Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Kiếm Sống - Maxim Gorky

K iếm sống[1] là phần hai trong tác phẩm bộ ba tự thuật[2] của M. Gorky, miêu tả thời niên thiếu của cậu bé Alyosha Peskov, tức Gorky, từ năm 1878 đến năm 1884. Trong phần đầu, M. Gorky đã kết thúc Thời thơ ấu của mình bằng những dòng chua chát: “Sau khi chôn cất mẹ tôi được vài ngày, ông ngoại bảo tôi: - Này Leksei, mày không phải là cái mề đay, mày không thể lủng lẳng mãi trên cổ tao, mày hãy đi ra đời mà kiếm sống… Và thế là tôi bước vào đời.” Mới mười tuổi đầu, cậu bé mồ côi Alyosha đã bắt đầu ở với người đời, tìm hiểu cuộc sống và đấu tranh để tìm ra lối thoát cho mình. Giai đoạn này đã hình thành mối quan hệ mới của Alyosha với con người và thế giới xung quanh. Bước vào đời để kiếm sống, Alyosha luôn va chạm với sự hèn hạ, tồi tệ của bọn “tiểu thị dân”, những kẻ luôn tự cho mình là “ưu việt nhất thành phố”, họ tưởng rằng họ “biết những phép cư xử đúng đắn nhất và dựa trên những phép tắc mù mờ đối với tôi đó mà kết tội mọi người một cách tàn nhẫn, không thương tiếc”. Những kẻ này thường có thái độ ganh tị, ghen ghét với điều tốt đẹp ở những người mà họ không sao hiểu nổi. Để biện bạch cho cuộc sống nhỏ nhen và nghèo nàn, khiến nó tăng thêm cái vẻ quan trọng bề ngoài, họ, giống như ông lão Kashmirin keo kiệt, hung dữ hay bà già Matryona độc ác, ích kỉ, luôn luôn lôi kéo Chúa vào những việc tẹp nhẹp buồn tẻ của mình, biến Chúa thành một sức mạnh trừng phạt mù quáng để bảo vệ cho tội lỗi và lợi ích cá nhân… Alyosha càng ngày càng thấy rõ mặt trái của cuộc sống, thấy những sự nhục mạ nhân cách, những lao động vô nghĩa, khổ sai. Lúc ấy, theo như lời Gorky kể, cuộc sống của Alyosha như vĩnh viễn bị quy định một cách chặt chẽ trong các hình thức và các mối quan hệ mà Alyosha trông thấy ngày này qua ngày khác, mỗi ngày một buồn tẻ, gay gắt hơn, khiến khó mà nghĩ tới khả năng thay đổi, làm cho cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng khi ấy, sách vở – kho tàng tư tưởng sáng tạo của con người – đã tới giúp Alyosha. Những tác phẩm của các nhà văn Nga ưu tú, của các tác giả nước ngoài như Walter Scott, Dickens… đã giúp cậu hiểu được rất nhiều điều mà trước đó cậu vẫn băn khoăn. Sách vở đã giúp Alyosha khắc phục tâm trạng bối rối, mất niềm tin vào con người. Mỗi cuốn sách hay như mở ra trước mắt Alyosha một cánh cửa sổ hướng về thế giới mới mẻ mà cậu bé chưa từng biết, chưa từng thấy. Càng đọc nhiều sách, Alyosha càng thấy gần gũi với thế giới hơn, cuộc sống đối với cậu càng sáng sủa, có ý nghĩa hơn. Sau này, Gorky nhớ lại: “Sách vở đã chỉ cho tôi chỗ đứng của mình trong cuộc sống, nói cho tôi biết rằng con người thật vĩ đại và đẹp đẽ, luôn hướng về cái tốt đẹp hơn, rằng con người đã gây ra nhiều chuyện trên trái đất và vì thế mà họ phải chịu biết bao đau khổ.”[3] Một nhân vật trong Kiếm sống là Jikharev đã nói với Alyosha với vẻ đồng tình: “Cháu không có thái độ dửng dưng mà luôn tập trung vào công việc. Cháu cứ nên như thế mãi, điều đó rất tốt!” Alyosha đã dũng cảm lao vào cuộc sống, dũng cảm “bước vào đời” mặc dù nhiều khi va chạm phải mặt trái xấu xa ghê tởm của nó. Gorky viết: “Trong tôi có hai con người: Một người sau khi đã biết quá nhiều điều ghê tởm và bẩn thỉu, trở nên sợ hãi cuộc sống, nản lòng bởi hiểu quá rõ các chuyện khủng khiếp xảy ra hằng ngày. Người ấy bắt đầu nhìn cuộc sống, nhìn mọi người với thái độ thiếu tin tưởng và hoài nghi, thương hại một cách bất lực cả bản thân và những người xung quanh. Con người ấy mơ ước một cuộc sống cô độc, yên tĩnh, chỉ có sách vở, không dính líu đến ai, mơ về một tu viện, một chòi canh trong rừng, một vọng gác đường sắt, mơ được đến Ba Tư, được đảm nhiệm cương vị một người gác đêm ở ngoại ô thành phố. Càng ít người càng tốt, càng tránh xa con người càng tốt… Còn người kia được nuôi dưỡng bằng ý chí thiêng liêng của các cuốn sách hay và sâu sắc, mỗi khi cảm thấy sức mạnh của những điều khủng khiếp xảy ra hằng ngày kia có thể dễ dàng đè bẹp mình, làm nhơ bẩn trái tim mình, nên cố sức tự vệ, cắn chặt răng, siết chặt nắm đấm, luôn sẵn sàng xông vào bất kì cuộc tranh cãi và trận chiến đấu nào. Con người này giàu tình yêu thương, và giống như những nhân vật dũng cảm trong các cuốn tiểu thuyết Pháp, chỉ cần đến câu thứ ba là đã rút ngay gươm ra khỏi bao và sẵn sàng chiến đấu.” Trên bước đường kiếm sống, Alyosha đã gặp và sống với những người lao động bình thường: thợ mộc, thợ nề, thợ làm tượng thánh, phu khuân vác… và cả các nghệ sĩ, nhà thơ, nhà triết học… Mỗi người đều cần thiết và quan trọng đối với Alyosha, giúp tâm hồn cậu thêm phong phú, khiến cậu trở nên mạnh mẽ, khôn ngoan, có đủ nghị lực đương đầu với những khó khăn trong cuộc sống. Trong quá trình tiếp xúc với những người này, tính cách của Alyosha dần dần hình thành. Bác đầu bếp Smouri, một trong những “người thầy” của Alyosha, một người vốn nghiêm nghị và thích cô độc, có tâm hồn hiền hậu và tấm lòng công bằng, cao thượng. Khi Alyosha đọc cho bác nghe chuyện Taras Bulba của Gogol, tới cảnh cái chết của vị thủ lĩnh Cossack thì Smouri, người mà tất cả mọi người trên tàu đều sợ, đã khóc nức nở. Chính nhờ cuộc gặp gỡ với Smouri mà Alyosha bắt đầu say mê đọc sách. Càng tiếp xúc với những người Nga bình thường, càng tìm hiểu họ sâu hơn, Alyosha càng thấy “những người chủ” là tầm thường, tẻ nhạt, thế giới của họ hóa ra không bền vững và chắc chắn như cậu tưởng. Alyosha đã trải qua cả một “trường học đường đời” khi làm việc ở xưởng làm tượng thánh. Những người thợ trong xưởng mà Alyosha tiếp xúc là những người có tinh thần ham hiểu biết, có tâm hồn phong phú và có tài năng. Ở mỗi người, Alyosha đều cảm thấy họ thực sự hiểu biết cuộc sống và nghệ thuật. Những người đó tuy sống tù túng trong xưởng nhưng vẫn đầy lòng cao thượng, sức mạnh và vẻ đẹp. Không phải vô cớ khi kể về Sitanov, Gorky nhắc rằng trong anh hình như có một cái gì giống với “nhà quý tộc Tây Ban Nha”, nhân vật mà Sitanov yêu thích hơn cả. Đặc biệt, Jikharev đã khiến Alyosha rất đỗi ngạc nhiên; đó là một nghệ sĩ nhân dân, một người bị giày vò vì khát vọng hiểu biết và sáng tác tự do. “Chúng ta biết được những gì? Chúng ta sống thật quá tầm thường… Còn đâu là tâm hồn? Tâm hồn ở đâu rồi? Nguyên bản thì có đấy; nhưng trái tim thì không…” Alyosha lo lắng và vui mừng nghe những lời lạ tai ấy của Jikharev. Những người này càng ngày càng nhận thức rõ sự bất công, vô nghĩa của thứ lao động cưỡng bách. Họ bị dồn vào cảnh lao động kiệt sức và đơn điệu, mất hết niềm vui và phúc lợi ở đời. Họ thèm muốn ánh sáng, tri thức, cái đẹp. Những cuốn sách mà Alyosha đọc đã khiến họ say mê, rung động. Khi Alyosha đọc tập thơ Con quỷ của Lermontov, những người này khiến cậu hết sức ngạc nhiên bởi khả năng thụ cảm nghệ thuật rất tinh vi và sâu sắc của họ. Qua những năm sống phiêu bạt ấy, trong Alyosha nảy sinh tình yêu mạnh mẽ với con người, thứ tình yêu mà cậu sẽ mang suốt đời. “Chú được cái tốt là đối với ai chú cũng coi như họ hàng thân thích cả, cái đó rất tốt!” Kapendiukhin đã nói với Alyosha như vậy. Alyosha luôn có mặt trên con đường đi tìm chân lí, mục đích cuộc sống, đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi vẫn giày vò cậu: “Làm thế nào để giúp đỡ mọi người?” Đối với Alyosha, việc tìm hiểu ông lão thợ mộc Osip là một điều “hết sức cần thiết”. Tính tình phức tạp của Osip giúp cho Alyosha hiểu được bản chất mâu thuẫn của nông dân (Về Osip, năm 1897 Gorky đã viết trong truyện ngắn Vanka Mazin và năm 1912 trong truyện ngắn Băng chuyển). Alyosha biết tìm ở mọi người những điều cần thiết với cậu, mặc dù những người ấy khác xa cậu. Trong tâm thức, Alyosha đã phân biệt được ước mơ và thực tế. Giờ đây, cậu không chỉ hướng về sách vở, thơ ca, truyện thần thoại để tìm kiếm sự dũng cảm và chân lí mà biết hướng vào hiện thực: “Điều đó càng khiến tôi ngạc nhiên hơn, tôi cảm thấy rất rõ những mâu thuẫn giữa thực tế và sách vở. Trước mặt tôi là con người sinh động mà trong sách vở không thấy được: bác Smouri, anh thợ đốt lò Yaakov, ông khách lưu lạc Aleksasha Vassiliep, bác Jikharev, chị thợ giặt Natalya…” Hình ảnh của những con người sinh động này chiếm một vị trí quan trọng trong tâm trí cậu bé Alyosha. Chương cuối của Kiếm sống xuất hiện một hình tượng đầy ý nghĩa – cảnh “trái đất nửa thức nửa ngủ”. Alyosha muốn đá tung tất cả trái đất và ngay cả chính mình nữa để cho tất cả mọi vật “xoay như một cơn lốc mừng vui trong điệu múa tưng bừng của những người yêu nhau say đắm, những người yêu cuộc sống này – cuộc sống mở đầu cho một cuộc sống khác tươi đẹp, phấn khởi và ngay thật”… Nhưng trong giai đoạn này, hiểu biết của Alyosha còn hạn chế, cậu chưa trả lời được câu hỏi: Cụ thể phải làm gì để giúp mọi người, phải thực hiện lí tưởng xây dựng một thế giới hợp lí và công bằng như thế nào? Tác phẩm Kiếm sống kết thúc bằng những suy nghĩ già dặn của cậu thiếu niên Alyosha mười sáu tuổi, sau những năm lăn lộn với sóng gió của cuộc đời để kiếm sống. “Tôi nghĩ bụng: ‘Ta phải làm được một việc gì chứ, nếu không thì ta sẽ sống vô ích…’ Vào những ngày thu ảm đạm, khi không những không nhìn thấy, không cảm thấy, mà còn quên mất cả mặt trời, tôi thường bị lạc trong rừng. Tôi đi chệch đường, chẳng tìm được lối hẻm nào; cuối cùng, sau khi sục sạo đến mệt bã người, tôi cắn răng đi xuyên qua rừng rậm, giẫm trên những cành cây mục nát, những mô đất tròng trành của vũng lầy. Cuối cùng, tôi luôn tìm được đường đi. Tôi quyết định cũng sẽ sống một cuộc đời như vậy.” Nhưng mãi đến sau này, phải qua nhiều năm được tôi luyện trong “những trường đại học” thực tế của cuộc đời, chàng thanh niên Alyosha Peskov mới tìm được hướng đi cho mình. Truyện tự thuật không phải là một thể loại mới trong văn học. Trước kia ở Nga, Saltykov Shchedrin, Lev Tolstoy, Aksakov… cũng đã từng viết truyện tự thuật. Gorky phát triển một cách sáng tạo truyền thống ưu tú của quá khứ và nâng cao tính tư tưởng của thể truyện này. Tác phẩm tự thuật của Gorky đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn. Nó là chiếc chìa khóa giúp ta hiểu thấu nguồn gốc thiên tài của Gorky, nắm chắc mối quan hệ vô cùng sâu sắc giữa Gorky với nhân dân, đất nước và cuộc sống. Con đường Gorky đã trải qua là con đường tiêu biểu của nhiều người Nga mòn mỏi trong cảnh bần cùng hóa bi thảm, trong lao động cực nhọc, sự vươn lên của tuổi trẻ với khát khao sáng tạo thường chịu áp chế, bóp nghẹt, nhưng những người trẻ tuổi vẫn tràn trề lòng tin, vượt mọi trở ngại trên con đường đi tìm lẽ sống. Gorky không coi tiểu sử của Alyosha Peskov là một hiện tượng siêu việt, ông từng tuyên bố: “Lịch sử của Gorky không phải là một trường hợp duy nhất và không phải là một trường hợp ngoại lệ đặc biệt.”[4] Các nét tính cách nổi bật của Alyosha là: Lòng biết ơn nồng nhiệt với những người có lòng tốt với mình; tình cảm thương yêu những bạn cùng trang lứa đau khổ hơn mình; khát vọng chính nghĩa tới mức say sưa; mối căm thù sâu sắc đối với bọn áp bức tàn bạo; tinh thần bất khuất, khắc phục khó khăn; lòng yêu lao động… Nổi bật nhất là tinh thần hiếu học, chí cầu tiến, óc quan sát tinh vi, thói quen nhìn thẳng vào sự việc để phân biệt rõ ràng cái tốt, cái xấu. Alyosha không sống thụ động, tính cách cậu dần được hình thành vững vàng trong cuộc đấu tranh chống lại nguồn gốc của cái xấu xa trong đời sóng, trong khao khát hướng tới những điều tốt đẹp, công bằng và nhân đạo. Gặp Gorky lần đầu tiên năm 1905, Lenin nói: “Phải học ở Gorky cách nhìn và cách nghe.” Tác phẩm tự thuật của Gorky là một kho vốn sống phong phú, miêu tả lại bước đường gian truân đã dẫn dắt Gorky tới tuổi trưởng thành, nêu lên những ấn tượng sâu sắc nhất đã gợi hình, gợi ý, chuẩn bị cho đời sống văn học của Gorky. Tác phẩm không chỉ là tiểu sử riêng của một cá nhân mà còn là bức chân dung của cả một thế hệ, bức họa rộng lớn về phong cảnh, đất nước và xã hội Nga cuối thế kỉ XIX với những nét khắc họa điêu luyện, sâu sắc về cả diện mạo và tâm lí sinh động của con người. Tính điển hình của các hiện tượng được miêu tả trong tác phẩm bộ ba Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi khái quát cao độ, làm rung động và chiếm được cảm tình lớn của độc giả. Nhà văn Alexander Shirvanzade[5] đã nói về tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky như sau: ‘Theo quan điểm của tôi, toàn bộ cuốn sách tượng trưng cho cuộc sống của nhân dân Nga; cuốn sách kể về tâm hồn nặng trĩu không chỉ của dân tộc Nga mà của các dân tộc nói chung. Anh xem, tôi có phải là người Nga đâu, tôi là người Armenia, sinh trưởng và sống khác xa cuộc sống Nga, vậy mà những gì anh miêu tả rất giống cuộc sống của dân tộc tôi. Anh hãy tin rằng nhà văn Pháp, nhà văn Anh, hay nhà văn ở bất kì nước nào, xuất thân từ nhân dân hoặc hiểu biết cuộc sống của dân tộc mình, cũng sẽ nói với anh những điều như vậy.”[6] Nhà cách mạng Đức Rosa Luxemburg[7] trong bài luận văn Tinh thần văn học Nga có bàn tới tác phẩm tự thuật của M. Gorky như sau: “Chú bé kêu gào như một con sói con bị truy bức, nhe nanh vuốt sắc nhọn trước số mệnh. Cái tuổi thơ ấu đầy khốn quẫn, đau khổ, nhục nhã, hoài nghi, lưu lạc, gần gũi với những cặn bã của xã hội ấy bao hàm tất cả những đặc trưng có tính chất điển hình trong cuộc sống của giai cấp vô sản nước Nga đương thời. Phải đọc hồi kí của Gorky mới có thể lường được quá trình phát triển kinh khủng của ông – từ dưới đáy của xã hội vươn đến đỉnh cao của thế giới quan khoa học, của nghệ thuật thiên tài và của sự tu dưỡng văn hóa. Vận mệnh cá nhân của Gorky tượng trưng cho giai cấp vô sản Nga – giai cấp nhìn bề ngoài thì thiếu văn hóa, thô bạo, dưới thời Nga hoàng đã trải qua những thử thách của cuộc đấu tranh tàn khốc và trong một thời gian ngắn ngủi đến kinh người, trong vòng hai mươi năm, trở thành lực lượng tích cực của lịch sử.”[8] Đối với Gorky, cuộc sống và số phận ông cũng là cuộc sống và số phận của nhân dân ông; những điều khủng khiếp xảy ra xung quanh ông có ghê gớm đến thế nào đi chăng nữa cũng không thể làm ông mất lòng tin vào cuộc sống. Ông vẫn nhìn thấy trong cuộc sống những mầm non tốt đẹp của tương lai và vạch ra con đường của quá trình phát triển lịch sử sau này. Đó là một trong những điểm khác biệt giữa tác phẩm tự thuật của Gorky và các tác phẩm tự thuật cổ điển khác. Trên cơ sở tài liệu tự thuật, Gorky đề ra một trong những vấn đề quan trọng nhất của hiện thực xã hội chủ nghĩa – vấn đề hình thành tính cách con người tiêu biểu cho những mói quan hệ mới – mà sau này nhiều nhà văn khác kế thừa. Có thể nói tác phẩm tự thuật của Gorky là một tác phẩm hiện thực xã hội chủ nghĩa cổ điển đặc sắc, bởi vì Gorky đã cương quyết vạch trần chủ nghĩa tư bản theo lập trường quan điểm của Đảng, đồng thời cũng khẳng định tương lai vĩ đại của dân tộc Nga. Các nhà nghiên cứu và phê bình văn học nhiều lần nhận định rằng, chỉ xét riêng các chi tiết miêu tả một cách tế nhị, tinh vi tâm hồn, đặc điểm tâm lí, nghệ thuật thể hiện nội tâm, tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky có thể sánh ngang với các tác phẩm ưu tú của nền văn học thế giới. Tuy nhiên, điểm nổi bật trong sáng tác của Gorky là quá trình hình thành tư tưởng cách mạng, quá trình con người nhận thức xã hội. Đó chính là cái sáng tạo mà Gorky đã đóng góp vào truyền thống văn học vẻ vang của quá khứ, và chính điều đó đã xác định giá trị tác phẩm bộ ba tự thuật của Gorky với sự phát triển của nền văn học Xô viết và thế giới. Trần Khuyến Mời các bạn đón đọc Kiếm Sống của tác giả Maxim Gorky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Từ Chiến Trường Khốc Liệt - Peter Arnett
Tác giả là người Mỹ gốc New Zealand Peter Arnett, phóng viên nổi tiếng của Hãng AP, CNN, người đã có mặt ở miền Nam Việt Nam từ những năm 1962 cho tới 1975, chứng kiến rất nhiều sự kiện lịch sử trong chiến tranh Việt Nam và giờ khắc sụp đổ của chính quyền ngụy Sài Gòn. Cuốn sách được xuất bản lần đầu tại Mỹ năm 1995, sau đó được tái bản nhiều lần, gây tiếng vang lớn và hấp dẫn độc giả. Dư luận trong và ngoài nước Mỹ đánh giá "Đây là một cuốn tự truyện hay nhất", "Một cuốn hồi ký mẫu mực", "Một tài liệu có sức mạnh hay nhất", v.v,.. Từ chiến trường khốc liệt - cuốn tự truyện - hồi ký mang tính báo chí được ghi chép cẩn thận, công phu, là tập tài liệu lịch sử vô cùng quý giá của một phóng viên chiến trường, gần như dành cả phần lớn thời gian cuộc đời mình viết về đề tài chiến tranh. Ông viết về tất cả những điều cảm nhận, trải qua, chứng kiến ở những nơi chiến sự mà Ông đặt chân tới: VIệt Nam, Lào, Iran, Iraq, Afganistan... Trong cuốn sách, tác giả ghi lại khá kỹ về những sự kiện Chiến tranh Việt Nam, diễn biến những hoạt động tác chiến ở chiến trường, đặc biệt là những sự kiện dấu mốc như: cuộc đấu tranh, biểu tình của các tăng ni, phật tử ở Huế, vụ tự thiêu của nhà sư Thích Quảng Đức, cuộc đảo chính lật đổ anh em Ngô Đình Diệm, các trận đánh, các chiến dịch lớn giữa quân Mỹ - Ngụy và quân giải phóng miền Nam Việt Nam, cuộc nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, các chiến dịch dẫn tới giải phóng Sài Gòn và cuối cùng là giờ khắc sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn,.. cùng tâm trạng hoang mang, bi quan, thất vọng của các tổng thống, tướng tá Mỹ, ngụy tham gia điều hành bộ máy chiến tranh trước các sự kiện. Tất cả được tác giả ghi chép và kể lại một cách chân thực, khách quan với tư cách là một phóng viên chiến trường chuyên nghiệp. Chính những tin, bài, phóng sự của tác giả được đăng tải trên báo chí khi đó đã gây tranh cãi và có tác động ảnh hưởng sâu sắc tới dư luận Mỹ và nhiều nước trên thế giới, làm cho nhân dân Mỹ và nhân dân nhiều nước trên thế giới hiểu đúng hơn về cuộc chiến tranh Việt Nam. Nhờ đó mà Perter Arnett đã giành được giải thưởng báo chí Pulitzer danh giá vào năm 1966 và rất nhiều giải thưởng khác. Trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 và tháng 3-2003, Peter Arnett đã gây chấn động thế giới bởi những phóng sự nóng hổi được truyền hình trực tiếp trên CNN từ chiến trường Baghdad. Những sự kiện về Chiến tranh Iraq cũng được phản ánh chân thực trong cuốn sách. Peter Arnett là phóng viên phương Tây đầu tiên và duy nhất phỏng vấn trùm khủng bố Osama Bin Laden. *** Công việc làm tin chiến trường về Chiến tranh Việt Nam đã ảnh hưởng lớn tới 35 năm trong nghề phóng viên quốc tế sau này của tôi. Khi đến với Việt Nam như một chàng trai trẻ đầy lý tưởng tôi nhận thấy không sự thỏa mãn cá nhân nào quá lớn cho một phóng viên chiến trường bằng việc nói ra sự thật về lòng dũng cảm và những bi thương đồng hành cùng người lính. Tôi viết về chiến tranh ở Việt Nam từ năm 1962 đến 1975, và tôi đã học được rằng trong chiến tranh hiện đại người dân thường thiệt thòi nhiều hơn những người tham chiến và vai trò của phóng viên chiến trường là phải nói lên câu chuyện của họ. Đó cũng là niềm tin đồng hành cùng tôi nhiều năm sau này tới Baghdad trong Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất năm 1991 đã kiểm nghiệm sự ảnh hưởng của lệnh cấm vận đối với 25 triệu người dân Iraq như sự trừng phạt lên người đứng đầu của họ, Saddam Hussein. Cũng như trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh lần thứ nhất, tôi làm tin truyền hình trực tiếp về các trận đánh bom Baghdad trong suốt chiến tranh vùng Vịnh lần thứ hai vào thảng-2003. Giống như khi ở Việt Nam trước đó 40 năm, để chứng kiến sự thật ác liệt về chiến tranh của người Mỹ, tôi đã ở lại Iraq hơn 4 năm nữa để ghi lại những hỗn loạn và bi thương dẫn đến án treo cổ dành cho Saddam Hussein năm 2006. Tôi có nhiều dấu mốc quan trọng trong suốt 50 năm làm tin chiến trường của mình, đó là vào tháng 3-1997, cùng với đội quay phim của CNN tôi đã phỏng vấn trùm khủng bố Osama Bin Laden ở nơi ẩn nấp trên núi của ông ta ở Afghanistan. Vào thời điểm đó, Bin Laden ít được công chúng biết đến, nhưng ông ta đã bị các cơ quan tình báo quốc tế theo dõi như một người cuồng tín Hồi giáo nguy hiểm với nguồn tài chính cá nhân đáng kể. Trong bài phỏng vấn cá nhân của mình, Bin Laden tuyên bố một cuộc thánh chiến với Mỹ và hứa sẽ gây ra nhiều xung đột và thiệt hại cho quân đội nhằm xóa bỏ sự ảnh hưởng của phương Tây trong giới Hồi giáo. Vào thời gian phỏng vấn ông ta, những mối đe dọa của Bin Laden từ những ngọn núi phía xa chỉ là lối nói hoa mỹ rỗng tuyếch. Nhưng khi cuộc tấn công không tặc mà ông ta tổ chức tấn cống vào Tòa nhà Thương mại thế giới ngày 11-9-2001 giết chết 3.000 người dân đã làm thay đổi trật tự. thế giới Nhiều năm làm phóng viên quốc tế, tôi hiểu rõ vai trò quan trọng của truyền thông trong thời sự thế giới và đây cũng là thông điệp tôi truyền tải trong bài giảng ở các Trường Đại học Báo chí và các Tổ chức truyền thông trong nhiều năm. Tôi đã dẫn một nhóm sinh viên của Trường Đại học Shantou (Sán Đầu) ở phía nam Trung Quốc tới thăm Việt Nam trong chuyến đi thực tế viết tin ba tuần đáng nhớ vào mùa hè năm 2007. Với kinh nghiệm trước đây của tôi ở Việt Nam vào những năm 1960 và 1970 và rất nhiều chuyến thăm sau này, tôi đã giảng bài về chủ đề đó ở Trường Đại học Shantou. Tôi muốn các sinh viên có cảm nhận về cuộc chiến tranh đó và những người Việt nam đã được sinh ra khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975. Rất nhiều người quan sát đã viết rằng cuộc chiến tranh không còn ảnh hưởng trong đời sống của người Việt Nam, đất nước đã hòa bình và khôi phục kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mọi người. Dọc hành trình từ Bắc tới Nam, chúng tôi thấy sự tốt bụng và niềm vui trên những gương mặt người Việt Nam với những người khách nước ngoài. Tôi nhận ra rằng Chính phủ nhấn mạnh tầm quan trọng trong hợp tác kinh tế và chính trị với những kẻ thù trước đây ở phương Tây. Hầu hết những người Việt Nam chúng tôi gặp ở miền Bắc đều hiểu được những đau thương mất mát trong chiến tranh họ phải gánh chịu và chúng tôi được biết có khoảng 3 triệu người chết. Chúng tôi tìm thấy rất nhiều tàn tích của chiến tranh ở miền Nam nhưng cũng hiểu rằng đó là miền Bắc đã cung cấp sức người sức của cho miền Nam với khẩu hiệu "sinh ra ở miền Bắc và chết ở miền Nam". Đó là lời thương xót của những gia đình Việt Nam mất con trong chiến tranh. Cảm nhận về nỗi đau đã lan tỏa trong Văn học Việt Nam vài thập kỷ qua. Các sinh viên Trường Đại học Shantou nhanh chóng nhận ra rằng Chính phủ Việt Nam ghi nhận lòng yêu nước và sự hy sinh từ việc dựng lên nghĩa trang Trường Sơn ở khu vực Bến Tắt, Quảng Trị với hơn 10.000 ngôi mộ tôn kínhcho đến nhà tù của Pháp cũ có tên "Hỏa lò" ở trung tâm thủ đô, nơi bộ quần áo phi công còn vấy máu của Jonh McCain ở một trong những phòng nơi những người tù Mỹ bị giam giữ trong nhiều năm. Bi thương hơn nữa, nhà tù còn phác họa những hình ảnh và mô hình về các hình thức tra tấn dã man mà thực dân Pháp đã sử dụng đối với tù chính trị trong suốt 100 năm thống trị gồm máy chém cao bằng gỗ với lưỡi dao sắc và chiếc rổ đựng đầu vấy máu nằm gần đó. Có một khung cảnh đặc biệt thu hút sự chú ý của các sinh viên và tôi hy vọng nó sẽ đọng lại lâu trong ký ức của họ. Đó là một căn phòng lớn trong Bảo tàng Chiến tranh ở thành phố Hồ Chí Minh với những trưng bày cho các phóng viên nước ngoài, những người đã làm tin về các cuộc chiến tranh chống Mỹ và chống Pháp. Những khuôn mặt và hình ảnh đều quen thuộc với các sinh viên Shantou bởi vì họ là những đồng nghiệp trước đây của tôi và tôi thường nói về họ trong các bài giảng của mình, các phóng viên ảnh hy sinh trong chiến tranh như Larry Borrow của tạp chí Life, Henri Huet và Huỳnh Công la của AP và Koichi Sawada của UPI cùng nhiều người khác nữa. Sự đau thương mất mát của chiến tranh đã không làm mờ đi sự ghi nhận của Chính phủ Việt nam về lòng dũng cảm và sự hy sinh của các phóng viên chiến trường ở các quốc gia đã đấu tranh để nói lên sự thật về cuộc chiến và sự hy sinh của họ. Đó là điểm nhấn trong chủ đề bài giảng của tôi ở Trường Đại học Shantou rằng báo chí có một vài trò to lớn và đáng giá trong thế giới ngày nay. Những chuyến thăm trở lại Việt nam, đặc biệt là hành trình cùng với các sinh viên là những chuyến thăm hài lòng trong cuộc đời tôi. Đó là những chuyến thăm khép lại vòng tròn từ khi lần đầu tiên tôi đến với tư cách là một phóng viên trong một đất nước bị chiến tranh tàn phá vào năm 1962 đến khi từ những tàn tích của một cuộc chiến tranh dài, một đất nước hòa bình, độc lập xuất hiện tự hào trên chính trừong quốc tế. Peter Arnett, tháng 3-2009 Mởi các bạn đón đọc Từ Chiến Trường Khốc Liệt của tác giả Peter Arnett.
Tôi Là Ê-Ri - Thanadda Sawangduean
Tôi là Ê-ri là cuốn tự truyện kể lại chuỗi ngày đầy sóng gió nơi xứ người của một cô gái điếm người Thái Lan. Tác phẩm là tiếng nói tố cáo những tệ nạn xã hội đẩy nhiều phụ nữ vào cảnh sống như địa ngục. Đồng thời nó cũng thắp lên hy vọng cho những người trót lầm lỡ qua thông điệp: Sẽ không bao giờ là quá muộn để bắt đầu lại. Tuy khai thác mảng đề tài cũ và được viết bởi một người không chuyên, không sử dụng những thủ pháp nghệ thuật đặc biệt nhưng Tôi là Ê-ri đã tạo được điểm khác biệt khi triển khai cốt truyện từ điểm nhìn của người trong cuộc, vì thế nó đã được Hội đồng giám khảo đồng thuận trao giải nhất cuộc thi sáng tác văn học dành cho nữ giới Chommanard lần thứ hai, 2009. Lời nhà xuất bản Dự án giải thưởng Chommanard lần thứ hai dành cho sách văn học được hình thành từ ý tưởng của nhà xuất bản Praphansarn với mong muốn hỗ trợ và đầu tư cho các tác phẩm văn học phi hư cấu (Non-Fiction) của các nữ nhà văn Thái Lan. Các tác phẩm này được viết dựa trên những câu chuyện có thật, nhờ vậy nó phản ánh chân thực hình ảnh người phụ nữ Thái Lan dưới nhiều góc độ khác nhau, trong tương quan so sánh với nam giới. Qua đó giúp độc giả có cái nhìn mới mẻ và sâu sắc hơn về phụ nữ Thái Lan thời hiện đại. Dự án đã nhận được sự quan tâm của nhiều cây viết nữ khiến tác phẩm gửi về khá phong phú. Ban giám khảo sau khi bình xét, phân tích cuối cùng cũng chọn ra được tác phẩm hay nhất và xứng đáng với giải nhất Chommanard Book Prize lần thứ hai, thể loại Non-Fiction, đó chính là tác phẩm Tôi là Ê-ri. Tôi là Ê-ri là câu chuyện cuộc đời một cô gái điếm Thái Lan, vì muốn thay đổi cuộc sống khó khăn của gia đình đã quyết định ra nước ngoài bán thân kiếm tiền. Tuy nhiên, quyết định ấy đã đẩy cô vào một cuộc đấu tranh khốc liệt để tồn tại. Sức hút của tác phẩm không chỉ ở tình huống truyện hấp dẫn mà còn trong những góc nhìn mới về đời sống như hôn nhân gia đình, suy đồi đạo đức, phân hóa giàu nghèo… hay sự phản ánh chân thực cuộc sống trong tù, cuộc sống ở xóm đèn đỏ… Bằng cái nhìn của người trong cuộc, tác giả đã đưa độc giả vào những ngóc ngách đen tối của xã hội, để người đọc đau đớn, cũng để người đọc thán phục và cảm động trước những con người dưới đáy xã hội đang vươn lên tìm ánh sáng. Nhà xuất bản Woman Publisher trân trọng gửi đến độc giả tác phẩm này với hy vọng cách nhìn nhận, đánh giá cuộc sống dưới góc nhìn của phụ nữ sẽ được xã hội thừa nhận. và quan trọng hơn, nó sẽ trở thành động lực thúc đẩy xã hôi Thái Lan, thúc đẩy văn hóa đọc trong nước, giúp Thái Lan trở thành xã hội phát triển một cách toàn diện nhất trong mắt bạn bè thế giới. Women Publisher *** Lời giới thiệu của tác giả Tôi là Ê-ri là câu chuyện về cuộc đời tôi trong suốt bốn mươi năm qua với nhiều biến cố đến mức đã có lúc tôi cảm thấy câu chuyện của mình giống như trong tiểu thuyết. Nhưng thực sự, tôi không hề thêm bớt hay hư cấu bất kỳ một chi tiết nào. Đôi khi tôi còn cảm thấy xấu hổ vì đã đem chuyện riêng tư của mình kể cho người khác. Điều này chẳng khác gì tự bêu xấu. Nhưng cuối cùng tôi nhận ra, qua câu chuyện về đời mình tôi muốn nói cho cả thế giới biết rằng: “Trên đời này còn có nhiều điều mà bạn cần phải biết và còn có những điều khiến bạn phải thốt lên: Chuyện này cũng có thể xảy ra được sao? Nó có thật sao?” Tôi không mong ước sẽ giành được giải thưởng cao nhất, chỉ là hiện tại tôi đang thất nghiệp và muốn trở thành người lương thiện như bao người khác, muốn bỏ lại quá khứ đen tối sau lưng. Nhưng tôi cũng không chắc sẽ dừng lại như thế này được bao lâu và sẽ còn phải lên đường nữa hay không? Thanadda Sawangduean Lời người dịch Tôi đã từng đọc nhiều tác phẩm văn học của Thái Lan, nhưng có lẽ Tôi là Ê-ri là một trong những tác phẩm để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc về cuộc sống chân thực của một góc xã hội Thái Lan thông qua những biến cố cuộc đời của một cô gái điếm. Mại dâm không phải là một đề tài mới mẻ trong văn học, đã có nhiều tác giả viết về đề tài này, nhưng Tôi là Ê-ri là tác phẩm đầu tiên do chính người trong cuộc viết. Có nhiều sự thật được tác giả can đảm hé mở mà đôi khi chúng ta thường chỉ nhìn nhận chúng một cách phiến diện chứ không thật hiểu rõ về cảm xúc của người trong cuộc. Chính vì thế, tác phẩm ngoài phản ánh cuộc sống chân thực của những cô gái điếm đằng sau những ánh đèn mờ lấp lánh mà còn thể hiện được tâm tư, tình cảm và cách suy nghĩ của họ. Ê-ri sinh ra và lớn lên trong một gia đình không hạnh phúc, thiếu đi sự quan tâm chăm sóc của bố mẹ. Vì hoàn cảnh khó khăn, vì cám dỗ của cuộc sống và thiếu đi sự định hướng của gia đình đã biến Ê-ri từ một cô bé ngây thơ trở thành một gái bán dâm chuyên nghiệp, khiến cuộc sống của cô phải trải qua muôn vàn những khó khăn, thử thách và đôi khi còn phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Nhưng tận sâu trong trái tim cô vẫn luôn thắp sáng thứ tình cảm trong sáng của một trái tim nhân hậu, tràn đầy yêu thương và luôn khát khao một cuộc sống mới tươi đẹp. Nhắc đến Thái Lan người ta thường nghĩ đến một đất nước nổi tiếng về du lịch và các dịch vụ về tình dục. Mại dâm cũng không phải là nghề mới mẻ đáng ngạc nhiên ở xứ sở này. Bạn có thể dễ dàng bắt gặp những quán bar, những nhà hàng đèn mờ với đầy rẫy những cô gái ăn mặc mát mẻ đứng mời chào dưới những ngọn đèn xanh đỏ. Lối sống hiện đại, phóng khoáng của phương Tây đang dần dần ngấm sâu vào xã hội Thái Lan để thay thế dần những giá trị văn hóa truyền thống. Người Thái cũng đang dần có cái nhìn dễ dãi hơn về tình dục, mại dâm cũng được coi là một trong những nghề kiếm sống giống như nhiều nghề nghiệp khác. Sự hấp dẫn của những ánh đèn mờ, sự dễ dãi trong nhận thức về xã hội của giới trẻ đã khiến nhiều cô gái trẻ sa chân vào vòng xoáy của tội lỗi. Vì thế, không chỉ có riêng mình Ê-ri mà còn có rất nhiều cô gái Thái khác vẫn đang ngày đêm đánh đổi thân xác, tuổi trẻ và cuộc sống của mình để có được những đồng tiền tội lỗi. Tôi hy vọng thông qua câu chuyện này, người đọc sẽ có cái nhìn thông cảm hơn cho những số phận trót lỡ dấn thân vào vũng bùn nhơ nhớp cũng như sẽ là một bài học cảnh tỉnh cho những cô gái trẻ sống buông thả. Chúng ta không thể lựa chọn nơi mình sinh ra nhưng có thể lựa chọn cách mình sống. *** Vì tác giả không phải một cây bút chuyên nghiệp, không được đào tạo bài bản về kỹ năng viết nên giọng văn trong cuốn sách này khá đơn giản, nhiều khi còn ngô nghê, lặp ý, lặp câu chữ khá nhiều, nhưng tôi hy vọng bạn đọc có thể thấy được điều quan trọng hơn tất cả ở đây là sự chân thật và lòng can đảm của tác giả khi đã dám viết rất thật những suy nghĩ, cảm xúc của mình cũng như sự thật về cuộc sống của các cô gái bán dâm. Cuốn sách có hai phần, ở Thái Lan được xuất bản riêng thành hai tập, ở đây được gộp chung lại cho bạn đọc tiện theo dõi. Phần hai nói cụ thể hơn về cuộc sống trong những nhà tù tác giả từng bị bắt giam mà ở phần một chưa được nói rõ, tuy phần này không nằm trong phần truyện chính được trao giải thưởng Chommanard nhưng cũng rất đáng đọc và để lại nhiều suy ngẫm cho chúng ta. Dịch giả: Thanh Xuân *** Lời đề tặng Xin gửi tặng những người bạn có cùng số mệnh. Đặc biệt là những phạm nhân nữ đang phải ngồi tù một cách không công bằng. Mong các bạn đừng vội bỏ cuộc. Nỉnh hy vọng rằng cuốn sách này, không ít thì nhiều, sẽ có thể thay lời giãi bày mà các bạn vẫn hằng ấp ủ. *** Những năm tháng qua, cho dù tôi có bị ngồi tù bao nhiêu nơi, bao nhiêu lâu thì thời gian cũng sẽ xóa dần đi những cảm xúc, cả niềm vui và nỗi buồn. Nhưng chưa bao giờ tôi quên được sự đau đớn hay ngừng hối hận vì đã từng đi phá thai, dù là không thành. Tôi không bao giờ quên những lần vác bụng bầu chạy trốn những người thân vì họ tìm bắt tôi phá thai. Và cũng không thể quên được sự đau đớn tột độ khi sinh đứa bé ra. Cho đến tận hôm nay bên tai tôi vẫn còn văng vẳng tiếng dao khứa vào thịt, mở đường cho đứa bé chui ra. Rồi cả cái ngày mà tôi phải quấn con vào tã để bỏ chạy khỏi chính người bố của nó. Rồi ngày tôi ngồi khóc vì không có tiền mua sữa cho con, sữa tôi có nhưng không được cho con bú vì có vi khuẩn giang mai. Tôi chỉ biết khóc khi nhìn con uống sữa đặc và nước cơm thay sữa, cho đến khi một người công nhân xây dựng tốt bụng mua sữa bột cho con tôi. Nó khiến tôi không thể chịu đựng thêm được nữa, vậy nên tôi quyết định đi bán thân lấy tiền nuôi con. Một người không quen thân còn trích những đồng lương ít ỏi cho con tôi hộp sữa, tôi làm mẹ làm sao có thể cứ đứng nhìn được. Chó mèo còn biết yêu thương con, tôi là con người, tôi lẽ nào không bán thân để lấy tiền nuôi con, nuôi bố, nuôi mẹ. Dẫu sao làm gái điếm cũng còn hơn trộm cắp hoặc buôn bán ma túy. Vì vậy tôi cầu xin các bạn, những người đang đọc câu chuyện này của tôi đừng chửi mắng tôi xấu xa vì không mấy khi tôi nhắc đến con mình, bởi nếu tôi là một người mẹ ích kỷ, độc ác thì tôi đã phá thai bằng được rồi và quan trọng là tôi sẽ không phải đi bán thân để lo cho con. Hoặc tôi cũng đã có thể đồng ý làm vợ người công nhân xây dựng đó để anh ấy trở thành bố mới của con tôi. Nhưng sau này sẽ ra sao? Ai dám chắc anh ấy sẽ yêu thương con tôi. Ai biết anh ấy có thể mang lại cho con tôi một tương lai tốt đẹp đến nhường nào? Tôi không chăm sóc con cho đến khi nó lớn vì tôi đã gửi gắm con cho một người tốt hơn là bà nội của nó. Giờ đây, tôi cũng không đủ dũng cảm để quay lại nói với con: “Con ạ! Mẹ là gái bán dâm. Mẹ đã từng phải ngồi tù rất nhiều lần ở rất nhiều nơi”. Tôi thà để con tôi quên đi một người mẹ như tôi còn hơn. Tôi không muốn làm hại tương lai của thằng bé. Tôi muốn con được ở trong một môi trường tốt, được mở mày mở mặt, không phải xấu hổ vì có một người mẹ như tôi. Tôi nói về con lúc này không phải để lấp liếm hay thanh minh gì cho mình cả, tôi chỉ muốn nói cho mọi người biết rằng tôi chưa bao giờ quên tình nghĩa mẹ con. Có lẽ các bạn sẽ thắc mắc tôi đã làm được gì cho con tôi, hay tại sao tôi lại xuất hiện trong khi con tôi đang sống trong bình yên. Tôi thật lòng muốn nó quên tôi. Bây giờ, ngày nào tôi cũng luôn tụng kinh cầu phúc cho con có một tương lai tốt đẹp. ... Mời các bạn đón đọc Tôi Là Ê-Ri - Thanadda Sawangduean.
Trái Tim Này Của Em
Đã 12 năm kể từ cái ngày chúng ta thấy Molly Somerville trong It had to be you. Giờ đây cô sống trong một điều kiện khắc khổ, và viết truyện Cô thỏ Daphne dành cho thiếu nhi, với một vài cột trong tờ Chik, một tạp chí dành cho teen. Ít người biết rằng cô đã cho đi khoản tiền thừa kế 15 triệu đô từ cha mình, chủ sở hữu đội bóng bầu dục Ngôi sao Chicago. Chẳng hạn, Kevin Tucker, tiền vệ thủ quân ngôi sao của đội Stars, luôn cho rằng cô cũng chỉ là một cô nàng thừa kế đỏng đảnh khác mà thôi. Tệ hơn, anh ta còn chẳng nhớ được tên cô, và tội nghiệp Molly, vốn say mê Kevin trong nhiều năm trời, không thể tin được rằng một người tốt nghiệp loại xuất sắc như cô lại thích một tên dở hơi rỗng ruột như Kevin. Nhưng sự thật thì vẫn là sự thật. Thỉnh thoảng, Molly cảm thấy bồn chồn, và khi đó cô lại có những hành động hoàn toàn không thể lường trước được, với triệu chứng đầu tiên là làm cái gì đó thật kỳ cục với bộ tóc của mình. Lần này, cô quyết định sẽ không làm điều gì ngu ngốc nữa, bằng cách ẩn mình ở nhà nghỉ dưỡng của gia đình cô ở Wisconsin. Nhưng cô không biết là Kevin cũng bị Dan, chồng Phoebe, tống vào đó vaì ngày cho tới khi thấm thía án phạt mười nghìn đô la vì tội cư xử không phải lối. Lần này, hành động không lường trước được của Molly đã gây cho cô nhiều rắc rối hơn tất cả những gì cô có thể tưởng tượng ra. Và từ đó, cuộc đời của cô và Kevin đã rẽ ngoặt sang một hướng khác. *** Bộ sách Chicago Stars gồm có: It Had to Be You (Vì đó là em) [Chicago Stars #1] - Susan Elizabeth Phillips Heaven, Texas [Chicago Stars #2] - Susan Elizabeth Phillips Nobody's baby but mine [Chicago Stars #3] - Susan Elizabeth Phillips Dream a Little Dream [Chicago Stars #4] - Susan Elizabeth Phillips This Heart of Mine Trái Tim Này Của Em [Chicago Stars #5] - Susan Elizabeth Phillips Mai mối cho tôi nếu em có thể [Chicago Stars #6] - Susan Elizabeth Phillips *** Susan Elizabeth Phillips sinh tại Ohio (Hoa Kỳ), tốt nghiệp ngành Nghệ thuật Sân khấu tại Đại học Ohio, rồi dạy kịch nghệ và tiếng Anh tại một trường phổ thông cho đến khi sinh con đầu lòng và trở thành bà nội trợ. Từng cùng bạn thân Claire Lafkowitz hợp tác viết một tiểu thuyết lãng mạn lịch sử, nhưng sau đó Phillips độc lập sáng tác và thu được thành công rực rỡ. Các tiểu thuyết của bà đều nằm trong danh sách bestseller của tờ USA Today và New York Times. Bà là tác giả duy nhất năm lần đoạt giải Sách của năm và chủ nhân giải Thành tựu trọn đời do Hội các nhà văn lãng mạn Mỹ trao. Hiện bà sống tại ngoại ô Chicago với chồng và hai con trai lớn. *** Daphne đang trong tâm trạng không được tốt. Nó theo cô trong khi cô làm món bánh quy yến mạch dâu tây nướng yêu thích của cô, và nó đang bị mắc kẹt bên cạnh cô khi cô đang nói chuyện với chuột Murphy, người đã chuyển vào khu rừng một vài tuần trước. Ngay cả một đống tiền xu mới sáng bóng kêu leng keng trong ba lô màu hồng của cô cũng đã không làm cho cô cảm thấy tốt hơn. Cô muốn chạy đến nhà của Melissa để được chơi đùa, nhưng Melissa đang lên kế hoạch đi du lịch đến Paris với người bạn mới của cô, ễnh ương Leo. Hầu hết tất cả các lí do Daphne ở trong một tâm trạng tồi tệ là bởi vì cô ấy đang nhớ Benny. Cậu ta nhiều lần đã làm cô giận dữ, nhưng cậu vẫn là người bạn thân nhất của cô. Ngoại trừ cô không phải là bạn thân nhất của cậu nữa. Daphne yêu Benny, nhưng Benny không yêu cô. Cô sụt sùi và lau đôi mắt của cô với dây đeo guitar điện của mình. Lớp học mới bắt đầu vào ngày hôm nay, và cậu sẽ có được rất nhiều niềm vui đến nỗi cậu sẽ không nghĩ về cô. Thay vào đó cậu sẽ nghĩ về những cú ăn điểm trực tiếp (touchdown), và tất cả các cô thỏ mặc những cái áo ống muốn được treo lên hàng rào và cố gắng để lôi kéo cậu với các câu nói nước ngoài với môi sưng húp và ngực nẩy lên. Những cô thỏ đó không hiểu cậu bằng cô, những người chỉ ấn tượng với danh tiếng và tiền bạc của cậu cùng với đôi mắt màu xanh lá cây kia, và không biết rằng cậu yêu mèo và không ghét chó xù nhiều như là như cậu thường nghĩ, và rằng cậu thích được ngủ với vòng tay ôm quanh cô – Molly xé tờ giấy từ cuốn sổ vàng của cô. Đây là một lời gợi ý cho Tâm trạng tồi tệ của Daphne, chứ không phải cho Daphne đi Dallas. Cô nhìn ra ngoài đến chỗ con chim sẻ vườn trên bãi cỏ và tự hỏi làm thế nào một số phần trong cuộc sống của cô có thể rất hạnh phúc còn một số khác lại rất buồn. Cái áo cô giăng trên bãi cỏ đã nhăn nhúm lại dưới đôi chân trần của cô. Nó là của Kevin. Khi cô đứng thẳng lên, cô đã cố gắng tập trung vào những phần hạnh phúc của cuộc đời cô. ... Mời các bạn đón đọc Trái Tim Này Của Em của tác giả Susan Elizabeth Phillips.
Nơi Ấy Có Anh - Granty (Born)
Nơi ấy có anh - Với một tuổi thơ bất hạnh, phải sống trong một gia đình mà chỉ toàn nuớc mắt, mãi đến khi tình yêu đầu đời chớm nở, cô mới cảm nhận đuợc vị hạnh phúc, nhưng rồi mọi thứ đâu như người ta vẫn uớc mong... *** Bút danh : Granty ( Mọi người vẫn luôn gọi là Born) Ngày sinh: 29/07 ( cung Sư tử ) Sở thích: đọc truyện tranh, viết tiểu thuyết, … Facebook: https://www.facebook.com/granttylove.tran Được độc giả gán cho cái danh “Ác hơn mẹ Cám” sau khi viết tác phẩm đầu tay của mình là “Sẽ để em yêu anh lần nữa” Đề tài sáng tác chủ yếu là tình yêu giữa nam và nữ, xen vào đó là tình bạn, tình cảm gia đình. Luôn là những đề tài lấy từ cuộc sống bên ngoài khi vô tình bắt gặp, mang giá trị hiện thực nhiều hơn hư ảo, thích tô đậm hoàn cảnh nhân vật một cách khắc nghiệt. Khiến các nhân vật của mình trở nên đáng thương, để có thể bán xô chậu, khăn giấy cho đọc giả hứng nước mắt. Đặc biệt thích đặt mình vào vị trí từng nhân vật và diễn tả cảm xúc của họ một cách chân thật, chứ không giấu diếm. *** Buổi chiều mát mẻ, mặt trời tuy chưa xuống núi nhưng ánh nắng không hề gay gắt, dưới một mảnh vườn nhỏ có hai bóng hình một lớn, một nhỏ đang ngồi .....nhổ cỏ. - Ba, con mỏi chân quá hà, mình nghỉ chút nha ba - Giọng một cậu nhóc nhỏ mếu máo nhìn người đàn ông còn khá trẻ bên cạnh mình. Người ba ngó dáo dát về hướng ngôi nhà có màu xanh êm dịu kia rồi gật đầu nói nhỏ: - Ừ, con lại ghế ngồi một chút đi. Ba trông chừng mẹ cho . Thằng bé vui mừng nhảy cẩng lên vỗ tay: - Hoan hô, được nghỉ rồi. Con cám ơn ba. - Đừng la lớn, mẹ con nghe được, lại phạt cha con mình nữa thì khổ - Người cha đưa tay ra dấu cho đứa con nhỏ giọng, rồi đưa mắt nhìn vào nhà, thấy cánh cửa nhà vẫn khép chặt thì thở phào, vội vàng nhanh tay nhanh chân nhổ đám cỏ đang lấn lướt mấy luống rau xanh của nhà họ. - Ba ơi, con đói bụng - Đứa bé lại lần nữa mếu máo kêu lên. - Uống nước đỡ đi con, lát nữa mẹ hết giận rồi vào ăn cơm - Người ba dỗ dành con trai. - Con uống cả ba ly nước luôn rồi nhưng vẫn thấy đói - Thằng bé xụ mặt buồn xo đáp. - Hay là con cứ giả vờ bị đau bụng đi, ba bế con vào, con cứ khóc ầm lên, mẹ thế nào cũng xót con mà tha thứ cho hai cha con mình - Người cha bất đắc dĩ phải dạy con mình nói dối để được tha thứ. Đứa con ngoan ngoãn gật đầu ( cái thằng này, bình thường không chịu ngoan, xúi dại thì lại ngoan ngoãn làm theo) Người cha lập tức phủi tay bế con trai vào nhà kêu vợ: - Bà xã, em mau xem xem, con mình bị đau bụng rồi nè. Nó cứ ôm bụng suốt. Ngân Hằng khẽ đặt con dao sắc thịt xuống bàn, chậm rãi rửa tay sạch sẽ sau đó sờ trán con trai, rồi hỏi: - Con đau ở đâu? - Đau nhiều nơi lắm - Thằng bé cố giả đau nói: - Chỗ này có đau không? - Ngân Hằng sờ nắn phần bụng của thằng bé hỏi. - Dạ đau lắm. - Chỗ này thì sao.... - Dạ đau.... - Còn chỗ này.... - Cũng đau ạ. - Không được rồi. Mẹ nghĩ con bệnh rất nặng, cần đến bác sĩ lấy cây kim to chích thuốc thôi - Ngân Hằng lắc đầu bảo. Thằng bé nghe xong thì tái mặt, nó nhìn ba nó từ nãy giờ không không dám lên tiếng. Mếu máo kêu nhỏ một tiếng: - Ba, con không muốn đi bệnh viện đâu ba. - Lâm Thiên Phong, con đứng lên cho mẹ - Ngân Hằng bỗng đập mạnh lên bàn quát lớn. Lâm Phong và con trai lập tức đứng lên, cả hai cha con không dám hé răng một lời. - Anh đứng tránh ra, để em nói chuyện với con. Tội dạy con nói dối, em sẽ xử lý sau. - Bà xã, anh biết lỗi rồi, tại anh thấy con trai bị mệt quá nên mới.... - Lâm Phong ảo não nói. - Thiên Phong. Nói cho mẹ biết , mẹ phạt con là đúng hay sai. - Dạ đúng. - Nói xem, con phạm phải tội gì đáng bị phạt hả? - Con đem sâu đến lớp hù các bạn nữ. - Tại sao con làm vậy? Thiên Phong quay đầu nhìn ba mình, Ngân hằng cũng trừng mắt nhìn Lâm Phong. Lâm Phong vội vã thanh minh ngay. - Không phải anh xúi con làm bậy đâu. - Ba bảo không được bán đứng bạn bè - Thiên Phong cúi đầu đáp. Lâm Phong vội vàng đến bên con trai bảo: - Con trai à, đều mà bạn con dạy là điều xấu, con không nên học theo, mau nói ra đi nếu không mẹ con sẽ giận đó. - Là chú Sơn Hải và chú Bảo Duy ạ - Thiên Phong liền đáp. Lâm Phong liền ho sù sụ, thầm than trời, biết thế không xúi Thiên Phong nói ra làm gì. Đúng như Lâm Phong dự đoán, Ngân Hằng lập tức gọi điện thoại cho hai cô bạn thân của mình. Lát sau, Lâm Phong nhận được điện thoại trách mắng của hai người bạn: - Tại sao ông không quản lí vợ mình cho chặt hả, có biết tụi này đều bị vợ phạt rồi hay không hả. - Chấp nhận đi - Lâm Phong cũng gào đáp trả - Mình cũng đang chịu phạt đây nè. Đúng là con dại cái mang mà. - Đúng là mũi dại lái chịu đòn - Bảo Duy cũng than thở. Cúp máy, Lâm Phong cùng Thiên Phong lò mò đến gần vợ, mỗi người một bên. Người lay kẻ lắc tay Ngân hằng gọi khẽ: - Bà xã.... - Mẹ.... ... Mời các bạn đón đọc Nơi Ấy Có Anh của tác giả Granty (Born).