Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Tử Tù

Tựa gốc: A Tale of two cities Phiên dịch: Thái Bìng Dương Bản dịch khác của Đăng Thư: Hai Kinh Thành Sách bảo Anh-Mỹ hiện nay có rất nhiều. Tuy nhiên ngoại trừ mốt số người có một trình độ Anh Văn khá, phần đông độc giả người Việt, nhất là giới học sinh, vẫn còn bở ngỡ, ngại ngùng khi đọc một cuốn tiểu thuyết hoặc một tờ báo Anh ngữ. Lý do chính là sự thiếu ngữ vựng và thành ngữ để có thể hiểu nghĩa một cách thấu đáo và mau chóng, Với dụng ý góp một phần nhỏ trong việc giải quyết vấn đề nói trên, chúng tôi cho ra đời loại sách song ngữ nầy. Chúng tôi chủ tâm dịch sát nghĩa để quí vị độc giả có thể đối chiếu một cách dể dàng bằng Việt văn và bản Anh văn. Tuy vậy để bản dịch có hành văn Việt Nam chúng tôi đã bỏ đi hoặc thêm vào một vài từ ngữ cần thiết. Những chuyện dịch về loại này, chúng tôi đều chọn những bản đã thu ngắn và dể đọc của những tác giả thuộc chương trình của ban trung học đệ nhị cấp để các bạn học sinh ban chuyên khoa có thể, với một quãng thời gian tương đối ngắn, có một khái niệm về những tác phẩm của các tác giả có trong chương trình học. Chúng tôi sẽ tiếp tục phiên dịch những chuyện hay của những nhà văn hiện kim Anh-Mỹ với mục đích cung cấp cho quí vị độc giả những tinh hoa văn chương nước ngoài. TÁC GIẢ   *** NGƯỜI CHẾT PHỤC SINH Một buổi chiều tháng mười một năm 1775 trong phòng giải lao của khách sạn “Hoàng Gia” ở Đa Vân có hai người khách: một người đàn ông trạc độ 60 tuổi, bận y phục màu xám, cách phục sức rất đứng đắn, trên đầu mang một mớ tóc giả ngắn, và một thiếu nữ trạc độ 17 tuổi vận y phục lữ hành, nàng người nhỏ và xinh xắn, mắt xanh, tóc vàng óng ánh. Người đàn ông là ông Lưu Kỳ, chủ ngân hàng có văn phòng ở Luân Đôn và Ba Lê hiện có rất nhiều khách hàng người Pháp. Người thiếu nữ là nàng Liễu Chi, sanh tại Pháp Quốc, mồ côi cả cha lẫn mẹ, trước đây đã từng học tại Anh Cát Lợi (England) dưới sự chỉ dẫn của ông Lưu Kỳ. Ông Lưu Kỳ nói: - Liễu Chi, sở dĩ bác bảo cháu tới đây là vì bác có câu chuyện đặc biệt quan trọng cần nói cho cháu rõ. - Dạ, bác đã bảo cháu là phải sẵn sàng chịu đựng mọi sự kink ngạc, cháu xin vâng lời, vậy bác cứ nói. - Câu chuyện này có liên quan tới ba cháu. Để bác kể lại từ đầu cho cháu nghe. Ba cháu trước đây là một bác sĩ Pháp nổi tiếng mà cũng là một khách hàng của bác ở Ba Lê. Ba cháu kết hôn với một thiếu nữ người Anh tức là má cháu, và như là cháu đã biết đấy, má cháu mất năm cháu mới lên hai. Trước khi qua đời, má cháu căn dặn rằng chỉ nên bảo cho cháu hay là ba cháu cũng đã quá cố. Thực ra thì ba cháu chưa chết, ba cháu chỉ bị giam cầm một cách oan ức tại Ba Lê mà thôi. Ngày ấy không ai biết đích xác ba cháu bị giam ở chỗ nào mà cũng chẳng nhận được tin tức gì về ba cháu cả, mãi đến bây giờ mới biết là ba cháu còn sống và đã được phóng thích sau 18 năm vòng lao lý. Tên của ba cháu chìm sâu vào trong sự lãng quên của người đời thì ngày nay, ba cháu lại xuất hiện. Chắc ba cháu đổi thay nhiều lắm, có lẽ đau ốm cũng nên. Hiện giờ ba cháu đang ở với người lão bộc tại Ba Lê và bác sắp đưa ba cháu trở về Anh Cát Lợi. Lúc này mà tính chuyện rửa hận để minh oan cho ba cháu thì chưa thể được, vừa vô ích mà lại còn nguy hiểm là đằng khác. Nhưng kìa Liễu Chi cháu làm sao đó? Từ nãy, nàng Liễu Chi càng nghe chuyện lại càng xúc động rồi ngất đi. Ông Lưu Kỳ vội gọi người tới vực nàng dậy và người nhũ mẫu của nàng là chị Bột liền chạy tới săn sóc nàng. Ông Lưu Kỳ để mặc người nhũ mẫu trông nom nàng và đi lo thu xếp cuộc hành trình ngày hôm sau. *** Review tama: Hơn một trăm năm sau khi cách mạng tư sản thành công, nước Anh bước vào thời đỉnh cao của cách mạng công nghiệp, trở nên bá chủ thế giới. Cùng lúc đó, bên kia biển hẹp, không khí cách mạng sục sôi rộng khắp, một thể chế già cỗi dần đi đến hồi kết, nước Pháp đang thay da đổi thịt. Giữa cơn tao loạn, người chết tái sinh từ lãng quên, mang theo nỗi ám ảnh trải khắp hai kinh thành - một câu chuyện sống động, một ví dụ xuất sắc thể hiện sự bất toàn trong nhân cách con người, và cũng chính vì lẽ đó, nó mô tả vẹn toàn bức tranh nhân loại. Có thể nói quyền thống trị là một yếu tố quan trọng bậc nhất định hình xã hội loài người. Theo bước tiến văn minh, chúng ta tạo ra vô số công cụ - mà thường hiện diện dưới vỏ bọc đạo lý, tư tưởng - để kiềm toả chính mình, bằng cách này hay cách khác, nhằm duy trì lợi ích của một thiểu số nắm giữ quyền lực. Đến thời điểm nhất định nào đó, khi thế cân bằng bị phá vỡ, cách mạng tất xảy ra. Cách mạng sinh ra bởi ý chí, và từ trong cách mạng, vỏ bọc bị xoá bỏ, bản chất nguyên thuỷ được hé lộ. Về điểm này, nữ công dân Defarge là sáng tạo tuyệt vời của Dickens. Ra đời từ hận thù và được cách mạng nuôi dưỡng, bà Defarge như một quả bom hai màu xanh đỏ, nhập nhằng giữa tình yêu nước và hận thù mù quáng. Bà ta đe doạ nổ tung bất kỳ lúc nào bà ta muốn, rồi cuối cùng cũng nổ, kéo theo nhiều cái chết khác. Defarge đại diện cho những gì u ám nhất của cuộc cách mạng, cho những điều không ai muốn xảy ra nhưng đã xảy ra theo những cách không ngờ nhất, cho bóng tối thẳm sâu trong tâm hồn con người. Nhưng chớ hiểu lầm, không phải toàn bộ là bi kịch. Với Dickens, ánh sáng và bóng tối luôn song hành. Nếu chết chóc thường trực quanh Defarge, thì Lucie toát lên hào quang cứu rỗi. Nếu hận thù kéo Defarge xa khỏi cõi người, biến bà ta thành cỗ máy giết chóc thì tình yêu của Lucie giúp cha cô vượt qua cơn loạn trí, trở lại làm người. Nếu Defage gieo nỗi kinh hoàng với mỗi đường len, thì bên ngoài nhà giam, Lucie ươm mầm hy vọng. Sự hiện diện của Lucie mang lại cân bằng đáng kể cho Hai kinh thành. Trước bản tính lương thiện của cô, quyền lực của Defarge dường như không thể thắng được, không phải bởi cái ác yếu kém, mà bởi lòng thiện tâm lan toả của Lucie. Sydney Carton, dù bất hạnh, nhưng là minh chứng rõ nhất ảnh hưởng của Lucie. Dưới con mắt của Dickens, một người chỉ sống ở London thời điểm mấy chục năm sau ngày phá ngục Bastille, những nguyên nhân sâu xa của cách mạng Pháp và triều Bourbon mục ruỗng không được thể hiện trọn vẹn trong Hai kinh thành. Tuy vậy, nhờ điều đó, chúng ta không bị chính trị làm sao nhãng, không quá sa vào nghị trường rối ren, mà vẫn cảm nhận được tinh thần cách mạng trong từng trang sách. Điều này, đến lượt nó, tạo thuận lợi giúp cho ta nhìn nhận toàn diện bức tranh tự sự cùng chân dung nhân vật. Do đó, những người khó tính nhất vẫn có thể có phần cảm thông với Defarge và cả những người dễ tính nhất có thể không đồng tình với Lucie ở vài điểm nhỏ nhặt. Sự bất toàn đẹp như vậy đấy. Charles Dickens đã có lý khi nói Hai kinh thành là áng văn hay nhất của ông. Tác phẩm được viết rất khéo léo, không kém phần khôn ngoan và hài hước. Muôn tầng ý nghĩa được truyền đạt thành thạo đồng thời Hai kinh thành xây dựng hàng loạt nhân vật hành xử kỳ quặc nhưng cũng rất mực hợp lý và thông qua những nhân vật này, ý chí tác giả len lỏi khắp câu chuyện. Ở Hai kinh thành, Dickens không chủ tâm viết một tiểu thuyết dài dòng, khó hiểu hay phức tạp. Nó đơn giản là tiếng nói cuối đời của ông được cô đọng trên giấy, vì thế, muốn hiểu Dickens, nhất định phải đọc Hai kinh thành. Ngày nay, lúc văn học đã đi đến hậu hiện đại, không phải ngẫu nhiên mà Hai kinh thành vẫn giữ được sức hút của nó. Vào những ngày trống trải, khi đã quá chán ngấy thế giới lung lay mơ hồ, quá đau đầu vì thời gian phi tuyến tính, quá hụt hẫng với những kết mở ngày càng phổ biến, hay đơn giản quá mệt mỏi để suy nghĩ, hãy quay về văn học kinh điển như Hai kinh thành. Vào những ngày ấy, hãy đọc Hai kinh thành không phải vì kinh điển, mà vì sức cám dỗ trên bề mặt con chữ của nó; hãy để dòng tự sự thuần tuý là động lực duy nhất thúc đẩy ta lật từ trang này sang trang khác, cho đến hết mới thôi. *** Charles John Huffam Dickens sinh năm 1812 tại Portsmouth, Anh quốc. Ngay từ khi còn nhỏ ông đã phải làm việc vất vả để giúp gia đình. Cuộc sống khổ cực trong nhà máy và những khu phố nghèo đã giúp ông hình thành tư tưởng cho nhiều tác phẩm nổi tiếng về sau. Được xem là tiểu thuyết gia người Anh nổi tiếng nhất thời nữ hoàng Victoria, sự nghiệp văn chương của Dickens đầy ắp các tác phẩm, các bài báo và rất nhiều buổi diễn thuyết thành công, trong đó tiêu biểu là Oliver Twist (tiểu thuyết, 1837-1839); Nicholas Nickleby (tiểu thuyết, 1838-1839); Bài ca lễ Giáng sinh (truyện vừa, 1843); David Copperfield (tiểu thuyết, 1849-1850); Kỳ vọng vĩ đại (tiểu thuyết, 1860-1861)... Nhiều cuốn sách của ông đã được chuyển thể thành phim, kịch, nhạc kịch, hoạt hình... và đến nay các phiên bản mới vẫn tiếp tục ra đời. Dickens mất năm 1870 tại hạt Kent, Anh quốc. Một số tác phẩm của tác giả Charles Dickens được dịch, xuất bản tại Việt Nam: Hồn ma đêm giáng sinh (Bài Ca Mừng Giáng Sinh) Chuyện Vặt Ông Pickwick Oliver Twist David Copperfield Hai Tòa Tháp (Người Tử Tù) Những Kỳ Vọng Lớn Lao ... *** Mời các bạn đón đọc Người Tử Tù của tác gải Charles Dickens.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Sài Gòn Năm Xưa - Vương Hồng Sển
Dựa vào cuốn Ký ức lục khảo về lịch sử Sài Gòn và vùng phụ cận của học giả Trương Vĩnh Ký viết năm 1885 (tức là sau 25 năm Sài Gòn bị thực dân Pháp chiếm đóng), Vương Hồng Sển đã... kể tiếp, nhắc lại những sự biến đổi từ thuở đó cho đến ngày Sài Gòn trở về với dân Việt.... Ở đây, tác giả chú trọng nhiều nhất là những đoạn sử vụn vặt buổi giao thời: Pháp - Nam - Chà - Chệc chung đụng, những chuyện Tây đến, Tây đi, những việc chưa ai nói rõ ràng, tác giả đã được nghe đến tận tai hoặc thấy tận mắt, nhiều đoạn do hiểu biết riêng, lắm đoạn nhờ các cố lão thuật lại.  Đọc Sài Gòn năm xưa giúp chúng ta hiểu biết thêm về lịch sử sự hình thành và phát triển của Hòn ngọc viễn đông mà ngày nay được mang tên - Thành phố Hồ Chí Minh   *** Vương Hồng Sển (1902-1996), bút hiệu Anh Vương, Vân Đường, Đạt Cổ Trai, là một nhà văn hóa, học giả, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng. Ông được xem là người có hiểu biết sâu rộng về miền Nam và rất được kính trọng trong giới sử học và khảo cổ ở Việt Nam. Khi chết ông đã hiến tặng ngôi nhà (Vân đường phủ) và toàn bộ sưu tập đồ cổ của mình cho Nhà nước Việt Nam (tổng cộng 849 cổ vật khác nhau) với hy vọng thành lập một bảo tàng mang tên ông. Năm 2003, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định xếp hạng di tích lịch sử cấp thành phố ngôi nhà này (địa chỉ: số 9/1 đường Nguyễn Thiện Thuật, phường 14, Quận Bình Thạnh). Khi qua đời, ông Vương Hồng Sển đã hiến tặng lại những cổ vật, mà cả đời ông sưu tập được, cho thành phố và mong muốn những di vật này sẽ được trưng bày trong ngôi nhà cổ của ông, trong sự bài trí rất tinh tế và hài hòa với sự cổ xưa của ngôi nhà được biến thành "Nhà lưu niệm Vương Hồng Sển" [6]. Tuy nhiên, từ năm 1996, Sở Văn hóa Thông tin TP Hồ Chí Minh, với sự đồng ý của Ủy ban Nhân dân Thành phố đã di dời các cổ vật về quản lý và trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Thành phố, và tại Thư viện Khoa học tổng hợp. **** Bởi thấy tôi là người trong Nam, đầu pha hai thứ tóc, làm việc trong một cơ quan chuyên môn, thêm có tánh ham chơi cổ ngoạn, tom góp giấy má cũ đầy nhà, rồi tiếng đồn truyền ra: tôi sành sỏi chuyện xưa, tôi giỏi kê cứu điển cổ, báo hại phần đông văn hữu Bắc và Trung, ông nào quen một đôi lần, gặp nhau, hết năm ba câu lấy lệ, làm gì cũng hỏi vặn tôi về:   Mời các bạn đón đọc Sài Gòn Năm Xưa của tác giả Vương Hồng Sển.
Đồng Quê - Phi Vân
Đề tài nông thôn trong sáng tác của các nhà văn không phải là điều gì mới lạ. Tuy nhiên, để khắc họa được một bức tranh quê với đủ các diện mạo, màu sắc của nó không phải là điều dễ dàng. Có thể nói, phần lớn chủ đề tác phẩm của các nhà văn miền Nam *** Đây là những bài báo. Bởi thế cách hành-văn cũng như nội-dung đều có tính-cách “nhật-trình”. Lối văn gần như cẩu-thả. Câu-chuyện có vẻ nhất-thời. Nhưng tôi cứ để nguyên cho nhà xuất-bản. Nghĩ rằng: hồi ấy tôi đã để ngòi bút chạy theo dòng ý-tưởng, dầu khéo dầu vụng, cách thuật chuyện cũng được cái đặc-điểm là ghi tâm-trạng tôi lúc viết. Hình-ảnh những nhân-vật trong chuyện - những người đã cùng tôi sống chung - ngày nay đã mờ trong ký-ức. Kể lại một quãng đời phải chăng là sống lại với ngày qua? Có lẽ thế. Nhưng tôi muốn xa hơn: Vẽ một bức tranh phong-tục và tập-quán. Thật là quá cao-vọng. Tự thấy còn thấp-kém, nhưng tôi vẫn cố-gắng. Đây là những bài đầu, tôi ước-mong sẽ có thể viết thêm. Nếu chưa hiến được độc-giả những bài đúng theo nguyên-tắc tôi đã tự vạch, thì xin hẹn lại ở những bài sau. PHI-VÂN *** Phi Vân (1917-1977) là một nhà báo, nhà văn chuyên viết thể loại truyện vừa và tiểu thuyết mang sâu đậm dấu ấn Nam bộ trước 1954. Phi Vân tên thật là Lâm Thế Nhơn, sinh năm 1917 trong một gia đình trung lưu ở thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Ông chuyên viết phóng sự, truyện ngắn cho những tờ báo, tạp chí ở miền Nam trước đây như Tiếng Chuông, Dân Chúng, Tiếng Dân (của cụ Huỳnh Thúc Kháng) và làm chủ bút tờ Thủ Đô thời báo. Ông có lối viết linh hoạt, gọn gàng, pha chút hóm hỉnh, làm cho cho độc giả khóc, cười theo từng cảnh đời, từng nhân vật. Bối cảnh trong các tác phẩm của ông là làng quê Nam bộ xa xôi hẻo lánh với những người nông dân chất phác, cục mịch sống với tập tục cổ hủ, lạc hậu và cuộc sống cực nhọc tối tăm. *** Chỗ hứng-thú của quyển phỏng-sự ấy là nó cho ta thấy những phong-tục cũ-kỹ ở thôn-quê, những tin-tưởng dị-đoan của hạng bình dân lao-động. Nó cho ta thấy những cuộc giao-tiếp, xung-đột giữa bọn điền-chủ và tá-điền, những tâm-hồn mộc-mạc trong bọn nầy và những oai-quyền thế-lực của bọn kia. Đọc qua, chúng ta thấy mình len-lỏi chốn đồng quê, đang mục-kích những cuộc tụ-họp chơi-bời, những cảnh cần-lao rộn-rịp. Thỉnh-thoảng như đưa lại giọng hò trầm bổng trong đám gặt, như phất lại mùi thơm thanh-đạm của lúa vàng. Tác-giả lại còn dắt ta đi quanh co trong những sông rạch ở vùng Bạc-liêu, Cà-mau và sau mấy ngày dạo chơi mệt-mỏi, tác-giả dừng lại cho ta thấy một cảnh-sắc êm-đềm: trên bờ sông Trẹm, lững-lờ mấy làn khói trắng bốc lên và dưới hàng dừa xanh tươi, một thiếu-phụ ẵm con đứng đợi chồng về, lâu-lâu đuổi bầy gà đang bới trên giồng rau cải. Hoặc giữa đêm trường vắng-vẻ, chiếc thuyền xuôi mái theo Rạch Bần, tác-giả mời ta trông lên bờ sau hàng dừa nước âm-u, một vài ánh đèn le-lói; nghe từ xa đưa lại tiếng chày giã gạo, tiếng chó sủa đêm… Cho được kể lại rất tài tình những điều quan-sát rất kỹ-càng, làm cho ta như nghe, như thấy, lúc cảm, lúc vui, tất phải nhờ một ngọn bút tỉ-mỉ mà linh-hoạt, một giọng văn thành thật mà hữu-duyên, một cách viết tự nhiên, không rườm-rà mà đầy đủ. Ông Phi-Vân đã gồm cả mấy điều kiện ấy: Quyển phỏng-sự của ông như một tấn tuồng gay-cấn đặt trong cảnh trí xanh tươi; hay là - muốn nói cho rõ hơn - nó là một “nông kịch” chia ra nhiều lớp: có hồi hộp, có vui cười và và sau rốt kết cuộc rất thương-tâm, khiến cho độc-giả phải ngậm-ngùi cảm động. Có lẽ đó là bài luân-lý sâu sắc mà tác-giả không muốn chỉ cho rõ-ràng, để ta tự hiểu ngầm mà thương hại cho hạng nông dân lao-lực. Họ chỉ sống một cuộc đời mộc-mạc, siêng-năng; nhưng mãn kiếp phải làm nạn nhân cho bọn giàu sang thế-lực. Mà cả thảy chúng ta, theo như tác-giả nói lại là “nạn nhân của một thời-kỳ”; cho nên đối với mọi người ta nên để lòng thương hại và thứ dung, và nên cầu nguyện cho chốn đồng quê được chút vui tươi yên ổn… (Trích lục một đoạn bài diễn-văn của giáo-sư Nguyễn-văn-Kiết chủ-tịch của Hội Khuyến-học Cần-thơ đọc trong dịp lễ phát giải thưởng văn-chương Thủ-khoa Nghĩa năm 1943).   Mời các bạn đón đọc Đồng Quê của tác giả Phi Vân.
Doña Bárbara - Rómulo Gallegos
Rómulo Gallegos, tác giả của Doña Bárbara, là nhà viết tiểu thuyết nổi tiếng không những ở Venezuela – Tổ quốc ông – mà cả ở Trung và Nam Mỹ. Người đọc và nhà phê bình ở nhiều nước đều nhiệt liệt hoan nghênh tác phẩm của ông. Sinh năm 1884 và lớn lên trong một gia đình nghèo, Rómulo Gallegos, sau khi học xong trung học, phải đi làm “nghề gõ đầu trẻ” để kiếm sống. Với tư tưởng tiến bộ và nhiệt tình gắn bó với vận mệnh của đất nước, ông tham gia hoạt động chính trị rất sớm chống chế độ quân phiệt, độc tài Gómez đã bán rẻ quyền lợi kinh tế quốc gia cho tư bản nước ngoài và đàn áp tàn bạo nhân dân. Bắt đầu viết văn thật sự khi đã hơn ba mươi lăm tuổi, ông cho xuất bản tác phẩm đầu tay Reinaldo Solar (1920). Ngoài nhiều truyện ngắn, các tác phẩm khác gồm có Cây leo (1925), Doña Bárbara (1929), Canaima (1935), Cantaclaro (1934), Anh da đen khốn khổ (1937), Cũng trên mảnh đất ấy (1943), Cọng rơm trong gió (1952), Nổi loạn (1946). Đấu tranh không mệt mỏi cho tương lai tươi sáng của đất nước bằng cả hành động chính trị và tác phẩm văn học có tính chiến đấu sâu sắc, Rómulo Gallegos được bầu làm tổng thống Venezuela năm 1948, nhưng chẳng bao lâu ông bị các phe phái phản động lật đổ trong một cuộc đảo chính quân sự. Ông mất năm 1960. Đánh giá sáng tác văn học của Rómulo Gallegos, nhân dân nước ông và người đọc nước ngoài đặc biệt ca ngợi tính chiến đấu trong tiểu thuyết của ông nhằm cải tạo xã hội, giải phóng con người, chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt. Nổi bật hơn cả là Doña Bárbara được in lại rất nhiều lần ở Tây bán cầu, được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước thuộc các lục địa khác. Thảo nguyên bao la của Venezuela ngót sáu mươi năm trước đây, “Những dòng sông rộng không tưới cho đất trồng trọt, cũng không đưa đẩy thuyền bè ngược xuôi”, với những cuộc săn dồn bò hoang, săn cá sấu, bắt ba ba, tìm mật ong, đốt phá đồng cỏ trên phạm vi rộng cũng như những buổi liên hoan nhảy múa vào mùa chia đàn súc vật được miêu tả thật đặc sắc dưới ngòi bút của ông. Con người thảo nguyên cường tráng, chất phác, dũng cảm mà thiên nhiên hoang vu tạo nên và rèn luyện được dựng lên rất sắc sảo trong tác phẩm của ông. Tố cáo chế độ thống trị bất công, lên án bọn cầm quyền tàn bạo, vạch trần bọn ăn cướp Bắc Mỹ vừa trơ trẽn vừa nham hiểm trên đất Venezuela, tác giả tỏ ra là một nhà văn hiện thực sâu sắc, gây ấn tượng mạnh đối với người đọc. Nhưng đấu tranh bằng con đường nào để đất nước ông “sẽ có ngày trù phú và vui tươi” thì Rómulo Gallegos không vạch ra được. Con mụ địa chủ ác bá Doña Bárbara, tham lam cực kỳ, lại tự nguyện từ bỏ trang trại mà nó tạo nên bằng mọi thủ đoạn và đam mê hơn cả tình yêu say đắm, rồi lưu lạc nơi đâu chẳng ai biết nữa. Thằng cướp đất, cướp súc vật Bắc Mỹ cũng tự nguyện rời bỏ cơ ngơi nó chiếm được và đi kiếm ăn nơi khác khi thấy láng giềng của nó giăng dây thép cương quyết bảo vệ đất đai và súc vật của mình. Đó là do ông bị hạn chế trong quan điểm đấu tranh giai cấp gay gắt trong thời đại ngày nay để giải phóng xã hội, cải tạo con người, là ảnh hưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng – những hạn chế rất dễ hiểu vào những năm 1925-1930. Dù sao, với những ưu điểm nổi bật của nó, nhà nghiên cứu văn học Đức Ulrich Leo đã đánh giá Doña Bárbara “là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất, vừa khỏe khoắn vừa mềm mại, vừa rộng lớn vừa thâm thúy, vừa hùng tráng vừa trữ tình… có thể so sánh với bất kỳ tác phẩm văn học hiện đại nào.” NHÀ XUẤT BẢN TỔNG HỢP PHÚ KHÁNH ... Mời các bạn đón đọc Doña Bárbara của tác giả Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn.
Kiếm Sống - Macxim Gorki
Macxim Gorki (1864 – 1934) là nhà văn vĩ đại của giai cấp vô sản, là ngọn cờ đầu của văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc đời hoạt động văn học gần nửa thế kỷ, ông đã để lại một sự nghiệp chói lọi, một di sản sáng tác khổng lồ, nó là niềm tự hào của nhân dân Nga và của cả loài người tiến bộ. Truyện ngắn Macxim Gorki có sự kết hợp hài hoà yếu tố lãng mạn và hiện thực. Ở đó có sự gắn bó máu thịt của ông với nhân dân và đất nước qua các giai đoạn cách mạng. Trong truyện ngắn Macxim Gorki bộc lộ niềm khao khát tự do và ca ngợi ý chí hào hùng, bất khuất của con người, phơi bày tính chất tàn bạo của chế độ xã hội – chính trị trước cách mạng, cái chế độ giết chết mọi cái có sức sống trong con người; quá trình trăn trở, tự ý thức đầy gian khổ của các tầng lớp “dưới đáy” để vươn tới sự đổi đời; đề cao và thi vị hoá lao động: phê phán lối sống và tâm lý ươn hèn của tầng lớp trí thức tiểu tư sản và tư sản; những truyện ngắn triết lý, những truyện có tính chất tự thuật… Danh tiếng của Gorky như giọng văn học duy nhất từ những tầng lớp đáy xã hội và như một người ủng hộ nhiệt thành cho cuộc cải cách xã hội, chính trị và văn hoá Nga (tới năm 1899, ông công khai liên kết với phong trào Dân chủ xã hội Mác xít) khiến ông trở nên nổi tiếng trong cả giới trí thức và số lượng ngày càng gia tăng các công nhân "có ý thức". Ở trung tâm của mọi tác phẩm của ông là một niềm tin ở giá trị vốn có và khả năng của con người (личность, lichnost'). Ông đưa ra các cá nhân đầy sức sống, nhận thức về phẩm giá tự nhiên của họ, và có cảm hứng từ nhiệt tình và ý chí của họ, những người chống lại các điều kiện sống đang ngày càng tồi tệ đi quanh mình. Tuy nhiên, cả các tác phẩm cũng như những bức thư của ông cho thấy một "con người không ngừng nghỉ" (một người thường xem xét lại mình) đấu tranh để giải quyết những tình cảm về đức tin và thái độ hoài nghi trái ngược bên trong, tình yêu cuộc sống và sự phẫn nỗ với sự tầm thường và nhỏ mọn của thế giới con người. Mời các bạn đón đọc Kiếm Sống của tác giả Macxim Gorki.