ngước đôi mắt lên nhìn Thắng, trong một giây lát tưởng chừng mình sẽ mềm lòng cuối cùng tôi vẫn kiên định đáp: - Thắng! Em thực sự chưa đủ sẵn sàng, nếu thật sự yêu nhau thì chờ một chút cũng được mà đúng không anh? Thắng thở dài rồi nói: - Ừm! Lên xe đi anh đưa em về. Tôi biết anh còn chút giận tôi, suốt đoạn đường trên xe anh không nói với tôi thêm câu nào dù tôi hỏi anh rất nhiều, đến khi xuống xe anh cũng vội phóng đi luôn. Thực lòng tôi không trách anh, anh đã từng nói bọn trẻ giờ mười bảy mười tám đã đi nhà nghỉ ầm ầm, không phải tôi không có dục vọng, mà bởi tôi từng hứa với bà nội, hứa với bản thân rằng thứ quý giá nhất của đời con gái sẽ để dành trọn vẹn đêm tân hôn. Cả đêm ấy Thắng cũng không gọi cho tôi thêm cuộc nào, nhắn tin anh đã xem mà không trả lời. Tôi có chút buồn bã, trái tim lại khẽ nhói lên, anh là mối tình đầu của tôi, là người đàn ông duy nhất đối xử tốt với tôi liệu rằng tôi như vậy có cứng nhắc quá, liệu rằng tôi có sai hay không? Sáng hôm sau khi tôi vừa tỉnh dậy chợt thấy chị Linh không còn ở bên cạnh liền vội chạy xuống nhà. Có tiếng mẹ tôi oang oang cất lên: - Đấy ông xem, con Linh vừa đi thực tập là đã được sếp cho đi công tác, tôi nói rồi hai đứa con ông chỉ có con Linh là có tương lai thôi còn cái thứ báo cô kia thì làm được cái tích sự gì? Tôi không nghe được ba tôi trả lời cũng không muốn chấp mấy lời của mẹ mà kéo vội chiếc áo rồi xuống bếp nấu đồ ăn sáng. Cả ngày hôm ấy tôi như kẻ mất hồn chờ đợi một tin nhắn từ người yêu. Thế nhưng một giờ, hai giờ ba bốn giờ rồi đến một ngày, hai ngày, ba bốn ngày trôi qua Thắng vẫn không hề nhắn tin cho tôi. Dù biết bản thân nên giữ sĩ diện nhưng tôi vẫn không kìm được mà mỗi ngày đều đặn nhắn hỏi thăm anh. Vậy nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng, im lặng đến bản thân tôi cũng cảm thấy bất an mơ hồ. Trước kia khi tôi từ chối chuyện ấy anh cũng chưa từng lạnh nhạt với tôi như bây giờ, tôi đã cố tự nhủ là do anh bận nhưng những suy nghĩ rối ren cứ hiển hiện lên trong đầu. Thế nhưng cũng may cuối tuần Thắng gọi điện cho tôi, anh nói cả tuần nay anh bận dự án với đối tác nên không liên lạc được. Giọng anh hồ hởi như chưa từng có chuyện gì khiến tôi cũng cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Buổi tối hôm ấy Thắng lại đón tôi về nhà, còn mua cho tôi chút đồ ăn sau đó chở tôi về nhà. Có điều không hiểu sao tôi cứ thấy anh có chút khác khác mà không thể hiểu khác ở đâu. Những ngày tiếp theo Thắng bận bịu với công việc, tôi cũng vậy. Cuối tháng tôi nhận lương, định cùng anh đi ăn một bữa nhưng anh họp nên tôi lại trở về nhà. Vừa vào đến nơi mẹ tôi đã ngồi trên ghế bóng gió với ba tôi: - Cũng cuối tháng rồi ông nhỉ, tiền điện tiền nước hết cả triệu bạc, rồi ăn uống chi tiêu... Tôi hiểu ý mẹ, rút tập phong bì đưa cho bà nói nhỏ: - Tiền đóng góp tháng này của con, với lại tháng này con được thưởng cao hơn một chút nên con biếu ba mẹ một triệu, tuy ít... Khi còn chưa nói dứt lời mẹ tôi đã rít lên: - Biếu thì cũng vào phần ăn của chị, nghe biếu mà cứ như tôi bòn rút tiền ý nhỉ. Tôi sợ hãi nhìn mẹ, cứ tưởng tháng này dư thêm chút tiền thưởng biếu bà bà sẽ vui không ngờ lại nổi giận như vậy. Ba tôi thấy thế liền xua xua tay: - Thôi, bà cứ nghiêm trọng hoá vấn đề lên làm gì? Muộn rồi để nó vào ăn cơm. - Tôi nói không thiên hạ lại bảo tôi thế nọ thế kia... - Thiên hạ nào nói bà vậy chứ, bà cứ tự nghĩ tự suy diễn thế. Thôi con vào ăn cơm dọn dẹp đi Mẹ tôi không thèm nhìn, cầm một triệu với chiếc phong bì nhét vào túi rồi bỏ lên gác. Tôi khẽ thở dài, ăn uống tắm táp xong lên tầng nằm vật ra. Chị Linh hôm nay chưa về, tôi nằm chợt thấy tủi thân đến đau lòng. Rốt cuộc là tại sao mẹ luôn như vậy với tôi, cùng là con sao mẹ lại ghét bỏ tôi đến thế? Từ nhỏ mẹ chưa từng ôm tôi, chưa từng một lần nói mẹ yêu tôi, mỗi lần chị Linh sà vào lòng mẹ đều vuốt ve mái tóc chị, còn tôi tại sao mẹ lại đẩy ra xa? Đến lớn lên rồi tôi vẫn không hiểu, tôi đã làm gì sai với mẹ, rốt cuộc tôi có phải máu mủ ruột thịt mà mẹ sinh ra hay không? Sống mũi tôi cay xè nhưng rồi lại chẳng thể rơi nổi một giọt nước mắt nào, có lẽ khi còn nhỏ đã khóc quá nhiều, giờ đây tôi không còn thể rơi nước mắt vì những chuyện này nữa rồi. Càng ở đây càng ngột ngạt, tôi càng muốn được thoát khỏi căn nhà này, muốn được vẫy vùng. Những ngày tiếp theo Thắng vẫn chưa hết bận, cả ngày gần như anh không nhắn cho tôi một cái tin. Nỗi bất an trong lòng càng lúc càng lớn, mong muốn được cùng anh đường đường chính chính nên vợ nên chồng để ra khỏi căn nhà của chính mình cũng càng mãnh liệt. Thế nhưng tôi không thấy anh nhắc thêm gì đến việc ra mắt ba mẹ anh vào cuối tháng nữa, hỏi thì năm lần bảy lượt anh gạt đi nói rằng anh chưa sắp xếp được thời gian. Tôi tuy không học hành cao, nhưng không phải quá ngốc mà không nhận ra dường như sau lần từ chối của mình Thắng lạnh nhạt với tôi rất nhiều. Sau vài lần như vậy, cuối cùng tôi quyết định gặp anh để nói, lần này không còn như mọi khi, tôi vừa đề nghị anh liền nói: - Em muốn được gặp ba mẹ anh lắm à? Trước kia anh tưởng em ngại gặp họ chứ? - Không phải muốn hay không, mà anh nói cưới em thì cũng nên để em ra mắt chứ anh. Trước kia là do em chưa sẵn sàng nhưng giờ em sẵn sàng rồi. Thắng nhìn tôi rất lâu, anh đẹp trai thế này, giỏi giang thế này... tôi thực sự rất sợ mất anh. Tôi sợ rằng nếu cứ kéo dài tình cảm này sẽ bị nguội lạnh mất. Thắng cúi xuống khuấy li cafe rồi đáp: - Được, vậy em chuẩn bị đi, thứ bảy anh sẽ đưa em về nhà. Nói rồi Thắng chở tôi ra ngoài, trời tối, anh lại đưa tôi vào hẻm nhỏ. Lần này anh không đụng chạm mà nói luôn: - Anh muốn chúng ta là của nhau được chứ? Tôi nhìn anh, nếu tôi từ chối anh thêm lần nữa liệu anh có chán tôi không? Tôi thực sự rất sợ, tôi đã muốn gật đầu, đã muốn chiều anh, vậy mà giây phút cuối cùng tôi vẫn khẽ lắc. Thắng không nói gì chỉ cười nhạt kêu tôi lên xe chở tôi về nhà. Gương mặt anh không chút cảm xúc khiến tôi chênh vênh vô cùng. Không! Nhất định anh không phải là kẻ chỉ biết tình dục, nhất định anh yêu tôi là thật nếu không anh đã không chịu đưa tôi về ra mắt. Nghĩ vậy tôi cũng thấy lòng dễ chịu hơn. Sáng thứ bảy, tôi xin nghỉ việc một ngày, vì là nhân viên mẫn cán nên tất nhiên chủ cũng không làm khó dễ. Tôi mặc bộ quần áo sơ mi, trang điểm nhẹ nhàng rồi khoác thêm chiếc áo khoác cho đỡ lạnh. Vừa định bước ra cửa chị Linh liền hỏi: - Hôm nay em không đi làm mà đi đâu hả? Tôi nhìn chị Linh, mấy lần chị bắt gặp tôi với Thắng nên cũng không muốn giấu nữa mà đáp: - Hôm nay em về ra mắt người yêu. Chị Linh hơi khựng lại, đôi lông mày cong vút chau lại nhưng rồi chị bật cười nói: - Nhanh thế cơ à? Vậy mà không nói gì với cả nhà nhỉ? - Từ từ em sẽ nói mà, thôi em đi đây nha. Chị Linh gật đầu, xua tay ra hiệu tôi mau đi. Hôm nay Thắng không đón tôi, tôi tự bắt một chiếc xe ôm đến hàng hoa quả sạch mua một giỏ thật bắt mắt rồi theo địa chỉ đến nhà anh. Nhà Thắng ở trung tâm thành phố, cách nhà tôi không xa nhưng nhộn nhịp và sầm uất hơn rất nhiều. Thắng chờ tôi sẵn bên ngoài đầu ngõ rồi dẫn tôi vào, anh không nói gì nhiều chỉ đi trước, lần đầu tiên ra mắt thật khiến tôi hồi hộp đến nghẹt thở. Thế nhưng mấy lần trước Thắng đều nói ba mẹ anh rất hiền nên tôi cũng đỡ lo. Nhà Thắng không quá to nhưng sạch sẽ, đồ đạc lại bày trí rất đẹp. Tôi cầm giỏ hoa quả tháo giày rồi bước vào trong, ba mẹ anh ngồi trên ghế, vẻ mặt rất nghiêm trang, nghiêm trang đến mức tôi chào lớn họ cũng không đáp. Thắng nhìn ba mẹ rồi nói: - Dạ, đây là Phương, bạn con ạ. Ba anh kéo cặp kính lên, nhìn tôi chằm chằm, còn mẹ anh lạnh nhạt cầm tách trà hừ nhẹ một tiếng. Trong trí tưởng tượng của tôi ba mẹ anh ắt hẳn rất dễ gần, vui vẻ, hay nói thế nhưng bỗng dưng gặp thái độ này... tôi hụt hẫng như rơi từ trên tầng mây thứ mười tám xuống. Tôi khẽ đặt giỏ hoa quả lên bàn nhỏ nhẹ: - Dạ, lần đầu cháu đến cháu có chút hoa quả... Còn chưa kịp đặt lên bàn mẹ anh đã hắng giọng nói: - Ngồi đi Tôi hơi giật mình, buông vội giỏ hoa quả rồi ngồi xuống trước mặt bà. - Nghe nói cháu là người yêu thằng Thắng? - Dạ vâng thưa bác - Năm nay bao nhiêu tuổi? - Dạ cháu gần hai mốt tuổi ạ. - Không đi học đại học? Câu hỏi của mẹ Thắng khiến tôi đột nhiên lạnh toát người, chuyện không bằng cấp vốn dĩ tôi tưởng gia đình anh không coi trọng... nhưng giọng điệu này của bà khiến tôi có chút sượng sùng. Bà lại tiếp lời: - Trả lời đi chứ? - Dạ vâng... cháu học xong cấp ba thì đi làm luôn thưa bác. - Làm gì? - Cháu... cháu làm nhân viên phục vụ nhà hàng. - Cháu biết thằng Thắng là thủ khoa đại học Kinh Tế Quốc Dân chứ? - Dạ... cháu biết ạ. - Phương này! Không phải nhà bác khó tính khắt khe gì, nhưng một đứa con gái học hết cấp ba, lại chỉ làm nhân viên phục vụ nhà hàng, cháu xem... cháu có điểm gì xứng với con bác? Tôi không ngờ mẹ anh có thể nói thẳng như vậy, thẳng đến mức tôi chơi vơi gần như không còn nói thêm gì. Bao nhiêu câu chuẩn bị ở nhà đến giờ bỗng ứ lại ở cổ, quay sang Thắng cầu cứu nhưng anh chỉ dửng dưng nhìn tôi. Mẹ anh thấy vậy khoé môi lại nhếch lên nói tiếp: - Gia đình bác không thể chấp nhận cháu làm dâu. - Nhưng... nhưng cháu với anh Thắng yêu nhau là thật bác ạ. - Cháu còn trẻ, cháu có thể tìm một người xứng với mình và thằng Thắng cũng vậy. - Bác à, thực sự bằng cấp nếu quan trọng lấy nhau rồi cháu có thể đi học một trường nào đó, giờ học đại học không còn khó... Mẹ Thắng đặt tách trà mạnh xuống bàn khiến nước văng tung toé giận dữ rít lên: - Phương! Đây là lần đầu bác gặp cháu, chưa nói đến bằng cấp thì cách nói chuyện của cháu bác cũng không thể chấp nhận được. - Cháu... cháu nói gì sai sao thưa bác? Mẹ Thắng nhìn tôi, gằn giọng: - Kể cả cháu học đại học, kể cả cháu có bằng cấp thì gia đình bác cũng không thể chấp nhận. Gia đình bác không chấp nhận một đứa con dâu đã có một đời chồng, huống hồ... lại còn làm nhân viên nhà hàng, một phó phòng nhân sự, cháu nghĩ sao có thể hợp được? Cháu có thể không nghĩ cho cháu nhưng cháu nên nghĩ đến thằng Thắng. Bác là mẹ nó, bác không muốn ác độc chia cắt tình yêu của con trai bác, nhưng nếu tình yêu đó là địa ngục là nấm mồ chôn tương lai của nó thì bằng giá nào bác cũng sẽ không chấp nhận. "Một đời chồng", tôi ù cả tai, hai tay bấu chặt vào quần lắp bắp nói: - Bác à... bác nghe cháu giải thích được không? Thực ra đúng là năm mười tám tuổi cháu có... Thế nhưng chưa kịp nói hết bà đã quay sang Thắng hất hàm: - Con đưa Phương về đi, mẹ mệt rồi. Tôi quay sang Thắng, bấu bấu tay anh, chuyện bằng cấp anh có thể không nói đỡ được, nhưng chuyện này tôi vẫn hi vọng anh sẽ giải thích giúp tôi. Mẹ Thắng thấy vậy liền ôm đầu, nhăn nhó gắt lên: - Thắng, con không nghe thấy mẹ nói gì hả? Con đưa bạn con về đi, hay con muốn mẹ tăng xông mà chết đây? Thắng kéo tôi dậy khẽ nói: - Phương mẹ anh mắc chứng rối loạn tiền đình, để anh đưa em về đã... Tôi nhìn Thắng, không thể ngờ rằng ngày ra mắt gia đình anh lại chóng vánh đến vậy, nhưng... điều quan trọng hơn... tôi chợt thấy bản thân thất vọng về anh vô cùng. Mẹ anh nói tôi sao cũng được, ba anh hiểu nhầm tôi thế nào cũng không sao, còn anh, từ đầu đến cuối anh chỉ ngồi yên như bù nhìn, những lời ngọt ngào anh từng nói với tôi khác gì gió thoảng mây trôi? Tôi hất tay Thắng, mím chặt môi cố giữ phép lịch sự tối thiểu chào ba mẹ anh rồi xin phép đi về. Bên ngoài trời đổ mưa, Thắng cũng không đuổi theo, tôi bật cười chua chát, trong tim như có hàng ngàn chiếc kim nhọn hót đâm vào. Mời các bạn đón đọc Hai Đời Chồng của tác giả Phạm Vũ Anh Thư.