Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Những Cậu Bé Kẽm - Viết (Hay Kể) Toàn Bộ Sự Thật Về Chính Mình Là Bất Khả

Tác phẩm - Năm 1989, Những cậu bé kẽm lần đầu được xuất bản - Tháng 7 năm 1992, những đơn kiện Những cậu bé kẽm và S. Alexievich đầu tiên được gửi đi - Ngày 20 tháng 1 năm 1993, phiên xử đầu tiên diễn ra - Ngày 10 tháng 8 năm 2015, giải Nobel Văn học thứ 112 trong lịch sử gọi tên Svetlana Alexievich, dư luận một lần nữa lại dậy sóng… Vì điều gì mà từ những dòng văn xuôi tư liệu về chiến tranh Afghanistan lại dẫn đến phiên tòa xử án văn chương? Những cậu bé kẽm là thiên thứ ba trong loạt năm quyển của bộ Những giọng nói không tưởng gồm: Những nhân chứng cuối cùng, Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ, Lời nguyện cầu Chernobyl và Thời second hand. Những cậu bé kẽm, một nhan đề khốc liệt – những xác người trong quan tài kẽm – những cái xác vừa mới mười tám đôi mươi – những cậu bé đẹp đẽ rạng ngời, vừa rời vòng tay cha mẹ, người thương để rồi trở về trong những cỗ quan tài kín bưng – “hàng vận chuyển 200”. Được viết bằng thể loại văn xuôi tư liệu cùng với tâm thế của một con người vị nhân phản chiến, cuốn sách đã khuấy lên một giai đoạn lịch sử đầy những tổn thương đau đớn, đã phác họa một bối cảnh, đã soi chiếu bằng một góc nhìn trước nay chưa từng được công bố. Những cậu bé kẽm là lời bộc bạch của những người sống sót trở về từ chiến tranh Afghanistan và của thân nhân những người đã mất. Đó là những dòng hồi ức khốc liệt, đẫm máu, thống khổ và vĩnh viễn làm thương tổn không chỉ thân thể mà còn tinh thần con người. Nó phơi bày cái phi nghĩa, vô nhân của một cuộc chiến tranh vô vọng. Những “Afghan” – những người Nga tham gia chiến tranh ở Afghanistan 1979 – 1989, những người ra đi trên danh nghĩa làm “nghĩa vụ quốc tế” rồi rút về trong thất bại, không bao giờ được biết niềm tự hào của thế hệ cha ông trong cuộc chiến tranh Vệ Quốc vĩ đại. Người “may mắn” nằm lại trong những chiếc quan tài kẽm, số khác thân xác lang bạt nơi chiến trận. Kẻ sống sót trở về cũng không bao giờ có thể quay lại cuộc sống của một người bình thường bởi những sang chấn khủng khiếp mang tên hội chứng Afghanistan. Người ngoài cuộc nhìn nhận họ như những kẻ sát nhân, kẻ bại trận, còn chính họ cũng quên mất phải sống bình thường là thế nào! Hơn năm trăm cuộc phỏng vấn đã được Svetlana Alexievich thực hiện để tạo nên bức tranh toàn cảnh về những góc khuất của chiến tranh. Cũng chính những trang tư liệu về nỗi đau của những nỗi đau này, ngày 20 tháng 1 năm 1993, cuốn sách của Svetlana Alexievich bị đưa ra tòa xét xử bởi những người cung cấp tư liệu đâm đơn kiện với lý do phỉ báng danh dự và ngụy tạo lời kể. Phiên tòa kéo theo sự chú ý của chính quyền và công chúng tạo thành làn sóng dư luận ở cả hai phía, ủng hộ và chống đối Svetlana Alexievich. Ở những lần tái xuất bản sau, Svetlana Alexievich đã đồng ý thêm vào toàn bộ biên bản vụ kiện cùng những sự kiện có liên quan. Vậy, vì điều gì mà từ những dòng văn xuôi tư liệu về chiến tranh Afghanistan lại dẫn đến phiên tòa xử án văn chương? Có lẽ câu trả lời sẽ nằm trong suy nghĩ mỗi người khi bước vào thế giới của Những cậu bé kẽm. “Tôi tự hỏi Svetlana Alexievich có cần phải viết một cuốn sách về những điều kinh khủng của chiến tranh không? Có! Những bà mẹ có cần phải bảo vệ con trai mình không? Có! Và những “người Afghan” có cần phải bảo vệ đồng đội mình không? Lại một lần nữa - có! …Các đạo diễn và nhạc trưởng, các chính khách và nguyên soái, những kẻ tổ chức cuộc chiến tranh này, không có mặt trong phòng xử án. Ở đây chỉ toàn những phía bị hại: là tình yêu, không chấp nhận sự thật cay đắng về chiến tranh; là sự thật, cần phải được nói ra mặc cho tình yêu thế nào chăng nữa; là danh dự, không thể chấp nhận tình yêu lẫn sự thật...” Pavel Shetko Một “cựu Afghan” Tác giả Nhà văn Svetlana Alexievich tại Ukraine trong một gia đình công chức. Năm 2015, bà được trao giải Nobel Văn học. Theo Viện Hàn lâm Thụy Điển, giải thưởng này được trao cho bà để “tôn vinh những dòng văn phức điệu của bà. Văn của bà là tượng đài tri ân sự đau khổ và lòng dũng cảm trong thời đại chúng ta.” Sau khi tốt nghiệp khoa Báo chí Đại học Tổng hợp Quốc gia Belarus, bà làm việc cho tờ Báo nông nghiệp và tạp chí Neman ở Minsk. Trong suốt vài thập niên bà đã viết biên niên tư liệu – nghệ thuật Những giọng không tưởng – gồm năm quyển sách (Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ - 1983, Những nhân chứng cuối cùng - 1985, Những cậu bé kẽm - 1989, Lời nguyện cầu từ Chernobyl - 1997, Thời second-hand - 2013) và để những “con người nhỏ bé” đích thân kể về số phận của mình. Thực chất, đây là một thể loại đặc biệt, một loại tiểu thuyết chính trị đa giọng, trong đó những câu chuyện nhỏ bé hợp thành một lịch sử lớn. Các tác phẩm của Svetlana Alevievich đã được dịch ra hơn 35 thứ tiếng, là nền tảng cho hằng trăm bộ phim điện ảnh, kịch sân khấu và truyền thanh trên khắp thế giới, đoạt nhiều giải thưởng quốc tế. *** LỜI GIỚI THIỆU “Văn chương đang ngạt thở trong những biên giới của mình”. Với tâm tình đó, nữ nhà văn Svetlana Alexievich đã quyết định chọn hình thức “truyện vừa tư liệu” cho cuốn sách Những cậu bé kẽm, được in lần đầu tiên năm 1989. Hai mươi sáu năm sau, cuốn sách đã góp phần đưa bà đến giải Nobel văn học năm 2015, cùng với bốn quyển sách khác trong loạt sách Những giọng nói không tưởng: Chiến tranh không có một khuôn mặt phụ nữ (1983), Những nhân chứng cuối cùng (1985), Lời nguyện cầu từ Chernobyl (1997) và Thời second hand (2013). Nhưng cũng chính thể loại truyện vừa tư liệu của Những cậu bé kẽm đã khiến bà phải ra tòa (phần cuối quyển sách đã giới thiệu tiến trình tố tụng này). Phiên tòa mà, từ một phía bà bị cáo buộc là “xúc phạm danh dự và phẩm giá” của những người lính đã chết trong cuộc chiến tranh Afghanistan, của những người mẹ vẫn còn đang ngồi bên mộ chí con mình. Còn từ phía những người ủng hộ nữ nhà văn, đó là phiên tòa “xử án văn chương”, “xử án một quyển sách”, “xử án sự thật”. Cuộc tranh cãi đó, cuối cùng được cố gắng ngã ngũ ở việc thế nào là thể loại truyện vừa tư liệu; vẫn chưa giải đáp được câu hỏi “sự thật là sự thật nào”, khi chính nữ nhà văn cũng hoài nghi như Pilatus đặt câu hỏi về sự thật trong phiên tòa xử Chúa. Phiên tòa đã khép lại đầu những năm 1990. Nhưng cuộc tranh cãi về sự nghiệp của nữ nhà văn Belarus viết bằng tiếng Nga một lần nữa được nhắc lại nhân Nobel 2015. Nếu bà được ngợi khen trên báo chí phương Tây như một “bậc thầy xuất sắc trong lĩnh vực văn xuôi nghệ thuật tư liệu”(Frankfurter Allgemeine), thì nhà phê bình Nga Olga Tukhanitsa, lại nhận xét vào tháng 12-2015: “Một mặt, Alexievich khăng khăng biện hộ mình không phải là nhà văn nhưng lại chứng minh những gì bà đang làm trong thế giới hiện đại là văn học chân chính; mặt khác, bà - như một nữ sinh, đoàn viên Komsomol, cố nhồi vào thông điệp của mình tất cả những khuôn mẫu định kiến về nước Nga…” Dẫu sao, chúng ta sẽ không thể tranh luận với cả hai ý kiến trên nếu chưa đọc hết Những cậu bé kẽm. Bản dịch tiếng Việt dựa trên nguyên bản tiếng Nga đã được tác giả hiệu đính và NXB Vremya (Moskva) phát hành năm 2017. Trân trọng giới thiệu cùng độc giả, và thành thật cảm ơn bà Marina Vladimirovna Sharoiko (Giảng viên Bộ môn Lý luận Văn học Nga, Đại học Tổng hợp Kuban) và bà Irina Letiagina (cựu biên tập viên NXB Cầu vồng, và NXB Tiến bộ - Liên Xô cũ) đã giúp chúng tôi hoàn thành bản dịch này. Phan Xuân Loan 10-2017 *** LỜI MỞ ĐẦU Tôi đi một mình. Giờ đây tôi sẽ phải đi một mình. Nó giết người. Con trai tôi. Bằng cái rìu nhà bếp tôi dùng xẻ thịt. Nó quay về từ trận chiến và giờ thì giết người. Buổi sáng nó mang cái rìu đặt về chỗ cũ, trong tủ bếp, nơi tôi cất chén dĩa. Hình như ngày hôm đó tôi còn làm cho nó món sườn hầm. Một lúc sau ti vi và báo buổi chiều đưa tin các ngư dân vớt được một thi thể từ dưới hồ. Từng mảnh. Bạn tôi gọi điện: - Chị đọc báo chưa? Một vụ giết người chuyên nghiệp. Kiểu Afghanistan. Con trai tôi đang ở nhà, nằm đọc sách trên xô pha. Tôi không biết và cũng chẳng đoán ra gì, nhưng chẳng hiểu sao sau những lời ấy tôi lại nhìn nó. Trái tim người mẹ. Cô có nghe tiếng chó sủa không? Không à? Còn tôi thì nghe đấy, vừa bắt đầu kể chuyện này là tôi đã nghe tiếng chó sủa. Lũ chó đang chạy. Ở đó, nơi con trai tôi đang ngồi tù có những con bẹc giê lớn. Và mọi người mặc toàn đen, rặt một màu đen. Tôi trở về Minsk, đi ngang qua cửa hàng bánh mì, qua vườn trẻ, tay cầm ổ bánh mì với sữa và nghe thấy tiếng sủa. Tiếng sủa chói tai. Nó làm tôi như đui mù. Có lần tôi suýt lọt vào gầm xe. Tôi sẵn sàng ở rịt bên mộ con mình, sẵn sàng nằm cạnh nó. Nhưng tôi không biết… không biết sẽ sống thế nào với chuyện này. Đôi khi tôi sợ xuống bếp, sợ nhìn thấy cái tủ bếp đó, nơi cất cái rìu. Cô không nghe thấy gì hết à? Không à? Giờ đây tôi không biết nó sẽ ra sao, con trai tôi. Tôi sẽ đón nó về thế nào sau mười lăm năm nữa. Nó bị tuyên mười lăm năm khổ sai. Tôi đã nuôi dạy nó thế nào? Nó mê khiêu vũ. Tôi và nó đã đến bảo tàng Hermitage ở Leningrad. Chúng tôi đã đọc sách cùng nhau. (Khóc.) Chính Afghanistan đã cướp mất con trai tôi. …Tôi nhận được điện tín từ Tashkent: “Hãy đón chuyến bay số…” Tôi lao ra ban công, gào to hết sức: - Còn sống! Con tôi còn sống! Cuộc chiến khủng khiếp này kết thúc với tôi rồi. Rồi tôi ngất đi. Dĩ nhiên chúng tôi đã ra sân bay trễ, chuyến bay đã hạ cánh từ lâu, tôi tìm thấy con trai mình trong vườn hoa. Nó nằm trên đất và níu lấy cọng cỏ, ngạc nhiên sao cỏ xanh đến thế. Nó không tin mình có thể trở về. Nhưng gương mặt nó không có niềm vui. Buổi tối những người láng giềng kéo sang nhà chúng tôi, họ có một cô con gái nhỏ, bé thắt một cái nơ xanh trên tóc. Nó đặt con bé ngồi lên gối, ôm vào lòng và khóc, nước mắt cứ thế lã chã tuôn rơi. Bởi ở đó chúng đã giết người, cả nó. Mãi sau này tôi mới hiểu ra. Ở biên giới, hải quan đã “tỉa” quần lót của nó. Hàng Mỹ. Không được phép. Vì thế nó về nhà mà không có đồ lót. Nó mang về cho tôi cái áo choàng, cái áo cũng bị tịch thu. Nó mang cho bà ngoại cái khăn trùm đầu, họ cũng lấy mất. Nó đành về với những bông hoa lay ơn. Nhưng gương mặt nó không có niềm vui. Buổi sáng thức dậy nó còn bình thường: “Mẹ ơi! Mẹ ơi!”. Đến chiều mặt nó tối dần, khóe mắt nặng trĩu. Tôi không thể tả nổi điều đó. Lúc đầu nó chẳng uống giọt nào. Nó ngồi quay vào tường rồi bật dậy khỏi xô pha, với lấy cái áo khoác. Tôi đứng ngay cửa: - Con đi đâu, Valyushka? Nó nhìn tôi như nhìn vào thinh không. Rồi bỏ đi. Tối muộn tôi đi làm về, nhà máy ở xa, lại làm ca hai, tôi gọi cửa nhưng nó không mở. Nó không nhận ra giọng tôi. Chuyện đó thật kỳ quặc, ừ thì giọng bạn bè có thể không nhận ra, nhưng đây là giọng mẹ nó! Hơn nữa, lại là “Valyushka” - chỉ có tôi mới gọi nó như thế. Dường như lúc nào nó cũng đang đợi ai đó, sợ sệt. Tôi mua cho nó cái sơ mi mới, ướm thử và thấy trên tay nó có những vết cắt. - Cái gì đây? - Chuyện nhỏ mà mẹ. Sau đó tôi mới biết. Sau phiên tòa. Trong thời gian huấn luyện nó đã cắt cổ tay. Trong một giờ diễn tập, nó là nhân viên điện đài, nhưng không kịp ném điện đài xách tay lên cây đúng lúc, không hoàn thành nhiệm vụ đúng thời gian quy định nên thượng sĩ phạt nó múc 50 thùng chất thải từ nhà vệ sinh diễu qua đội hình. Nó đã xách và ngất xỉu. Bệnh viện chẩn đoán: chấn động tâm thần nhẹ. Đêm đó nó đã cắt ven tay. Lần thứ hai là ở Afghanistan. Trước cuộc bố ráp, họ kiểm tra và điện đài không hoạt động. Thiếu một số phụ kiện khan hiếm khi đó. “Kẻ nào đã lấy trộm chúng. Ai?” Chỉ huy cáo buộc nó hèn nhát giấu các chi tiết đó đi để không phải hành quân cùng mọi người. Mà ở đó trộm cắp như rươi, thậm chí các bộ phận ô tô cũng bị tháo rời đem bán cho các dukan*. Để mua ma túy, thuốc lá, thức ăn. Họ lúc nào cũng đói. Trên truyền hình đang có chương trình về Edith Piaf*, chúng tôi luôn xem cùng nhau. - Mẹ, - nó hỏi, - mẹ có biết ma túy là gì không? - Không. - Tôi nói dối, còn chính mình bắt đầu dõi theo nó: nhỡ nó hút thì sao? Tôi không phát hiện ra dấu vết nào. Nhưng ở đó họ sử dụng ma túy - tôi biết điều này. - Ở Afghanistan thế nào hở con? - Có lần tôi hỏi. - Thôi mà mẹ! Khi nó đi khỏi nhà, tôi đọc lại hết những bức thư từ Afghanistan của nó, tôi muốn đào xới, tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra với nó. Tôi không tìm thấy gì đặc biệt, nó viết buồn nhớ cỏ xanh, bảo bà ngoại chụp hình trên nền tuyết rồi gởi cho nó. Nhưng tôi đã nhận ra, cảm thấy đã có gì đó xảy ra với nó. Họ đã trả về cho tôi một con người khác. Đó không phải là con tôi. Mà chính tôi đã đưa con vào quân ngũ, nó vốn được hoãn nghĩa vụ. Tôi muốn nó thành người dũng cảm. Tôi thuyết phục con và chính mình rằng quân đội sẽ trui rèn nó tốt hơn, mạnh mẽ hơn. Tôi tiễn nó đi Afghanistan với tiếng ghi-ta cùng một bữa tiệc ngọt chia tay. Nó mời bạn bè và các cô gái… Tôi nhớ đã mua tới mười cái bánh kem. Chỉ có một lần nó nói về Afghanistan. Vào một buổi tối. Nó ghé vào bếp, lúc tôi đang làm thịt thỏ. Cái bát đầy máu. Nó nhúng các ngón tay vào máu rồi nhìn cái bát. Nhìn chằm chằm. Rồi nói với chính mình: - Họ chở cậu ấy về với cái bụng bị thủng. Cậu ấy đề nghị mình bắn. Và mình đã bắn. Những ngón tay đầy máu thỏ. Với những ngón tay dính máu đó nó vớ lấy điếu thuốc rồi bỏ ra ban công. Tối hôm đó nó không nói thêm với tôi một lời nào. Tôi tìm tới các bác sĩ. “Hãy trả lại con trai cho tôi! Xin cứu giúp!” Tôi kể lại tất cả… Họ kiểm tra nó, thăm khám, nhưng ngoài chứng đau thần kinh tọa, họ chẳng phát hiện gì. Một lần nọ về nhà, tôi thấy bốn cậu trai lạ ngồi sau bàn. - Mẹ, họ từ Afghanistan về. Con gặp họ ở nhà ga. Họ chẳng có chỗ nào để qua đêm cả. - Tôi sẽ nướng một cái bánh ngọt cho các cậu. Nhanh lắm. - Chẳng hiểu sao tôi lại mừng rỡ. Chúng sống ở nhà tôi một tuần lễ. Tôi không đếm, nhưng tôi nghĩ chúng uống cỡ bốn thùng vodka. Mỗi tối tôi lại gặp ở nhà năm người lạ, người thứ năm là con tôi. Tôi không muốn nghe những câu chuyện của chúng, tôi sợ lắm. Nhưng vì ở chung một nhà nên tôi tình cờ nghe thấy. Chúng kể suốt hai tuần mai phục, chúng được phát thuốc kích thích để bạo gan hơn. Nhưng tất cả những chuyện đó được giữ kín. Vũ khí nào giết người hiệu quả hơn. Từ khoảng cách nào… Sau này tôi mới nhớ lại những câu chuyện đó, khi sự việc đã xảy ra. Chỉ sau đó tôi mới nghĩ ra, hoảng hốt nhớ lại. Còn trước đó chỉ có nỗi sợ: “Ôi,” tôi nói thầm, “chúng điên làm sao. Tất cả đều dở người”. Ban đêm. Trước cái ngày nó giết người. Tôi nằm mơ thấy mình đang đợi con nhưng mãi vẫn không thấy nó. Thế rồi người ta đưa nó về. Bốn “người Afghan” đó đưa về. Và họ ném nó xuống sàn xi măng dơ dáy. Cô hiểu không, sàn xi măng trong gian bếp chúng tôi ấy…* Cái sàn như sàn nhà tù. Lúc đó nó đã vào học khoa dự bị trường Đại học Kỹ thuật Phát thanh. Nó viết tốt bài luận. Nó hạnh phúc và mọi việc đều ổn. Tôi đã nghĩ nó đang nguôi ngoai. Sẽ đi học. Rồi cưới vợ. Nhưng cứ tối đến, tôi sợ những buổi tối, nó ngồi và nhìn chằm chằm vào vách rồi thiếp ngủ trên ghế bành. Tôi muốn nhào tới, lấy thân mình che chở và không thả cho nó đi đâu nữa hết. Bây giờ tôi nằm mơ thấy nó còn nhỏ và đòi ăn. Lúc nào nó cũng đói. Nó chìa hai tay. Trong mơ lúc nào tôi cũng thấy nó nhỏ bé và bị hạ nhục. Còn trong đời thật? Mỗi tháng hai cuộc gặp. Bốn tiếng chuyện trò qua lớp kính. Mỗi năm hai lần thăm nuôi, đó là khi tôi được mang gì đó cho nó ăn. Và tiếng chó sủa. Tôi nằm mơ thấy tiếng chó sủa. Chúng đuổi theo tôi khắp chốn. Có một người đàn ông tán tỉnh tôi. Tặng cả hoa. Khi ông ta mang hoa tới, “Ông tránh xa khỏi tôi,” tôi bắt đầu hét, “tôi là mẹ của tên giết người”. Thời gian đầu tôi sợ gặp những người quen, tôi trốn trong nhà tắm và chờ những bức tường đổ sập xuống người. Tôi ngỡ như người ngoài đường đều nhận ra tôi, chỉ trỏ nhau xem rồi xầm xì: “Nhớ vụ ghê rợn đó không? Chính con trai bà ta giết người đấy. Chặt làm tư. Kiểu Afghanistan”. Tôi chỉ ra đường vào buổi tối, tìm hiểu hết những loài chim đêm. Tôi nhận biết chúng qua tiếng hót. Vụ án được điều tra. Vài tháng trôi qua. Nó im lặng. Tôi đến quân y viện Burdenko ở Moskva. Ở đó tôi tìm được vài cậu trai từng phục vụ trong đội đặc nhiệm như nó. Tôi bộc bạch cùng họ. - Các cháu này, vì cái gì mà con trai bác giết người? - Hẳn là có chuyện gì đó. Tôi phải thuyết phục mình rằng con tôi có thể đã làm điều đó. Giết người. Tôi gặng hỏi họ rất lâu để hiểu ra rằng: nó có thể! Tôi hỏi họ về cái chết. Không, không phải về cái chết, mà về việc giết chóc. Nhưng cuộc trò chuyện đó không gợi được ở họ những cảm xúc đặc biệt nào, những cảm xúc mà bất kỳ việc giết chóc nào cũng đều có thể gợi lên ở một con người bình thường chưa từng thấy máu. Họ nói về chiến tranh như nói về một công việc, một công việc cần phải giết người. Sau đó tôi đến gặp những cậu trai cũng từng ở Afghanistan, và khi Armenia động đất họ đã tới đó cùng những đội cứu hộ. Tôi muốn biết, tôi bị ám ảnh vì chuyện đó: họ có sợ không? Họ cảm giác thế nào khi chứng kiến cái chết? Không, họ chẳng thấy sợ gì cả, thậm chí lòng thương hại ở họ cũng đã cùn mằn. Những hộp sọ vỡ tung, bẹp dí, những khúc xương người… Nhiều trường học bị vùi trong lòng đất. Những lớp học. Bọn trẻ ngồi học và cứ thế mà đi vào lòng đất. Còn họ thì nhớ và kể lại những chuyện khác, nào là họ đã đào được những kho rượu vang béo bở ra sao, họ đã uống những loại vang nào, loại cô nhắc nào. Họ đùa cợt: phải chi có thêm động đất ở đâu đó. Nhưng phải ở chỗ nào ấm áp cơ, nơi nho có thể mọc và làm được vang ngon. Họ sao thế? Tâm lý họ có bình thường không vậy? “Con căm thù cái đứa bị giết đó.” Nó viết cho tôi như thế cách đây không lâu. Sau năm năm. Chuyện gì đã xảy ra ở đó? Nó câm nín. Tôi chỉ biết, cậu trai đó tên Yura, khoác lác rằng đã kiếm chác được nhiều chi phiếu ở Afghanistan. Nhưng sau đó hóa ra cậu ta phục vụ ở Ethiopia, là chuẩn úy. Cậu ta đã nói dối về Afghanistan. Tại phiên tòa, chỉ một mình luật sư biện hộ nói rằng chúng ta đang xử án một người bệnh. Trên ghế bị can không phải là tội nhân, mà là bệnh nhân. Anh ta cần được điều trị. Nhưng đó là bảy năm về trước, khi sự thật về Afghanistan chưa được hé lộ. Và chúng ta đã gọi tất cả là anh hùng. Những chiến sĩ làm nghĩa vụ quốc tế. Còn con trai tôi là kẻ giết người. Bởi nó làm cái việc mà họ từng làm ở đó. Vì việc đó mà họ được trao mề đay và huân chương. Nhưng tại sao họ lại buộc tội mình con tôi? Tại sao không buộc tội những kẻ đẩy nó vào nơi đó? Dạy nó giết người! Tôi đâu có dạy con mình việc đó. (Bùng nổ và gào thét.) Nó giết người bằng cái rìu bếp của tôi. Rồi buổi sáng nó mang đặt cái rìu lại vào tủ bếp. Như một cái muỗng hay một cái nĩa bình thường. Tôi ganh tị với những bà mẹ có con trở về cụt cả hai chân. Cứ để nó căm thù mẹ mình sau khi đã nốc say. Căm thù cả thế giới. Cứ để nó lao vào bà ta, như lao tới kẻ thù. Bà ta sẽ trả tiền cho gái mại dâm, để nó không phát rồ. Bản thân bà ta từng một lần trở thành tình nhân cho nó, bởi nó đã trườn ra ban công và muốn lao xuống từ tầng mười. Tôi chấp nhận tất cả. Tôi ganh tị với tất cả những bà mẹ, kể cả những ai có con đã nằm trong huyệt mộ. Tôi sẽ ngồi bên mộ chí của con và hạnh phúc. Tôi sẽ mang hoa tới. Cô có nghe tiếng chó sủa không? Nó đuổi theo tôi. Tôi nghe thấy chúng. Một bà mẹ Mời các bạn đón đọc Những Cậu Bé Kẽm - Viết (Hay Kể) Toàn Bộ Sự Thật Về Chính Mình Là Bất Khả của tác giả  Svetlana Alexievich & Phan Xuân Loan (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Công Chúa Của Thế Giới Đêm - Kanade Minamino
Nó: Nguyễn Thị Thùy Trâm (Wendy) Cháu gái vàng bạc châu báu của tập đoàn Đại Phong lớn nhất thế giới về mọi mặt. Cực kì xinh đẹp nhưng cũng rất lạnh lùng ngầm (một con người đa zi năng đó, lí do thì chỉ có người trong nhà và bốn đứa bạn chí cốt biết). Cao 1m75. Thích màu hồng. Sinh nhật: 2.5.1998 (Ngưu Chan ấy nhở).Cực kì ghét những tên lăng nhăng. Đai đen tất cả các ngón võ. Đã tốt nghiệp ba trường đại học hàng đầu của Mỹ về thời trang (loại xuất sắc) năm 16 tuổi. Chủ tịch tập đoàn Sanding - tập đoàn thời trang đứng đầu thế giới. Bang chủ bang A&D đứng đầu thế giới đêm (đã rớt xuống hạng 2 trong lúc tụi nó đi du học vì bị bang K&W chiếm ngôi). IQ: 300/300. Phan Anh Thảo Vân (Ji) Con gái độc nhất của tập đoàn The Rose lớn nhì thế giới về mọi mặt. Rất xinh đẹp. Biết quan tâm đến người khác nhưng cũng rất lạnh lùng khi gặp chuyện. Cao 1m74. Thích màu xanh nước biển. Sinh nhật: 22.7.2998 (Em là bé Cua). Giỏi võ giống nó. Cũng đã tốt nghiệp đại học giống nó. Phó chủ tịch Sanding. Phó bang chủ A&D. IQ: 300/300. Bạn thân của nó. Trần Ngọc Lan Như (Yun) Cháu gái út tập đoàn Trần Ngọc - tập đoàn lớn thứ năm trên thế giới. Cũng rất xinh đẹp. Ham ăn, ham ngủ, ham chơi, hồn nhiên, dễ thương nhưng khi gặp chuyện thì trở nên lanh lùng. Cao 1m76. Thích màu vàng. Sinh nhật: 17.12.1998. (Nửa người nửa ngựa). Giỏi võ giống nó, cũng đã tốt nghiệp đại học giống nó.Giám đốc Sanding và bang phó bang A&D. IQ: 300/300. Cũng là bạn thân của nó. Đặng Thị Ngọc Hân (Kull) Cháu gái duy nhất của tập đoàn Đặng Thị - Tập đoàn lớn thứ bảy trên thế giới về mọi mặt. Hiều lành, đảm đang, dịu dàng nhất trong bốn đứa tụi nó. Xinh đẹp, giỏi võ không kém gì ba tụi nó. Cũng đã tốt nghiệp đại học giống ba tụi nó. Cao 1m73. Thích màu trắng. Sinh nhật:13.9.1998 (Xử Nữ dịu dàng). Còn lại giống nó. Phó giám đốc Sanding và bang phó thứ 2 bang A&D. Hắn: Hoàng Văn Minh Tuấn (Windy) Cháu trai độc nhất của chủ tịch tập đoàn Thành Công - tập đoàn lớn nhất thế giới về mọi mặt. (ngang tầm với nhà nó). Cực kì đẹp trai nhưng cũng rất lạnh lùng. Cũng đai đen tất cả các ngón võ. Sinh nhật: 9.1.1998. Cao 1m85. Bang chủ bang A&D đứng đầu thế giới đêm (chiếm vị trí số 1 của bang K&W). Hội phó hội học sinh Star School. IQ: 300/300. Phạm Duy Hùng (Jin) Cháu trai trưởng tập đoàn Phạm Hùng - tập đoàn đứng thứ ba thế giới về mọi mặt. Lanh lùng, không thích con gái vây xung quanh. Trong tim chỉ có hình bóng của một người - cô bạn thời thơ ấu (ai thì từ từ sẽ biết - chung thủy quá!). Giỏi võ không kém gì tụi nó (cùng một lò ra mà). Sinh nhật: 3.3.1998. Cao 1m84. Hotboy no.2 của học viện Star School (tự hiểu xem Jin có đẹp trai hay không đi nha). Là bạn từ nhỏ của tụi nó và tụi hắn. Phó bang chủ bang bang K.W. là bạn thân của cả hắn và tụi nó. Đội phó đội bảo vệ học sinh Star School. IQ: 300/300. Đoàn Quang Minh (Yin) Cháu trai trưởng tập đoàn Hải Âu - tập đoàn đứng thứ tư trên thế giới về mọi mặt. Handsome nhưng không lăng nhăng. Giỏi võ giống hắn. Cao 1m86. Sinh nhật: 15.8.1998 (vua của trăm thú). Bang phó bang K&W. IQ: 300/300. Hottboy no.3 học viện Star School. Đội trưởng đội quản lý học sinh Star School. Cũng là bạn thân của hắn. Huỳnh Võ Minh Quân (Ken) Cháu trai thứ tập đoàn Huỳnh Võ - tập đoàn đứng thứ tư sáu trên thế giới. Còn lại giống hắn. Cao 1m83. Sinh nhật: 12.4.1998 (Cừu trắng đây nè). Hotboy no.4 học viện Star School. Bang phó thứ hai bang K&W. IQ: 300/300. Thành viên còn lại của 'Tứ hoàng tử' học viện Star School. Đội phó đội quản lý học sinh Star School. *** Su và SumiPhòng phục hồi chức năng bệnh viện - Từ từ thôi anh.... - Sumi dìu Su đi từng bước nhẹ - Anh phải cố gắng để đi được...... - Su cắn răng nói, mồ hôi lấm tấm trên trán - Vì sao? - Vì khi nào anh đi được, anh mới có đủ can đảm để cùng em đi trên con đường tiến vào lễ đường. - Su nắm lấy bàn tay của Sumi - Anh không muốn trở thành gánh nặng cho em với đôi chân tật nguyền này..... - Anh đừng nói vậy chứ.... - Sumi nhăn mặt giận dỗi - Anh không có tật nguyền..... Đừng nói như vậy...... Anh đã không màng đến mạng sống để cứu chị Wendy, thế đối với em là tất cả rồi...... Anh lúc nào cũng thế...... Năm xưa, hai chúng ta không hề quen biết mà khi thấy em và anh Minh cãi nhau anh liền nhảy vào cứu em dù không biết chuyện gì..... - Thì vì thế anh mới quen được một cô gái tốt như em chứ..... - Su véo nhẹ Sumi - Anh này..... - Sumi đỏ mặt mỉm cười - Cảm ơn em, vì đã ở bên anh..... - Su cúi xuống hôn Sumi - Làm vợ anh nhé..... - Em đồng ý..... - Sumi khẽ gật đầu - Dù có chuyện gì xảy ra thì em cũng mãi yêu anh..... - Anh quyết tâm rồi..... Khi nào anh đi lại được, anh sẽ mang nhẫn kim cương đến cầu hôn em..... - Su cười - Tập luyện tiếp nào..... Tiếng cười giòn tan vang vọng khắp căn phòng ... Mời các bạn đón đọc Công Chúa Của Thế Giới Đêm của tác giả Kanade Minamino.
Cái Đồ Trời Đánh, Cô Cứ Đợi Đấy!!! - Ren
Một câu chuyện viễn tưởng ??? Nhân vật chính không phải là người bình thường, vậy họ là ai? Sự thật ẩn kín sau cánh cửa quá khứ, nỗi đau vùi sâu trong nụ cười hồn nhiên và vô tư...Cô đơn tuyệt vọng và bất lực ngay cả khi xung quanh ta có rất nhiều người... - Nguyệt Hải Băng - Seny (nó) 17t một đứa không cha không mẹ. Mà chính xác hơn là cha mẹ hiện tại cũng chẳng biết làm thế nào mà có đứa con này. Trên danh nghĩa nó là tiểu thư tập đoàn lớn nhất thế giới The Flowin đứng đầu ngành đá quý và là bang chủ bang Dark Angel đứng đầu thế giới ngầm. Xinh đẹp, quyến rũ với đôi mắt xanh nước biển sâu thẳm và mái tóc cùng màu. Sở hữu 1 vẻ đẹp huyền bí kì lạ khiến người khác mê mẩn. Tính cách khá trẻ con, thích quậy, nhưng ẩn sâu trong nụ cười ấy là 1 con người lạnh lùng, đáng sợ. - Phạm Tiểu Linh:(Windy)17t con gái độc nhất của Phạm gia, tiểu thư tập đoàn P&L chuyên về thời trang. Là bạn thân của nó, và tất nhiên ba mẹ cô cũng chẳng biết cô từ đâu chui ra. Cô mang 1 vẻ đẹp cao sang, quý phái, mái tóc vàng và đôi mắt tím mê mị.Là người luôn ủng hộ những trò đùa tai quái của nó, nhưng tính cách lại vô cùng chững chạc dù không thể hiện ra. Phó bang chủ Dark Angel. - Diệp Ánh Phương: (Haray) 17t con gái cưng của họ Diệp, tiểu thư của tập đoàn Ánh Phương. Cô cũng giống như 2 người bạn của mình. Mang vẻ đẹp Á Đông, tóc và mắt cùng 1 màu đen tuyền, nhìn khá là thuần khiết, nhưng lại tỏa ra khí chất ghê rợn. Tuy luôn miệng nhắc nhở 2 con bạn không được bày trò nhưng lại ngầm đứng sau thêm dầu vào lửa. Là người biết cân nhắc mọi việc. Phó bang chủ Dark Angel. - Hoàng Minh Đức: (hắn) (Sky) 17t: Người thừa kế tập đoàn Davis ngang hàng với nhà nó. Thuộc diện đẹp trai số 1, không ai sánh bằng. Đôi mắt màu huyết và mái tóc nâu đỏ luôn làm run sợ người đối diện. Mặc dù tỏa ra sát khí ghê rợn nhưng vẫn không làm lũ con gái hám zai tránh ra được. Là người khó đoán, không quá lạnh lùng nhưng cũng không tỏ ra thân thiện. Đặc biệt ghét con gái vì cho rằng họ chỉ giỏi gây rắc rối. Nhưng 1 khi đã ra tay thì tàn bạo hơn cả nó. Bang chủ Devil Hell. - Dương Thiện Nhân (Rany) 17t Cậu ấm của tập đoàn D&N. Một playboy thứ thiệt, thay bồ như thay áo. Bạn thân của hắn, đẹp thì khỏi nói, tuy không bằng hắn nhưng đủ sức khiến con gái điêu đứng. Tính cách vui vẻ hòa đồng, nhưng lại rất giỏi nhìn thấu nội tâm người khác. Thích bày trò quậy phá. Phó bang chủ Devil Hell. Nguyệt Mạnh Phong(Kevin)17t anh trai sinh đôi của nó, gia thế như nó. Cực thương em gái. Mà đã là anh thì đương nhiên phải đẹp như em rùi, rất hiểu em nên luôn biết đường mà tránh cơn thịnh nộ của nó. Là bạn thân của hắn, là người cẩn thận, biết tìm ra phương án tốt nhất để giải quyết. Phó bang Devil Hell. *** Sau ngày đăng cơ Sky gần như không thấy mặt mũi. Mỗi ngày đều đi từ sáng sớm đến tối mịt mới thấy lết xác trở về. Nó chỉ biết vừa thương vừa giận. Không thể gặp hắn thường xuyên, nó hối hận đã để hắn lên Thiên Đình nhận chức. Ngồi ăn đào tại An Bảo điện, Seny nhàn nhã cùng mọi người thưởng trà, nói chuyện lại cẩn thận liếc qua ngón tay áp út của hai cô bạn. - Seny, cuối năm nay tao và Kevil sẽ làm đám cưới đấy, đã định ngày rồi, chỉ còn chuẩn bị nữa thôi - Ồ, vậy tao phải gọi mày là chị dâu rồi_ Ai đó đang gọt đào - Tao và Rany cũng thế, làm cũng một thể cho vui - Nghe hay đấy_ Ai đó đang ăn đào - Em cũng xin phụ hoàng rồi, nhưng người bảo em còn nhỏ, vậy thì Seny, chị và anh trai em cũng làm luôn đi chứ, đây là tam hỉ đấy - Miễn đi _ Ai đó vừa đáp hột đào Nó phủi tay áo, đứng dậy, huýt sáo, gọi phượng hoàng, linh vật của Thiên Nhi rồi bay đi mất, Bỏ lại những cái nhìn ái ngại ở đằng sau Trong khi đó, tại Linh Tiêu bảo điện, hai người đàn ông một già một trẻ đang giằng co nhau dữ dội, người này cố níu, người kia cố giằng. - Thái Thượng Lão Quân thả ta ra, ta không làm nữa, ta muốn ra ngoài_ Sky vừa giữ áo, vừa cố giằng ra khỏi Lão Quân - Trời ơi, Thái à không Ngọc Hoàng à, cha người vừa thoái vị đã dẫn Vương Mẫu nương nương đi du lịch sao Hỏa rồi, công việc triều chính người không làm, thì ai làm? - Giỏi lắm, thảo nào vội vã nhường ngôi cho ta như vậy, thì ra muốn đùn đẩy công việc để vội đi hâm nóng tình cảm với mẫu hậu, buông ra, ta sẽ cùng Seny đi sao Thủy cho biết mặt ... Mời các bạn đón đọc Cái Đồ Trời Đánh, Cô Cứ Đợi Đấy!!! của tác giả Ren.
Thác Loạn Ở Las Vegas - Hunter S. Thompson
Người ta phải đọc Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson bởi cuốn sách này là “biên niên ký tuyệt vời nhất” về thập kỷ 70 của nước Mỹ và một thiên hài hước có một không hai trong lịch sử những cuốn sách viết về pop culture Mỹ. Ra đời năm 1972, cuốn tiểu thuyết nhiều yếu tố tự truyện này kể lại hành trình của nhà báo Raoul Duke và luật sư Gonzo từ California tới Las Vegas để tường thuật một cuộc đua xe “hoàng tráng nhất thế giới” như cách đuổi theo giấc mơ Mỹ mà thập kỷ 60 đã xác quyết. Tuy thế, với “hai túi cỏ, bảy mươi lăm viên mescaline, năm vỉ a-xít dạng viên giấy cực mạnh, một nửa lọ cocaine, và cả một thiên hà mĩ miều các loại thuốc lắc, thuốc rũ, thuốc cười, thuốc hét …”, chuyến đi của hai người đàn ông chưa già nhưng không còn trẻ nhanh chóng biến thành một triền miên mê mê tỉnh tỉnh. Khó có thể kể lại họ đã làm gì, thấy gì ở Las Vegas – và thực sự không quan trọng việc họ đã làm gì, thấy gì – bởi vì trong sự chuếnh choáng của ma túy mà đồng hành với nó luôn là sự sợ hãi cái phải thấy, phải làm khi tỉnh táo, Duke và Gonzo cho ta thấy cái thực tại đầy ảo giác và ảo thanh của ma túy với cái thực tại của tỉnh táo đều nực cười, phi lý, và xót xa ngang nhau. Chuếnh choáng, điên loạn, vì thế, có vẻ đẹp và sự hấp dẫn riêng. Tỉnh táo, trái lại, không phải luôn luôn là thứ đáng mong chờ. Đọc Thác loạn ở Las Vegas là bước vào một cơn ngật ngưỡng, siêu vẹo tuyệt mỹ của hai kẻ say lãng mạn muốn xác quyết “tất cả những gì đúng, thật, và tử tế trong tính cách của dân tộc Mỹ”. – Phan Việt   *** “Thác Loạn ở Las Vegas – Chuyến đi kinh hoàng vào lòng Giấc Mơ Mỹ” Giống một cá thể người, mỗi dân tộc cũng trải qua những giai đoạn tâm trạng khác nhau. Từng thế hệ của dân tộc do đó trở thành người mang vác, trình diễn, và bị định dạng bởi một tâm trạng dân tộc nổi trội mà họ hấp thụ vào thời thanh xuân. Những năm tháng người lớn sau này có thể làm sắc nét hay nhạt bớt nhưng thường khó có thể thay thế vai trò chủ đạo của tâm trạng thanh xuân nguyên sơ ấy. Trong nhiều trường hợp, những năm tháng người lớn trở thành sự tưởng niệm, níu kéo, hoặc phản ứng lại cảm giác chủ đạo mà tuổi thanh xuân đã kinh nghiệm. Khó có thể hiểu rõ nước Mỹ hiện tại – với công nghệ, sáng tạo, học thuật đỉnh cao đi liền thác loạn, cùng quẫn, điên rồ cũng đỉnh cao – nếu không hiểu những cơn sóng tâm trạng mà những thế hệ người Mỹ đã trải qua trong thập kỷ 60 và 70. Bùng cháy trong các phong trào nhân quyền và phản chiến liên tục, thập kỷ 60 là thập kỷ mà “vũ trụ tràn ngập một thứ cảm giác tuyệt vời rằng bất cứ thứ gì chúng tôi đang làm đều đúng, và chúng tôi […] đang thắng Cái Cũ và Cái Xấu”. Nói cách khác, nước Mỹ và phần thế giới chịu ảnh hưởng của Mỹ đã cưỡi trên đỉnh một con sóng cao và đẹp. Nhưng thập kỷ 60 rồi cũng kết thúc; con sóng đó đã chạy hết đường của nó, phải đổ bờ, tan thành bọt nước với quá nhiều tàn dư. Thập kỷ 70, do đó, là thập kỷ nhiều hoang mang, bải hoải khi một thế hệ mới lớn lên cũng như thế hệ đã đi qua những năm 60 cố gắng ngoái đầu mà cắt nghĩa xem họ đã làm gì, rồi tất cả những đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hơn sẽ đi về đâu, và làm thế nào có thể níu kéo được cái năng lượng tuyệt vời của những ngày tháng say sưa cũ. Ma túy, vốn chỉ là thứ hỗ trợ cho sự thăng hoa và chia sẻ giữa người với người trong thập kỷ 60, bỗng nhiên trở thành câu trả lời và cứu cánh để người ta chạy trốn những hoang mang, bải hoải cá nhân và thế hệ. Theo nghĩa đó, người ta phải đọc Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson bởi cuốn sách này là “biên niên ký tuyệt vời nhất” về thập kỷ 70 của nước Mỹ và một thiên hài hước có một không hai trong lịch sử những cuốn sách viết về pop culture Mỹ. Ra đời năm 1972, cuốn tiểu thuyết nhiều yếu tố tự truyện này kể lại hành trình của nhà báo Raoul Duke và luật sư Gonzo từ California tới Las Vegas để tường thuật một cuộc đua xe “hoàng tráng nhất thế giới” như cách đuổi theo giấc mơ Mỹ mà thập kỷ 60 đã xác quyết. Tuy thế, với “hai túi cỏ, bảy mươi lăm viên mescaline, năm vỉ a–xít dạng viên giấy cực mạnh, một nửa lọ cocaine, và cả một thiên hà mĩ miều các loại thuốc lắc, thuốc rũ, thuốc cười, thuốc hét ...”, chuyến đi của hai người đàn ông chưa già nhưng không còn trẻ nhanh chóng biến thành một triền miên mê mê tỉnh tỉnh. Khó có thể kể lại họ đã làm gì, thấy gì ở Las Vegas – và thực sự không quan trọng việc họ đã làm gì, thấy gì – bởi vì trong sự chuếnh choáng của ma túy mà đồng hành với nó luôn là sự sợ hãi cái phải thấy, phải làm khi tỉnh táo, Duke và Gonzo cho ta thấy cái thực tại đầy ảo giác và ảo thanh của ma túy với cái thực tại của tỉnh táo đều nực cười, phi lý, và xót xa ngang nhau. Chuếnh choáng, điên loạn, vì thế, có vẻ đẹp và sự hấp dẫn riêng. Tỉnh táo, trái lại, không phải luôn luôn là thứ đáng mong chờ. Đọc Thác loạn ở Las Vegas là bước vào một cơn ngật ngưỡng, xiêu vẹo tuyệt mỹ của hai kẻ say lãng mạn muốn xác quyết “tất cả những gì đúng, thật, và tử tế trong tính cách của dân tộc Mỹ”. Bất kể bạn nghĩ gì về ma túy, ít nhất bạn cũng sẽ phải lòng sự ngây thơ và thanh xuân này. Trân trọng giới thiệu với bạn đọc tủ sách Cánh Cửa Mở Rộng tiểu thuyết Thác loạn ở Las Vegas của Hunter Thompson qua bản dịch của Phủ Quỳ. PHAN VIỆT *** CÁNH CỬA MỞ RỘNG   Tủ sách hợp tác giữa nhà toán học Ngô Bảo Châu, nhà văn Phan Việt với Nhà xuất bản Trẻ   Tủ sách CÁNH CỬA MỞ RỘNG được thực hiện nhằm mục đích giới thiệu những đầu sách có giá trị của thế giới và trong nước đến bạn đọc Việt Nam, đặc biệt là bạn đọc trẻ, góp phần thúc đẩy việc đọc sách, tinh thần hiếu học, coi trọng tri thức và những giá trị sống. Các tựa sách trong tủ do nhà toán học Ngô Bảo Châu và nhà văn Phan Việt tuyển chọn và giới thiệu. Tủ sách được phân thành ba mảng: văn học, khoa học xã hội – kinh tế, và khoa học tự nhiên; trước mắt cấu tạo tủ sách gồm 80% các sách có khả năng tiếp cận đông đảo bạn đọc và 20% cho các sách chuyên ngành.   Mời các bạn đón đọc Thác Loạn Ở Las Vegas của tác giả Hunter S. Thompson.
Nơi Dòng Sông Chảy Qua - Norman Maclean
Như Norman Maclean viết ở cuối truyện Nơi dòng sông chảy qua rằng ông “bị ám bởi những con nước”, độc giả cũng bị ám bởi tiểu thuyết ngắn của ông. Là một giáo sư ngôn ngữ Anh nghỉ hưu, bắt đầu viết khi đã bảy mươi, Maclean đã viết nên tác phẩm giờ đây được nhìn nhận là một trong những tác phẩm kinh điển Mỹ của thế kỷ hai mươi. Được xuất bản lần đầu vào năm 1976, Nơi dòng sông chảy qua và các truyện khác kỷ niệm năm thứ hai mươi lăm, được đánh dấu bằng phiên bản mới có lời nói đầu của Annie Proulx. Là một giáo sư ngôn ngữ Anh nghỉ hưu, bắt đầu viết khi đã bảy mươi, Maclean đã viết nên tác phẩm giờ đây được nhìn nhận là một trong những tác phẩm kinh điển Mỹ của thế kỷ hai mươi. Được xuất bản lần đầu vào năm 1976, Nơi dòng sông chảy qua và các truyện khác, được đánh dấu bằng phiên bản mới có lời nói đầu của Annie Proulx. Lúc sexy, lúc sầu thảm, lúc chua cay, những câu chuyện tuyệt vời thể hiện “một phần tình yêu tôi dành cho thiên nhiên”, theo lời của chính Maclean. Trong lời nói đầu của bà, Proulx nhắc chúng ta về sức mạnh của quyển sách này khi viết, “Norman Maclean mất năm 1990, nhưng trong lòng hàng trăm ngàn độc giả, ông vẫn còn sống mãi chừng nào cá vẫn còn bơi và sách vẫn còn được in”. *** Norman Maclean (1902-1990) là giáo sư vinh danh William Rainey Harper về ngôn ngữ Anh tại Đại học Chicago. Cuốn sách của ông về đám cháy rừng ở Mann Gulch, bang Montana vào năm 1949, Những người trẻ tuổi và đám cháy, cũng được Nhà xuất bản Đại học Chicago xuất bản. Annie Proulx là tác giả của nhiều quyển sách, bao gồm Cận cảnh: Những câu chuyện Wyoming, Vụ án phong cầm, và Bưu thiếp. Tiểu thuyết Tin tức tàu biển đoạt cả Giải thưởng sách quốc gia và giải Pulitzer. *** “Một câu chuyện kể đầy mê hoặc... Đến giờ, tôi đã đọc truyện ba lần, và mỗi lần lại cảm thấy trọn vẹn hơn”. ROGER SALE New York Review of Books “Đẹp từ đầu đến cuối ở sức mạnh truyền cảm... Đẹp như bất cứ tác phẩm nào của Thoreau hay Hemingway”. ALFRED KAZIN Chicago Tribune Book World “Quyển sách của Maclean - gay gắt, súc tích, quyết liệt - vang vọng một âm hưởng truyền thống phong phú của văn học Mỹ, gồm Mark Twain, Kin Hubbard, Richard Bissell, Jean Shepherd và Nelson Algren. Tôi yêu âm hưởng của quyển sách”. JAMES R. FRAKES New York Times Book Reviews *** Một trong những mục đích của chúng tôi khi tạo nên tủ sách Cánh cửa mở rộng là giới thiệu với bạn đọc Việt Nam về cuộc sống và con người ở những miền đất khác - theo nghĩa cuộc sống và con người như được trải nghiệm bởi những con người thật, chứ không phải qua những phóng chiếu và ước lệ của điện ảnh, sách du lịch thương mại hoặc các thể loại hư cấu khác. Chúng tôi cũng mong muốn mang lại cho bạn đọc những câu chuyện được kể thật giản dị và chân thành, như một tiếng nói thầm trung thực đưa bạn đọc vào một không gian sống, mà ở đó, tất cả chúng ta ngang bằng nhau và buộc phải độ lượng, nhân hậu với nhau khi đối mặt với những khác biệt, khó khăn, mất mát, đau khổ, và hạnh phúc của đời sống con người. Với hai mục đích trên, khi nghĩ đến những cuốn sách về đời sống gia đình Mỹ, Nơi dòng sông chảy qua của Norman Maclean là một lựa chọn dễ dàng. Cuốn sách được viết bằng một sự dịu dàng và thương mến tinh tế về tuổi thơ của mình khi Maclean lớn lên ở “vùng hợp lưu của các con sông đầy cá hồi ở miền Tây bang Montana”, trong một gia đình có cha là một mục sư nghiêm khắc, mẹ là một người phụ nữ kiên nhẫn, em trai Paul ngang tàng, nổi loạn, trong khi bản thân Maclean là một đứa trẻ thâm trầm. Họ là một gia đình Mỹ điển hình ở một thị trấn nhỏ điển hình vào cái thời mà nước Mỹ vẫn còn coi các thị trấn nhỏ (small town) cùng với các quan hệ thân thiết giữa những người sống trong thị trấn như nền tảng của văn hóa Mỹ: một thứ văn hóa dựa trên sự cần mẫn làm việc, kính Chúa, nương tựa lẫn nhau, và trung thực. Maclean viết như thể ông đang kể lại cho các con của mình nghe về thời thơ ấu ở Montana, về những biến đổi của gia đình mình theo thời gian khi những đứa trẻ lớn lên, ra đi, trở lại, nổi loạn, yêu, chết, và cái còn lại. Ở tâm điểm của các biến đổi ấy là ký ức ngọt ngào về một dòng sông, những bài học câu cá trên sông, và những cuộc đời liên quan tới con sông. Nơi dòng sông chảy qua là một câu chuyện của một gia đình Mỹ vào nửa đầu thế kỷ 20, nhưng cũng là câu chuyện của hàng triệu gia đình Mỹ, của nước Mỹ, khi nó chuyển mình sang một xã hội công nghiệp và hiện đại. Cái còn lại sau những chuyển mình đó là những ký ức và những giá trị mà Norman Maclean đã bắt lại và khiến cho Nơi dòng sông chảy qua trở thành một trong những cuốn hồi ký được yêu mến nhất về “cuộc sống Mỹ”, về “giá trị Mỹ”. Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn Nơi dòng sông chảy qua của Norman Maclean, qua bản dịch của dịch giả Nam An. NGÔ BẢO CHÂU và PHAN VIỆT Mời các bạn đón đọc Nơi Dòng Sông Chảy Qua của tác giả Norman Maclean.