Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Truyền Kỳ Mạn Lục - Nguyễn Dữ

Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm văn xuôi duy nhất của Việt Nam từ xa xưa được đánh giá là “thiên cổ kỳ bút” (ngòi bút kỳ lạ của muôn đời), một cái mốc lớn của lịch sử văn học, sau này được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới. Tác phẩm gồm 20 truyện thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái nhằm gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, xã hội nhiễu nhương. Truyền kỳ mạn lục đã được dịch và giới thiệu ở một số nước như Pháp, Nga… *** Nhà văn Việt Nam, người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc Thanh Miện, Hải Dương. Thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng ôm ấp lý tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể đã ra làm quan. Sau vì bất mãn với thời cuộc, lui về ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa, từ đó "trải mấy mươi sương, chân không bước đến thị thành". Chưa rõ Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào, chỉ biết ông sống đồng thời với thầy học là Nguyễn Bỉnh Khiêm, và bạn học là Phùng Khắc Khoan, tức là vào khoảng thế kỷ XVI và để lại tập truyện chữ Hán nổi tiếng viết trong thời gian ở ẩn, Tryền kỳ mạn lục (in 1768, A.176/1-2). Truyện được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ nôm. Truyền kỳ mạn lục gồm 20 truyện, viết bằng tản văn, xen lẫn biền văn và thơ ca, cuối mỗi truyện thường có lời bình của tác giả, hoặc của một người cùng quan điểm với tác giả. Hầu hết các truyện xảy ra ở đời Lý, đời Trần, đời Hồ hoặc đời Lê sơ từ Nghệ An trở ra Bắc. Lấy tên sách là Truyền kỳ mạn lục (Sao chép tản mạn những truyện lạ), hình như tác giả muốn thể hiện thái độ khiêm tốn của một người chỉ ghi chép truyện cũ. Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện thì thấy Truyền kỳ mạn lục không phải là một công trình sưu tập như Lĩnh Nam chích quái, Thiên Nam vân lục... mà là một sáng tác văn học với ý nghĩa đầy đủ của từ này. Đó là một tập truyện phóng tác, đánh dấu bước phát triển quan trọng của thể loại tự sự hình tượng trong văn học chữ Hán. Và nguyên nhân chính của sự xuất hiện một tác phẩm có ý nghĩa thể loại này là nhu cầu phản ánh của văn học. Trong thế kỷ XVI, tình hình xã hội không còn ổn định như ở thế kỷ XV; mâu thuẫn giai cấp trở nên gay gắt, quan hệ xã hội bắt đầu phức tạp, các tầng lớp xã hội phân hóa mạnh mẽ, trật tự phong kiến lung lay, chiến tranh phong kiến ác liệt và kéo dài, đất nước bị các tập đoàn phong kiến chia cắt, cuộc sống không yên ổn, nhân dân điêu đứng, cơ cực. Muốn phản ánh thực tế phong phú, đa dạng ấy, muốn lý giải những vấn đề đặt ra trong cuộc sống đầy biến động ấy thì không thể chỉ dừng lại ở chỗ ghi chép sự tích đời trước. Nhu cầu phản ánh quyết định sự đổi mới của thể loại văn học. Và Nguyễn Dữ đã dựa vào những sự tích có sẵn, tổ chức lại kết cấu, xây dựng lại nhân vật, thêm bớt tình tiết, tu sức ngôn từ... tái tạo thành những thiên truyện mới. Truyền kỳ mạn lục vì vậy, tuy có vẻ là những truyện cũ nhưng lại phản ánh sâu sắc hiện thực thế kỷ XVI. Trên thực tế thì đằng sau thái độ có phần dè dặt khiêm tốn, Nguyễn Dữ rất tự hào về tác phẩm của mình, qua đó ông bộc lộ tâm tư, thể hiện hoài bão; ông đã phát biểu nhận thức, bày tỏ quan điểm của mình về những vấn đề lớn của xã hội, của con người trong khi chế độ phong kiến đang suy thoái. Trong Truyền kỳ mạn lục, có truyện vạch trần chế độ chính trị đen tối, hủ bại, đả kích hôn quân bạo chúa, tham quan lại nhũng, đồi phong bại tục, có truyện nói đến quyền sống của con người như tình yêu trai gái, hạnh phúc lứa đôi, tình nghĩa vợ chồng, có truyện thể hiện đời sống và lý tưởng của sĩ phu ẩn dật... Nguyễn Dữ đã phản ánh hiện thực mục nát của chế độ phong kiến một cách có ý thức. Toàn bộ tác phẩm thấm sâu tinh thần và mầu sắc của cuộc sống, phạm vi phản ánh của tác phẩm tương đối rộng rãi, khá nhiều vấn đề của xã hội, con người được đề cập tới. Bất mãn với thời cuộc và bất lực trước hiện trạng, Nguyễn Dữ ẩn dật và đã thể hiện quan niệm sống của kẻ sĩ lánh đục về trong qua Câu chuyện đối đáp của người tiều phu trong núi Nưa. ở ẩn mà nhà văn vẫn quan tâm đến thế sự, vẫn không quên đời, vẫn nuôi hy vọng ở sự phục hồi của chế độ phong kiến. Tư tưởng chủ đạo của Nguyễn Dữ là tư tưởng Nho gia. Ông phơi bày những cái xấu xa của xã hội là để cổ vũ thuần phong mỹ tục xuất phát từ ý thức bảo vệ chế độ phong kiến, phủ định triều đại mục nát đương thời để khẳng định một vương triều lý tưởng trong tương lai, lên án bọn "bá giả" để đề cao đạo "thuần vương", phê phán bọn vua quan tàn bạo để ca ngợi thánh quân hiền thần, trừng phạt bọn người gian ác, xiểm nịnh, dâm tà, để biểu dương những gương tiết nghĩa, nhân hậu, thủy chung. Tuy nhiên Truyền kỳ mạn lục không phải chỉ thể hiện tư tưởng nhà nho, mà còn thể hiện sự dao động của tư tưởng ấy trước sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến. Nguyễn Dữ đã có phần bảo lưu những tư tưởng phi Nho giáo khi phóng tác, truyện dân gian, trong đó có tư tưởng Phật giáo, Đạo giáo và chủ yếu là tư tưởng nhân dân. Nguyễn Dữ đã viết truyền kỳ để ít nhiều có thể thoát ra khỏi khuôn khổ của tư tưởng chính thống đặng thể hiện một cách sinh động hiện thực cuộc sống với nhiều yếu tố hoang đường, kỳ lạ. Ông mượn thuyết pháp của Phật, Đạo, v.v. để lý giải một cách rộng rãi những vấn đề đặt ra trong cuộc sống với những quan niệm nhân quả, báo ứng, nghiệp chướng, luân hồi; ông cũng đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng nhân dân khi miêu tả cảnh cùng cực, đói khổ, khi thể hiện đạo đức, nguyện vọng của nhân dân, khi làm nổi bật sự đối kháng giai cấp trong xã hội. Cũng chính vì ít nhiều không bị gò bó trong khuôn khổ khắt khe của hệ ý thức phong kiến và muốn dành cho tư tưởng và tình cảm của mình một phạm vi rộng rãi, ông hay viết về tình yêu nam nữ. Có những truyện ca ngợi tình yêu lành mạnh, chung thủy sắt son, thể hiện nhu cầu tình cảm của các tầng lớp bình dân. Có những truyện yêu đương bất chính, tuy vượt ra ngoài khuôn khổ lễ giáo nhưng lại phản ánh lối sống đồi bại của nho sĩ trụy lạc, lái buôn hãnh tiến. Nguyễn Dữ cũng rất táo bạo và phóng túng khi viết về những mối tình si mê, đắm đuối, sắc dục, thể hiện sự nhượng bộ của tư tưởng nhà nho trước lối sống thị dân ngày càng phổ biến ở một số đô thị đương thời. Tuy vậy, quan điểm chủ đạo của Nguyễn Dữ vẫn là bảo vệ lễ giáo, nên ý nghĩa tiến bộ toát ra từ hình tượng nhân vật thường mâu thuẫn với lý lẽ bảo thủ trong lời bình. Mâu thuẫn này phản ánh mâu thuẫn trong tư tưởng, tình cảm tác giả, phản ánh sự rạn nứt của ý thức hệ phong kiến trong tầng lớp nho sĩ trước nhu cầu và lối sống mới của xã hội. Truyền kỳ mạn lục có giá trị hiện thực vì nó phơi bày những tệ lậu của chế độ phong kiến và có giá trị nhân đạo vì nó đề cao phẩm giá con người, tỏ niềm thông cảm với nỗi khổ đau và niềm mơ ước của nhân dân. Truyền kỳ mạn lục còn là tập truyện có nhiều thành tựu nghệ thuật, đặc biệt là nghệ thuật dựng truyện, dựng nhân vật. Nó vượt xa những truyện ký lịch sử vốn ít chú trọng đến tính cách và cuộc sống riêng của nhân vật, và cũng vượt xa truyện cổ dân gian thường ít đi sâu vào nội tâm nhân vật. Tác phẩm kết hợp một cách nhuần nhuyễn, tài tình những phương thức tự sự, trữ tình và cả kịch, giữa ngôn ngữ nhân vật và ngôn ngữ tác giả, giữa văn xuôi, văn biền ngẫu và thơ ca. Lời văn cô đọng, súc tích, chặt chẽ, hài hòa và sinh động. Truyền kỳ mạn lục là mẫu mực của thể truyền kỳ, là "thiên cổ kỳ bút", là "áng văn hay của bậc đại gia", tiêu biểu cho những thành tựu của văn học hình tượng viết bằng chữ Hán dưới ảnh hưởng của sáng tác dân gian. BÙI DUY TÂN Nguyễn Dữ là con trai cả Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thìn, niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496), được trao chức Thừa chánh sứ, sau khi mất được tặng phong Thượng thư. Lúc nhỏ Nguyễn Dữ chăm học, đọc rộng, nhớ nhiều, từng ôm ấp lý tưởng lấy văn chương nối nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, Nguyễn Dữ thi Hội nhiều lần, đạt trúng trường và từng giữ chức vụ Tri huyện Thanh Tuyền nhưng mới được một năm thì ông xin từ quan về nuôi dưỡng mẹ già. Trải mấy năm dư không đặt chân đến những nơi đô hội, ông miệt mài "ghi chép" để gửi gắm ý tưởng của mình và đã hoàn thành tác phẩm "thiên cổ kỳ bút" Truyền kỳ mạn lục. Nguyễn Dữ sinh và mất năm nào chưa rõ, nhưng căn cứ vào tác phẩm cùng bài Tựa Truyền kỳ mạn lục của Hà Thiện Hán viết năm Vĩnh Định thứ nhất (1547) và những ghi chép của Lê Quý Đôn trong mục Tài phẩm sách Kiến văn tiểu lục có thể biết ông là người cùng thời với Nguyễn Bỉnh Khiêm, có thể lớn tuổi hơn Trạng Trình chút ít. Giữa Nguyễn Dữ và Nguyễn Bỉnh Khiêm tin chắc có những ảnh hưởng qua lại về tư tưởng, học thuật... nhưng e rằng Nguyễn Dữ không thể là học trò của Nguyễn Bỉnh Khiêm như Vũ Phương Đề đã ghi. Đối với nhà Mạc, thái độ Nguyễn Dữ dứt khoát hơn Nguyễn Bỉnh Khiêm. Ông không làm quan với nhà Mạc mà chọn con đường ở ẩn và ông đã sống cuộc sống lâm tuyền suốt quãng đời còn lại. Truyền kỳ mạn lục được hoàn thành ngay từ những năm đầu của thời kỳ này, ước đoán vào khoảng giữa hai thập kỷ 20-30 của thế kỷ XVI. Theo những tư liệu được biết cho đến nay, Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm duy nhất của Nguyễn Dữ. Sách gồm 20 truyện, chia làm 4 quyển, được viết theo thể loại truyền kỳ. Cốt truyện chủ yếu lấy từ những câu chuyện lưu truyền trong dân gian, nhiều trường hợp xuất phát từ truyền thuyết về các vị thần mà đền thờ hiện vẫn còn (đền thờ Vũ Thị Thiết ở Hà Nam, đền thờ Nhị Khanh ở Hưng Yên và đền thờ Văn Dĩ Thành ở làng Gối, Hà Nội). Truyện được viết bằng văn xuôi Hán có xen những bài thơ, ca, từ, biền văn, cuối mỗi truyện (trừ truyện 19 Kim hoa thi thoại ký) đều có lời bình thể hiện rõ chính kiến của tác giả. Hầu hết các truyện đều lấy bối cảnh ở các thời Lý-Trần, Hồ, thuộc Minh, Lê sơ và trên địa bàn từ Nghệ An trở ra Bắc. Thông qua các nhân vật thần tiên, ma quái, tinh loài vật, cây cỏ..., tác phẩm muốn gửi gắm ý tưởng phê phán nền chính sự rối loạn, không còn kỷ cương trật tự, vua chúa hôn ám, bề tôi thoán đoạt, bọn gian hiểm nịnh hót đầy triều đình; những kẻ quan cao chức trọng thả sức vơ vét của cải, sách nhiễu dân lành, thậm chí đến chiếm đoạt vợ người, bức hại chồng người. Trong một xã hội rối ren như thế, nhiều tệ nạn thế tất sẽ nảy sinh. Cờ bạc, trộm cắp, tật dịch, ma quỷ hoành hành, đến Hộ pháp, Long thần cũng trở thành yêu quái, sư sãi, học trò, thương nhân, nhiều kẻ đắm chìm trong sắc dục. Kết quả là người dân lương thiện, đặc biệt là phụ nữ phải chịu nhiều đau khổ. Nguyễn Dữ dành nhiều ưu ái cho những nhân vật này. Dưới ngòi bút của ông họ đều là những thiếu phụ xinh đẹp, chuyên nhất, tảo tần, giàu lòng vị tha nhưng luôn luôn phải chịu số phận bi thảm. Đến cả loại nhân vật "phản diện" như nàng Hàn Than (Đào thị nghiệp oan ký), nàng Nhị Khanh (Mộc miên phụ truyện), các hồn hoa (Tây viên kỳ ngộ ký) và "yêu quái ở Xương Giang" cũng đều vì số phận đưa đẩy, đều vì "nghiệp oan" mà đến nỗi trở thành ma quỷ. Họ đáng bị trách phạt nhưng cũng đáng thương. Dường như Nguyễn Dữ không tìm được lối thoát trên con đường hành đạo, ông quay về cuộc sống ẩn dật, đôi lúc thả hồn mơ màng cõi tiên, song cơ bản ông vẫn gắn bó với cõi đời. Ông trân trọng và ca ngợi những nhân cách thanh cao, cứng cỏi, những anh hùng cứu nước, giúp dân không kể họ ở địa vị cao hay thấp. Truyền kỳ mạn lục ngay từ khi mới hoàn thành đã được đón nhận. Hà Thiện Hán người cùng thời viết lời Tựa, Nguyễn Thế Nghi, theo Vũ Phương Đề cũng là người cùng thời, dịch ra văn nôm. Về sau nhiều học giả tên tuổi Lê Quý Đôn, Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú đều ghi chép về Nguyễn Dữ và định giá tác phẩm của ông. Nhìn chung các học giả thời Trung đại khẳng định giá trị nhân đạo và ý nghĩa giáo dục của tác phẩm. Các nhà nghiên cứu hiện đại phát hiện thêm giá trị hiện thực đồng thời khai thác tinh thần "táo bạo, phóng túng" của Nguyễn Dữ khi ông miêu tả những cuộc tình si mê đắm đuối đậm màu sắc dục. Hành vi ấy tuy trái lễ, trái đạo trung dung nhưng lại đem đến chút hạnh phúc trần thế có thực cho những số phận oan nghiệt. Về mặt thể loại mà xét thì Truyền kỳ mạn lục là tác phẩm đỉnh cao của truyện truyền kỳ Việt Nam. Nguyễn Dữ chịu ảnh hưởng của Cù Hựu nhưng Truyền kỳ mạn lục vẫn là "áng văn hay của bậc đại gia", là sáng tạo riêng của Nguyễn Dữ cũng như của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lời tựa(1) Tập lục này là trước tác của Nguyễn Dữ, người Gia Phúc, Hồng Châu. Ông là con trưởng vị tiến sĩ triều trước Nguyễn Tường Phiêu (2). Lúc nhỏ rất chăm lối học cử nghiệp, đọc rộng nhớ nhiều, lập chí ở việc lấy văn chương truyền nghiệp nhà. Sau khi đậu Hương tiến, nhiều lần thi Hội đỗ trúng trường, từng được bổ làm Tri huyện Thanh Tuyền (3). Được một năm ông từ quan về nuôi mẹ cho tròn đạo hiếu. Mấy năm dư không đặt chân đến chốn thị thành, thế rồi ông viết ra tập lục này, để ngụ ý. Xem văn từ thì không vượt ra ngoài phên giậu của Tông Cát (4), nhưng có ý khuyên răn, có ý nêu quy củ khuôn phép, đối với việc giáo hóa ở đời, há có phải bổ khuyết nhỏ đâu! Vĩnh Định năm đầu (1547), tháng Bảy, ngày tốt. Đại An Hà Thiện Hán kính ghi Kẻ hậu học là Tùng Châu Nguyễn Lập Phu biên. (1) Lời Tựa này được chép trong Cựu biên Truyền kỳ mạn lục. Bản này hiện chưa có trong các thư viện ở Hà Nội. Ở đây chúng tôi theo Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san, Đài Loan thư cục in năm 1987. Tân biên truyền kỳ mạn lục tăng bổ giải âm tập chú in năm Cảnh Hưng 35 (1774) lấy lại lời tựa này nhưng không ghi tên Hà Thiện Hán. Cuối bài ghi thêm "Nay xã trưởng xã Liễu Chàng là Nguyễn Đình Lân soạn in vào năm Giáp Ngọ (1774) để làm bản gốc cho nghìn vạn đời và để bán cho thiên hạ xem đọc". Chú thích (2) Nguyễn Tường Phiêu: người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, nay thuộc tỉnh Hải Dương, đồ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Hồng Đức 27 (1496) đời Lê Thánh Tông; làm quan đến Thừa chánh sứ. Sau khi mất được tặng chức Thượng thư, phong phúc thần. (3) Thanh Tuyền: tức huyện Bình Xuyên, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc. (4) Tông Cát: Cù Tông Cát, tên là Cù Hựu, tác giả Tiễn đăng tân thoại. Mời các bạn đón đọc Truyền Kỳ Mạn Lục của tác giả Nguyễn Dữ.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đêm Đen Buông Xuống - Dean Koontz
Dean Koontz, sinh ngày 9 tháng 7 năm 1954 tại Everett, Pennsylvania, Hoa Kỳ. Ông tốt nghiệp Đại học Shippensburg Pennsylvania vào năm 1967, sau đó ông là giáo viên dạy tiếng Anh tại trường trung học Mechanicsburg ở Mechanicsburg, Pennsylvania. Là nhà văn chuyên viết về thể loại li kì, khoa học viễn tưởng. Ông viết viết tiểu thuyết để người đọc quên mình và rơi vào thế giới đầy mạo hiểm và kinh dị, giao dịch với thế giới khoa học viễn tưởng, du lịch vượt thời gian, đồng hành cùng kẻ giết người... Một số tiểu thuyết của Dean Koontz được New York Times đánh giá là một trong những sách bán chạy nhất (Lightning, Midnight, Cold Fire, Hideaway, Dragon Tears, Intensity và Sole Survivor)... Sớm nổi tiếng trong sự nghiệp của mình, Dean Koontz đã viết dưới nhiều bút danh, bao gồm: Deanna Dwyer, K. R. Dwyer, Aaron Wolfe, David Axton, Brian Coffey, John Hill, Leigh Nichols, Owen West, Richard Paige, Leonard Everett. Có thể cái tên Dean Koontz không đủ để gợi nhắc cho người đọc biết ông là ai, nhưng những cuốn sách của ông lại vô cùng quen thuộc với độc giả. Dean Koontz có một sự nghiệp văn học đồ sộ với hàng chục tiểu thuyết và truyện ngắn, bao gồm cả tiểu thuyết viễn tưởng. Những tác phẩm của ông đã bán được hơn 450 triệu bản trên toàn thế giới kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1968. Những tác phẩm đã xuất bản tại Việt Nam: Frankenstein, Giao Lộ Sinh Tử (Odd Thomas #1), Bóng Ma Trong Gương (The Face), Đêm Đen Buông Xuống (Dark Fall) Thập Đại Tùng Thư - 10 Đại Hoàng Đế Thế Giới *** 1 giờ 12’ sáng thứ tư ngày 8 tháng 12. Penny Dawson thức giấc và nghe trong đêm có một tiếng động vụng trộm lén lút. Bé tưởng mình vẫn đang mơ. Lúc nãy, trong giấc ngủ bé đã mơ thấy các chú ngựa và đó là giấc mơ tuyệt vời nhất trong suốt quãng đời ngắn ngủi mười một năm của bé. Bé cố ngủ lại để trở về với giấc mơ dịu dàng đó, nhưng tiếng động lạ thường làm bé khiếp sợ. bé thầm nghĩ: Hẳn đó chỉ là tiếng động gây ra bởi con ngựa trong giấc mơ của bé hoặc tiếng rơm rạ trong chuồng ngựa và chẳng có gì để phải hốt hoảng. Tuy vậy, ý nghĩ đó không làm bé an tâm; bé không thể tin cái tiếng động lạ lùng đó xuất phát từ giấc mơ và vì thế bé sực tỉnh hẳn. Tiếng động đó xuất phát từ giường Davey ở cuối căn phòng! Nhưng đó chẳng phải là tiếng khò khè của đứa bé trai đang ngủ sau bữa ăn tối no nê. Đó là thứ tiếng xuẫn động, vờ vĩnh. Rõ ràng là thế. Penny thầm nghĩ: Không biết thằng bé đang giở trò gì đây? Cô bé ngồi dậy và nhướng mắt nhìn vào bóng đêm dày đặc nhưng không thể trông thấy gì. Bé ngẩng đầu, lắng tai nghe ngóng. Sự tĩnh mịch của đêm bị phá vỡ bởi tiếng rì rào, một tiếng thở dài. Rồi im bặt. Penny nín thở, cố lắng tai nghe cho rõ. Một tiếng rít. Rồi một thứ tiếng giống như tiếng cào hoặc tiếng cọ xát. Tối đen như mực, nhưng cửa phòng vẫn để hé mở. Hai đứa bé luôn để cửa mở khi ngủ để cha chúng có thể nghe thấy tiếng, trong trường hợp chúng thức giấc và gọi bố. Tuy nhiên, mọi ngọn đèn trong căn hộ đều tắt cả. Penny gọi nhỏ: — Davey? Không có tiếng trả lời. — Davey, em đó hả? Hou-Hou. Hou-Hou... — Thôi đi Davey! Vẫn không có tiếng trả lời. Penny thầm nghĩ: Bọn nhóc bảy tuổi quá tinh nghịch đến mức không thể chịu nổi. cô bé nói: — Nếu em còn tiếp tục chơi cái trò ngu xuẩn đó thì em sẽ biết tay chị! Một tiếng động khô khốc, tựa như chiếc lá vàng bị bàn chân ai giẫm và thứ tiếng động đó đang tiến gần lại. — Này Davey, chớ có làm trò quỷ quái! Và tiếng động lại càng gần hơn! Một cái gì đó đang đi ngang qua căn phòng, hướng về cái giường. Penny biết đó không phải Davey bởi thằng bé còn quá nhỏ để có thể đùa dai ở mức độ tài tình như vậy. Tim Penny đập nhanh trong lồng ngực khi cô bé cho rằng đây có thể là mơ, tựa như giấc mơ về ngựa ban nãy, nhưng lần này thì không êm ái chút nào. Nhưng đồng thời Penny biết rõ mình đang tỉnh. Cô bé chảy nước mắt khi nhìn chăm chăm vào bóng tối. Bé đưa tay bật cây đèn ngủ ở đầu giường nhưng trong một lúc lâu, bé không tìm được công tắc. Bé vô vọng sờ soạng trong bóng tối. Giờ đây, có thứ âm thanh êm nhẹ đang phát ra cạnh giường bé. Cái vật đó đang ở rất gần! Cuối cùng, bàn tay bé đã chạm được công tắc đèn. Ánh sáng tỏa xuống giường và sàn nhà. Chẳng thấy một sinh vật đáng sợ nào trong vùng sáng cả. Tuy sánh sáng không đủ mạnh để đẩy lùi toàn bộ bóng tối nhưng cũng đủ để Penny hiểu rằng chẳng có gì nguy hiểm và đáng sợ. Ở giường bên kia, Davey đang ngủ ngon lành. Penny không còn nghe thấy tiếng động lạ nữa. Nhưng bé đã biết đây không phải mình tưởng tượng và bé cũng không phải loại người chỉ biết tắt đèn rồi trùm kín chăn để quên đi mọi chuyện. Bố thường bảo bé là người tò mò nhất trên đời mà! Và thế là bé tung chăn, ra khỏi giường và đứng lặng im để nghe ngóng. Không một tiếng động. Penny bước về phía giường Davey để nhìn kỹ thằng bé hơn. Ở đây tuy không sáng lắm, nhưng đủ để bé thấy Davey đang ngủ say. Penny cúi người để xem đôi mi của Davey có xao động không và cô bé biết thằng bé không hề giả vờ ngủ. Tiếng động lại phát ra từ phía sau Penny. Cô bé quay phắt lại. Lúc này, tiếng động phát ra từ dưới giường. Đó là thứ tiếng nghe như tiếng rít, tiếng cào cào hoặc như tiếng cái lúc lắc ngân lên nhè nhẹ, không ồn lắm những cũng chẳng êm tai. Cái vật dưới giường hình như hiểu rõ Penny đang nghĩ gì và nó cố ý gây ra tiếng động để trêu chọc, dọa dẫm bé! Penny nghĩ thầm: Hẳn vật đó không phải ông Ba Bị đi. Chuyện ông ba bị chỉ mỗi Davey mới tin...chứ Penny này thì lớn rồi mà. Chắc là con chuột. Đúng vậy! Penny cảm thấy đôi chút nhẹ nhõm. Bé không thích chuột, nhất là khi chúng chui xuống giường để phá phách. Nhưng một chú chuột nhắt thì không việc gì phải sợ chứ! Penny đứng như thế một lúc, tự hỏi bây giờ mình nên làm gì. Cuối cùng bé nghĩ đến bố. Penny không muốn đánh thức bố dậy khi mà bé chưa biết chắc đó có phải chuột hay không. Nếu bố sang mà không nhìn thấy con chuột nào chẳng phải mất mặt lắm sao? Trong hai tháng nữa, bé sẽ được mười hai tuổi và điều mà bé ghét nhất là bị xem như con nít. Bé biết mình không thể nhìn xuống dưới giường bởi dưới đó quá tối, đã vậy còn bị chăn mền che khuất. Vật dưới giường (hay con chuột) rít lên rồi phát ra tiếng ùng ục như tiếng người, thứ tiếng khàn đục, lạnh lùng, hung dữ, như muốn nói với Penny bằng một thứ ngôn ngữ mà cô bé không thể hiểu. Penny thắc mắc, không biết con chuột có thể gây ra tiếng động như vậy chăng? Rồi bé nhìn sang Davey. Thằng nhóc đang ngủ, nơi góc tường cạnh giường nó là cây gậy bóng chày bằng nhựa. Penny cầm lấy. Dưới giường, cái tiếng động lạ lùng khó chịu đó – thứ tiếng rít – cào – cọ xát – vẫn liên tục vang lên. Penny đi về phía giường và quỳ xuống. Bé cầm gậy bóng chày trong tay, hất mớ chăn mền lên. Không thể nhìn thấy gì: dưới giường tối thui như hang động. Tiếng động ngưng hẳn. Penny cảm thấy khiếp đảm. Bé tưởng chừng như có cái gì đó núp trong bóng tối rình rập bé ... một cái gì đó không phải chuột ... Một cái gì đó biết rằng bé chỉ là đứa bé gái nhỏ ... Một cái gì đó quỷ quái, xảo trá, có thể vồ lấy bé mà nuốt chửng! Rồi bé thầm nghĩ: Đó chỉ là ý tưởng của một đứa con nít! Bé cắn môi, dứt khoát không thể cam chịu như vậy. Rồi bé dùng gậy bóng chày quơ lung tung dưới giường nhằm để con chuột kêu lên hoặc buộc nó phải chạy ra. Khổ nỗi, có cái gì đó đã bấu vào đầu cây gậy! Penny cố đẩy nó ra nhưng không thể được. Bé cố lắc mạnh cây gậy, vặn vẹo đủ kiểu nhưng không bứt ra được. Thế rồi bỗng nhiên, cây gậy vuột khỏi tầm tay bé và biến mất dưới giường trong một tiếng động khô đục. Penny ngã bật ra sau, chạm vào giường Davey, vậy mà bé tưởng mình bất động. chỉ mới vài giây trước, bé đã quỳ bên giường Davey nhìn thằng nhóc ngủ. Vậy mà bây giờ, đầu bé đập xuống trên tấm nệm của giường nó. Trong giấc ngủ, Davey ú ớ vài tiếng, thở dài rồi lại tiếp tục say ngủ. Dưới giường Penny, chẳng còn một tiếng động nào nữa. Giờ đây, Penny đang nghĩ đến chuyện kêu cứu bố. Cô bé gào lên nhưng tiếng kêu chỉ vang vang trong tâm trí. ‘Ba, ba, ba ơi!’, không một thanh âm nào thoát ra. Trong phút chốc bé hoàn toàn chết lặng. Ánh đèn bỗng dưng nhấp nháy. Sợi dây đèn được cắm vào một ổ điện phía sau giường và cái vật đó đang tìm cách rút sợi dây. “Ba!” Penny rốt cuộc thốt lên nhưng chỉ là tiếng thì thào bị bóp nghẹn. Cây đèn nhấp nháy một lúc rồi tắt ngấm. Một lần nữa, căn phòng lại chìm vào bóng tối. Penny nghe có sự chuyển động. Cái vật đó đã ra khỏi gầm giường và chạy trên sàn. “Ba ơi!”, Penny lại gào lên. Nhưng vẫn chỉ là tiếng thều thào. Cổ họng cô bé khô khốc. Bé cố nuốt nước bọt để cổ họng thông thoáng. Có tiếng ken két. Nhìn chăm chăm vào bóng đèn bằng đôi mắt sợ hãi, Penny bắt đầu run rẩy và thốt lên những tiếng kêu nho nhỏ. Thế rồi bé hiểu ra rằng tiếng ken két là tiếng cái bản lề cửa bị khô dầu. Bé đoán rằng cái cửa đang chuyển động tuy không nhìn thấy, cánh cửa vốn hé mở và giờ đây, nó được mở toang. Không còn tiếng ken két cũng như cái tiếng rít – cào bí ẩn đó đang xa dần. Dẫu sao, cái vật đó sẽ không tấn công bé. Bây giờ, nó đang ở ngưỡng cửa. Bây giờ, nó đang ở ngoài hành lang. Bây giờ, nó đang cách cánh khoảng ba bốn bước. Và ... nó đi rồi! Những giây phút trôi qua chậm như cả thế kỷ. Đó không phải chuột, cũng không phải mơ. Thế thì là cái gì nhỉ? Cuối cùng, Penny nhổm dậy. Đôi chân bé mềm nhũn. Bé bước đi, dò dẫm trong bóng tối để tìm cây đèn ngủ ở đầu giường Davey. Công tắc phát ra tiếng kêu “tách" và ánh sáng tỏa xuống đứa bé trai đang ngủ. Penny vội vàng đưa tay đẩy chụp đèn sang một bên. Rồi bé đi về phía cửa, đứng im mà lắng nghe. Tất cả đều im lặng. Vẫn còn run rẩy, bé đóng cửa lại rồi chùi hai tay ướt đẫm mồ hôi vào áo ngủ. Giờ đây căn phòng đã đủ sáng để bé có thể trở lại giường. Bé khom người nhìn xuống dưới giường một lần nữa. Chẳng còn gì đáng sợ nữa rồi. Bé cầm lấy cây gậy bóng chày: đầu cây gậy đã bị khoét sâu bởi những lỗ nhỏ. Penny thắc mắc không hiểu nó bị đục thủng bởi cái gì? Móng vuốt à? Penny vặn người để cắm lại sợi dây đèn đã bị rời ra khỏi ổ. Rồi bé tắt cây đèn ngủ trên đầu giường Davey. Ngồi ở đầu giường, bé nhìn chăm chăm cái cửa đang đóng kín một lúc. Cuối cùng bé thốt lên: “Chuyện gì đã xảy ra vậy nhỉ?" Càng suy nghĩ bé càng thấy sự việc vừa xảy ra thật không thực tế. Có thể cây gậy bóng chày đã bị vướng trong giắt lò xo giường và bị mớ đinh ốc ở đó đâm thủng chăng? Còn cái cửa có thể bị gió đẩy ra cũng không chừng? Có thể lắm chứ ... Cuối cùng, không dằn được sự tò mò, bé đứng dậy, đi ra hành lang, bật đèn sáng rồi cẩn thận đóng cửa lại. Yên lặng ... Như thường lệ, cánh cửa phòng bố vẫn mở hé. Bé thò đầu vào nghe ngóng. Có tiếng ngáy đều đều của bố, ngoài ra chẳng còn tiếng động gì khác lạ. Một lần nữa, bé nghĩ liệu mình có nên đánh thức bố dậy không. Bố là sỹ quan cảnh sát: trung úy Jack Dawson. Và bố có súng. Nếu thực sự căn hộ này bị xâm nhập thì bố sẽ bắn kẻ thù ngay. Nhưng nếu bé đánh thức bố rồi sau đó không phát hiện được gì thì bố sẽ xem bé như trẻ con cho xem. Nếu thế thì xấu hổ lắm! Nghĩ đến đó, bé thở dài và trở về phòng. Hồi hộp, bé đi dọc hành lang, đến cửa chính để kiểm tra: cửa đã khóa kỹ. Nơi mắc áo gắn trên tường, gằn cửa, có treo cây dù. Bé cầm lấy nó, chĩa cái mũi nhọn về phía trước, đi vào phòng khách, bật sáng đèn và quan sát mọi nơi. Rồi bé sang phòng ăn và căn bếp nhỏ hình chữ L. Không có gì khác thường cả. Phía trên bồn rửa chén, cửa sổ để mở. Không khí lạnh tháng mười hai len qua khe hở khoảng vài chục phân thổi vào. Penny biết rõ cái cửa sổ này đã được đóng lại và cài chốt lúc chập tối, trước khi cô bé đi ngủ. Bé biết chắc như thế. Nếu sau đó bố có mở ra để hít thở đôi chút khí trời thì hẳn bố đã đóng lại rồi. Kéo chiếc ghế lại gần bồn rửa chén, bé leo lên đẩy cửa để có thể nghiêng người nhìn ra ngoài. Cơn gió lạnh buốt khiến bé nhăn mặt. Mọi vật đều yên tĩnh. Dọc theo tòa nhà, gần cửa sổ phòng ngủ, có một cái thang cấp cứu bằng sắt chạy thẳng xuống con hẻm. Nhưng phía căn bếp thì chẳng có thang cũng chẳng có mép tường. Chẳng một phương tiện khả dĩ để cho kẻ trộm có thể leo lên hoặc bám vào để xâm nhập cả. Bé biết thứ tiếng động phát ra lúc nãy không phải do trộm bởi hắn không thể nào núp dưới giường của bé được. Penny đóng cửa sổ lại, đặt chiếc ghế vào chỗ cũ. Bé miễn cưỡng cất cây dù. Luyến tiếc phải rời bỏ vũ khí, bé tắt đèn và không dám nhìn về khoảng tối đằng sau. Bé về phòng, nằm xuống giường và kéo chăn lên cổ. Davey vẫn ngon giấc. Bên ngoài cửa sổ, gió đêm rít lên từng cơn. Xa xa có tiếng còi hụ thê lương của một xe cấp cứu. Penny ngồi dậy, tựa người vào gối kê, dưới vùng sáng che chở của ngọn đèn ngủ. Bé cảm thấy thiu thiu, muốn ngả lưng xuống nhưng lại sợ phải tắt đèn. Nỗi sợ làm bé khó chịu. Bé thầm nghĩ: Ta đã lớn rồi chứ? Kể từ khi mẹ mất, ta đã là người nội trợ cai quản gia đình mà. Khoảng mười phút sau, tự ái nổi lên, bé tắt đèn và ngã người xuống giường. Tuy vậy, tâm trí bé vẫn còn ray rứt. Bé thầm nghĩ: Đó là cái gì chứ? Bé chờ đợi ... Im lặng ... Rồi bé chìm vào giấc ngủ. ... Mời các bạn đón đọc Đêm Đen Buông Xuống của tác giả Dean Koontz.
Vị Khách Phòng 44 - Khang Tĩnh Văn
Hàng loạt vụ án mạng rùng rợn liên tiếp xảy ra trong một tiểu khu cao cấp dành cho giới trí thức, mang đến nỗi ám ảnh kinh hoàng không chỉ cho người dân mà còn cho cả chính quyền thành phố. Những bóng ma vật vờ, những xác chết kì bí, những bộ phận cơ thể người thối rữa thoắt ẩn thoắt hiện, tựa như đốm lửa ma trơi ngày ngày ám ảnh tâm trí người dân, làm đau đầu đội cảnh sát hình sự. Vị khách phòng 44 là ai? Tại sao cô luôn bị tiếng mèo kêu lúc nửa đêm đánh thức, luôn là người đầu tiên phát hiện ra những xác chết không toàn thây? Liệu trong tiểu khu này có thực sự tồn tại thứ gọi là ma quỷ hay đơn giản chỉ là âm mưu giết người của một tên bệnh hoạn? Sau khi bí mật được vén màn, bóng ma lộ diện, nỗi ám ảnh kinh hoàng liệu đã thực sự kết thúc? Không một ai biết, cho đến khi, tiếng mèo kêu lại lần nữa vang lên giữa màn đêm mờ mịt… *** Màn đêm mịt mù buông xuống, ngoài ánh đèn hắt ra từ tiểu khu, khắp nơi đều chìm trong một dải tối đen như mực, không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì. Hà Tích Mộ khoác một chiếc áo ngoài mỏng manh, cầm theo đèn pin, đi ra phía ngoài tiểu khu. Thục ra, cô chẳng muốn đi chút nào, nhưng không biết tiếng mèo đáng ghét ở đâu cứ kêu liên hồi, thứ âm thanh đó quả thực rất kì quái, giống hệt tiếng khóc của một đứa trẻ. Mặc dù đã cố gắng trấn định tâm trí, rằng không nên nghe hay nghĩ đến nó nữa, thậm chí còn cố tình nằm cuộn tròn, kéo chăn lên đỉnh đầu, thế nhưng âm thanh đó vẫn chiến thắng lí trí của cô. Từ khi mua căn nhà này, Hà Tích Mộ cảm thấy không có lúc nào được thảnh thơi. Ngay từ khi bắt đầu bày biện đồ đạc đã có rất nhiều sự việc kì quái xảy ra, khi ấy cô còn cho rằng đó chẳng qua chỉ là những chuyện tình cờ. Hai tháng sau, khi bắt đầu vào ở, cô mới phát hiện những chuyện kì quái đó không đơn giản chỉ là những sự trùng hợp ngẫu nhiên. Đặc biệt là tiếng mèo kêu lúc nửa đêm. Hà Tích Mộ không ghét mèo, chỉ là âm thanh này ngày nào cũng lặp đi lặp lại lúc nửa đêm đã giày vò cô đến mức nhức nhối khắp người, hầu như sáng nào cũng đi làm với cặp mắt thâm quầng như mắt gấu trúc. Không những thế, vì không ngủ đủ giấc nên cô đã gây ra không ít sai sót trong công việc, tạo cơ hội cho người quản lý tóm được điểm sơ hở, mỗi lần đến gặp cô đều mang theo cả xe tải những lời quở trách khiến cô vô cùng khó chịu. Hà Tích Mộ phát điên, hận bản thân không thể biến thành một con mèo để cào cấu, cắn xé con mèo đáng ghét kia một trận. Nhưng cô không có khả năng đó, cũng chẳng có nhiều thời gian và sức lực đến vậy. Sau vài đêm bị tiếng mèo kêu làm cho mất ngủ, Hà Tích Mộ bất đắc dĩ phải bò ra khỏi giường, muốn xem xem rốt cuộc chuyện gì đang xảy ra. Hà Tích Mộ vốn là người hài hước, nhưng sau mười ngày sống ở tiểu khu, trải qua một số chuyện kì quái, tâm trạng vui vẻ của cô bỗng tan biến như mây khói. Ví dụ như, chỉ cần đặt chân đến nơi này là phanh xe của cô sẽ không hoạt động như bình thường nữa, từng có mấy lần suýt thì xảy ra tai nạn, may mà cô phản ứng kịp. Còn có lần, một chậu hoa vô duyên vô cớ bay thẳng vào trán cô, sưng một cục to tướng...Đương nhiên những chuyện kì quái đó đều xảy ra trước khi cô dọn đến ở. Điều quan trọng là mỗi lần đến tiểu khu này, Hà Tích Mộ luôn cảm thấy hình như có người nào đó đang nhìn chằm chằm về phía mình, nhưng khi cô quay đầu nhìn về hướng đó thì lại chẳng thấy bất cứ thứ gì. Lúc đầu, Hà Tích Mộ còn tự an ủi mình, cho rằng mình chỉ bị ảnh hưởng tâm lý, nhưng sau vài lần thấp thoáng thấy có chiếc bóng đằng sau lưng mình, cô thực sự tin rằng có người đang ở phía sau. Sau khi rời khỏi phạm vi ánh đèn chiếu rọi trong tiểu khu, Hà Tích Mộ thở hổn hển, mỗi bước chân đều phải dè chừng, cuối cùng thì cô cũng hiểu thế nào là cảm giác “như bước trên ... Mời các bạn đón đọc Vị Khách Phòng 44 của tác giả Khang Tĩnh Văn.
Thiên Linh Cái - Trương Thanh Thùy
Thiên Linh cái của là một loại bùa ngải, mà ở một giai đoạn, đã có những con người vin vào sự mê muội của những người quanh mình để đồn thổi về quyền năng, hòng lợi dụng họ để cống nạp từ tiền tài, vật chất, đến sự kiêng dè, kính nể. Trong truyện Thiên Linh Cái, Hai Tưng là nhân vật có thật, đã bị xử tử vì tội giết người trong quá trình luyện Thiên Linh cái. Tác giả Trương Thanh Thùy đã kể lại câu chuyện này bằng văn học, để nghiệm về cuộc đời, khi con người ở cùng cực của sự đau khổ, hoặc đẩy mình vào tận cùng ngõ tối của lòng tham, họ khiến mình si mê, ngu muội và tự huyễn hoặc mình bởi những thứ siêu linh không thật. Câu chuyện có những tình tiết đáng sợ đến ám ảnh, rùng mình, nhưng sự thật tàn độc của những kẻ luyện Thiên Linh cái là như thế, mà con người vì hai chữ dị đoan chỉ nhìn bề ngoài rồi tin, rồi chạy theo một cách không suy nghĩ, để đem đến đau khổ cho người thân của mình và cả cho chính bản thân mình. Không cần hô hào chống lại mê tín dị đoan, tác giả dùng thuật tả của văn mình để phơi bày ra một sự thật phũ phàng và những hệ lụy đáng tiếc mà những ai đã, đang và sẽ phải chịu đựng khi để tâm hồn mình chạy theo những mong cầu không có thật. Điều đáng nói ở tác phẩm này, tuy độc giả khó tìm thấy tính nhân văn trong một câu chuyện toàn máu và ám ảnh, nhưng sự thật là tác giả đã nhân văn với cả nhân vật Hai Tưng của mình. Cho hắn một lý do để phạm tội, dẫu cho ngày phải đền trả lại. Thiên Linh cái hoàn toàn không có nhân vật “phản diện” hay “chính diện” mà chỉ là câu chuyện đấu tranh giữa tốt - xấu trong tự mỗi con người và nếu sa vào sai lầm thì do chính bản thân họ đã cùng với hoàn cảnh khiến sự yếu đuối của mình đưa mình đi. Đằng sau mỗi con người là một cuộc đời, một câu chuyện không chắc ai cũng biết, nên, đừng vội vàng lên tiếng đả kích ai, khi bản thân chúng ta chưa bao giờ hoàn hảo. *** "Hai Tưng" là một trong hai nhân vật liên quan đến truyền bá mê tín dị đoan làm tôi phải lưu tâm nhất ở thời kỳ làm báo. "Hai Tưng" khiến tôi từng cảm thấy căm ghét vô cùng – theo cái cách tôi tự nhắc nhở mình không bao giờ được "ngó lơ", được mặc kệ với những điều xấu trong xã hội khi còn cầm bút. Tôi đã đọc đi đọc lại vụ án về "Hai Tưng" đến hàng trăm lần như một kiểu để buộc mình phải nhớ, ngoài kia, còn lắm kẻ lợi dụng lòng tin của kẻ khác làm lời, và, bản thân mình không bao giờ được chùn bước, chùn bút. Để đến khi, tôi bắt đầu đuổi theo chữ nghĩa ở nghiệp văn chương, tôi vẫn không thể nào thôi cái nỗi ám ảnh về nhân vật này. Tôi trở lại viết về "Hai Tưng", như tôi từng lật lại vụ án đúng thời điểm "Hai Tưng" bị xử tử để viết một bài báo khác, bằng một góc nhìn khác, bằng trái tim đập những nhịp khác. Tôi tin, con người – bất kể là ai – có làm gì, cũng có một nguyên nhân, một động cơ cả! Khi "Hai Tưng" trở thành nhân vật văn học của tôi, tôi yêu hắn theo cái cách lạ lắm – không thể thay đổi kết cuộc, vì, cho dù thế nào thì tội ác vẫn là tội ác và vẫn phải trả giá, nhưng, chí ít tôi muốn người khác nhìn thấy mặt "con người" của Hai Tưng, cũng hỉ – nộ – ái – ố, cũng đau khổ, cũng dằn vặt. Tôi muốn gửi gắm đến độc giả của mình – những người đã luôn quan tâm, ủng hộ tôi, những người đã luôn đồng cảm với tôi – rằng, số phận nằm ở bàn tay chúng ta, đừng tự huyễn hoặc mình vào những điều siêu linh để mong cầu những thứ vốn không thật sự thuộc về mình. Vì, như thế, ắt, chúng ta sẽ chỉ thêm đau khổ! ... Mời các bạn đón đọc Thiên Linh Cái của tác giả Trương Thanh Thùy.
Đảo Trị Liệu Bí Ẩn - Sebastian Fitzek
Em Josy mười hai tuổi mắc phải một bệnh kỳ lạ, vì thế mà cha của em, nhà tâm lý học nổi tiếng, bác sĩ Viktor Larenz cố gắng tìm người chữa trị cho em. Vào một ngày nào đó, ông ngồi chờ Josy trong phòng khám của bác sĩ Grohlke, thế nhưng con gái của ông đột ngột biến mất. Điều kỳ lạ là cả người giúp việc lẫn bác sĩ Grohlke đều nói rằng họ không nhìn thấy Josy. *** Điều đầu tiên tôi cảm nhận được là nó có không khí giống với Shutter Island. Chầm chậm và rờn rợn. -- NQK *** Nửa tiếng trôi qua, và ông biết rằng ông sẽ không bao giờ được nhìn lại con gái của mình nữa. Cô bé mở cửa, ngoảnh lại thoáng nhìn ông và rồi bước vào đến chỗ người đàn ông già. Nhưng Josephine, cô con gái bé bỏng mười hai tuổi của ông, sẽ không bao giờ bước ra nữa. Ông chắc chắn là như vậy. Cô bé sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn ông cười rạng rỡ khi ông ru con ngủ nữa. Ông sẽ mãi mãi không bao giờ được tắt chiếc đèn ngủ sặc sỡ khi con gái ông đã thiếp ngủ nữa. Và mãi mãi không bao giờ ông bị đánh thức bởi tiếng thét hãi hùng của con trong đêm khuya nữa. Niềm tin này ập vào ông với sức dập mạnh bất thình lình của một tai nạn ô-tô đâm nhau. Khi ông đứng lên, cơ thể ông muốn ngồi lại trên chiếc ghế nhựa lung lay. Ông sẽ không ngạc nhiên nếu như đôi chân khuỵu xuống. Nếu như ông cứ đơn giản ngã xuống và nằm lại trên cái sàn gỗ cũ kỹ của phòng chờ. Ngay giữa người phụ nữ nội trợ đẫy đà bị vẩy nến và cái bàn nhỏ với những tờ tạp chí cũ. Nhưng ông không nhận được lòng khoan dung của cơn ngất xỉu. Ông vẫn còn tỉnh táo. Bệnh nhân không được chữa trị theo thời điểm đến mà theo tính khẩn cấp. Tấm biển chỉ dẫn trên cánh cửa trắng bọc da vào phòng chữa bệnh của người bác sĩ dị ứng nhòa đi trong mắt ông. Bác sĩ Grohlke là một người bạn của gia đình và là người bác sĩ thứ hai mươi hai. Viktor Larenz đã lập một danh sách. Hai mươi mốt người bác sĩ trước đó không tìm thấy gì. Hoàn toàn không. Người đầu tiên, một bác sĩ cấp cứu, đã đến cơ ngơi của gia đình ở Schwanenwerder vào ngày Lễ Giáng Sinh thứ hai. Cách đây đúng mười một tháng. Đầu tiên, tất cả họ đều nghĩ rằng Josephine chỉ bị trúng thực món fondue vào ngày lễ. Cô bé đã nôn mửa nhiều lần trong đêm và rồi bị tiêu chảy. Isabell vợ ông đã gọi bác sĩ cấp cứu tư, và Viktor đã bế Josy trong chiếc áo ngủ bằng vải lanh xuống phòng khách. Mãi cho đến ngày hôm nay, ông vẫn còn cảm nhận được đôi cánh tay gầy nhỏ bé của con khi ông nhớ lại. Một cánh tay đặt quanh cổ ông tìm nơi nương tựa, tay kia kẹp chặt con thú nhồi bông mà cô bé thích nhất, con mèo xanh Nepomuk. Dưới những ánh mắt nghiêm khắc của họ hàng đang có mặt, ông bác sĩ đã nghe lồng ngực bé nhỏ của em, truyền nước biển và kê một loại thuốc vi lượng đồng cân. ‘Nhiễm trùng đường ruột nhẹ thôi. Đang có dịch trong thành phố mà. Nhưng không sao! Tất cả sẽ tốt thôi.’ Đó là những từ mà người bác sĩ nói khi từ giã. Tất cả sẽ tốt thôi. Ông ấy đã nói dối. Viktor đứng ngay trước cửa vào phòng điều trị của bác sĩ Grohlke. Khi muốn mở cánh cửa nặng nề ra, ông không thể xoay tay nắm cửa được. Lúc đầu ông nghĩ rằng căng thẳng của những giờ vừa qua đã cướp đi hết sức lực của ông. Nhưng rồi ông nhận ra cửa đã khóa. Có ai đó đã cài then ở bên trong. Chuyện gì đang xảy ra ở đây? Ông quay phắt người lại và có cảm giác như đang nhìn mọi vật xung quanh trong một quyển sách lật trang. Tất cả những gì ông nhìn thấy đều vào đến bộ não của ông với tốc độ chậm đi, trong những tấm ảnh đứt quãng: những tấm ảnh chụp phong cảnh Ireland trên tường của phòng khám, cái cây cao su phủ đầy bụi ở hốc cửa sổ, người phụ nữ bị vẩy nến đang ngồi trên ghế. Larenz lay cửa một lần cuối cùng rồi lê bước qua phòng chờ đến lối đi bên ngoài. Hành lang vẫn còn đầy người. Cứ như bác sĩ Grohlke là người bác sĩ duy nhất trong Berlin. Viktor bước chậm chạp ra phía trước đến quầy tiếp tân. Một thiếu niên có nhiều vấn đề về mụn trứng cá đến mức (không thể không nhìn thấy được) đang đứng chờ nhận toa thuốc, nhưng Larenz đẩy anh ta sang bên một cách thô lỗ và bắt đầu nói với cô tiếp viên ngay lập tức. Ông biết Maria từ những lần trước. Trước đây nửa giờ, khi ông cùng với Josy bước vào phòng khám thì cô còn chưa có ở đây. Bây giờ thì ông mừng vì người mà cô thay thế rõ ràng là đang nghỉ giải lao hay đang ở một nơi khác. Maria chỉ vừa trên hai mươi tuổi và nhìn trông giống như một nữ thủ môn bóng đá. Nhưng cô ấy cũng có một đứa con gái nhỏ. Cô ấy sẽ giúp ông. “Tôi rất cần vào gặp con tôi,” ông nói to hơn mình muốn. “Ô, xin chào, bác sĩ Larenz, rất vui khi gặp lại ông.” Maria nhận ra người bác sĩ tâm lý ngay lập tức. Đã lâu ông không còn đến phòng khám bệnh này, nhưng cô đã nhiều lần nhìn thấy khuôn mặt sắc sảo nổi bật của ông trên truyền hình và trong nhiều tạp chí. Ông là một khách mời được ưa thích trong các chương trình đàm luận. Không chỉ vì diện mạo đẹp và cách nói cởi mở của ông trong lúc giải thích những vấn đề tâm lý phức tạp cho người không chuyên môn. Nhưng hôm nay ông ấy nói thật khó hiểu. “Tôi phải vào gặp con gái tôi ngay lập tức!” Chàng thiếu niên bị ông đẩy sang bên cảm nhận theo bản năng rằng người đàn ông này có cái gì đó không ổn, và bước sang bên thêm một bước. Maria cũng cảm thấy bất an và cố giữ nụ cười giả tạo đã luyện tập trước của cô. “Thật không hiểu bác sĩ Larenz muốn nói gì ạ,” cô nói và hồi hộp sờ vào chân mày màu nâu của mắt phải. Cô xỏ lỗ ở đấy, và cô hay giật vào đấy khi cô hồi hộp. Nhưng sếp của cô, bác sĩ Grohlke, là người bảo thủ, vì thế mà cô phải lấy thanh bạc cắm ở đấy ra khi có bệnh nhân trong phòng khám bệnh. “Hôm nay Josephine có hẹn khám bệnh à?” ... Mời các bạn đón đọc Đảo Trị Liệu Bí Ẩn của tác giả Sebastian Fitzek.