Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Từ Bỏ Thế Giới Vàng - Jack London

Nếu hỏi: “Văn chương ảnh hưởng thế nào đến một con người?”, c'u trả lời xác đáng phải là: “Vô cùng lớn lao!”. Đó là khi người đọc và nh'n vật biểu trưng cho cái tôi của nhà văn đồng cảm tuyệt đối. Điều đó thay đổi hoàn toàn cuộc đời, cái nhìn của người đọc. Tôi tìm thấy nó trong tác phẩm Từ Bỏ Thế Giới Vàng của Jack London. Mọi việc vẫn bắt đầu từ tủ sách thần thánh của ba. Đó là ngày tôi bỏ qua các cuốn tiểu thuyết của Jack London để đọc Người Đẹp Ngủ Mê của Kawabata. Ba tôi không cấm nhưng sớm cảnh báo: – Con có thể đủ sức đọc hết nhưng chưa đủ kiến thức để hiểu nội dung của nó! Ở cái tuổi đang lớn với đầu óc chứa đầy ương bướng nổi loạn, tôi kiên trì đọc Người Đẹp Ngủ Mê rồi không sao thấu nổi. Ba mới chìa cho tôi cuốn Từ Bỏ Thế Giới Vàng: – Đ'y là cuộc đời thực mà con nên đọc qua! Chất ương bướng ở tuổi mười ba đã ngấm đòn sau khi đầu hàng trước tính dục, bản ngã trong thế giới Người Đẹp Ngủ Mê của Kawabata, tôi ngoan ngoãn bước vào nơi hoàn toàn thay đổi cái nhìn, ý thức về cuộc đời. Nó ảnh hưởng đến sau, sau này và mãi mãi. Đến lúc viết những dòng này, thành một con người hoàn toàn đứng trên đôi ch'n của mình, từ bỏ được “thế giới vàng” phù phiếm của mình, tôi viết với sự biết ơn s'u sắc tác giả Jack London đã sáng tạo ra Ánh Sáng Ban Ngày, nh'n vật trung t'm của tiểu thuyết. Và hơn hết, tôi nhận ra từ phúc phần ở tủ sách thần thánh của ba mình. Từ Bỏ Thế Giới Vàng với nh'n vật trung t'm Ánh Sáng Ban Ngày. Anh ta có tên hẳn hoi là Elam Harnish, nhưng đã từ l'u không còn ai buồn nhớ chơi đến cái tên đó. Họ gọi anh là Ánh Sáng Ban Ngày, do thói quen sôi động và đem sự sôi động đến mọi người chung quanh, đặc biệt ưa giật chăn những kẻ ngủ lười với bài hát “Trời đã sáng bét ra rồi kìa, mấy ông bạn đi tìm linh cảm ở sông Stewart? Trời đã sáng bét rồi kìa! Trời đã sáng bét rồi kìa! Trời đã sáng bét rồi kìa!”. Tiểu thuyết vẽ ra thế giới những kẻ đào vàng ở miền cực. Nơi lý lẽ thuộc về kẻ mạnh và nòng súng nếu anh may mắn bóp cò nhanh hơn đối phương. Ở đó đức tin về Chúa chỉ mang tính tượng trưng, nơi quá xa xăm mà ánh sáng công lý vươn tới được, chỉ những gã đàn ông liều lĩnh, khẳng khái ưa đem mạng mình đánh cược với Mẹ Thiên Nhiên mới sống nổi. Và Ánh Sáng Ban Ngày là kẻ liều lĩnh, khẳng khái, can đảm nhất trong số đó. Anh ta lăn lộn qua mọi khó khăn, đánh liều khai phá những nơi mà mọi tay can đảm đều chần chừ. Hầu như khi đến tận cùng giới hạn, anh luôn tìm mọi cách vượt qua bằng sự khéo léo, sức mạnh cơ bắp, khối óc minh mẫn và sự liều lĩnh đã thành nết. Sau khi trúng được vố to nhất trong những năm đằng đẵng “đãi tuyết tìm vàng”, Ánh Sáng Ban Ngày quyết định từ bỏ vùng cực, quay về thế giới văn minh để làm ăn. “Một anh ngố rừng”, một “con hưu sừng tấm đầu đàn thô lậu”….và hàng loạt những từ ngữ ví von khác mà người đọc có thể nghĩ ra để ví von, Ánh Sáng Ban Ngày trúng ngay quả lừa đau đớn mất sạch cả gia tài. Anh, kẻ đến Mẹ Thiên Nhiên cũng phải chào thua để nhường đường nhất định không cam chịu bị những tay thành thị ẻo lả trong các bộ độ vét lừa lọc, đã dùng đúng cách d'n đào vàng lấy lại tất cả những gì thuộc về mình. Vố đau này khiến Ánh Sáng Ban Ngày hoàn toàn trở nên thay đổi t'm tính. Anh nhận ra những kẻ thành thị làm ăn toàn là các tay chơi bạc bịp, mà trong việc chơi bài, bịp bợm thì phải bị xử lý thích đáng kèm theo thái độ khinh khi rõ ràng. Điều này khác hẳn thế giới vùng cực hoang sơ của anh, các tay đào vàng chơi bài với sự thẳng thắn và lòng tin tuyệt đối vào nhau. Lắm lúc tiền cược lên đến vài chục ngàn đô-la nhưng ký nợ chỉ vẻn vẹn là mẫu giấy nhỏ, thậm chí chẳng hề viết tên con nợ. Nhưng chưa từng có ai quỵt nhau hay gian dối bao giờ. Ánh Sáng Ban Ngày là tay đánh bạc gan dạ và ngay thẳng. Một khi thế giới văn minh chơi bịp thì anh sẽ dùng chính lối đó để đối xử lại. Anh về San Francisco, mau chóng trở thành con cá mập hung hãn trong thế giới kinh doanh, bằng chiến thuật đơn giản là xé xác để mau chóng th'u tóm và leo lên đỉnh cao của Thế Giới Vàng Thực Sự. Thế giới hoang sơ vùng cực không làm anh chai sạn nhưng thế giới văn minh thị thành đã khiến bản chất của anh từ từ chuyển sang khô cứng, độc ác và hầu như vô cảm. May thay, một cô nàng nhỏ nhắn và mỏng manh tới mức Ánh Sáng Ban Ngày có thể dùng tay kéo dài và thắt nút đã 'm thầm, len lỏi một cách vô hình vào cuộc đời anh. Dede, người phụ nữ từ chối yêu anh chỉ vì anh quá giàu. Người phụ nữ chỉ muốn có một đức ông chồng bình thường, ngày này qua ngày khác sống bên cạnh mình để cùng chia sự nghèo khó trong hạnh phúc. Người phụ nữ ấy cứu rỗi hoàn toàn cuộc đời tưởng chừng như hoang phế của Ánh Sáng Ban Ngày, thổi bùng những bản tính tươi đẹp bị cuộc sống thị thành chôn vùi, trả lại cho “niềm tự hào của vùng cực” một gã đàn ông từng khiến Mẹ Thiên Nhiên phải nghiêng mình cúi chào. Một gã đàn ông mà nàng đã yêu say đắm từ ngày đầu tiên vì chất đàn ông luôn tràn ra bên ngoài. Ánh Sáng Ban Ngày từ bỏ cái Thế Giới Vàng tài chính của mình, cùng Dede về vùng đồi đã mua từ trước sống cuộc đời nông d'n yên bình với chăn nuôi, trồng trọt. Ngày trước chỉ cần hất tay, anh đã mua được cả San Francisco, còn b'y giờ muốn mua một bộ dụng cụ nhỏ thì anh phải canh nhặt từng quả trứng gà để tích góp, đôi khi đi sửa chữa giúp hàng xóm hòng có đủ tiền. Đ'y là giai đoạn hạnh phúc nhất trong đời Ánh Sáng Ban Ngày. Nhưng cuộc sống vẫn luôn muốn thử thách lòng tham con người, ít ra là lòng tham ở kẻ từ đỉnh cao giàu sang trở thành gã nông d'n tầm thường ở Ánh Sáng Ban Ngày. Lần nọ có một đoạn ống nước bị vỡ ở triền đồi, Ánh Sáng Ban Ngày vô tình phát hiện ra mạch vàng trong lúc sửa chữa. Bản tính một tay đào vàng khét tiếng trỗi dậy, anh lần mò, đào xới, cuối cùng thấy được vàng nổi lên tận ch'n cỏ. Đúng là một Thế Giới Vàng đích thực. Tuy nhiên, Ánh Sáng Ban Ngày đã đánh đổi quá nhiều để có được tình yêu bình dị đến tầm thường từ Dede. Và cô quan trọng với anh tới mức chẳng có Thế Giới Vàng nào đủ sức cám dỗ. Anh lặng lẽ sửa chữa đoạn ống nước, trở về và nói với người vợ yêu quý của mình rằng: “Em biết b'y giờ anh đang tính gì không? Anh vừa nảy ra một kế hoạch. Anh sẽ mua bạch đàn về trồng trên khắp bờ dốc đó. Những c'y bạch đàn sẽ giữ cho đất khỏi lở nữa. Anh sẽ trồng bạch đàn sát vào nhau như eo ấy, đến độ một con thỏ đói cũng khó lòng mà len qua được. Khi những c'y bạch đàn đã bám rễ rồi thì trời cũng không thể làm lở đất ở đó được nữa.”. Đúng, anh đã chôn, đã chối bỏ Thế Giới Vàng đó để giữ những điều bình dị bên cạnh mình. ….. Tôi đã sống thời tuổi trẻ sôi động như Ánh Sáng Ban Ngày, điên cuồng khám phá cuộc sống thực tại nghiệt ngã giống như anh, đạp lên những kẻ muốn đạp mình xuống bằng sức mạnh của cơ bắp lẫn trí óc của một thằng đàn ông đúng nghĩa. Tuy chưa đến được đỉnh Thế Giới Vàng như Ánh Sáng Ban Ngày nhưng nhờ có anh, tôi sớm nhận ra những thứ phù phiếm. Ở tuổi ba mươi, chưa đủ già nhưng không quá trẻ, tôi chọn cái kết cuộc đời của mình như Ánh Sáng Ban Ngày, từ bỏ mọi thế giới vàng cám dỗ để làm một anh nông d'n tầm thường. Với tôi, Từ Bỏ Thế Giới Vàng của Jack London không đơn thuần là một cuốn tiểu thuyết. Ở đó, tôi đọc được những bài học, cách hành xử của một người đàn ông ch'n chính với cuộc đời. Ở đó, có tình yêu bao la, có sự thức tỉnh hòng chối bỏ. Và ở đó, là cuộc đời tôi muốn sống và đang sống với niềm hạnh phúc vô bờ bến dù thiếu một nàng Dede mỏng manh và nhỏ bé đến tầm thường. Xin gởi cho những t'm hồn yêu sách ch'n chính. Nếu bạn muốn tìm một quyển sách có đủ chất phiêu lưu, biến chuyển t'm lý, hiện thực xã hội, tình yêu ch'n thành, giác ngộ và thức tỉnh, Từ Bỏ Thế Giới Vàng của Jack London nhất định không làm bạn thất vọng. Và nếu bạn muốn biết đoạn đời sau của Ánh Sáng Ban Ngày sẽ hạnh phúc như thế nào, hãy lên với rừng núi của tôi, tôi luôn dành cho bạn chiếc ghế trang trọng nhất, và sẵn sàng kể cho bạn nghe Ánh Sáng Ban Ngày đã Sống-Yêu-Từ Bỏ như thế nào. *** Quán Tivoli đêm nay thật lặng lẽ. Có khoảng năm, sáu người đang tụ tập tại chiếc quầy rượu chạy dọc một bên căn phòng lớn làm bằng những thân gỗ ghép không được kín lắm. Phía bên kia căn phòng là một dãy bàn cờ bạc. Bàn tài xỉu không có ai cả. Ở bàn faro chỉ có độc một người đang chơi. Ở bàn rulet, con quay chẳng buồn hoạt động bởi vì anh chàng hồ lì đứng bên chiếc lò sưởi rực lửa đang mải tán gẫu với một thiếu nữ mắt đen, thân hình và vẻ mặt rất ưa nhìn, được mọi người tử Juneau đến Fort Yukon quen gọi la Mộng Trinh(1). Ở bàn xì phé có được ba người, nhưng họ chỉ chơi cò con vì hình như không có hứng. Trên sàn nhảy ở phía sau căn phòng lớn này chỉ có ba cặp đang nhảy một cách uể oải theo tiếng rền rĩ của chiếc dương cầm và chiếc vĩ cầm. Thật ra thị trấn Vùng Cực này không phải bị bỏ hoang, mà cư dân ở đây thì cũng chẳng phải nghèo tiền bạc. Những người đào vàng ở Lạch Da Hươu cũng như ở các vùng khác về phía tây đều đã trở về đây. Công việc đãi vàng trong mùa hạ vừa qua rất có kết quả, nên túi của họ đều nặng trĩu vừa vàng cục vừa vàng bụi. Vào thời gian này, người ta chưa biết đến sông Klondike(2), và những người thợ mỏ ở dọc theo sông Yukon(3) chưa biết cách đốt lửa cho đất mềm ra cho dễ đào. Bởi thế, về mùa đông, đám thợ mỏ nghỉ việc, quay về trú đông ở các trại lớn như thị trấn Vùng Cực này cho qua đêm dài Bắc Cực. Thì giờ rỗi rãi, túi lại rủng rinh tiền, nên họ thường đến các quán rượu tìm vui. Ấy thế mà đêm nay, quán Tivoli cứ như bị bỏ hoang. Ðứng bên lò sưởi, Mộng Trinh ngáp dài không thèm đưa tay che miệng, và nói với Charley Bates: - Nếu cứ cái điệu này mãi thì đến phải đi ngủ mất thôi. Mà có chuyện gì với cái trại này vậy nhỉ? Bộ mọi người chết hết rồi à? Bates chẳng buồn mở miệng trả lời, cứ lặng lẽ cuốn thuốc. Dan McDonald, chủ quán Tivoli kiêm chủ các sòng bạc ở đây, rầu rĩ băng ngang căn phòng trống trải, đến nhập bọn với hai người đang đứng bên lò sưởi. Mộng Trinh quay sang hỏi hắn: - Bộ có ai chết hay sao vậy? - Hình như thế. - Vậy thì có lẽ cả cái trại này chết hết rồi cũng nên. - cô gái nói với vẻ dứt khoát rồi lại ngáp dài. McDonald nhe răng cười, gật đầu, và mở miệng định nói thì cánh cửa cửa trước bỗng mở tung và một người chợt hiện ra trong ánh đèn. Ðưa tay lấy cây chổi con móc trong cửa, người mới đến phủi tuyết bám trên đôi giày da đanh kiểu thổ dân Bắc Mỹ và trên đôi vớ cao kiểu Ðức. Hẳn là anh ta trông cũng cao lớn nếu như ngay lúc đó không có anh chàng khổng lồ người Gia Nã Đại gốc Pháp từ phía quầy rượu bước lại nắm chặt lấy anh ta. - Kìa Ánh Sáng Ban Ngày! Lạy chúa, bọn này mong cậu đến mòn con mắt! - À, Louis, xin chào. Các cậu về lúc nào vậy? - Người mới đến đáp lại. - Nào, ta đi làm một ly đi, rồi cậu kể cho tớ nghe toàn bộ câu chuyện ở Lạc Khúc Xương nhé. Chà, quỷ tha ma bắt cậu đi, bắt tay cái nữa nào. Cái anh bạn đi với cậu đâu rồi? Tớ đang tìm hắn đây. Một người khổng lồ nữa từ phía quầy rượu cũng bước lại đưa tay ra bắt tay người mới đến. Anh chàng này tên Olaf Henderson, cũng là dân đào vàng chung với French Louis ở Lạch Khúc Xương. Cả hai đều là người to lớn nhất vùng, và mặc dù họ chỉ cao hơn người mới đến khoảng nửa cái đầu thôi, thế mà đứng giữa họ anh ta trong loắt choắt hẳn đi. - Ôi chào Olaf, tớ tìm cậu mãi đấy, hiểu không? - Người được gọi là Ánh Sáng Ban Ngày nói. - Ngày mai là sinh nhật của tớ, và tớ sẽ quật cho cậu ngã ngửa ra đấy, hiểu không? Cả Louis nữa, tớ cũng sẽ quật cho cậu ngã ngửa ra đấy, hiểu không? Cả Louis nữa, tớ cũng sẽ quật cho cậu ngã ngửa luôn, hiểu không? Nào, bây giờ đi uống với tớ một ly cái đã, rồi tớ sẽ cho các cậu biết. Người mới đến dường như đem theo cả hơi ấm tràn ngập căn phòng. Mộng Trinh kêu lên: - Ðúng là Ánh Sáng Ban Ngày rồi! Nàng là người đầu tiên nhận ra anh ngay khi anh vừa bước vào vùng sáng của căn phòng. Sự xuất hiện của Ánh Sáng Ban Ngày làm cho cả căn phòng hình như bỗng sáng và vui tươi hơn hẳn. Những người phục vụ trong quán tíu tít hẳn lên. Người ta cất cao giọng hát hơn. Có kẻ còn bật cười nữa. Nhịp luân vũ nhanh hẳn lên, và những cặp đang khiêu vũ, như lấy phải cái nhộn nhịp chung, cũng bắt đầu quay tít như thể họ đang bốc hứng. Ðã từ lâu mọi người đều biết rằng hễ ở đâu có Ánh Sáng Ban Ngày là ở đó không thể buồn nản được. Tại quầy rượu Ánh Sáng Ban Ngày xoay người lại thì thấy Mộng Trinh đứng cạnh lò sưởi đang nhìn anh với vẻ đón chào nồng nhiệt. - Kìa, Mộng Trinh, cô bạn cũ, - anh gọi. - Kìa, cả Charley nữa. Chuyện gì thế? Sao mặt mày lại ủ ê như người chết không có đất chôn vậy? Lại đây uống cái gì đi nào. Tất cả lại đây nào, hỡi những kẻ chết chưa có đất chôn kia, muốn uống gì thì cứ việc gọi. Nào, mọi người. Ðêm nay là đêm của tớ, và tớ sẽ làm chủ nó. Ngày mai tớ đã ba mươi tuổi, thế là già mất rồi. Ðây là giây phút cuối cùng của tuổi trẻ. Tất cả đã sẵn sàng cả rồi chứ? Nào, vô nào, vô. - Khoan đứng lên đã, Davis, - anh quay qua gọi với người chào faro, lúc này đang đẩy ghế ra sau dợm đứng lên. - Tớ muốn chơi với cậu một ván để xem tớ hoặc cậu ai sẽ phải trả tiền rượu cho mọi người ở đây nào. Móc trong túi áo khoác ra một gói vàng bụi nặng trịch, anh đặt nó vào số lớn. - Tớ đặt năm mươi đô-la trị giá bằng vàng bụi đây! - anh nói. Nhà cái bàn faro chia hai lá. Số lớn ăn. Nhà cái nguệch ngoạc số tiền thắng vào một mảnh giấy trong lúc người chung tiền cân một dúm vàng bụi tương đương với năm mươi đô là rồi trút nó vào bao của Ánh Sáng Ban Ngày. Lúc này điệu luân vũ đã chấm dứt. Ba cặp nhảy lúc nãy cùng với anh chàng nhạc công kéo vĩ cầm và anh chàng nhạc công chơi dương cầm theo nhau bước ra khỏi phòng rượu đúng lúc Ánh Sáng Ban Ngày quay lại và nhìn thấy họ. - Lại đây uống nào, mấy ông bạn, - anh ta kêu lên, - lại đây uống nào, và muốn kêu gì thì kêu. Ðêm nay là đêm của tớ, không phải lúc nào cũng có được Lại. đây uống nào, máy ông bạn cố tri, tớ nói thật đấy, vì đêm nay chính là đêm của tớ. - Một đêm chó đẻ - Charley Bates nói xen vào. - Ðúng đấy, con ạ - Ánh Sáng Ban Ngày vẫn cứ vui như không, - Một đêm chó đẻ, nhưng nó là đêm của ta, bởi vì ta là con sói đực già. Nghe ta tru đây này. Và anh cất tiếng tru thật to giống hệt như một con sói rừng xám cô độc đến nỗi Mộng Trinh phát run lên vội đưa hai ngón tay nút chặt lấy tai. Ngay lập tức Ánh Sáng Ban Ngày bế bổng nàng lên đưa vào sàn nhảy. Ba cặp nhảy lúc nãy cũng theo họ vào, rồi tất cả cùng quay cuồng theo điệu vũ xoay tròn ầm ĩ, của vùng Virginia. Ánh Sáng Ban Ngày là trung tâm của sự náo nhiệt ấy, là ngọn lửa hừng hực, đến đâu là châm chọc, cười đùa ầm ĩ đến đó, nên giúp họ thoát khỏi cái vùng lầy ủ ê đã dìm họ trước khi anh đến. Rất ít người biết rằng Ánh Sáng Ban Ngày tên thật là Elam Harnish, bởi lẽ ngay từ những ngày đầu tiên đi mở đất, người ta đã gọi anh bằng biệt hiệu đó vì thấy anh có thói quen vừa lôi bạn bè mình ra khỏi chăn êm nệm ấm vừa làu bàu là trời đã sáng bét ra rồi. Trong số những người tiên phong tiến vào vùng đất hoang ở vùng Bắc Cực xa xôi này thì anh được liệt vào hạng cố cựu nhất. Mặc dù cũng có những người đã đến vùng đất này sớm hơn anh như Ai May hoặc Jack Mc Question chẳng hạn, nhưng thường thì họ đến đây từ vùng Vịnh Hudson về phía đông băng ngang qua rặng Thạch Sơn. Còn anh đã dám vượt qua vùng đèo Chilcoot và Chilcat. Vào mùa xuân năm 1883, cách đây mười hai năm, dù lúc đó mới chỉ có mười tám tuổi anh đã cùng với năm người bạn của mình vượt qua đèo Chilcoot. Ðến mùa thu thì anh trở về, năm người bạn trước kia nay chỉ còn có một. Bốn người kia đã bỏ mạng trong cái bất trắc của vùng đất bát ngát lạnh lẽo chưa được ghi lên bản đồ ấy. Từ đó cho đến suốt mười hai năm sau, Elam Harnish vẫn tiếp tục mò mẫm tìm vàng trong cảnh tối tăm của vùng Bắc Cực. Thật chưa có ai mò mẫm tìm vàng một cách kiên trì và bướng bỉnh như anh. Anh đã lớn lên với vùng đất này và chẳng biết đến vùng đất nào khác nữa. Ðối với anh, nền văn minh cũng chỉ giống như một giấc mơ đã qua lâu lắm rồi, và những trại Bốn Mươi Dặm hoặc trại thị trấn Vùng Cực thực sự là những đô thị lớn. Không phải anh chỉ lớn lên với vùng đất này mà thôi, mà còn giúp xây dựng nó nữa, dù rằng hiện giờ nó cũng vẫn còn hoang sơ lắm. Anh đã tạo nên lịch sử và địa dư của vùng đất; những kẻ đến sau anh chỉ cần viết về những chuyến đi của anh và vẽ lại những con đường mòn mà chính chân anh đã vạch ra là đủ. Thường thì anh hùng ít sùng bái anh hùng, vậy mà những con người sinh sống ở vùng đất mới này vẫn xem anh là một anh hùng già dặn, mặc dù anh vẫn còn rất trẻ. Về thời gian, anh đã đến đây trước họ. Về công việc, anh đã làm nhiều hơn họ. Về sức dẻo dai bền bỉ, mọi người đều công nhận là anh có thể giết chết được cả những tay sừng sỏ nhất. Hơn nữa, họ còn coi anh như một kẻ táo gan, ngay thẳng và thuộc giống người da trắng. Ở bất cứ vùng đất nào mà cuộc đời chỉ là một trò may rủi không đáng bận tâm thì con người thường tự nhiên quay sang cờ bạc để tiêu khiển và nghỉ ngơi. Ở dọc sông Yukon, bọn đàn ông đặt cả cuộc đời họ vào canh bạc ăn vàng. Rồi những ai lấy được vàng từ lòng đất lại đem vàng ra đánh bạc với nhau. Elam Harnish cũng không phải là một ngoại lệ bởi vì anh đáng mặt đàn ông nhất trong bọn đàn ông, và trong người anh, cái bản năng thôi thúc chơi canh bạc của cuộc đời rất mạnh mẽ. Chính môi trường sống của anh đã quyết định hình thức của canh bạc ấy. Anh sinh ra trong một nông trại ở Iowa, sau theo bố di cư đến Ðông Oregon và sống suốt qua ng đời niên thiếu ở cái vùng mà người ta kéo tới tìm vàng đó. Bởi vậy, anh đã chẳng học được gì ngoài cách chịu đấm ăn xôi. Trong canh bạc này dĩ nhiên lòng can đảm và sức bền bỉ là cần thiết, nhưng các con bài lại do Thần Số Mệnh chia. Cứ từ tốn mà đánh thì cũng kiếm được chút đỉnh, nhưng chút đỉnh thì lại chẳng bỏ công. Bởi vậy người ta thường đánh lớn. Elam Harnish thích đánh tất cả để có thể thắng được tất cả và một khi đã không thắng được tất cả thì dù có thắng lớn đến đâu chăng nữa anh cũng vẫn tự coi mình là người thua cuộc. Trong suốt mười hai năm đào vàng vừa qua trên vùng Sông Yukon, Elam Harnish tự coi mình là người thất bại. Thật ra chỉ mới mùa hè trước đây thôi, ở Lạch Da Hươu anh đã đào được hai mươi ngàn đô-la, chưa kể con số tương đương như vậy vẫn còn nằm trong lòng đất. Nhưng anh như anh đã tuyên bố, đó cũng chỉ như gỡ lại tiền đặt cuộc trước mà thôi. Anh đã đặt cuộc cuộc đời mình trong mười hai năm trời, và cái số bốn mươi ngàn đô-la vừa gỡ được đó chẳng đủ để đền bù. Nó chỉ đủ để trả một chầu nhậu và nhảy nhót ở quán Tivoli, vi rút chút đỉnh cho qua mùa đông ở trại thị trấn Vùng Cực và mua lương thực dự trữ cho năm tới là sạch bách. Sau khi điệu vũ xoay tròn chấm dứt, Elam Harnish lại hò hét mời mọi người ra uống rượu. Cứ mỗi ly rượu là một đô-la. Một ounce(4) vàng đổi được mươi sáu đô-la. Trong phòng có ba chục người tất cả đều nhận lời mời uống rượu của Elam Harnish, và cứ sau một bản nhạc họ lại được mời uống. Ðêm nay là đêm của anh, nên anh không cho phép ai trả tiền cho bất kỳ món gì. Thật ra Elam Harnish không phải là một kẻ ưa rượu. Ðối với anh Whisky chẳng có ý nghĩa gì cả. Anh quá mạnh mẽ, quá tràn trề sinh lực; con người anh, trí óc anh hoàn toàn không có tâm sự nặng nề gì để buộc anh phải trở thành con sâu rượu. Anh có thể đi cả năm trời không uống một giọt cà phê rồi đấy. Chỉ có điều là anh thích sống hợp quần, mà ở khu vực sông Yukon cách duy nhất để biểu lộ tính hợp quần của mình là kéo nhau vào quán uống rượu, nên Elam Harnish cũng đành phải làm như vậy. Ngay từ khi anh còn là một thanh niên sống ở các vùng mỏ vàng miền Tây, người ta đã làm như thế, nên bây giờ anh cho đó là cách đúng đắn nhất để thể hiện tính hợp quần của mình. Thật ra ngoài cách đó anh chẳng còn biết cách nào nữa cả. Dù quần áo cũng chẳng có gì khác với những người chung quanh, trông anh vẫn nổi bật hẳn lên. Chân đi giày da hươu mềm có đính hạt theo kiểu thổ dân, quần yếm bình thường, áo khoác may bằng vỏ chăn. Anh đeo găng tay da dài hở ngón trong có lót len, và bên hông lủng lẳng một đai da quàng qua eo và vài theo kiểu dân miền sông Yukon. Ðầu đội nón lông thú, vành nón cuộn lên để hở những dây cột nón lòng thòng. Gương mặt xương xương, hơi dài, má hóp làm lưỡng quyền nhô hẳn lên trông giống gương mặt của thổ dân trong vùng. Người ta lại càng có lên tưởng ấy khi nhìn vào làn da cháy nắng và đôi mắt đen láy tinh tường của anh, mặc dù rõ ràng là cái màu da đồng ấy và đôi mắt ấy chỉ người da trắng mới có. Anh trông già hơn tuổi ba mươi. Thế nhưng nếu anh không có những vết nhăn và cạo râu sạch sẽ thì trông anh không có những vết nhăn và cạo râu sạch sẽ thì trông anh lại rất "trẻ con". Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào nét mặt mà thôi thì khó có thể nói được tại sao trông anh lại già trước tuổi như vậy. Thực ra cái vẻ già trước tuổi như vậy. Thực ra cái vẻ già trước tuổi ấy toát ra từ toàn bộ con người anh. Từ những điều anh đã phải chu đựng để sinh tồn, và nó vượt quá sức chịu đựng của một con người. Anh đã sống một cuộc đời trần trụi và mã anh liệt, và người ta có thể thấy được phần nào cái cuộc đời ấy âm ỉ trong cặp mắt, vang lên trong giọng nói hoặc như thủ thỉ thốt lên từ đôi môi anh. Mà môi anh thì mỏng, lúc nào cũng mím chặt che khuất hàm răng trắng đều. Tuy nhiên đôi môi trông cũng đỡ khe khắt hơn nhờ ở hai bên mép cong lên làm cho chúng có một vẻ dịu dàng, cũng giống hệt như những nếp nhăn ở hai bên khoé mắt đã làm cho khuôn mặt anh lúc nào trông cũng có vẻ như đang cười cợt. Những nét duyên dáng ấy đã giúp anh thoát được vẻ cay độc, kết quả tất yếu của một đời sống man dã. Mũi anh gầy, cánh mũi nở thanh trông rất hợp với khuôn mặt. Trán anh hẹp nhưng cao và đều đặn. Mái tóc anh cũng giống như tóc thổ dân, bởi vì nó thẳng và đen nhánh, óng ánh cái màu tóc mà chỉ những con người khó mạnh mới có được. - Ánh Sáng Ban Ngày bộ tính đốt sáng cả đêm nay chắc? - McDonald nói rồi cười to giữa những tiếng la ó hò reo của đám người đang nhảy nhót. Olaf Henderson nói thêm: - Mà nó cũng dám làm như thế đấy, Louis nhỉ? Nói có chúa, chắc chắn là nó làm như thế đấy - French Louis đáp - Ðúng là một cậu con trai làm bằng vàng ròng. McDonald nói chen vào: - Rồi khi đến Ngày Ðãi Vàng cuối cùng, lúc Ðức chúa Trời xúc một xẻng cát bỏ vào trong nồi đãi, hẳn là sẽ thấy có cả nó lẫn ở trong ấy đấy. - Nói nghe hay lắm - Olaf Henderson vừa lẩm bẩm vừa nhìn tay chủ sòng bài một cách thán phục… - Ừ, hay thật - French Louis cũng khẳng định - cũng xứng đáng để chúng ta uống mừng một ly, phải không. ... Mời các bạn đón đọc Từ Bỏ Thế Giới Vàng của tác giả Jack London.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Thả Mồi Bắt Bóng
Nhà văn Võ Văn Trực sinh năm 1936 tại làng Hậu Luật, tỉnh Nghệ An. Cầm bút từ những năm sáu mươi, ông viết nhiều thể loại: thơ, văn, bút ký và biên khảo. Tác giả nhiều tập thơ trong đó có Trăng phù sa, được giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội năm 1983; nhưng chính hai cuốn tiểu thuyết Chuyện làng ngày ấy (viết năm 1990, in ra bị tịch thu ngay, được nhà xuất bản Lao Động tái bản tại Hà Nội năm 2005, và báo Văn Học California in nhiều kỳ và xuất bản thành sách năm 2006) và cuốn Vết sẹo và cái đầu hói, (nhà xuất bản Văn Hoá Thông Tin, Hà Nội, in năm 2006) đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. *** Nhà văn Võ Văn Trực, người được mệnh danh là “Nhà văn của làng quê”, những câu chuyện ông viết ra khiến người ta không khỏi khâm phục. Đôi khi, nói đến các nhà văn, người ta nghĩ tới những con người bay bổng, lãng mạn, thi vị hóa cuộc đời này, nhưng Võ Văn Trực lại là con người của cuộc đời chân thực, lầm lũi và vạm vỡ khác thường. Nhà văn Võ Văn Trực, một nhà văn có sự nghiệp sáng tác trải rộng trên các địa hạt thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian đã qua đời ngày 5/4/2019 tại Hà Nội sau thời gian lâm bệnh.   Giải thưởng: Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội với tập thơ Trăng phù sa năm 1983; Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội về thơ (1976 - 1980) và bút ký (1981 - 1985); Giải thưởng Bộ Giao thông Vận tải với tập bút ký Đèo lửa đèo trăng năm 1987.  Các tác phẩm tiêu biểu: Người anh hùng đất Hoan Châu (1976); Trăng phù sa (1983); Tiếng ru đồng nội (1990); Ngày hội của rạng đông (1978); Hành khúc mùa xuân (1980); Trận địa quê hương (1972); Chú liên lạc đội Xích vệ (thơ thiếu nhi - 1971); Câu chuyện những dòng sông (1983); Chuyện làng ngày ấy (1993); Hương trong vườn bão (1995); Vè Nghệ Tĩnh (in chung - 1962); Kho tàng ca dao xứ Nghệ (in chung - 1996); Đèo lửa đèo trăng (1987); Những dấu chân lịch sử (1985); Truyền thuyết núi Hai Vai (1990); Nắng sáng trời ngoại ô (1979); Những thi sĩ dân gian (1996).  Mời các bạn đón đọc Thả Mồi Bắt Bóng của tác giả Võ Văn Trực.
Chuyện Làng Ngày Ấy
Cùng tác giả Cọng rêu dưới đáy ao Câu chuyện chân thực và xúc động về làng quê Việt Nam thời kỳ cải cách ruộng đất *** Nhà văn Võ Văn Trực, người được mệnh danh là “Nhà văn của làng quê”, những câu chuyện ông viết ra khiến người ta không khỏi khâm phục. Đôi khi, nói đến các nhà văn, người ta nghĩ tới những con người bay bổng, lãng mạn, thi vị hóa cuộc đời này, nhưng Võ Văn Trực lại là con người của cuộc đời chân thực, lầm lũi và vạm vỡ khác thường. Nhà văn Võ Văn Trực, một nhà văn có sự nghiệp sáng tác trải rộng trên các địa hạt thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, nghiên cứu, sưu tầm văn học dân gian đã qua đời ngày 5/4/2019 tại Hà Nội sau thời gian lâm bệnh.   Giải thưởng: Giải thưởng Hội văn nghệ Hà Nội với tập thơ Trăng phù sa năm 1983; Giải thưởng Hội Văn nghệ Hà Nội về thơ (1976 - 1980) và bút ký (1981 - 1985); Giải thưởng Bộ Giao thông Vận tải với tập bút ký Đèo lửa đèo trăng năm 1987.  Các tác phẩm tiêu biểu: Người anh hùng đất Hoan Châu (1976); Trăng phù sa (1983); Tiếng ru đồng nội (1990); Ngày hội của rạng đông (1978); Hành khúc mùa xuân (1980); Trận địa quê hương (1972); Chú liên lạc đội Xích vệ (thơ thiếu nhi - 1971); Câu chuyện những dòng sông (1983); Chuyện làng ngày ấy (1993); Hương trong vườn bão (1995); Vè Nghệ Tĩnh (in chung - 1962); Kho tàng ca dao xứ Nghệ (in chung - 1996); Đèo lửa đèo trăng (1987); Những dấu chân lịch sử (1985); Truyền thuyết núi Hai Vai (1990); Nắng sáng trời ngoại ô (1979); Những thi sĩ dân gian (1996). *** - Bác Chắt Kế đã về! - Bác Chắt Kế đã về!   Lũ trẻ chúng tôi đang chăn trâu dưới đồng Lao thì cái tin ấy truyền đến. Lời truyền chỉ thì thầm từ tai đứa này qua tai đứa khác, không thành tiếng, nhưng truyền đi rất nhanh. Chỉ chốc lát là tất cả chúng tôi sững sờ, bỏ mọi cuộc chơi. Đứa đang chơi khăng, bỏ hồn củ lăn long lóc. Đứa đang chơi “dọn cỗ thi”, bỏ vầy và cỏ gà, cỏ sữa trong lòng nón. Đứa đang tắm cho nghé cũng bỏ mặc đấy. Tất cả đúng túm tụm lại, bàn tán với những vẻ mặt đầy quan trọng: - Bác Chắt Kể về thật rồi à? - Về thật! Nhật thua Tây thua thì bác Chết Kế mới được về chú? - Sao hôm qua bang Trân vào nhà tao bắt nộp lúa tạ? - Trốn về thì sao? - Nếu bác Chắt Kế về thật thì ta sắp sung sướng rồi! Một đứa nhỡ mồm suýt reo to bị thằng Bá giơ tay bịt chặt mồm lại: - Chết! Chết! Mày lau chau nói ra, mất cái đội nón như chơi! Bỗng ông tuần Chư từ xa đi tới, chúng tôi xì xào: “Ông tuần Chư là người của nó”, rồi lảng mỗi đứa một nơi. Thằng Bá làm ra vẻ đàn anh, nhảy nhóc lên lưng trâu, hát nghêu ngao một bài đồng dao: Nghé bông hay là nghe hoa Như cà mới nở Ở nghé nghé ... Cả lũ chúng tôi cùng giong trâu hát theo. Đàn trâu nối nhau từ cánh đồng Lao thanh thả đi về cổng làng. Bụng đói meo mà sao tôi cảm thấy vui sướng đến thế, ngồi trên lưng trâu cứ ngỡ như mình bay theo ngọn gió nồm cùng với những đám mây nhuộm vàng ráng chiều... Bác Chắt Kế về rồi! Thế là mình sắp được đi học, sắp được tập hát tập múa, sắp được ăn chung ở chung với bạn bè cùng lứa tuổi trong làng. Còn gì sung sướng hơn. Sao làng mình có bác Chắt Kế mà làng khác lại không có. Thế làng mình đánh được Tây được Nhật thì làng khác cũng đánh được chứ? Bác Chắt Kế là người của thiên hạ chứ đâu có phải của riêng làng mình? Trong ý nghĩ trẻ thơ, tôi tưởng tượng bác Chắt kế như vị thần của một ngôi miếu thâm u cổ thụ nào đó được thế giới thần linh phải ra để cứu dân khổ đau. Tôi chưa hề một lần nào được thấy bác, được gặp bác. Tôi chỉ nghe lõm bõm về bác trong khi người lớn trò chuyện với nhau. Nhất là một buổi sáng, chao ơi cái buổi sáng ấy tôi nhớ mãi. Cụ Tú Vệ làng Kẻ Sụm xuống chơi với ông tôi. Hai cụ uống rượu và nói chuyện đến tận mặt trời đứng bóng. Gọi là uống rượu chứ thật ra đạm bạc lắm, rượu chỉ vừa một nậm với một con cá rô đặt trong đĩa sứ vẽ hình cây trúc. Hai cụ nâng chén bạch định lên môi nhấp rồi lại đặt xuống. Hai cụ cầm đũa gây gây con cá gắp từng tí một. Tôi có cảm giác hai cụ uống vờ và ăn vạ. Đến khi cụ Tú Vệ cắp ô ra về, con cá mới hết một nửa và rượu cũng chỉ hết lưng nậm. Hai cụ đó thanh bạch quá chừng, hình như chỉ cốt dùng rượu làm cái cớ để giãi bày thế sự, chứ không cần sự hưởng thụ xô bồ vật chất... Sở dĩ hôm đó tôi được chứng kiến một cách kỹ càng “tiệc rượu” của cụ Tú Vệ với ông tôi là vì tôi vờ đứng bên cạnh hầu điều đóm để nghe chuyện bác Chắt Kê. Tôi chắp nhặt từng mẩu vụn vặt, rồi đi kể cho bạn bè mục đồng nghe. Tôi thêm thắt, xâu chuỗi lại, tưởng tượng thêm và trong tâm trí tôi hình thành một bác Chắt kế của chuyện cổ tích, của thần thoại. Ở cánh đồng phía tây làng tôi có một cái giếng hình bàn chân khổng lồ, gọi là giếng Thần. Từ xưa từ xưa người ta truyền lại rằng có một vị thần gánh núi đi qua và bàn chân dẫm lõm xuống thành cái giếng. Bao nhiêu chuyện kể huyền ảo và kỳ vĩ về cái giếng này... Trong kho tàng chuyện kể ấy, có chuyện “thanh gươm cố Kế”. Cố Kế là cụ thân sinh bác Chất Kế, một lần đi vận động phong trào Văn Thân từ Yên Thành về, qua giếng Thần, Thần hiện lên và trao cho thanh gươm, đêm ấy bà thân sinh có mang rồi đẻ ra bác Chắt Kế. Các cụ đồ trong làng bảo rằng bác Chắt Kế là người của thần linh sai phái xuống để cứu nhân độ thế. Từ mười lăm mười sáu tuổi, bác đã tham gia các hoạt động của “hội kín”. Năm 1927, bác đứng ra thành lập chi bộ Thanh Niên Cách Mạng Đông Chí Hội của làng tôi. Bác đi khắp bốn phương trời, vào Tây Cống, sang Xiêm La, tới Hương Cảng, sang Luangprabang, đến Nông Pênh... Rồi bác bị đi đày ở Lao Bảo, Ban Mê Thuột... Lao Bảo là nơi đâu? Ban Mê Thuột là nơi đâu? Nghe nói đó là những chốn ma thiêng nước độc, chứa đầy những quỷ sứ có sừng, răn đỏ mào, rết mắt xanh. Bác Chắt Kế bị ném vào địa ngục ấy và chịu đựng muôn nghìn cực hình. Bác bị xẻo thịt, bị dẫm chân lên lưỡi cày nướng đỏ, bị tuột cật nứa, bị ném vào ổ rắn độc... Bác vẫn không chết bởi vì bác có phép thiêng của Thần ban cho. Ôi những cái địa danh Lao Bảo, Ban Mê Thuột rùng rợn đến thế mà kích thích trí tưởng tượng, lòng khao khát của tuổi thơ biết bao. Khi nào mình được đặt chân tới đó để nhìn tận mắt cảnh địa ngục trần gian - nơi bác Chắt Kế, người của làng mình, đã từng chống chọi với diêm vương, quỷ sứ? Có phải bác là con đại bàng trong truyện cổ đã tung cánh làm đổ vỡ bao nhiêu thành lũy lao tù để trở về với làng xóm, với bà con thân thuộc... Hôm nay bác đã về làng thật rồi ư? Chắc chắn lần này mình sẽ tìm kỳ được để nhìn thấy bác.  Một buổi sáng, tôi vừa giong trâu ra khỏi cổng thì gặp một người đàn ông lạ mặt bước vào. Người ấy trạc năm mươi tuổi, mặc bộ quần áo xanh bạc màu. Cha tôi vồn vã chạy ra tiếp. Tôi linh cảm: đây là bác Chắt Kế! Đúng là bác Chắt Kể thật. Bác ấy vào nhà mình chơi, tôi cảm thấy như ai trao cho mình niềm vinh dự bất ngờ. Mấy người hàng xóm cũng chạy sang hỏi thăm ríu rít. Tôi cột trâu vào gốc cau, chạy vào buồng, chăm chú nhìn qua lỗ phèn để thấy rõ bác Chắt Kể là người như thế nào: vâng trán rộng, mắt sáng, tóc chải ngược điểm hoa râm. Quả thật là gương mặt của một người thông minh khác thường. Trong câu chuyện trao đi đổi lại giữa bác với bà con làng xóm, tôi không hề nghe ai nói đến việc đánh Nhật đuổi Tây. Tôi chi thấy gương mặt bác rạng rỡ, tươi cười, hỏi thăm chuyện mùa màng, đồng áng. Từ người trung niên đến cụ già đều trả lời bác với thái độ lễ phép, kính trọng. Mọi người đang vui vẻ trò chuyện, bỗng ông mõ từ ngõ xồng xộc đi vào báo có bang Trân cùng mấy tên lính đã đến cổng làng. Thoắt một cái, bác Chắt kế lần ra cửa sau, sang nhà bên cạnh, rồi đi biệt. Tôi nhảy lên lưng trâu, hát nghêu ngao lững thững ra đồng. Ngày hôm sau, hôm sau, rồi hôm sau nữa... không hề thấy bác Chắt kế trong làng. Con đại bàng ấy lại bay tới phương nào?...  Mời các bạn đón đọc Chuyện Làng Ngày Ấy của tác giả Võ Văn Trực.
Kết Hôn Với Winterborne
Một ông trùm tàn nhẫn Tham vọng man rợ đã mang lại cho Rhys Winterborne có xuất thân bình dân trở nên giàu có và thành công. Trong kinh doanh và hơn thế nữa, Rhys đạt được chính xác những gì anh mong muốn. Và ngay từ khi gặp được Quý cô Helen Ravenel, một Tiểu thư quý tộc nhút nhát, anh đã quyết tâm chiếm hữu nàng. Nếu anh phải lấy đức hạnh của nàng để đảm bảo nàng phải kết hôn với anh, thì càng tốt. . . Một vẻ đẹp cần được che chở Helen đã có rất ít tiếp xúc với thế giới lấp lánh, hoài nghi của xã hội London. Tuy nhiên, sự quyến rũ kiên quyết của Rhys đã đánh thức một niềm đam mê mãnh liệt lẫn nhau giữa hai người. Lớn lên trong sự nuôi dạy dịu dàng Helen mang một niềm tin cứng đầu rằng chỉ có nàng mới có thể thuần phục được người chồng ngỗ ngược của mình. Khi kẻ thù của Rhys âm mưu chống lại họ, Helen phải tin tưởng anh khi thổ lộ bí mật đen tối nhất của nàng. Những rủi ro là không thể tưởng tượng được. . . phần thưởng, một đời hạnh phúc không gì sánh được. Và tất cả bắt đầu với… Kết hôn với Winterborne *** "Ngài Winterboner, một người phụ nữ đang ở đây để gặp ngài.” Rhys nhìn lên từ đống thư trên bàn với vẻ cau có. Thư ký riêng của anh, bà Fernsby, đứng trước ngưỡng cửa văn phòng riêng của anh, đôi mắt sắc bén sau cặp kính tròn. Bà là một người phụ nữ gọn gàng, đứng tuổi và hơi bụ bẫm. “Bà biết tôi không tiếp khách vào giờ này mà.” Đó là nghi thức buổi sáng của anh để dành nửa giờ đầu tiên trong ngày để đọc thư trong sự im lặng không bị gián đoạn. “Vâng, thưa ngài, nhưng người khách là một Quý cô, và cô ấy – “ “Tôi không quan tâm nếu cô ta có là Nữ hoàng máu lạnh,” anh cắt ngang. “Bảo cô ta đi đi.” Đôi môi của bà Fernsby mím lại thành một dấu gạch ngang không tán thành. Bà rời đi ngay lập tức, gót giày chạm sàn lộp cộp của tiếng súng. Rhys quay sự chú ý của mình vào bức thư trước mặt. Mất bình tĩnh là điều xa xỉ, anh hiếm khi cho phép bản thân, nhưng trong tuần qua, anh đã bị xâm chiếm bởi một sự u ám buồn bã đè nặng lên mọi suy nghĩ và nhịp tim, và khiến anh muốn đả kích bất cứ ai trong tầm tay. Tất cả chỉ vì một người phụ nữ mà anh biết rõ hơn là anh muốn. Tiểu thư Helen Ravenel. . . một người cô gái có giáo dục, hồn nhiên, nhút nhát, quý phái. Tất cả mọi thứ mà anh không có. Cuộc đính hôn của họ đã kéo dài chỉ hai tuần trước khi Rhys tìm cách hủy hoại nó. Lần cuối cùng nhìn thấy Helen, anh đã thiếu kiên nhẫn và hung hăng, cuối cùng đã hôn nàng theo cách mà anh muốn rất lâu. Nàng cứng ngắc trong vòng tay anh, từ chối anh. Sự khinh bỉ của nàng không thể rõ ràng hơn. Cảnh tượng đã kết thúc trong nước mắt của nàng, sự giận dữ của anh. Ngày hôm sau, Kathleen, Quý bà Trenear, người đã kết hôn với anh trai quá cố của Helen, đã đến thông báo với anh rằng Helen rất đau khổ, nàng nằm liệt giường vì chứng đau nửa đầu. “Cô ấy không bao giờ muốn gặp lại anh nữa,” Quý bà Kathleen đã thẳng thừng thông báo cho anh. Rhys không thể đổ lỗi cho Helen vì đã huỷ bỏ lễ đính hôn. Rõ ràng họ là một sự không phù hợp. Nó chống lại các sắp đặt của Chúa rằng anh nên lấy con gái của một gia đình người Anh có tước vị về làm vợ. Mặc dù có tài sản lớn, Rhys lại không có cách cư xử hoặc sự giáo dục của một quý ông. Anh cũng không có vẻ ngoài của một quý ông, với nước da ngăm đen, mái tóc đen, và cơ bắp của một người quen với lao động nặng nhọc. Đến năm ba mươi tuổi, anh đã xây dựng trung tâm thương mại Winterborne’s, từ cửa hàng nhỏ của cha mình trên phố High, thành cửa hàng bách hóa lớn nhất thế giới. Anh sở hữu các nhà máy, nhà kho, đất nông nghiệp, chuồng ngựa, cửa hiệu giặt ủi, và các tòa nhà dân cư. Anh ở trong hội đồng quản trị của các công ty vận chuyển và đường sắt. Nhưng bất kể anh đạt được gì, anh sẽ không bao giờ vượt qua được những hạn chế của việc sinh ra là con trai một chủ hiệu tạp hóa xứ Wales. Suy nghĩ của anh bị gián đoạn bởi một tiếng gõ cửa khác. Ngẫu nhiên, anh liếc nhìn lên khi bà Fernsby trở lại văn phòng của mình. "Bà muốn gì?" anh căn vặn. Người thư ký nâng gọng kính khi bà trả lời một cách kiên quyết. “Trừ khi ngài muốn tống cổ Quý cô ấy bằng vũ lực, cô ấy vẫn khăng khăng ở lại cho đến khi ngài nói chuyện với cô ấy.” Sự khó chịu của Rhys đã biến thành bối rối. Không có người phụ nữ nào đáng kính quen biết anh, hay nói cách khác, lại dám tiếp cận anh một cách táo bạo như vậy. "Tên của cô ta là gì?" “Cô ấy không nói.” Anh lắc đầu không tin. Làm thế nào mà người khách này lại đi qua được các văn phòng bên ngoài? Anh đã trả tiền thuê một đội quân nhỏ để ngăn anh phải đối phó với sự gián đoạn kiểu này. Một ý tưởng ngớ ngẩn đã nảy ra với anh, và mặc dù anh đã bác bỏ nó ngay lập tức, mạch đập của anh tăng lên nhanh chóng. "Cô ấy trông như thế nào?" anh lẩm bẩm hỏi. “Cô ấy mặc bộ đồ tang, với tấm màn che trên mặt. Dáng người mảnh khảnh, và giọng nói nhẹ nhàng.” Sau một hồi do dự, bà nói thêm với một giọng khô khan, “Đặc biệt nhấn mạnh về “phòng vẽ””. Chợt nhận ra, Rhys cảm thấy ngực mình thắt lại xung quanh một cơn khát khao sâu thẳm. ”Chúa ơi,” anh lẩm bẩm. Có vẻ như không có khả năng Helen sẽ đến với anh. Nhưng bằng cách nào đó anh biết là cô đã ở đây, anh biết điều đó đến tận xương tuỷ của anh. Không nói thêm lời nào nữa, anh đứng dậy và đi qua bà Fernsby với những sải chân dài. "Ngài Winterborne,” bà thư ký kêu lên, đi theo anh. “Ngài đang mặc áo sơ mi. Áo khoác của ngài – “ Rhys hiếm khi nghe lời bà khi anh rời khỏi cái góc của anh trong văn phòng và bước vào một căn phòng giải trí với những chiếc ghế bọc da. Anh dừng lại đột ngột khi nhìn thấy vị khách, hơi thở của anh trở nên gấp gáp. Mặc dù tấm màn tang che giấu khuôn mặt Helen, nhưng anh nhận ra tư thế hoàn hảo và dáng người mảnh dẻ của nàng. Anh buộc mình phải thu hẹp khoảng cách giữa họ. Không thể nói một lời, anh đứng trước mặt nàng, gần như nghẹn ngào vì phẫn nộ, và hít vào mùi hương ngọt ngào của nàng với sự tham lam bất lực. Anh ngay lập tức bị kích thích bởi sự hiện diện của nàng, da thịt anh nóng lên, nhịp tim đập nhanh và dữ dội. Từ một trong những căn phòng gắn liền với phòng giải trí, tiếng gõ nhẹ của máy đánh chữ lấp vào sự im lặng. Thật là điên rồ khi Helen đến đây mà không có người đi kèm. Danh tiếng của nàng sẽ bị phá hủy. Nàng phải rời khỏi phòng giải trí và được gửi về nhà trước khi bất cứ ai nhận ra nàng là ai. Nhưng trước tiên Rhys phải tìm ra nàng muốn gì. Mặc dù nàng được che chở và ngây thơ, nhưng nàng không phải là một kẻ ngốc. Nàng sẽ không phạm phải một rủi ro lớn như vậy mà không có lý do chính đáng. Anh liếc nhìn bà Fernsby. “Khách của tôi sẽ sớm rời đi. Trong khi đó, hãy chắc chắn rằng chúng tôi không bị làm phiền.” "Vâng thưa ngài." Ánh mắt anh quay lại với Helen. “Đến đây,” anh nói cộc cằn và dẫn đường đến văn phòng của anh. Nàng đi cùng anh mà không nói lời nào, váy nàng xào xạc khi chúng cọ vào hai bên hành lang. Trang phục của nàng đã lỗi thời và hơi tồi tàn, vẻ ngoài dường như rơi vào thời điểm khó khăn. Có phải đó là lý do nàng ở đây? Có phải gia đình Ravenel rất cần tiền đến mức tuyệt vọng đến nỗi nàng đã thay đổi suy nghĩ về việc hạ thấp bản thân để trở thành vợ của anh? Chúa ơi, Rhys nghĩ với dự đoán nghiệt ngã, anh sẽ thích nàng phải cầu xin anh tiếp nhận lại nàng. Dĩ nhiên, anh sẽ không, nhưng anh sẽ cho nàng nếm trải sự đau khổ mà anh đã phải chịu đựng trong tuần qua. Bất cứ ai đã từng dám qua mặt anh sẽ đảm bảo với nàng rằng sẽ không có sự tha thứ hay thương xót nào sau đó. Họ bước vào văn phòng của anh, một nơi rộng rãi và yên tĩnh với cửa sổ kính hai lớp rộng và thảm dày, mềm mại. Ở trung tâm của căn phòng, một bàn làm việc gỗ óc chó đã được chất đống với các chồng thư từ và tài liệu. Sau khi đóng cửa, Rhys đi đến bàn của mình, nhặt một chiếc đồng hồ cát và nâng nó lên trong một cử chỉ có chủ ý. Cát sẽ chảy xuống khoang dưới trong chính xác mười lăm phút. Anh cảm thấy cần phải đưa ra quan điểm rằng hiện giờ họ đang ở trong thế giới của anh, nơi thời gian là quan trọng, và anh đang kiểm soát. Anh quay sang Helen với một cái nhíu mày nhạo báng. “Tuần trước tôi đã được nói rằng em – “ Nhưng giọng nói của anh tắt ngấm khi Helen đẩy tấm mạng che lên và nhìn chằm chằm vào anh với sự kiên nhẫn, dịu dàng đã tàn phá anh ngay từ lần đầu tiên. Đôi mắt nàng là một màu xanh bạc của những đám mây trôi qua ánh trăng. Những lọn tóc thẳng, mượt mà, mái tóc vàng óng ả, đã được tết lại gọn gàng vào một búi tóc, nhưng một lọn sáng lấp lánh đã trượt khỏi những chiếc lược gài và lủng lẳng trước tai trái của nàng. Chết tiệt nàng, chết tiệt nàng vì quá xinh đẹp. “Hãy tha thứ cho em,” Helen nói, ánh mắt cô nhìn thẳng vào anh. “Đây là cơ hội đầu tiên em có thể tìm đến với anh.” “Em không nên ở đây.” “Có những điều em cần phải thảo luận với anh.” Nàng liếc nhìn một cái ghế rụt rè. “Làm ơn, nếu anh không thấy phiền . . .” “Aye, mời ngồi.” Nhưng Rhys không có động thái giúp nàng. Vì Helen sẽ không bao giờ coi anh là một quý ông, anh sẽ bị nguyền rủa nếu anh hành động như một quý ông. Anh nửa ngồi, nửa dựa vào bàn, khoanh tay trước ngực. “Em không có nhiều thời gian,” anh nói một cách kiên quyết, hất đầu về phía chiếc đồng hồ cát. “Em nên sử dụng nó tốt hơn.” Helen ngồi trên ghế, sắp xếp lại váy và tháo găng tay ra bằng những ngón tay khéo léo ở đầu ngón tay.   Mời các bạn đón đọc Marrying Winterborne của tác giả Lisa Kleypas.
Ác Quỷ Mùa Xuân
Một cánh hoa bên lề lập dị… Phần lớn những thiếu nữ lần đầu ra mắt đều mơ ước tìm được một đức ông chồng. Tiểu thư Pandora Ravenel thì lại có kế hoạch khác. Cô gái trẻ xinh đẹp đầy hoài bão thà ở nhà và vạch ra kế hoạch kinh doanh mới còn hơn trở thành một phần của mùa vũ hội London. Nhưng chỉ một đêm trong phòng khiêu vũ sáng lấp lánh, cô đã bị bẫy vào một vụ bê bối lớn với một anh chàng xa lạ điển trai. Một kẻ phóng đãng đầy hoài nghi… Sau nhiều năm thành công trong việc tránh xa bẫy hôn nhân một cách dễ dàng. Gabriel, Đức ngài St. Vincent, cuối cùng cũng bị cùm-chân lại bởi một cô gái nổi loạn vô phép nhất. Thật ra thì cô chẳng muốn dính dáng gì đến chàng cả. Nhưng Gabriel lại thấy mình không thể cưỡng lại ý chí kiên cường của Pandora. Anh sẽ làm bất cứ điều gì để có được cô, ngay cả khi cuộc hôn nhân của họ chỉ để thuận tiện hóa một ‘bản hợp đồng của quỷ’. Một âm mưu nguy hiểm… Sau khi chịu khuất phục trước vẻ phong trần cùng sự gợi cảm của Gabriel, Pandora đồng ý trở thành cô dâu của anh. Nhưng ngay sau đó cô phát hiện ra những nỗ lực kinh doanh của mình đã vô tình trở thành đồng minh cho một âm mưu nguy hiểm và chỉ có chồng cô mới có thể giữ cho cô được an toàn. Và khi Gabriel bảo vệ cô khỏi một kẻ thù còn chưa xuất đầu lộ diện, thì họ đã nhận ra ‘bản hợp đồng của quỷ’ giữa họ chính là sự khởi đầu tuyệt vời nơi thiên đường. ***   Evangeline, Nữ công tước của Kingston, bế cháu trai sơ sinh của mình ra khỏi bồn tắm cho trẻ con và quấn cậu bé trong một chiếc khăn mềm màu trắng. Cười khúc khích, đứa bé gồng đôi chân cứng cáp của mình và cố gắng đứng trong lòng bà. Đứa trẻ khám phá khuôn mặt và mái tóc của bà bằng bàn tay ướt át, và Evie bật cười trước sự âu yếm trìu mến của đứa cháu. "Nhẹ thôi nào, Stephen." Bà nhăn mặt khi cậu bé nắm lấy sợi ngọc trai kép quanh cổ bà. “Ồ, ta biết ta không nên đeo những thứ đó vào lúc tắm cho cháu mà. Quá nhiều c-cám dỗ.” Evie thường nói lắp, mặc dù bây giờ nó đã nhẹ đi rất nhiều so với thời bà còn trẻ.       “Thưa Đức bà,” cô bảo mẫu trẻ, Ona, kêu lên, chạy nhanh về phía bà. “Tôi lẽ ra phải nâng cậu chủ nhỏ Stephen ra khỏi bồn tắm cho bà. Một cậu bé mũm mĩm. Cậu ấy chắc như một viên gạch vậy”.       “Thằng bé không gây rắc rối gì cả,” Evie trấn an cô ta, hôn lên đôi má ửng hồng của đứa bé và cạy nắm tay đang túm chặt chuỗi vòng ngọc trai của cậu ra.       “Đức bà thật tốt bụng khi giúp chăm sóc đứa trẻ trong ngày nghỉ của bà vú.” Cô bảo mẫu cẩn thận bế đứa bé khỏi vòng tay của Evie. "Bất kỳ người giúp việc nhà nào cũng sẽ rất vui khi làm việc đó, vì bà có nhiều việc quan trọng hơn phải làm."       “Không c-có gì quan trọng hơn các cháu của ta. Và ta thích dành thời gian trong phòng trẻ - điều đó khiến ta nhớ lại khi các con ta còn nhỏ”.       Ona cười khúc khích khi Stephen với lấy chiếc mũ trắng xù trên đầu cô. "Tôi sẽ rắc phấn và mặc quần áo cho cậu ấy ngay bây giờ."       “Ta sẽ thu dọn đồ trong bồn tắm,” Evie nói.       “Thưa Đức bà, bà không cần làm điều đó." Rõ ràng là cô bảo mẫu đang cố gắng đạt được sự cân bằng hiệu quả giữa thái độ nghiêm khắc và cầu xin. "Không phải trong bộ váy lụa tuyệt đẹp của bà - bà phải ngồi trong phòng khách và đọc sách, hoặc thêu một cái gì đó." Khi Evie hé môi để tranh luận, Ona nói thêm một cách đầy ẩn ý, "Bà vú sẽ lấy đầu tôi nếu bà ấy biết tôi đã để bà giúp đỡ những việc mà tôi có thể làm được."       Bỏ cuộc.       Biết rằng Bà vú sẽ lấy đầu của cả hai người họ, Evie đáp lại bằng một cái gật đầu cam chịu, mặc dù bà không thể cưỡng lại việc lẩm bẩm, "Tôi đang đeo tạp dề."       Cô bảo mẫu rời khỏi phòng tắm với một nụ cười mãn nguyện, bế Stephen đến phòng trẻ.       Vẫn quỳ trên tấm thảm tắm trước bồn tắm, Evie đưa tay ra sau tháo dây buộc chiếc tạp dề bằng vải nỉ. Bà nghiêm túc nhận thức rằng không dễ dàng gì để đáp ứng kỳ vọng của những người hầu về cách cư xử của một nữ công tước. Họ quyết tâm không cho bà làm điều gì vất vả hơn là khuấy trà bằng một chiếc thìa bạc. Và khi đã là bà của hai đứa cháu, bà vẫn còn mảnh mai và cân đối - có thể dễ dàng nhấc một đứa trẻ sơ sinh trơn trượt khỏi bồn tắm, hoặc nô đùa với lũ trẻ qua vườn cây ăn quả. Mới tuần trước, bà đã bị người làm vườn la rầy vì đã trèo qua một bức tường đá xếp chồng lên nhau để lấy một vài mũi tên đồ chơi bị lạc.       Khi đang loay hoay với chiếc nút tạp dề cứng đầu, Evie nghe thấy tiếng bước chân phía sau. Mặc dù không có bất kỳ âm thanh hay dấu hiệu nào khác về danh tính của vị khách, nhưng bà biết đó là ai, ngay cả trước khi ông quỳ xuống sau lưng bà. Những ngón tay mạnh mẽ gạt tay bà ra, và nút thắt được giải phóng bằng một lực kéo khéo léo.       Một tiếng thì thầm trầm đục vuốt ve làn da nhạy cảm ở gáy bà. “Ta thấy chúng ta đã thuê được một bảo mẫu mới. Thật thú vị." Đôi tay nam tính thông minh luồn xuống bên dưới chiếc tạp dề đang nới lỏng, di chuyển một cách êm ái từ eo lên đến ngực bà. “Đúng là một tiểu yêu tinh. Ta đoán em sẽ ở đây.”       Evie nhắm mắt lại, tựa lưng vào giữa hai đùi dang rộng của ông. Một cái miệng dịu dàng, được thiết kế cho tội lỗi và cảm giác, lướt nhẹ trên cổ bà.       “Ta nên cảnh báo em,” giọng nói quyến rũ tiếp tục, “nên giữ khoảng cách với chủ nhân. Hắn ta là một kẻ dâm đãng khét tiếng."       Một nụ cười nở trên môi bà. “Tôi cũng từng nghe thấy điều đó. Anh ta có xấu xa như người ta nói không?”       “Không. Tệ hơn nhiều. Đặc biệt là đối với những phụ nữ có mái tóc đỏ.” Ông tháo vài chiếc ghim từ mái tóc của bà cho đến khi một bím tóc dài buông xuống vai bà. “Cô gái tội nghiệp - Ta e rằng hắn sẽ không để cho em yên.”       Evie rùng mình trong khoái cảm quen thuộc khi bà cảm thấy ông hôn dọc theo một bên cổ bà. "T-tôi nên xử trí với anh ta như thế nào?"       “Như mọi khi,” ông nói giữa những nụ hôn.       Một tiếng cười khúc khích bất lực thoát ra khỏi bà khi bà xoay người trong vòng tay ông để đối mặt với ông.       Ngay cả sau ba thập kỷ kết hôn, trái tim của Evie vẫn lỗi nhịp khi nhìn thấy chồng bà, trước đây là Đức ngài St.Vincent, giờ là Công tước của Kingston. Sebastian đã trưởng thành thành một người đàn ông hào hoa với vẻ ngoài vừa đáng sợ vừa chói mắt. Kể từ khi lên làm công tước mười năm trước, ông đã có được một phẩm giá xứng đáng với một người có quyền lực đáng kể của mình. Nhưng không ai có thể nhìn vào đôi mắt xanh nhạt cuốn hút ấy, sống động với những tia lửa và băng giá, mà không nhớ rằng ông đã từng là kẻ gian ác nhất nước Anh. Ông ấy vẫn vậy - Evie có thể chứng thực điều đó.       Thời gian đã đối xử với Sebastian một cách chiều chuộng, và sẽ luôn như vậy. Ông là một người đàn ông đẹp, gầy và thanh lịch, mái tóc vàng nâu của ông  giờ được phớt nhẹ màu bạc ở thái dương. Một con sư tử ngủ đông, người mà không ai có thể vượt qua ngoại trừ với nguy cơ của chính họ. Sự trưởng thành đã cho ông một vẻ ngoài lạnh lùng, uy quyền sâu sắc, cảm giác của một người đàn ông đã từng nhìn thấy và trải nghiệm đủ để ông hiếm khi có thể bị vượt mặt. Nhưng khi có thứ gì đó thích thú hoặc chạm vào ông, nụ cười của ông vừa rực rỡ vừa không thể cưỡng lại được.       “Ồ, em đấy ư,” Sebastian nói với giọng hơi ngạc nhiên, dường như đang suy nghĩ về việc cuối cùng ông đã quỳ gối trên tấm thảm phòng tắm với vợ trong tay như thế nào. "Ta đã chuẩn bị để gỡ rối cho một cô hầu gái đầy kháng cự, nhưng em là một trường hợp khó khăn hơn.”       “Anh có thể cám dỗ em,” Evie vui vẻ đề nghị.       Chồng bà mỉm cười, ánh nhìn rực rỡ của ông nhẹ nhàng di chuyển trên khuôn mặt bà. Ông vuốt lại một vài lọn tóc thanh thoát đã chuyển từ màu hồng ngọc sang màu mơ mềm mại. “Tình yêu của anh, anh đã cố gắng làm điều đó trong ba mươi năm nay. Nhưng bất chấp những nỗ lực tận tâm của anh . . . ” Một nụ hôn ngọt ngào gợi tình sượt qua môi bà. “. . . em vẫn có đôi mắt ngây thơ của bông hoa bên lề nhút nhát mà anh đã bỏ trốn cùng. Em không thể cố gắng trông có một chút mệt mỏi ư? Hay vỡ mộng chẳng hạn?” Ông lặng lẽ cười trước những nỗ lực của bà và hôn bà lần nữa, lần này với một áp lực đầy trêu chọc, cảm giác khiến mạch máu bà đập nhanh hơn. Mời các bạn đón đọc Ác Quỷ Mùa Xuân của tác giả Lisa Kleypas.