Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Pho Tượng Thần Kâli

Tác giả: Henri Vernes NXB: Trẻ 1988 Charles-Henri-Jean Dewisme, được biết đến với bút danh là Henri Vernes, là một tác giả của tiểu thuyết hành động và khoa học viễn tưởng, trong đó ông đã xuất bản hơn 200 đầu sách. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli ... *** Mặt trời ngả bóng trên thành phố Calcutta, biến đổi dòng sông Hoogly, một trong hàng trăm phụ lưu của sông Hằng linh thiêng, thành một dòng thác khổng lồ của chất lưu huỳnh nóng chảy, điểm xuyết đây đó vài chiếc buồm đen của những ghe thuyền chở nông dân từ những cánh đồng xa trở về. Chỉ mặc quần soóc, áo may-ô, nằm dài trên bao lơn trước cửa phòng mình ở khách sạn Thanh Xà, Bob Morane lặng ngắm thành phố. Thành phố Calcutta này, chữ Ấn Độ gọi là Kâli Ghât - thành phố Kâli - lấy tên của nữ thần Kâli, chủ sự Phá hoại và Chết chóc, có năm triệu dân, bày ra cảnh nghèo khổ nheo nhóc với hàng ngàn con bò thần gieo rắc bệnh dịch. Ở thành phố lớn này bệnh dịch tả hoành hành, là nơi mà Đông phương và Tây phương chung góp những điều xấu; một bên là dịch tễ và đói khát, bên kia là thất nghiệp và sa đọa tinh thần. Từ chỗ nằm, không cần đứng lên khỏi chiếc ghế dài, Morane nhìn những đốm lửa thắp lên trong những khu phố đông dân cư. Và rộng ra tất cả miền đồng bằng sông Hằng rực sáng dưới mặt trời sắp lặn... Một cảnh tượng khó quên, vượt cả óc tưởng tượng của con người, có hình dáng như một tấm vải khổng lồ sẵn sàng chìm vào bóng tối bất cứ lúc nào. Bob đã tới Calcutta được bốn ngày. Tờ tuần báo "Phản Ánh", một tờ tuần báo lớn của Pháp đang đăng một loạt phóng sự về các con sông lớn trên thế giới, đã giao cho Bob thiên phóng sự về sông Hằng. Morane, trước nay chỉ ghé Ấn Độ trong những khoảng thời gian ngắn ngủi, đã sốt sắng nhận ngay sự ủy thác đó. Trong bốn ngày vừa qua, chàng đã thăm viếng Calcutta, sau đó sẽ đi khắp miền đồng bằng, rồi sẽ tới Bénarès, Thành phố Thánh, để lên tận vùng xa xôi thượng lưu sông Hằng, sát ranh giới dãy núi Hy Ma. Tối hôm đó, Bob quyết định phải nghỉ ngơi, cả buổi sáng và gần hết buổi chiều, chàng đi qua những khu đông dân, chụp từng bức ảnh và bị những nhóm hành khất gầy trơ xương liên lục nhào đến xin bố thí, chàng phải len lỏi giữa hàng trăm con bò gầy gò vô chù đi ngúng nga ngúng nguẩy, ruồi bám quanh mình. Những con bò này là những vật tổ thần, không ai được giết hoặc hành hạ, đã là gánh nặng cho Ấn Độ nói chung, và Calcutta nói riêng. Morane ngả người trên ghế dài, ưỡn mình, hít không khí nóng bức của buổi hoàng hôn, chàng lùa những ngón tay mặt vào trong mớ tóc cứng. Sau một ngày vất vả, chàng cảm thấy khoan khoái được nằm dài; không suy nghĩ, không lo toan công việc, hưởng những lạc thú trong tầm tay. Việc đó cho chàng ý niệm về Niết Bàn, cõi hư vô cao cả và thánh thiện mà những người sùng bái đức Phật ao ước. Đột nhiên, một giọng nói cất lên bên cạnh làm chàng người Pháp giật mình : - Có thư cho ông Morane. Bob quay đầu lại. Một người hầu Ấn Độ, quần áo trắng toát, trên trán vẽ thêm con mắt thứ ba của thần Siva, đứng ngay bên chiếc ghế dài, tay bưng chiếc khay đựng một lá thư. Bob nghĩ thầm: "Những người Ấn này di chuyển như những bóng ma. Anh chàng này dám cắt cổ mình mà mình cũng chưa kịp nhận ra nữa..." Bob cầm lấy lá thư, người hầu rút lui, chàng vội xé phong bì, trong đó có một tờ giấy gấp tư. Chàng mở ra, và đọc: "Thiếu tá Morane, Cần gặp ông gấp. Nhận được thư này, hãy đến ngay nhà tôi, số 115 phố Baghavapur. Việc sinh tử. Cecil Mainright" Morane nhảy dựng. Chàng biết Cecil Mainright, tuy chưa hề gặp mặt ông ta. Ở Paris, giáo sư Aristide Clairembart, nhà khảo cổ học già bạn của Bob, biết chàng sang Ấn, có dặn rằng : - Ông qua Calcutta thì hãy thay mặt tôi, lại thăm ông bạn đồng nghiệp của tôi là Cecil Mainright. Ông ta là người nhiệt tình theo Ấn Độ giáo, đã ở bên đó bốn chục năm, thuộc nằm lòng xử sở ấy, sẽ giúp đỡ ông được nhiều việc. Vừa tới thủ đô của miền Bengale phương Đông, Bob đã bắt đầu liên lạc ngay với nhà bác học kia nhưng ông ta bận nhiều công việc, hẹn chàng mấy hôm nữa mới cho gặp. Theo hẹn thì ngày mai chàng mới phải tới nhà ông Mainright. Vậy tại sao lại có lá thư kỳ quái này, nhất là câu: "Việc sinh tử". Mainright gặp nguy chăng? Nếu gặp nguy, sao ông ta không gọi đến cảnh sát, mà lại cầu cứu chàng, người mà ông ta chưa hề biết mặt? Bob nhún vai. Tìm làm quái gì câu giải đáp cho những sự bí ẩn loại này? Cứ biết là chỉ lát nữa đây, chính miệng giáo sư Mainright sẽ nói cho hay là được rồi. Xưa nay có bao giờ Morane từ chối lời kêu gọi giúp đỡ của ai đâu? Bạn của ông Aristide Clairembart gặp nguy thì chàng phải tìm cách cứu thôi. Bởi thế chàng quyết định tới nhà ông Mainright ngay tối hôm đó. Vì biết số điện thoại của giáo sư Mainright chàng nhấc ống nói trong phòng mình, xin số bên kia. Đợi hơn một phút, chàng mới nghe tiếng nói của cô phụ trách điện thoại trong khách sạn : - Rất tiếc, ông ạ. Số mà ông gọi đang kẹt. Morane nhăn mặt, gác máy. Không thể liên lạc với giáo sư Mainright, chàng đành tới nhà ông ta. Mặc vội chiếc sơ-mi thể thao hở cổ, và chiếc quần len màu vàng mang đôi giày nhẹ, chàng định bước ra thì chợt nghĩ lại, đến lôi ở dưới gầm giường ra cái túi du lịch lớn, có dây kéo. Chàng rút trong một ngăn túi lấy ra một khẩu colt 38, ngắn nòng, dắt vào thắt lưng. Chiếc áo vét-tông che khuất khẩu súng. Chàng không có thói quen đi đâu cũng mang sùng kè kè, nhưng nhớ đến câu "Việc sinh tử" mà giáo sư Mainright viết trong thư, nên chàng nghĩ chẳng nên phó mặc cho sự may rủi trong một cuộc đụng độ. Vài phút sau chàng rời khách sạn, vẫy một chiếc taxi. Chiếc xe ghé sát lề đường, và người tài xế, một anh chàng người Sikh to con có bộ râu đen, xuống xe mở cửa cho khách. Bob nhận ra anh kia mang ở thắt lưng một con dao quắm rất dài. Chỉ vào vũ khí đó, chàng người Pháp hỏi : - Anh dùng thứ đó làm gì vây? Cắt cổ khách đi xe hả? Toét miệng ra cười, để lộ hàm răng trắng, đẹp hơn những phím đàn dương cầm, người tài xế lắc đầu. - Thưa ông, không. Munghal này không cắt cổ khách đi xe bao giờ... nếu khách trả tiền đàng hoàng. Dao này chỉ để cứa cổ Hồi hồi. Nói rồi anh ta nhổ nước bọt, tỏ lòng khinh ghét. Morane mỉm cười : - Rất may tôi không phải là người Hồi giáo. Munghal lại cười : - Thưa ông, vâng. Rất may... ông đi đâu, để tôi chở? Bob Morane ngồi trong xe, nói : - Số 115, đường Baghavapur! Chiếc taxi chuyển bánh lao đi, qua những đường phố đông nghẹt giữa một rừng xe cam nhông, xe điện, xe tay xe đạp và những con bò đi lang thang. Những con bò này gây trở ngại cho cho sự lưu thông, bởi chúng chỉ nhích từng chút cho chiếc taxi lọt qua. Chúng sợ tiếng còi xe hơn là bản thân chiếc xe. Đường Baghavapur là một con đường hoang vắng, nằm sát chân cầu Howrah, hai bên là những ngôi nhà cổ, kiểu xây cất thời nữ hoàng Victoria, bao bọc chung quanh là những khu vườn rộng, có rào sắt rất cao. Chiếc taxi ngừng trước nhà số 115, Morane xuống xe. Chàng người Sikh hỏi : - Tôi phải đợi ngài chăng? Bob lắc đầu : - Không, chắc tôi phải ở lại đây khá lâu. Chàng trả tiền cuốc xe, còn biếu thêm tiền thưởng hậu hĩnh. Chiếc taxi rồ máy. Bob còn lại một mình trên vỉa hè. Đêm đã xuống được một lúc, đường Bagharapur hoàn toàn chìm trong bóng tối. Đôi chỗ, vài bóng đèn điện tù mù soi xuống hàng cây phượng vĩ hoa đỏ thắm trong khung cảnh đen tối của ban đêm. Bob nhủ thầm: "Cái chỗ này chẳng có gì vui!" Thử lại cho chắc dạ khẩu súng lục dắt ở thắt tưng có thể rút ra dễ đàng, chàng tiến lại chỗ hàng rào sắt. Cánh cửa sắt hé mở làm chàng ngần ngừ. Chàng có cảm tưởng là đang rơi vào một ổ phục kích. Tuy nhiên chàng vẫn lách mình qua khoáng hẹp giữa hai cánh cửa, và tiến vào một lối đi rộng dẫn tới ngôi nhà mà một cửa sổ ở tầng trệt có ánh đèn rất sáng. Nhanh nhẹn, bằng bước chân đi đôi giày nhẹ, đế crếp, Morane lặng lẽ tiến lại gần ngôi nhà. Chàng tới bậc thềm thì có một bóng người từ phía trong hấp tấp bước ra. Đáng lẽ phải tránh sang một bên, Bob lại đứng chắn ngang đường, và hai người xô vào nhau rất mạnh, đồng thời có một vật trăng trắng lăn xuống lối đi. Người lạ mặt, hẳn là một người Ấn, vì bộ mặt đen của hắn không nổi lên trong bóng tối, cúi xuống để nhặt vật đánh rơi. Morane liền ngăn lại, chàng nói bằng tiếng Anh : - Ê! Một phút đi, anh bạn! Chạy ẩu chạy tả như thế mà không xin lỗi, đâu có được. Chàng vừa nói thế, người kia lầu bầu giận dữ, nhào lại bên chàng. Bob nhìn thấy một lưỡi dao găm lóe lên, vội lùi lại một bước. Lưỡi dao chệch qua cổ họng chàng vài phân, chàng vội dùng cườm tay chặt vào cánh tay đối thủ. Nhát chặt rất chính xác, người Ấn đành để mất vũ khí. Ngay lúc đó có tiếng chân tháo chạy, Bob nghĩ đối thủ tính bỏ trốn. Nhanh như chớp, chàng rút súng khỏi thắt lưng, hô to: "Ngừng lại, không ta bắn!", nhưng người kia đã biến mất trong bóng tối. Morane đứng lại một lúc, súng vẫn cầm tay, sẵn sàng nhả đạn nếu nghe có tiếng động nhỏ, nhưng kẻ gây hấn đã biến hẳn và vật rơi xuống từ đầu trận đấu vẫn nằm yên trên mặt đất. Bob nhặt lên, mới đầu chàng chưa nhận ra được đó là cái gì, vì nó được bọc kín trong một mảnh vải. Có thể là một chiếc khăn được buộc dầy chặt chẽ. Qua lần vải, Bob nắn bóp thấy một vật cứng, hình thù không đều đặn. Toàn bộ, dù vật ấy không lớn, nhưng rất nặng, Bob đoán chừng vật ấy bằng đá hay kim loại. Chàng nhún vai: "Đây hẳn là một báu vật mà thằng kia đánh cắp của ông giáo sư. Ta đem trả lại cho ông ta tất biết ngay đó là cái gì..." Leo lên những bậc thềm, Morane tới cửa thì thấy cảnh cửa mở toang dẫn vào một căn phòng vuông vắn bên trong sáng trưng. Cánh cửa thứ hai cũng mở, để lọt ra ngoài một vệt sáng dài. Bob đứng im, tay vẫn lăm lăm khẩu súng, tai lắng nghe nhưng cả gian nhà im ắng, hình như người nhà đã đi đâu cả. - Giáo sư Mainright! Giáo sư Mainright! Gọi liên tiếp hai lần, chàng chờ đợi, nhưng không có ai trả lời. - Trong nhà có ai không? Lại vẫn im lặng. Lần này, Morane cảm thấy lo lắng. Cái người cầm dao găm chạy trốn như một tên trộm, cùng ngôi nhà bỏ hoang mà phòng nào cũng sáng trưng đèn đối với chàng có vẻ bí ẩn. Các giác quan chàng đều hoạt động. Bob tiến vào căn phòng lớn, thăm dò để tìm xem có người nào chăng. Sau đó, hăng hái lên, Bob bước mau tới cánh cửa thứ hai đang hắt ra một luồng ánh sáng. Căn phòng hiện ra trước mắt Morane là một phòng làm việc rất rộng, chứa đầy những mẫu khảo cổ. Những hình chạm nổi gỡ ở những thạch động thiêng liêng, những bức tượng Phật cổ xưa qua thời gian đã nhẵn bóng những mớ ngọc thạch màu xanh hoặc những mẫu phún thạch, những mảnh đồng quý cắt ra từng miếng. Trên trần nhà, một chiếc quạt máy quay chầm chậm, làm chuyển đi luồng không khí nặng nề và nóng bức của đêm miền nhiệt đới. Tuy nhiên, tất cả những thứ đó chẳng khiến Bob chú tâm. Trái lại, chàng để ý ngay đến một người tóc hoa râm, một người Âu cúi gục trên chiếc bàn gỗ, đầu bất động quay về phía cửa. Không còn nghi ngờ gì nữa, Bob biết người đó là giáo sư Mainright, nhưng ông đã chết rồi. Chàng người Pháp đứng lặng hồi lâu ở chỗ bậc thềm. Nghề nghiệp phiêu lưu của chàng đã nhiều lần đưa chàng tới những cảnh ngộ tương tự, nhưng sự hiện hữu của tử thi gây cho chàng nhiều ấn tượng. Ông Mainright, mới một thời gian ngắn trước đây kêu cứu với chàng mà bây giờ không còn sống nữa. Bob có cảm tưởng mình chịu phần nào trách nhiệm về cái chết này. Nếu chàng đến sớm hơn, hẳn là mọi chuyện êm xuôi. Nhưng làm sao chàng đến sớm hơn được. Vừa nhận lá thư của nhà bác học bất hạnh chàng đã chẳng rời khách sạn ngay đấy ư? Dần dần, Morane cũng lấy lại được bình tĩnh. Đi tới cuối căn phòng chàng đem cái vật chưa biết rõ vẫn bọc trong chiếc khăn đặt vào một góc bàn giấy. Sau đó chàng lại gần người chết, thấy dấu vết bị siết còn rành rành trên cổ nạn nhân, và gần ghế bành, chàng thấy một dải lụa rất dày thắt một nút thòng lọng. Hẳn là hung thù đã sử dụng nó để giết nạn nhân. Chàng đưa mắt nhìn khắp phòng: Không một cửa tủ nào bị nạy. Hình như trong nhà không bị mất mát thứ gì. Hoàn toàn không... trừ ra... Morane lấy lại cái gói chàng vừa đặt ở góc bàn, mở vội chiếc khăn và vật bí ẩn hiện ra, đó là một pho tượng nhỏ tráng men, cao cỡ chừng không hơn mười phân, mang hình dáng một người đàn bà đang đứng, bốn cánh tay đều duỗi ra một cánh tay cầm thanh gươm, một xách một thủ cấp, còn hai cánh tay khác thì xòe ra như ban phép, lòng bàn tay đỏ lòm. Dễ sợ nhất là khuôn mặt với đôi mắt cú vọ có những tia máu, cái miệng toác hoác, lưỡi thè lè giữa hàm răng nhọn hoắt. Hai mảnh xương nhỏ dùng làm hoa tai cho người đàn bà kỳ quái và một chuỗi sọ người vấy máu, lủng lẳng trước ngực. Ở hai cổ chân và bốn cổ tay, người đàn bà ấy mang những chiếc vòng ngọc thạch sáng rực, và quanh cổ đeo một đạo bùa. Morane nghĩ thầm: "Nếu ta không lầm thì đây là bức tượng nữ thần Kâli, vị Hắc thần, vợ của thần Siva, và vì muốn cướp đoạt pho tượng mà kẻ kia đã giết vị giáo sư tội nghiệp này. Nhưng những vòng ngọc thạch và lá bùa thì ta thấy dường như là của già, và có thể cả bức tượng nữa..." Lấy một con dao rọc giấy ở trên bàn, chàng cậy một mảnh men tráng ở gót chân pho tượng thì thấy hiện ra một thứ kim loại màu xam xám. Bob thì thầm : - Chì! Thế mà kẻ gây hấn với ta hoài công đánh cắp pho tượng. Như vậy có thể không phải hắn đã giết ông Mainright đâu. Đột nhiên, chàng giật mình, đôi mắt chàng, chăm chú nhìn dải lụa ở gần chỗ bàn giấy. Dải lụa gợi cho chàng một ý nghĩ. Chàng thì thầm : - Vật này dùng để siết cổ ông Mainright. Nó với pho tượng thần Kâli phải có một liên hệ nào đó. Cá nhân ta, ta không thấy một liên hệ nào. Chuyện này, ta thấy có vẻ quái đản, không thể nào tưởng tượng được. Chàng không khỏi rùng mình, đưa mắt nhìn quanh, tưởng như một quái vật khát máu khủng khiếp thình lình hiện ra. Nhưng không, chẳng có gì, chỉ có một mình chàng ở trong phòng với xác chết. Chẳng bao lâu sau, chàng làm chủ lại thần kinh của mình. "Nếu ta không lầm thì đây chỉ là một vu giết người bình thường. Hung thủ đã vào đây, trong ngôi nhà có nhiều tiền bạc và bảo vật quý giá này, nhưng sau khi thắt cổ ông giáo sư bất hạnh Mainright, hắn đã lấy đi thứ gì? Một pho tượng tầm thường bằng chì tráng men..." Morane lại quan sát pho tượng Hắc thần, một lúc lâu sau khi xem xét kỹ lưỡng, mới nghĩ tiếp: "Phải. Đây là pho tượng của mụ già uống máu Kâli, có thể mở ra nhiều bất ngờ cho chúng ta. Tốt nhất là ta báo cảnh sát cái đã". Chàng nhấc ống điện thoại đặt trên bàn giấy. Nhưng khi chàng đặt ống nghe vào tai thì không có tiếng gì cả. Chàng lẩm bẩm: "Ta quên đi mất! Máy kẹt mà! Dây điện bị cắt rồi! À, không có điện thoại, vẫn có cách kêu cảnh sát rất kiến hiệu: cách này đây..." Chàng lại gần một cửa sổ, mở ra, dang thẳng tay chĩa khẩu súng lên trời, bốp cò liền ba phát. Trong đêm tĩnh mịch, tiếng súng vang dội như sấm và chàng không thắc mắc gì về kết quả. Trong khu phố toàn những biệt thự, xưa nay thường lặng lẽ êm ả, chắc chắn một loạt đạn nổ sẽ mau chóng đánh động hàng xóm. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli ... *** Mời các bạn đón đọc Pho Tượng Thần Kâli của tác giả Henri Vernes.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trân Châu Cảng
*“Trân Châu cảng” - ngày 07/12/1941 - một sự kiện kinh hoàng cho nước Mỹ và cả thế giới khi không quân Nhật bất ngờ tấn công vào Trân Châu cảng. Điều này đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ “ngây thơ vô tội”…và là sự khởi đầu đầy vinh quang của nước Mỹ. *Với bút pháp thần kỳ, mang đậm nét nhân văn, Randall Wallace sẽ mang đến cho độc giả sự đồng cảm sâu sắc về nỗi đau, nỗi mất mát lớn lao về tinh thần lẫn thể xác mà chiến tranh để lại cho nhân loại. *“Trân Châu cảng” - một câu chuyện bất ngờ gây chấn động, một thất bại thảm hại, một chiến thắng anh dũng và vượt trên tất cả là sự gắn kết một chuyện tình tuyệt đẹp! *** Trận Trân Châu cảng là một chiến thắng thể hiện rõ tinh thần và khả năng của quân nhân Nhật Bản, đặc biệt là hải quân và không quân. Ngoài ra nó cũng cho thấy kỹ nghệ phục vụ chiến tranh của Nhật Bản rất phát triển, thể hiện rõ qua số lượng tàu sân bay cao hơn cả của Mỹ và Anh cộng lại vào thời điểm đó. Tuy nhiên, tham vọng quá lớn của giới quân phiệt đã đẩy Nhật Bản đến thất bại cay đắng và như giới chuyên môn đã nhận định, việc lôi kéo Hoa Kỳ vào cuộc chiến là sai lầm chiến lược dẫn đến thất bại của phe trục trong Thế chiến 2. Cuốn sách tổng hợp rất nhiều thông tin chi tiết, bố cục hợp lý, là một tài liệu tham khảo tốt. *** Mùi thơm ngọt ngào của mảnh gỗ thông bay đến mũi Danny Walker. Rafe McCawley đã khoan hai lỗ nhỏ bằng đầu đinh rồi luồn sợ dây thừng qua. Sau đó, hai thằng bé cột chặt sợ dây ngang thắt lưng trông cho giống dây an toàn thường thấy trên máy bay. Hai đứa đang ngồi trong một thùng bia cũ bằng gỗ. Miệng thùng chẳng to hơn cái thố đựng nước là mấy, tuy nhiên cũng đủ rộng cho hai thân hình mỏng dính gầy gò. Rafe và Danny mới 10 tuổi đầu. Chúng ở trên mảnh đất vốn là một thái ấp cũ. Lúc này, nước Mỹ đang trong cơn đại khủng hoảng của những năm 1930. Nhưng hai thằng bé này sang lắm! Có máy bay riêng! Một chiếc máy bay có hai tầng cánh, thuộc loại nhỏ dùng để rải phân bón ngoài ruộng - một phương tiện lao động thường thấy ở khắp miền Nam nước Mỹ. Cha của Rafe mang chiếc máy bay cũ kỹ ấy về nhà. Thân máy bay bị bể. Máy móc hư nát, không thể dùng được. Ông tháo tung cỗ máy cồng kềnh ấy ra để lấy những phần phụ tùng còn tận dụng được. Lúc này, cánh máy bay là những mảnh gỗ, giẻ rách và đống dây kẽm gai rỉ sét. Quạt gió là cái cánh quạt gẫy nát ai đó vất sau góc vườn nhà. Rafe lượm về lắp cho máy bay của mình. Còn kính chắn gió của máy bay được làm bằng tổ chim sẻ. Khi còn nguyên vẹn, máy bay này đã từng lướt nhẹ trên bầu trời Tennessee. Bây giờ trong tâm trí của hai thằng bé sống nơi thôn dã, chiếc máy bay này là thứ tàu lượn bay nhanh nhất và xa nhất thế giới. Rafe hét lên: - Quân địch đang tới từ phía cánh trái kìa! Nó giả vờ nghiêng ngửa, ngả vai vào người Danny. Tuy tay thằng Rafe gầy gò, chỉ có da bọc xương, nhưng thân hình khá cao ráo. Đặc biệt, nó có cặp mắt nhanh nhẹn của một phi công. Mặc dù mới bước sang tuổi 11 nhưng Danny cũng nhận ra Rafe có tố chất thiên bẩm qua ánh mắt của bạn mình. Không hề có sự sợ hãi, tức giận. Chỉ là ánh mắt rất tinh tường và quả quyết. - Tớ thấy chúng rồi! - Danny trả lời. Trong khi ấy, thằng Rafe đá lưỡi kêu rừ rừ tạo Rafe âm thanh gầm rú của những chiếc máy bay tưởng tượng. Vừa la lối, và vừa cầm chiếc chổi cũ lượn tới lượn lui như thể nó đang lướt đi trong không trung vậy. - Danny! Hạ chúng ngay! - Được rồi! Rafe.. pằng pằng.. Thằng Danny mím môi phát ra âm thanh giả tiếng súng máy đang nã đạn. Danny thích cái cách Rafe gọi tên nó. Nghe âu yếm như hai người anh em ruột gọi nhau vậy. Rafe là người duy nhất trên đời này gọi nó là Danny. Trước đây, mẹ nó cũng gọi nó là Danniel. Nhưng bà đã chết khi Danny mới lên 4 tuổi. Cái từ đẹp đẽ nhất mà cha nó thường gọi nó chỉ đơn giản là nhóc tỳ mà thôi.   Mời các bạn đón đọc Trân Châu Cảng của tác giả Randall Wallace.
Sự Trả Thù Của Quý Cô
Georgiana là người phụ nữ quyền lực nhất Anh Quốc - Nữ hoàng của thế giới ngầm London mà không ai có thể chống lại. Duncan West là người duy nhất đủ thông minh để khám phá sự thật, để phá huỷ tất cả những gì cô đã gây dựng, bao gồm cả trái tim thép mà cô tôi luyện. Cô mang trong mình thân phận bí ẩn, anh sống với thân thế tội lỗi của bản thân. Hai người – vô số bí mật, đều ra sức che đậy, giấu giếm sự thật và tình cảm của chính mình, liệu sẽ ra sao khi tất cả được phơi bày? *** Tác giả: Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. Bà là một cây bút đầy tài hoa chuyên về tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, đồng thời cũng là một trong các tác giả của những cuốn sách ăn khách nhất do New York Times và Romantic Times bình chọn. Bà tốt Smith năm nghiệp 1978 và có chuyên tại bằng tiểu ngành thạc bang sĩ Lịch chuyên Rhode sử ngành Nhân loại học tại Đại học Harvard. Hiện tại bà đang sống tại New York cùng chồng, con gái và sở hữu một bộ sưu tập những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hết sức đồ sộ. Sarah có niềm đam mê với lịch sử và văn học lãng mạn từ khi còn rất nhỏ. Bà từng dành hầu hết thời gian trong suốt thời niên thiếu vùi mình trong các thư viện sách. Đó cũng chính là nơi đã khơi dậy trong bà nhiệt huyết với sự nghiệp viết lách, để sau đó trở thành một trong những tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng thế giới. Khi rảnh rỗi, bà thích du ngoạn khắp mọi miền đất nước, tìm hiểu về các nền văn hóa, giáo dục, và khám phá thế giới xung quanh dưới con mắt của một lữ khách đầy lạc quan, yêu đời. Các bài viết của bà thường xuyên xuất hiện trên chuyên mục của New York Times Book Review, Washington Post và Parents Magazine. MacLean tự nhận mình là người theo chủ nghĩa bình quyền, và đó cũng chính là phương châm xuyên suốt các tác phẩm của bà, đan xen với dòng chảy của những điều lãng mạn, ngọt ngào. Bà là một trong các tác giả ăn khách nhất do New York Times, USA Today và Romantic Times bình chọn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay - 9 tuyệt chiêu tóm kẻ phóng đãng - ra đời ngay sau khi Sarah tốt nghiệp đại học đã giúp tên tuổi của bà trở nên quen thuộc với nhiều độc giả khi được dịch ra mười thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tác phẩm này thuộc series Love By Numbers, cùng hai tác phẩm 10 bí quyết chinh phục trái tim và 11 tai tiếng hạ gục công tước đã được Bách Việt xuất bản vào năm 2013. Hãy thử cầm trên tay những tác phẩm của Sarah MacLean để cảm nhận được ma lực từ một cây viết đầy trí tuệ và tài hoa. Hãy bước vào thế giới muôn hình vạn trạng trong tiểu thuyết của bà để thấu hiểu những giá trị nhân văn sâu sắc qua từng trang sách...   Các tác phẩm đã và sẽ được BachvietBooks giới thiệu tới độc giả: - 9 Tuyệt Chiêu tóm kẻ Phóng Đãng - Sarah Maclean (2013) - 10 Bí quyết chinh phục trái tim - Sarah Maclean (2013) - 11 Tai Tiếng hạ gục Công tước - Sarah Maclean (2013) - Canh bạc hôn nhân (2014) - Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? (2014) - Đam Mê và Thù Hận - Sarah MacLean (Quý II/2015) - Sự Trả Thù Của Quý Cô ***   Tháng ba, 1823 Lâu đài Leighton Basildon, Essex “Em yêu anh.” Ba từ nhỏ bé, lạ lẫm đó chứa đựng vô vàn quyền lực. Một tiểu thư như Georgiana Pearson – có cha và anh trai đều là công tước, là hiện thân của danh dự và tôn kính, của sự cao quý và tinh khôi, một con người hết sức danh giá của giới thượng lưu – lại chưa từng nghe về điều đó. Giới quý tộc không yêu đương. Và dù có đi chăng nữa thì chắc chắn họ cũng chẳng bao giờ có một hành động thấp hèn như thừa nhận điều đó. Nên thẳng thắn mà nói, cô cũng khá sốc khi thấy nó thoát ra khỏi môi mình một cách nhẹ nhàng, thoải mái và “thật” đến thế. Nhưng suốt mười sáu năm cuộc đời, Georgiana chưa bao giờ tin tưởng điều gì nhiều đến thế, cũng chưa bao giờ giải phóng mình khỏi những kỳ vọng luôn gắn liền với tên tuổi, lịch sử và dòng họ của mình nhanh đến thế. Thực tế thì, cô đang nắm chặt cảm giác phấn khích đã mong đợi từ lâu ấy, cùng với rủi ro và cơ hội đi kèm với nó. Được sống. Được là chính mình. Rủi ro là cái khỉ gì, đây là tình yêu. Và nó đã giải phóng cô. Chắc chắn rằng trên đời này sẽ chẳng có giây phút nào đẹp như lúc này – trong vòng tay của người đàn ông mà cô yêu, người mà cô sẽ gắn bó cả đời. Và hơn cả thế. Người sẽ cùng cô xây dựng tương lai, người sẽ gánh vác tên tuổi, gia đình và danh dự của cô. Jonathan sẽ bảo vệ cô. Anh đã nói vậy lúc ôm cô, che đi cơn gió lạnh tháng Ba và đưa cô vào đây, chuồng ngựa ở điền trang của gia đình cô. Jonathan cũng yêu cô. Anh đã thì thầm những lời đó khi tay anh cởi khóa, nhấc váy, kéo tất và hứa hẹn sẽ đem cả thế giới cho cô với những động tác vuốt ve âu yếm. Và cô cũng thì thầm đáp lại. Trao cho anh tất cả mọi thứ. Jonathan. Tiếng thì thầm sung sướng của cô vọng khắp các xà gỗ và cô nép mình vào gần anh hơn, được bao bọc trong cơ bắp săn chắc, rơm rạ và được đắp một chiếc khăn choàng cho ngựa ấm áp đáng nhẽ phải khiến cô thấy ngứa ngáy khó chịu, vậy nhưng không hiểu sao lại rất mềm mại, hẳn là do những cảm xúc dịu dàng mà nó vừa được chứng kiến. Tình yêu. Thứ chỉ có trong các áng thơ, điệu nhạc, truyện cổ tích và tiểu thuyết. Tình yêu. Cảm xúc khó hiểu khiến đàn ông vừa khóc, vừa hát, vừa đau đớn vì dục vọng và đam mê. Tình yêu. Cảm xúc thay đổi cả cuộc đời, khiến mọi thứ trở nên rực rỡ, ấm áp và tuyệt vời hơn. Thứ cảm xúc mà cả thế giới tuyệt vọng muốn khám phá. Và cô đã tìm ra nó. Ở nơi đây. Trong mùa đông lạnh căm căm này, trong vòng tay của chàng trai tuyệt vời này. Không. Một người đàn ông. Anh là một người đàn ông, cũng như cô là một người phụ nữ, được tạo ra để dành cho ngày hôm nay, nằm trong vòng tay anh, ép chặt vào cơ thể anh. Một chú ngựa trong chuồng ngựa phía dưới khẽ hí lên, đập móng vào sàn nhà, đòi đồ ăn, nước uống, hoặc đòi được quan tâm. Jonathan cử động cơ thể và cô rúc vào anh, kéo chặt cái chăn quanh người họ. “Chưa được.” “Anh phải đi đây. Người ta gọi anh rồi.” “Em đang gọi anh đây,” cô nói, phô bày vẻ tán tỉnh duyên dáng nhất của mình. Tay anh ấm áp và thô ráp đặt lên bờ vai trần mịn màng của cô, gợi nên cảm giác rùng mình sung sướng trong toàn bộ cơ thể cô. Chẳng mấy khi có người chạm vào cô – con gái của một công tước, em gái của một công tước. Trong trắng. Tinh khôi. Không được phép chạm vào. Cho tới lúc này. Cô cười toét miệng. Mẹ cô chắc sẽ lên cơn khi biết con gái bà chẳng cần mà cũng chẳng có ý định ra mắt giới thượng lưu. Và anh trai của cô – Công tước Disdain – một quý tộc quyền lực, khó tính nhất Luân Đôn này… anh cũng sẽ không tán thành đâu. Nhưng Georgiana chẳng quan tâm. Cô rồi sẽ trở thành bà Jonathan Tavish. Cô thậm chí cũng không định giữ cái danh hiệu “Tiểu thư” mà cô đang mang. Cô không muốn nó. Cô chỉ muốn mình anh thôi. Cho dù anh trai cô có cố gắng làm tất cả để ngăn cản chuyện tình này cũng chẳng sao. Giờ thì chẳng ai ngăn cản được nữa rồi. Con ngựa lúc nãy đã rời khỏi chuồng. Nhưng Georgiana vẫn nằm trên đống cỏ khô. Cô cười rúc rích trước ý nghĩ ấy, thấy phấn khởi trước tình yêu và mối đe dọa – hai mặt của một phần thưởng hết sức giá trị. Anh đang chuyển động người bên dưới người cô, thoát khỏi tổ kén ấm áp được tạo nên bởi cơ thể họ, khiến gió lạnh luồn vào, làm da cô sởn gai ốc. “Em nên mặc đồ vào đi,” anh nói, kéo quần lên. “Nếu có người tóm được chúng ta...” Anh không cần nói hết câu, anh vẫn nói ra câu này suốt mấy tuần vừa rồi, kể từ lần đầu tiên họ hôn nhau cho đến suốt những khoảnh khắc vụng trộm sau đó. Nếu có người tóm được họ thì anh sẽ bị quất bằng roi, hoặc còn tệ hơn. Và cô sẽ bị hủy hoại. Nhưng lúc này đây, sau ngày hôm nay, sau khi nằm trần truồng trong vựa cỏ mùa đông khô khốc này, để anh khám phá, ve vuốt và chiếm giữ bằng đôi bàn tay suốt ngày chỉ biết đẽo, đục... cô cũng đã bị hủy hoại rồi. Cô không quan tâm. Điều đó không quan trọng. Sau chuyện này, họ sẽ bỏ chạy – phải thế thôi nếu muốn kết hôn. Họ sẽ chạy tới Scotland. Họ sẽ khởi đầu một cuộc đời mới. Cô có tiền. Dù cho anh chẳng có gì hết. Họ có tình yêu, vậy là đủ. Đám quý tộc chẳng có gì đáng để ghen tị hết. Họ đáng bị thương hại mới đúng. Không có tình yêu thì sống làm gì? Cô thở dài, quan sát Jonathan hồi lâu, mê mẩn nhìn anh mặc áo, nhét áo vào trong quần, xỏ chân vào bốt như thể đã làm việc đó cả nghìn lần trong không gian lụp xụp này. Anh quấn cà vạt lên cổ và khoác áo mỏng, rồi áo dày, mọi chuyển động đều gọn gàng nhanh nhẹn. Khi xong việc, anh đi ra chỗ chiếc thang dẫn xuống chuồng ngựa, tay chân thon dài và cơ bắp. Cô quấn chặt chăn vào người, cảm thấy lạnh lẽo sau khi anh rời khỏi. “Jonathan,” cô nhỏ giọng gọi, không muốn bị người khác nghe thấy. Anh nhìn cô và cô thấy trong ánh mắt xanh dương của anh chứa đựng một điều gì đó – một điều mà cô không thể nhận diện ngay được. “Gì vậy?” Cô mỉm cười và đột nhiên thấy thật xấu hổ. Xem xét những gì họ vừa làm, những gì anh vừa nhìn thấy thì điều đó đúng là bất khả thi. “Em yêu anh,” cô lặp lại, bị mê hoặc bởi cái cách chúng thoát ra khỏi môi cô, nó bao bọc cô trong sự thật, cái đẹp và tất cả những gì tốt lành nhất. Anh do dự trên thang, ngả người ra sau một cách thoải mái như thể đang bay trên không trung. Anh không nói gì một lúc lâu – lâu đến mức cô cảm thấy cái giá lạnh của tháng Ba ngấm tận vào trong xương. Lâu đến mức cảm giác bất an lặng lẽ hình thành trong cô. Cuối cùng, anh nở nụ cười dạn dĩ quen thuộc, thứ đã thu hút cô từ đầu. Suốt một năm. Và thậm chí còn lâu hơn thế. Cho tới tận chiều nay, khi cuối cùng anh cũng dụ dỗ được cô nằm trên đống cỏ khô này, hôn cô đến khi cô không còn chút do dự, rồi anh thực hiện lời hứa đáng yêu của mình, chiếm lấy tất cả những gì cô có.   Mời các bạn đón đọc Sự Trả Thù Của Quý Cô của tác giả Sarah MacLean.
Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không?
Chàng có thể hủy hoại em không? bắt đầu bằng một tình huống “dở khóc dở cười” khi tiểu thư Philippa Marbury đường đột xuất hiện trong văn phòng làm việc của Cross - một “tay chơi” nổi tiếng kiêm chủ nhân của sòng bài Thiên Thần Sa Ngã và yêu cầu anh ta “hủy hoại” nàng bằng những trải nghiệm xác thịt, đưa nàng vào hành trình khám phá cơ thể con người ở một góc độ rất khác - trần trụi và đầy nhục cảm, nhưng - dưới lăng kính của khoa học. Lý do nàng đưa ra để giải thích cho yêu cầu oái oăm đó là, nàng sắp trở thành vợ của Bá tước Castleton, nhưng nàng chẳng hề biết gì “chuyện ấy”, và Philipa nghĩ mình cần được trang bị tốt, nàng muốn biết mọi kiến thức, mọi ngóc ngách về những điều mà nàng sắp phải trải qua. Với cô tiểu thư thông minh và ngây thơ này, trải nghiệm xác thịt cũng đơn thuần giống như những ngành khoa học khác mà nàng vẫn thường nghiên cứu. Nàng, đơn giản, muốn làm chủ kiến thức, và Cross được đánh giá là một cộng sự lý tưởng cho chuyện này. Như hai thỏi nam châm trái dấu, Cross và Philippa bị cuốn vào nhau bằng một lực hút vô hình. Cuộc tình của họ đi ngược lại với những lề thói phong kiến khi Cross là kẻ bị giới thượng lưu ruồng bỏ, còn Philippa là cô tiểu thư danh giá đã đính hôn với một Bá tước khác. Vậy số phận sẽ dẫn họ đến đâu? *** Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. sinh học Bà tốt Smith năm nghiệp 1978 và có chuyên tại bằng tiểu ngành thạc bang sĩ Lịch chuyên Rhode sử ngành Nhân loại học tại Đại học Harvard. Hiện tại bà đang sống tại New York cùng chồng, con gái và sở hữu một bộ sưu tập những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hết sức đồ sộ. Sarah có niềm đam mê với lịch sử và văn học lãng mạn từ khi còn rất nhỏ. Bà từng dành hầu hết thời gian trong suốt thời niên thiếu vùi mình trong các thư viện sách. Đó cũng chính là nơi đã khơi dậy trong bà nhiệt huyết với sự nghiệp viết lách, để sau đó trở thành một trong những tiểu thuyết gia lãng mạn nổi tiếng thế giới. Khi rảnh rỗi, bà thích du ngoạn khắp mọi miền đất nước, tìm hiểu về các nền văn hóa, giáo dục, và khám phá thế giới xung quanh dưới con mắt của một lữ khách đầy lạc quan, yêu đời. Các bài viết của bà thường xuyên xuất hiện trên chuyên mục của New York Times Book Review, Washington Post và Parents Magazine. MacLean tự nhận mình là người theo chủ nghĩa bình quyền, và đó cũng chính là phương châm xuyên suốt các tác phẩm của bà, đan xen với dòng chảy của những điều lãng mạn, ngọt ngào. Bà là một trong các tác giả ăn khách nhất do New York Times, USA Today và Romantic Times bình chọn. Cuốn tiểu thuyết đầu tay - 9 tuyệt chiêu tóm kẻ phóng đãng - ra đời ngay sau khi Sarah tốt nghiệp đại học đã giúp tên tuổi của bà trở nên quen thuộc với nhiều độc giả khi được dịch ra mười thứ tiếng khác nhau trên thế giới. Tác phẩm này thuộc series Love By Numbers, cùng hai tác phẩm 10 bí quyết chinh phục trái tim và 11 tai tiếng hạ gục công tước đã được Bách Việt xuất bản vào năm 2013. Nằm trong series The Rules of Scoundrels, cuốn Chàng có thể hủy hoại em không đã cướp đi trái tim của hàng triệu độc giả bằng lối kể chuyện vô cùng tinh tế, sắc sảo. Một tiểu thuyết thú vị khác trong loạt truyện này, No Good Duke Goes Unpunished, đã mang về cho MacLean giải RITA - phần thưởng cao nhất dành cho các tác phẩm xuất sắc trong mảng văn học lãng mạn, do hiệp hội các nhà văn lãng mạn Mỹ bình chọn năm 2014. Cuốn sách sẽ được Bách Việt giới thiệu tới độc giả trong thời gian tới. Hãy thử cầm trên tay những tác phẩm của Sarah MacLean để cảm nhận được ma lực từ một cây viết đầy trí tuệ và tài hoa. Hãy bước vào thế giới muôn hình vạn trạng trong tiểu thuyết của bà để thấu hiểu những giá trị nhân văn sâu sắc qua từng trang sách... BachvietBooks *** Tác giả: Sarah MacLean sinh ngày 17 tháng 12 năm 1978 tại Rhode Island, nước Mỹ. Bà là một cây bút đầy tài hoa chuyên về tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, đồng thời cũng là một trong các tác giả của những cuốn sách ăn khách nhất do New York Times và Romantic Times bình chọn. Các tác phẩm đã và sẽ được BachvietBooks giới thiệu tới độc giả: - 9 Tuyệt Chiêu tóm kẻ Phóng Đãng - Sarah Maclean (2013) - 10 Bí quyết chinh phục trái tim - Sarah Maclean (2013) - 11 Tai Tiếng hạ gục Công tước - Sarah Maclean (2013) - Canh bạc hôn nhân (2014) - Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? (2014) - Đam Mê và Thù Hận - Sarah MacLean (Quý II/2015) - Sự Trả Thù Của Quý Cô *** Luân Đôn Đầu xuân năm 1824 Làm con trai thứ cũng có những lợi ích nhất định. Thực vậy, nếu xã hội tồn tại một sự thật thì đó chính là: Những kẻ chơi bời, những gã hư hỏng, hay những tên vô lại đều là những người thừa kế cần được cải tạo. Người đó có thể đập phá, ăn chơi trác táng và làm xã hội chướng mắt với những hành vi bồng bột của tuổi trẻ, nhưng tương lai của anh ta như được khảm vào đá bởi các thợ nề giỏi giang nhất: Rốt cuộc anh ta sẽ thấy bản thân bị trói buộc vào tước vị, đất đai và điền trang, trở thành một tù nhân của tầng lớp quý tộc cũng như các anh em cùng giới trong Thượng nghị viện. Không, sự tự do không dành cho những người thừa kế mà cho những đứa con còn lại. Và Jasper Arlesey, con trai thứ của Bá tước Harlow, biết điều đó. Anh cũng rất rõ, với tầm hiểu biết sâu sắc của một gã tội phạm thoát được giá treo cổ trong chân tơ kẽ tóc, rằng bất chấp việc phải từ bỏ tước vị, điền trang và của cải được thừa kế, mình vẫn là người đàn ông may mắn nhất trên trái đất khi được sinh ra sau Owen Elwood Arthur Arlesey - đứa con lớn tuổi nhất, con trai cả, Tử tước Baine và là người thừa kế tước vị bá tước - mười bảy tháng. Là con thừa kế, Baine phải gánh trọng trách lẫn sự đứng đắn nặng nề cùng với hy vọng và giấc mơ của một thế hệ Bá tước Harlow. Baine phải sống đúng với kỳ vọng của những người xung quanh - cha mẹ... giới quý tộc... người hầu... tất cả. Tử tước Baine không khiếm khuyết, đứng đắn và nhạt nhẽo ấy đã đáp ứng được kỳ vọng của tất cả những người đó. Tạ ơn trời! Đó là lý do vì sao tối hôm đó, Baine đã hộ tống em gái họ trong chuyến đi đầu tiên của cô tới Almack. Phải, vốn Jasper đã đồng ý nhận nhiệm vụ đó và hứa với Lavinia rằng anh chẳng dám bỏ lỡ một buổi tối quan trọng đến thế trong thời thanh xuân của cô. Nhưng những lời hứa của anh chỉ như gió thoảng mây bay, ai chả biết điều đó, vậy nên Baine là người thay anh làm nhiệm vụ. Đáp ứng kỳ vọng như thường. Thay vào đó, Jasper còn bận giành giật cả một gia tài ở một trong những sòng bạc xấu xa nhất Luân Đôn rồi ăn mừng bằng một hành động chính xác với những gì các đứa con thứ hư hỏng hay làm - ở trên giường một cô nàng xinh đẹp. Baine đâu phải là người duy nhất sống đúng kỳ vọng. Một bên khóe miệng Jasper nhếch lên thành nụ cười kín đáo khi nhớ lại khoái lạc mà mình có thừa vào tối hôm đó, rồi phai nhạt trước cảm giác nhoi nhói hối hận mà mình cảm thấy khi trèo ra khỏi chăn đệm ấm áp cùng đôi vòng tay sẵn sàng. Anh mở then cửa sau khu bếp của Dinh thự Arlesey rồi lẻn vào trong. Căn phòng tối om và im ắng trong luồng ánh sáng xám xịt của buổi sáng tháng Ba lạnh cắt da cắt thịt, vừa đủ tối để che đi bộ quần áo nhàu nhĩ, cà vạt buông hờ, và dấu hôn lộ ra dưới cổ áo lỏng lẻo. Khi cánh cửa đóng lại sau lưng, một cô hầu gái giật mình ngẩng lên từ nơi cô ta đang khom lưng, gần nửa người chui trong lò sưởi, đang đốt lửa để chuẩn bị trước khi đầu bếp đến. Cô ta đứng dậy, đặt một tay lên bộ ngực nở nang đáng yêu của mình. “Thưa ngài, ngài làm em sợ quá!” Jasper trao cho cô ta một nụ cười tinh quái trước khi cúi chào một cách hoa mỹ đến mức hẳn một triều thần cũng lấy làm tự hào. “Xin lỗi, cô gái đáng mến”, anh dài giọng, thích thú ngắm nét ửng hồng rực lên trên má cô ta thể hiện rằng cô ta tha thứ cho anh. Anh cúi người qua vai cô ta, sát sàn sạt đủ để nghe rõ nhịp thở cùng mạch đập dồn dập ở cổ cô ta rồi chộp lấy một cái bánh quy cứng từ cái khay thức ăn chuẩn bị cho các gia nhân trong bếp, nấn ná lâu hơn cần thiết một chút và thích cái cách cô ta run rẩy trông chờ. Tất nhiên, anh sẽ không chạm vào cô ta bởi cách đây rất lâu anh đã học được rằng không bao giờ được động tới gia nhân. Nhưng điều đó không ngăn anh yêu thương cô ta chút xíu. Không thể ngăn anh yêu thương toàn bộ phụ nữ - mọi vóc dáng, mọi khổ người, mọi tầng lớp. Làn da mềm mại và những đường cong còn mềm mại hơn của họ, cái cách họ hổn hển, cười khúc khích, và thở dài, cái cách những cô nàng giàu có chơi trò bẽn lẽn, còn những cô nàng ít may mắn hơn thì nhìn anh bằng đôi mắt đầy sao, háo hức mong được anh chú ý. Không nghi ngờ gì, phụ nữ là tạo vật hoàn mỹ nhất của Đức Chúa trời. Và ở tuổi hai mươi ba, anh có kế hoạch dành trọn một đời để thờ phụng họ. Anh nhai chiếc bánh quy ngọt và nháy mắt với cô ta. “Em sẽ không nói với ai là em thấy ta, phải không?” Mắt cô ta mở to, và cô ta lập tức lắc đầu. “K... không, thưa ngài! Không ạ!” Phải rồi, là con thứ luôn có những lợi ích nhất định. Nháy mắt thêm lần nữa và trộm thêm cái bánh bích quy, Jasper lẻn khỏi bếp vào hành lang hậu dẫn tới cầu thang cho gia nhân. “Ngài đã ở đâu vậy?” Stine, người lo liệu công việc kinh doanh của cha anh, hiện ra từ bóng tối trong bộ đồ đen, khuôn mặt dài và trắng bệch của ông ta đầy vẻ buộc tội cùng một vẻ gì đó tồi tệ hơn thế. Tim Jasper đập thình thịch vì ngạc nhiên dù anh sẽ bị nguyền rủa nếu thú nhận điều đó. Anh không phải trả lời Stine. Chỉ riêng việc phải trả lời ông chủ của Stine đã tệ lắm rồi. Tức là cha của anh. Người đàn ông dành cho con trai thứ của mình ít kỳ vọng hơn tất cả những người khác gộp lại. Người con trai đó ngả gót chân ra sau và cười toe toét với vẻ kiểu cách đầy kinh nghiệm. “Stern[1]“, anh dài giọng, thích cái cách người ông ta cứng đờ trước cái tên sai đó. “Lúc này khá sớm để đi săn, phải không?” “Không quá sớm đối với ngài.” Jasper mỉm cười như một con mèo nhìn thấy chim hoàng yến. “Ông nói mới đúng làm sao! Đúng là muộn rồi. Ta đã có một tối tuyệt vời, và mong ông không phá hoại... dư âm huy hoàng của nó.” Anh vỗ vai Stine rồi đi qua ông ta. “Cha ngài đang tìm ngài.” Anh không ngoái lại. “Hẳn rồi. Ta cũng chắc chắn là việc đó để sau cũng được.” “Tôi không nghĩ là có thể đâu, ngài Baine.” Anh mất một lúc mới nghe rõ từ đó, nghe thấy tước vị đó cũng như hiểu ra ý nghĩa của nó. Anh quay lại, vẻ khiếp hãi và khó tin chạy xuyên qua cơ thể. Khi anh cất lời, từ ngữ thốt ra thật non nớt và yếu ớt, chẳng hơn một tiếng thì thầm là bao. “Ông vừa gọi ta là gì?” Mắt Stine thoáng nheo lại. Sau này, chính cái cử động gần như không thể nhận thấy trên đôi mắt đen lạnh lùng ấy đã khiến Jasper nhớ mãi. Anh cao giọng đầy giận dữ, “Ta vừa hỏi ông đấy!”. “Ông ta gọi mày là Baine.” Jasper quay phắt lại đối mặt với cha anh, Bá tước Harlow, cao lớn, mạnh mẽ và thậm chí vẫn cứng rắn vào khoảnh khắc này. Trong thời điểm này. Dù cho di sản của ông ta đã sụp đổ và phải đối mặt với nỗi thất vọng của cuộc đời mình. Giờ là người thừa kế. Jasper vật lộn tìm hơi thở, rồi tìm lời để nói. Cha anh tìm ra trước. “Đáng ra phải là mày mới phải.” Mời các bạn đón đọc Chàng Có Thể Hủy Hoại Em Không? của tác giả Sarah MacLean.
Không Khóc Ở Kuala Lumpur
ĐỌC “KHÔNG KHÓC Ở KUALA LUMPUR” CỦA LINH LÊ Nếu Malaysia phải chọn một người để quảng bá du lịch cho Kuala Lumpur và cho đất nước Hồi giáo này, người đó sẽ không phải là Linh Lê. Hình ảnh Kuala Lumpur trong Không khóc ở Kuala Lumpur đầy ám ảnh, những trận mưa, sấm chớp kinh hoàng, những bi kịch nặng nề và ám ảnh, cả tiếng quạ kêu. Những tình tiết éo le đến mức không thể tin đó là sự thực. Những nhân vật sống bản năng đến khó tin. Nhưng rồi người đọc lại bị thuyết phục bởi một giọng văn rất thực, một tình cảm rất thực, thực tưởng như chính những trải nghiệm của nữ tác giả tuổi đời còn rất trẻ này. Không kỹ thuật, không tính toán, tả chân một cách như vô tình, lại đem đến cho tác phẩm một nét riêng, nhiều lúc sa đà vào chi tiết, nhưng nhiều lúc chính chi tiết làm cảm xúc như dồn nén, thậm chí nghẹt thở. Dường như với Linh Lê, không có chỗ cho những cá tính hời hợt. Tất cả đều được phơi bày. Cũng không có chỗ cho những cảm xúc bâng quơ. Hoặc là hạnh phúc ngất ngây, hoặc là đau khổ đến tột cùng. Và ở tận cùng của nỗi đau, khóc hay không khóc, dường như cũng không có gì khác biệt. Có cảm giác từng đoạn, từng đoạn, tác giả như “lên đồng” cùng tác phẩm và độc giả cũng bị dẫn dụ vào những dòng chữ đầy ám ảnh đó, có rất nhiều đoạn ám ảnh như vậy trong Không khóc ở Kuala Lumpur. Đọc liền một mạch, lật đến trang cuối cùng, gập lại cuốn sách, tôi liên tưởng tới một bộ phim Sitcom trên truyền hình, thể loại phim mà mọi diễn biến chỉ xảy ra trong bốn bức tường. Chỉ có điều, Sitcom gây cười và như một món giải trí nhẹ nhàng, trôi tuột trước khi đi ngủ. Còn với tiểu thuyết đầu tay này của Linh Lê, chúng ta bị ám ảnh. Một sự pha trộn giữa trong sáng và từng trải, ngây thơ và sâu sắc. Đó là những gì mà độc giả có thể cảm nhận được về tác giả trong tiểu thuyết đầu tay này của cô. Với những gì có trong Không khóc ở Kuala Lumpur, với một sự tinh tế và nhạy cảm hiếm có ở một nữ tác giả tuổi đời còn rất trẻ, văn học trẻ chào đón một hơi thở mới, thổi về từ Kuala Lumpur. BTV Lê Quang Minh - Đài truyền hình Việt Nam *** Không khóc ở Kuala Lumpur là truyện đầu tay của tác giả trẻ Linh Lê. Tác phẩm kể về những câu chuyện tình yêu của giới trẻ với muôn vàn sắc màu, có yêu thương, có hạnh phúc và không thể thiếu những buồn đau. Các bạn có thể tìm đọc cuốn sách trên trang đọc sách waka.  Truyện xoay quanh Việt An – một cô gái thông minh, sắc xảo, có ý thức cao về vẻ bề ngoài của mình. Ở cô tỏa ra vẻ đẹp kiêu ngạo, tràn đầy sức sống tuổi trẻ. Mười sáu tuổi, An quen một chàng trai tên Kiên. Anh học giỏi, đẹp trai, đã thu hút cô với dáng vẻ hiền lành của mình. Họ yêu nhau thắm thiết bằng tất cả sự nồng nhiệt, chân thành dành cho mối tình đầu thơ dại. Thế nhưng thanh xuân mấy ai giữ trọn được duy nhất một mối tình. Cô và Kiên chia tay. Mối tình ấy để lại vết sẹo đau đớn mà thỉnh thoảng vẫn nhói lên trong lòng An. Bước chân vào đại học, An nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới. Cô kết bạn với Hiên Lam và Chu Minh. Chu Minh là người thật thà, tốt bụng. Hiên Lam lại khác. Cô toát ra dáng vẻ bất cần, từng trải vì những vấp ngã trong quá khứ. Bộ ba thân thiết với nhau từ những ngày đầu vào đại học. Rồi Minh và An yêu nhau. Và ba người họ cùng nhau sang Kuala Lumpur du học. Học tại đất nước xa lạ, nhóm bạn bị cuốn vào không khí hiện đại của môi trường mới. Lam lao vào những cuộc yêu vô thưởng vô phạt để chơi bời cho bớt nhàm chán. Ngược lại An và Minh nảy sinh mâu thuẫn trong mối quan hệ. Hai người đứng trước bờ vực của sự chia tay. Trong hoàn cảnh đó, Ken xuất hiện. Giữa sự mệt mỏi trong mối quan hệ với Minh, Ken mang đến cho An cảm giác nhẹ nhõm. Sự mới lạ từ Ken đã cuốn hút An và làm sống dậy những nhiệt huyết, xúc cảm trong lòng An từ lâu đã bị chôn vùi sau mối tình với Kiên. An quyết định chia tay Minh để đến với Ken. Không chịu được sự tuyệt tình của An, Minh lựa chọn tự tử. Mọi chuyện chưa kịp lắng xuống, An lại phát hiện một sự thật bàng hoàng mà Ken che giấu. Ken và Lam vụng trộm. Một người là người yêu, một người là bạn thân, vậy mà hai người họ lại lén lút yêu đương sau lưng An. Hai người họ đến với nhau chỉ trong giây phút bốc đồng nhất thời. Ken vốn thuần khiết và ngay thẳng, nhưng phần bản chất đàn ông bên trong Ken đã không kịp khống chế nên mới lao vào cuộc vui với Lam. Hai người họ quyết định chấm dứt mối tình này bằng một chuyến đi du lịch. Đó cũng là chuyến du lịch cuối cùng trong cuộc đời họ. Ken và Lam chết vì tai nạn giao thông. Ken, Lam hay Chu Minh đều là một phần thanh xuân, là tuổi trẻ của An. Dẫu họ có đối xử với cô không công bằng nhưng họ đã sát cánh bên cô trong thời gian tươi đẹp nhất. Họ đã chứng kiến An vấp ngã và trưởng thành. Vậy mà giờ đây, tất cả đều đã ra đi, bỏ mặc An một mình trên cõi đời này. Tuổi thanh xuân của An cũng chấm dứt từ đây. Cái chết của những người bạn cũng chính là cái chết tâm đối với An. Không khóc ở Kuala Lumpur là thế giới những con người trẻ tuổi, trẻ lòng. Họ vốn là một tờ giấy trắng, không có gì trong tay nhưng họ có nhiệt huyết, hết lòng trong tình yêu, tình bạn. Họ sống hết mình với những khát khao cháy bỏng để cho dù đến chết cũng không hối tiếc. Nhưng bên cạnh đó, trong tâm hồn họ cũng lẩn khuất những góc tối không muốn ai biết đến. Ví dụ như với An là mối tình ngây dại đánh đổi tất cả ngây thơ, trong trắng với Chu Minh. Chính sự sứt mẻ, không hoàn hảo đã tạo dựng nên con người, đặc biệt là người trẻ. Ngây thơ làm nên thất bại. Nhưng từ những tổn thương ấy họ mới có thể trưởng thành. Với Không khóc ở Kuala Lumpur, Linh Lê đã tái hiện lại một thành phố Á Đông rực rỡ phù hoa. Nổi bật trên cái nền đó là cuộc sống của những du học sinh đầy khó khăn, luôn bị cám dỗ bởi những điều mới lạ. Ở nơi đấy, tuy có những buồn đau nhưng cũng có những kí ức tươi đẹp của sự trưởng thành. Tác giả đã tái hiện lại cuộc sống của những người trẻ bằng lối kể tự nhiên, dễ hiểu. Nhân vật được xây dựng có cá tính riêng. Tất cả tạo nên những sắc màu rực rỡ có vui, có buồn, có vấp ngã, có trưởng thành của tuổi trẻ. *** Mời các bạn đón đọc Không Khóc Ở Kuala Lumpur của tác giả Linh Lê.