Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gỗ Mun - Ryszard Kapuściński

Trước hết là cái nhìn: Ryszard Kapuściński. Đó là một cái nhìn luôn luôn độc đáo và thấu suốt, cho dù đối tượng sự quan sát của ông có là gì, và cho dù không mấy khi ông thích phân tích dài dòng. Nhất là khi đối tượng ấy là châu Phi, một lục địa dường như rất hợp với tâm tính ông, thì Kapuściński nhìn thấy cả những gì sâu xa, nhỏ bé nhất của nơi đây. Và sau đó là cách chạm vào châu Phi: thông qua sự mô tả cuộc đối đầu nghẹt thở với một con rắn, Kapuściński làm sống lại sự rung động của tâm hồn cả một châu lục, trong đó có sự mãnh liệt và có hiểm nguy tàn khốc. Rồi tất nhiên ta phải nói đến một tài năng văn chương hiếm thấy, hiện ra tràn ngập những trang viết của thông tín viên Ba Lan kiệt xuất này. Tất cả cộng lại để tạo nên một Gỗ Mun như tác phẩm không thể không nhắc tới về châu Phi thế kỷ XX. *** Lời khen tặng dành cho Gỗ Mun: “Giống như Gabriel García Márquez là ông hoàng đen vĩ đại của tiểu thuyết hiện đại, Kapuściński là vị phù thủy kiệt xuất của phóng sự.” - John Le Carré “Ryszard Kapuściński là một ví dụ hiếm hoi trong nền văn hóa của chúng ta về một nhà văn người-Ba-Lan-toàn-cầu. Ông, một công dân thế giới, luôn luôn chống lại việc dựng lên các rào ngăn đối với Người Khác, đóng sập cửa trước mặt họ. Dường như ông muốn nói: bài ngoại là căn bệnh của những kẻ khiếp nhược, bị mặc cảm về sự thấp hèn hành hạ, sợ hãi ý nghĩ đến lượt họ sẽ phải soi mình trong văn hóa của Người Khác.” - Adam Michnik “Chúng ta đang sống trong một thế kỷ nhiều thách đố nhất trong lịch sử thế giới, bản chất thực của nó còn là một bí ẩn tối tăm. Chúng ta rất cần những nhà giải mã như Ryszard Kapuściński.” - Salman Rushdie “Tôi nghĩ đến những cuốn sách ông đã viết với lòng biết ơn sâu sắc, và nghĩ đến những cuốn sách ông còn chưa kịp viết với nỗi buồn sâu sắc. Một nhà văn lớn, một con người cao quý, một người lữ hành không mệt mỏi qua thế giới đầy quyến rũ nhưng mãi luôn luôn bất an của chúng ta. - Wisława Szymborska “Tôi không biết bất cứ ai có viết với sự thấu cảm đến thế về Thế giới Thứ ba. Mỗi lần được tin giải Nobel được trao cho một người khác, tôi lại cảm thấy thất vọng. Tôi luôn luôn chắc chắn rằng Kapuściński sẽ nhận được giải thưởng này.” - Tomas Venclova “Ryszard Kapuściński đã viết một tác phẩm để đời: cuốn sách về châu Phi với nhan đề Gỗ Mun. Cuốn sách của Kapuściński đặt chúng ta trước nhiều câu hỏi. Đó là những câu hỏi cốt yếu. Cuộc sống là gì, ý nghĩa của nó, đạo đức, tội ác, lòng kiêu hãnh và khiêm nhường, sự phản kháng hay chấp nhận số phận? Chúng ta vẫn luôn đặt ra những câu hỏi ấy trong văn hóa của mình, nhưng những lời giải đáp và phản ứng của chúng ta lại hoàn toàn khác.” - Helena Zaworska “Không trực tiếp, nhưng rất rõ ràng, Kapuściński luận chiến với hai lối nghĩ dĩ Âu vi trung rập khuôn về châu Phi: với khuôn mẫu khiến người ta nhìn châu Phi như một châu lục của những người man rợ thấp kém hơn về văn hóa, khó hiểu (vì chẳng đáng được hiểu); và với huyền thoại hậu thực dân đầy cảm tính (dù chỉ như trong Xa mãi Phi châu của Karen Blixen) nhìn thấy ở châu Phi thiên đường đã mất.” - Piotr Bratkowski *** Trước hết là ánh sáng đập vào mắt. Khắp nơi là ánh sáng. Khắp nơi chói lòa. Khắp nơi là nắng. Mới ngày hôm qua, London mùa thu lướt thướt nước mưa. Máy bay lướt thướt nước mưa. Gió lạnh và âm u. Còn ở đây, từ sáng sớm cả sân bay ngập trong nắng, tất cả chúng tôi ngập trong nắng. Thời trước, khi người ta đi bộ du hành qua thế giới, cưỡi ngựa hay đi thuyền, cuộc hành trình làm họ thích nghi dần với các thay đổi. Các hình ảnh của trái đất từ từ trôi qua trước mắt họ, sân khấu của thế giới quay chầm chậm từng chút một. Hành trình kéo dài hàng tuần, hàng tháng. Con người có thời gian để thích nghi với môi trường khác, với quang cảnh mới. Khí hậu cũng thay đổi từng bước, qua các giai đoạn. Trước khi một người du hành từ châu Âu lạnh lẽo đến được xích đạo nóng bỏng, anh ta đã trải qua cái ấm áp dễ chịu của Las Palmas, cái nóng nực của Al-Mahara và địa ngục Quần đảo Cape Verde. Ngày nay, những giai đoạn ấy chẳng còn lại chút gì. Máy bay đột ngột bứt chúng ta ra khỏi tuyết và băng giá rồi ngay ngày hôm đó ném ta vào vạc dầu nhiệt đới nóng rực. Đột nhiên, chỉ vừa mới dụi mắt là ta đã ở trong địa ngục ẩm ướt. Ta bắt đầu đổ mồ hôi ngay. Nếu bay đến từ châu Âu mùa đông, ta quăng bỏ áo choàng, cởi áo len. Đó là hành động đầu tiên của chúng ta, người phương Bắc, khi đến châu Phi. Người phương Bắc. Có bao giờ ta từng nghĩ rằng người phương Bắc chỉ chiếm một phần rất nhỏ trên hành tinh này? Người Canada và Ba Lan, người Litva và bán đảo Scandinavia, một bộ phận người Mỹ và Đức, người Nga và Scotland, người Sami[1] và Eskimo, người Evenki và Yakut, danh sách cũng không dài lắm. Tôi không rõ tổng cộng nó có nhiều hơn năm trăm triệu người - chưa đến 10% cư dân trái đất - hay không. Ngược lại, một phần rất lớn sống trong ấm áp, cả đời được sưởi nắng. Vả lại, con người được sinh ra trong ánh nắng, những dấu vết cổ xưa nhất của con người được tìm thấy ở các xứ sở ấm áp. Thiên đường trong Kinh Thánh có khí hậu thế nào? Ở đó ấm áp vĩnh cửu, nóng nực là đằng khác, đến nỗi Eva và Adam có thể trần truồng và không cảm thấy lạnh ngay cả trong bóng cây. Ngay ở cầu thang máy bay ta đã gặp một điều mới mẻ khác: mùi nhiệt đới. Điều mới mẻ? Nhưng đó chính là mùi hương ngập tràn trong cửa tiệm nhỏ của ông Kanzman “Hàng hóa từ thuộc địa và các loại khác” trên phố Pereca ở Pinsk[2] đấy mà! Quả hạnh, đinh hương, chà là, ca cao. Va ni, lá nguyệt quế; cam và chuối bán quả, bạch đậu khấu và nghệ bán cân. Còn Drohobych thì sao? Những cửa hàng quế của Schulz[3] thì sao? Chính là “những đồ vật sẫm màu và trang trọng được chiếu sáng lờ mờ, thơm nồng mùi của màu, sơn, nhang, đẫm hương của các xứ sở xa xôi và những chất liệu quý hiếm”! Tuy vậy, mùi nhiệt đới có khác một chút. Ta nhanh chóng nhận ra sức nặng của nó, sự nhớp nháp của nó. Thứ mùi này cho ta biết ngay rằng ta đang ở một điểm trên trái đất nơi giới thực vật rậm rạp và không mệt mỏi luôn liên tục hoạt động, sinh sôi, lan tràn và nở hoa, song đồng thời cũng đang tật bệnh, bị đốn ngã, sâu ruỗng và héo rụi. Đó là mùi của những tấm thân được sưởi nóng và cá khô, của thịt ôi và sắn nướng, của hoa tươi và tảo rữa, tóm lại là mùi của tất cả những thứ đồng thời vừa dễ chịu vừa khó chịu, vừa lôi cuốn vừa đáng ghét, những thứ cám dỗ hoặc làm người ta ghê tởm. Thứ mùi này bay đến với chúng ta từ những rừng cọ không xa, thoát ra từ mặt đất nóng ran, bốc lên trên những rãnh nước mốc meo của thành phố. Nó không rời chúng ta, nó là một phần của miền nhiệt đới. Và cuối cùng là khám phá quan trọng nhất - con người. Những người ở đây, dân bản xứ. Họ mới hợp với phong cảnh, ánh sáng và thứ mùi này làm sao! Dường như họ tạo thành một tổng thể. Dường như con người và cảnh vật không tách rời nhau, bổ sung cho nhau, là một bản sắc, một cộng đồng hài hòa. Dường như mỗi sắc dân được đặt vào phong cảnh của riêng mình, khí hậu của mình! Chúng ta tạo ra phong cảnh của mình, còn phong cảnh nặn thành hình các đường nét trên gương mặt chúng ta. Người da trắng ở giữa những cây cọ và đám dây leo này, trong các bụi cây và rừng rậm này là một điều gì đó lạc lõng thừa thãi. Nhợt nhạt, yếu ớt, áo đẫm mồ hôi, tóc dính bết, anh ta luôn bị cái khát, cảm giác bất lực và chán nản hành hạ. Anh ta luôn luôn sợ hãi, sợ muỗi, a míp, bọ cạp, rắn - tất cả những gì cử động đều làm anh ta tràn ngập lo sợ, khiếp hãi, hoảng loạn. ... Mời các bạn đón đọc Gỗ Mun của tác giả Ryszard Kapuściński.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vị Hạt Táo
Bí ẩn, nên thơ và lôi cuốn - ba từ mới hình dung về văn học Đức qua Vị Hạt Táo. Triết lý, khô khan và ảm đạm - đó là những từ thường được dùng để miêu tả nền văn học Đức. Song với Vị Hạt Táo, cuốn tiểu thuyết đầy sức hút của Katharina Hagena, người đọc có thể quên đi ấn tượng ấy. Như tựa sách, hương táo và vị táo vấn vít lấy câu chuyện về ba thế hệ nữ nhân trong một gia đình: không nồng gắt nhưng ám ảnh. Mỗi cá nhân là một thế giới nội tại mờ biệt, khó lí giải, chính vì vậy khiến ngôi nhà cũng mang vẻ u ẩn. Sau khi Bertha - bà ngoại qua đời, nhân vật xưng Tôi về lại ngôi nhà của gia đình mà nay cô được thừa kế. Từng bước khám phá điền sản này là từng bước bóc tách quá khứ lèn xếp những bí mật và nỗi đau gắn với những thế hệ trước, hoặc người đã khuất. Tôi muốn gọi lại dòng kí ức đang trườn ra khỏi vùng nhớ, để chí ít không bị đẩy xa thêm khỏi gia đình; ngược lại, kí ức cũng vẫy Tôi bằng đôi cánh miên màng của nó. Bà ngoại Bertha hiện lên trong mối quan hệ với chị gái bà - bà Anna, với ông ngoại hay ông giáo già Lexow; mẹ Tôi cùng các dì được khắc họa thông qua những suy nghĩ, xúc cảm dành cho nhau; tới lượt Tôi, một cách vô tình, tự bộc lộ mình trên nền mối liên kết với những người phụ nữ trong gia đình và bè bạn thuở ấu thơ. Tựu lại, mỗi số phận không được kể riêng mà chăng cài tạo nên lớp lang cho câu chuyện, độc giả dõi theo một nhân vật cũng là dõi theo nhiều nhân vật khác. Dĩ nhiên, bên cạnh ba thế hệ phụ nữ, cây táo xứng được coi là một “nhân vật” - nó cũng quan sát, lắng nghe, lên tiếng, nếu ta lưu tâm đến thứ hương vị đan mắc khắp tiểu thuyết. Cây táo biểu hiện căng nét nữ-tính trong lối viết của Katharina, sự nữ tính ngay cả khi tác giả mô tả cái u ám lịch sử như dòng chữ về Đức quốc xã do ai đó lén khắc lên chuồng gà nhà Tôi. Thật khó chỉ ra cho hết chất nữ tính ấy (việc lựa chọn các nhân vật nữ chỉ là điểm ban đầu), liệu có thể nói Vị Hạt Táo mang một sức nặng rất tinh nhẹ và mềm mại, sự quyết liệt lại ẩn sau vẻ lãng đãng, thậm chí nỗi đau cũng tới thật từ tốn. Katharina viết về nỗi đau nên thơ vô ngần, đồng thời có những đoạn điểm xuyết nét hóm hỉnh “đắt giá”. Nắm bắt tròn vẹn tinh thần Vị Hạt Táo ấy, thể hiện hầu như nguyên chất tính-nữ ấy (công việc vốn dĩ được chờ đợi nhiều hơn ở một nữ dịch giả), dịch giả Lê Quang, dù là một dịch giả hàng đầu của văn học Đức, vẫn gây bất ngờ với bản chuyển ngữ của ông. Và cuối cùng, sự đọc là dành cho độc giả. Không thể đoán trước những cảm xúc mà Vị Hạt Táo mang đến, song có thể dám chắc họ sẽ muốn nhớ câu chuyện mở đầu bằng lãng quên này. *** Tiểu thuyết "Vị hạt táo" của nữ nhà văn người Đức Katharina Hagena do dịch giả Lê Quang chuyển ngữ, được NXB Phụ nữ ấn hành vào quý II-2016, là bức tranh hồi tưởng về quá khứ của một gia đình ẩn giấu nhiều bí mật. Ở đó, bạn đọc cảm nhận được hương vị của tình yêu, tình cảm gia đình và cả nỗi ám ảnh. Cái chết của bà ngoại ngẫu nhiên là nguyên cớ cho quá trình tìm hiểu, làm hồi sinh miền ký ức trong người cháu gái được thừa kế căn nhà. Với tài sản thừa kế cũ kỹ, có giá trị không lớn ấy, cô gái đã nghĩ rằng mình sẽ không ở lại nơi này. Nhưng rồi, có điều gì đó đã khơi gợi, níu kéo cô trong những buổi sáng đầu tiên ở trong ngôi nhà ấy với tư cách là một người chủ mới, nó khiến cô nghĩ đến việc mở dần những cánh cửa quá khứ... Rồi, câu chuyện xưa được chắp nối, có khi thông qua những đồ vật còn lại trong nhà và ngày hôm qua của những người thân bỗng hiện lên, sống động lạ thường. Theo mạch tình cảm ấy, kỷ niệm về những năm tháng ấu thơ ùa về. Quá đỗi xúc động, cô gái đã quyết định ở lại căn nhà cũ và tìm thấy hạnh phúc trong không gian đầy ắp kỷ niệm. Không gợi liên tưởng về những chuyển rung lớn của thời cuộc, không có khủng hoảng, biến cố, mưu toan, câu chuyện của các nhân vật diễn ra chủ yếu trên những con đường nhỏ, bên hồ nước ven rừng, trong khu vườn bao quanh ngôi nhà đã là nơi dung thân của vài thế hệ. Những người, vật, việc được nhắc đến, quá đỗi đời thường. Nhưng sự thu hẹp không gian và cái cách bình thường hóa mọi thứ ấy hóa ra lại là tấm màn ngụy trang, là xuất phát điểm cho những trang viết giàu tính bất ngờ, cuốn hút người đọc với cách truyền tải tinh tế về xúc cảm và đời sống nội tâm phức tạp của các nhân vật.  Cô cháu gái ở trong ngôi nhà thừa kế, ngày nọ bỗng được biết người dì của mình có thể không phải là con của ông, bà ngoại như cô thường nghĩ. Đó có thể là kết quả của một cuộc tình "chớp nhoáng" chưa hẳn đã xuất phát bởi tình yêu. Xúc cảm đưa cô chủ mới trở lại những ngày tháng xa xôi, dõi theo mối tình mà bà ngoại và người chị gái yểu mệnh cùng dành cho một thầy giáo trẻ mới được nhận về dạy ở địa phương. Tình yêu thoắt hiện thoắt ẩn, như dấu nhấn vào ba thế hệ phụ nữ của một dòng họ. Những rung động ở tuổi vị thành niên, những thấp thỏm, lo lắng, sợ hãi nhưng đầy háo hức và nỗi niềm dâng hiến...  Tác giả truyền tải nội dung câu chuyện bằng khả năng miêu tả tỉ mỉ, tinh tế. Đồng thời, với cách dẫn giải tưởng như chuyên chú vào hiện thực, nữ nhà văn đã tạo dấu nối hiện thực và dĩ vãng một cách tự nhiên, như thể một ý nghĩ vụt đến. Cuộc trở lại với quá vãng càng cho cô gái thấy rõ hơn chân dung của những người thân yêu. Hóa ra, không phải điều gì cũng như ta tưởng, mà mỗi hồ sơ của một con người có thể ẩn chứa nhiều điều phức tạp. Ta hiểu điều đó để thấy yêu thương họ hơn, cho đời sống hôm nay thêm hương vị tình yêu, thêm xúc cảm.  Một câu chuyện đầy yêu thương, vỗ về ký ức. Có cả nỗi hoang mang, hoảng sợ và sự cằn cỗi khi ký ức bị đánh mất. Câu chuyện gia đình nhỏ, nhưng dường như phản chiếu cả ý thức hệ thời kỳ sau chiến tranh thế giới thứ hai. Có nhiều điều để soi chiếu và cũng có thể liên tưởng để nghĩ về chính quá khứ của mình, gia đình mình qua cuốn tiểu thuyết này.   Katharina Hagena sinh năm 1967, là nữ nhà văn người Đức. Tiểu thuyết "Vị hạt táo" được đánh giá là cuốn sách tạo sự đột phá trong văn nghiệp của bà. Tác phẩm đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Một số bài báo quốc tế dành cho tác phẩm sự đánh giá cao: "Hagena viết theo lối văn xuôi giàu chất thơ, mang tới một màu sắc cổ tích cho câu chuyện Gothic về những dối gạt và bí mật gia đình", "Mọi từ ngữ đều tải nặng ký ức", "Không lạ khi cuốn tiểu thuyết saga (tiểu thuyết về dòng họ) đầy mê hoặc này nằm trong danh sách bestseller của Đức suốt 2 năm liền"... Lưu Nguyễn - hanoimoi.com.vn Mời các bạn đón đọc Vị Hạt Táo của tác giả Katharina Hagena & Lê Quang (dịch).
Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội - Richard H. Shultz Jr
Cuộc  chiến tranh Việt Nam - theo cách gọi của người  Mỹ - đã lùi xa hơn một phần tư thế kỷ, nhưng thất bại của Mỹ và những hậu quả kèm theo - được khái quát bằng cụm từ " Hội chứng Việt Nam" - vẫn còn mang tính thời sự nóng hổi. Câu hỏi: Tại sao V iệt Nam? Vẫn còn đó và tiếp tục thách thức các nhà nghiên cứu Mỹ tìm ra câu trả lời thoả đáng. Cuốn sách " Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội" xuất bản năm 1999, của nhà nghiên cứu Mỹ, giáo sư  Richard H. Shultz Jr mà các bạn đang có trong tay là một trong những nỗ lực giải đáp câu hỏi đó: Như tên gọi, cuốn sách đề cập đến một khía cạnh rất đặc biệt và bí mật của cuộc chiến tranh. Nhưng khác với một số ít cuốn sách đã viết về đề tài này,  Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội không khai thác những yếu tố bí mật, đặc biệt để lôi kéo độc giả. Ngược lại, với các nguồn tài liệu tuyệt mật của CIA, Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng mới được công bố, và đặc biệt là các cuộc phỏng vấn những người trực tiếp chỉ đạo, điều hành và thực hiện cuộc chiến tranh bí mật, cuốn sách đi sâu phân tích tư tưởng chỉ đạo, dựng lại quá trình hoạt động, phân tích các nguyên nhân thất bại và trên cơ sở đó rút ra những bài học cần thiết cho nước Mỹ. Có thể nói cuốn sách là một tổng kết khá đầy đủ của các nhà nghiên cứu Mỹ về các hoạt động bí mật chống phá miền Bắc trong cuộc chiến tranh  Việt Nam. Theo cuốn sách, từ năm 1951 đến 1972, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nhà Trắng, Lầu Năm Góc và CIA, Mỹ đã thành lập một tổ chức cực kỳ bí mật để tung gián điệp biệt kích ra miền Bắc, điều hành hoạt động tuyên truyền tâm lý chiến, tiến hành các hoạt động phá hoại trên biển và ngăn chặn đường mòn Hồ Chí Minh. Tác giả đã làm rõ vai trò của giới lãnh đạo cao cấp nhất ở Washington và những toan tính của họ trong quyết định tiến hành các hoạt động bí mật chống miền Bắc. Họ là Tổng thống Kenedy, Johnson và Nixon; là Bộ trưởng Quốc phòng Mc.Namara, Giám đốc Cục tình báo Trung ương Mỹ Colby, Cố vấn an ninh Tổng thống Bundy, Bộ trưởng Tư pháp Robert Kenedy và nhiều quan chức dân sự, quân sự cao cấp khác. Đồng thời, qua những trang sách, các phương thức hoạt động, kể cả những thủ đoạn "bẩn thỉu" mà Mỹ sử dụng trong hoạt động bí mật cũng được mô tả chi tiết. Mặc dù được tập trung chỉ đạo, sử dụng một số lượng lớn nguồn nhân lực và vật lực trong một thời gian dài, cuốn sách kết luận Mỹ đã thất bại. Hầu hết số gián điệp biệt kích tung ra Bắc đều bị bắt giữ hoặc tiêu diệt, chiến tranh tâm lý bị phá sản, con đường Hồ Chí Minh trên bộ và trên biển vẫn tiếp tục hoạt động. Như cuốn sách thừa nhận, Việt Nam là đối thủ quá khó chơi đối với Mỹ. Tuy nhiên, thay vì tìm nguyên nhân thất bại trong sai lầm chiến lược của giới cầm quyền Mỹ như Mc.Namara đã từng chỉ ra, tác giả mới chỉ dừng lại ở những nguyên nhân về tổ chức, năng lực và phối hợp của phía Mỹ. Với những nội dung và cách đặt vấn đề trong cuốn sách, có thể thấy tác giả đã cố gắng có cách nhìn tương đối khách quan về cuộc chiến tranh bí mật của Mỹ ở Việt Nam. Mặc dù một số đánh giá nhận định của tác giả mang tính phiến diện một chiều, do đó còn có những hạn chế nhất định, cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ một khía cạnh còn ít được nghiên cứu của cuộc chiến tranh Việt Nam. Với mong muốn giúp bạn đọc quan tâm đến vấn đề này hiểu thêm cách nhìn nhận đánh giá từ phía học giả Mỹ và qua đó cảm nhận đầy đủ hơn về chiến thắng vĩ đại của chúng ta, Nhà xuất bản Văn hoá - Thông tin xin trân trọng giới thiệu cuốn sách: Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội như một tài liệu để chúng ta cùng tham khảo. Mời các bạn đón đọc  Cuộc Chiến Bí Mật Chống Hà Nội của tác giả  Richard H. Shultz Jr.
Người Dịch Bệnh - Jhumpa Lahiri
Jhumpa Lahiri sinh tại London, cha mẹ cô là người Băng-gan. Cô lớn lên tại Rhode Island, Mỹ. Hiện cô sinh sống tại New York. Các Truyện ngắn của cô xuất hiện nhiều trên những tạp chí của Mỹ. Tập truyện “Người dịch bệnh”, tác phẩm in của cô giành giải thưởng Pulitzer năm 2000 cho thể loại truyện hư cấu, giải thưởng cuốn sách đầu tay hay nhất của New York và giải thưởng PEN/Hemingway.   Những câu chuyện tuyệt vời của Jhumpa Lahiri kể về cuộc sống của những người Ấn Độ tha hương, về những người đang loay hoay giữa những phong tục nghiêm ngặt mà họ thừa hưởng và một thế giới mới đầy trở ngại mà họ phải đối đầu hàng ngày. Dù bối cảnh ở Boston hay ở Băng-gan, những câu chuyện tràn đầy tính hài hước và những yếu tố huyền ảo này không chỉ gần gũi với người xa xứ mà còn gần gũi với rất nhiều đối tượng khác.   Bạn sẽ thấy tác phẩm của Jhumpa Lahiri gắn liền với mọi mặt thường gặp của cuộc sống và cách nhìn các chi tiết rất tinh tế, sắc bén là một điểm nổi bật của cô. Cô viết về một người hướng dẫn du lịch có trái tim nồng ấm trong “Người dịch bệnh”, về một đôi vợ chồng gắng hiểu nhau sau ngày cưới trong “Ngôi nhà được ban phước”, về một mối quan hệ tay ba, người đàn ông ích kỷ, vô tình trong “Gợi tình”. Dường như cô đã thổi vào mỗi trang sách một cuộc sông bất ngờ và người đọc khi kết thúc mỗi câu chuyện càng cảm thấy bị quyến rũ hơn, mong được đi cùng những nhân vật của nó đến tận cùng.   Mời các bạn đón đọc Người Dịch Bệnh của tác giả Jhumpa Lahiri.
Gió Đông, Gió Tây - Pearl S. Buck
Gió Đông, Gió Tây, East Wind: West Wind, là tiểu thuyết đầu tay của Pearl S. Buck, được xuất bản năm 1930. Tác phẩm mô tả Quế Lan, một phụ nữ Trung Quốc, và những thay đổi mà cô và gia đình đã trải qua. Gió Đông gió Tây là tác phẩm được Pearl Buck viết khi bà đã ngoài ba mươi tuổi và có những năm tháng dài hòa mình vào cuộc sống ở Trung Hoa. Như hầu hết các tác phẩm khác của nhà văn này, cuốn sách thể hiện sự giao thoa văn hóa rõ rệt , thậm chí ngay từ tiêu đề.  Vào bối cảnh lúc bấy giờ ,sự thông hiểu lẫn nhau giữa các nền văn minh vẫn là điều mờ mịt như màn đêm mù sương, chỉ thấp thoáng những hình thù không rõ nét và tràn ngập những bất đồng, thì Pearl Buck đã may mắn có được một vị thế thuận lợi để quan sát và tái hiện sự va chạm ấy. *** Quế Lan phải lấy chồng qua một cuộc hôn nhân sắp đặt, nhưng chồng của cô không phải là người như cô mong đợi. Họ ra ở riêng chứ không sống cùng cha mẹ chồng. Chồng Quế Lan là một bác sĩ, đi học ở phương Tây về và dường như không có cảm hứng với cô cho đến khi cô yêu cầu anh gỡ bỏ bó chân cho mình. Sau đó, họ có với nhau một con trai. Quế Lan có một người anh trai sống ở Mỹ được vài năm. Một ngày nọ, bạn của anh viết thư về cho gia đình anh, thông báo rằng anh đã cưới một phụ nữ Mỹ. Anh trai của Quế Lan và vợ là Mary trở về Trung Quốc để xem liệu họ có thể thuyết phục gia đình chấp nhận Mary hay không. Tuy nhiên gia đình không chấp nhận một con dâu ngoại quốc và bảo anh cho cô tiền rồi cho cô về Mỹ. Anh trai Quế Lan không theo lời. Một thời gian ngắn sau đó Mary mang thai đứa con trai đầu lòng. Đỉnh điểm của câu chuyện là lúc mẹ Quế Lan qua đời. Gia đình yêu cầu người anh trai phải buộc Mary trở về Mỹ và cưới cô gái gia đình đã chọn, nếu không anh sẽ bị tước thừa kế. Người anh trai từ chối, rời khỏi khu nhà của gia đình, sống tại một ngôi nhà gần nhà Quế Lan. Đứa trẻ được sinh ra, gắn kết bố mẹ cậu bé với nhau và cả hai nền văn hoá. Mời các bạn đón đọc Gió Đông, Gió Tây của tác giả Pearl S. Buck.