Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tội Ác Của Sylvestre Bonnard

Sylvestre Bonnard, một học giả già lỗi lạc đang gặp các vấn đề bất ngờ khi ông bắt tay vào tìm kiếm một vài tài liệu văn học cổ xưa của Giáo Hội để mang từ Paris đến Sicily và ghi dấu vào lịch sử cuộc đời của chính mình. Vì lợi ích của công lý và tình yêu, ông cố gắng hoàn thành công việc sao cho tốt nhất nhất là tính hợp pháp nghi ngờ. Với "Tội phạm của Sylvestre Bonnard", Anatole France (1844-1924) đã viết một cuốn tiểu thuyết vừa thông minh và khôn ngoan và theo cách thức của các bậc thầy vĩ đại của phong cách văn học - một cuốn sách đầy đủ lẫn hồi hộp từ đầu đến cuối. *** Một câu chuyện cảm động và kết thúc đẹp như mong ước, một cái kết gần giống như kết của 'Những người khốn khổ' (Les Miserables), với một đôi trẻ hạnh phúc, nhưng không kém phần hồi hộp khiến ta phải lo âu theo dõi. Sylvestre Bonnard, người kể chuyện, một ông lão tuổi ngoài 60 sống tại Paris, nước Pháp nửa sau thế kỷ XIX, sống cuộc sống độc thân giản nhị nhưng không quá túng thiếu với Thérèse người quản gia cũng già đã phục vụ ông qua mấy chục năm. Một con người khá cô độc nhưng không ghét loài người, sống bình lặng với người quản gia, con mèo, cùng công việc yêu thích là nghiên cứu các văn bản cổ, và dịu dàng, nhân ái với mọi người. Phần 1 - 'Khúc củi' với diễn biến về sau khá bất ngờ, khi ông theo đuổi một bản thảo cổ từ Ý trở lại Paris, trong quá trình đó gặp một người phụ nữ bí ẩn, và cuối cùng bản thảo bị người phụ nữ bí ẩn trả giá cao trong cuộc bán đấu giá. Người phụ nữ, hóa ra từng là vợ của một người nghèo khổ sống cùng tòa nhà với ông, nay đã là mệnh phụ, sẵn lòng mua bản thảo với giá cao để đáp lại ân tình của Bonnard khi trước. Một kết thúc theo kiểu gieo nhân nào gặp quả nấy. Phần 2 - 'Tiểu thư Jeanne Alexandre' là sự quyến luyến của ông lão Bonnard đối với Jeanne, cô bé là cháu gái của Clementine, người con gái mà ngày còn trẻ ông mến mộ. Do phá sản, bố mẹ cô khi mất đã để Jeanne bơ vơ giữa đời phải sống trong một trường nội trú với những điều kiện khắc nghiệt và người giám hộ không được tử tế. Nhờ danh vị thành viên Học viện mà Bonnard được cô Préfère nể trọng đón tiếp tử tế và cuộc sống của Jeanne đỡ khổ ải hơn. Nhưng khúc quanh của câu chuyện khá bất ngờ khi cô cấm ông Bonnard không được đến thăm Jeanne tại trường và cô bé lại tiếp tục chịu cuộc sống hà khắc dưới quyền cô. Người đọc hồi hộp theo dõi liệu ông lão Bonnard có thể phạm tội ác gì (theo hướng chống lại cô Préfère) nhằm giành giật lại cô bé mà ông yêu quý và muốn bù đắp cho. Kết cục, như ta đã biết là tốt đẹp, và cô bé Jeanne cũng đã có hạnh phúc lứa đôi với chàng công chức cùng nghề với Bonnard, khi còn là sinh viên đã tìm đến ông để trao đổi về học thuật. Trong Phần 2 này những trao đổi giữa ông lão Bonnard và chàng sinh viên Gélis về lịch sử (trang 224 - 225 - 226, Bản dịch của Nguyễn Xuân Phương, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, tháng 4.2001) là khá thú vị, hay trao đổi giữa Bonnard và cô Thèrése về giáo dục (trang 156) đến bây giờ vẫn hoàn toàn đúng đắn. Cũng ở Phần 2 này theo lời kể của Bonnard ta cũng thấy nước Pháp những năm 1800 vẫn còn chia rẽ khá sâu sắc giữa những người ủng hộ Napoleon (những kẻ cướp vùng Loire) và những người bảo hoàng Bourbons. - Con người (mặc giáp sắt thời Trung cổ) được bọc sắt như con bọ hung. Sự yếu đuối của họ là ở bên trong. (trang 18) - hãy đối xử rộng lượng với đồng loại để họ rộng lượng với chúng ta (trang21) - Người nghèo không tham vọng là có món tài sản vĩ đại nhất, hắn tự kiềm chế được mình, còn người giàu mà thèm muốn thì chỉ là một tên nô lệ khốn khổ (trang 22). - cái thú chuyện trò với một trí tuệ ưu việt và ôn hòa, cái thú ăn tối với một anh bạn thân (trang 22) - những thèm muốn thuở hoa niên là ghê gớm biết bao nhiêu (trang 22) - chúng cháu (tuy là người lớn) mãi mãi là trẻ con, chúng cháu không ngừng đuổi theo những đồ chơi mới lạ (trang 28) - người thiếu phụ ấy không trở nên xấu cũng không trở nên tốt. Hãy đợi chị ta kết thúc cuộc đời mới nên phán xét (trang 29) - điệu bộ bạo dạn ở những kẻ nhát gan (trang 37) - với ba xu, tôi có thể ăn, uống và rửa mặt tất tần tật với một lát dưa hấu bày trên chiếc bàn con (trang 38) - Phải thương xót họ: của cải vây quanh lấy họ mà không thấm thấu vào họ; họ đáng thương, nội tâm cùng quẫn. Sự khốn khổ của người giàu thật thê thảm. (trang 43) - Những người yêu tha thiết không viết về hạnh phúc của mình (trang 45) - người ta có học được đôi điều qua sách vở, nhưng người ta càng học tập được nhiều hơn khi đi đây đi đó. (trang 47) - những nỗi buồn, đó là một cách tiêu khiển quan trọng. (trang 51) - người mà ta yêu thương mãi mãi chỉ là một hình bóng, nhưng kỷ niệm về nàng mãi mãi là niềm mê say của đời ta. (trang 76) - con người chỉ làm chủ thời gian khi chia no ra thành giờ, thành phút, thành giây, nghĩa là thành những khoảng cách cân đối với đời người ngắn ngủi, bởi vì thời gian chính là cuộc đời. (trang 81) - đối với phái yếu, mọi việc đều đượcphép, mọi hành động của họ là đặc ân, là sủng ái. (trang 90) - Có trí thức chẳng là gì hết, tưởng tượng sáng tạo mới quan trọng. Chỉ cái gì người ta suy nghĩ sáng tạo ra mới tồn tại. (trang 91) - Nhân loại hầu như toàn là người chết. So với số người đã chết thì người còn sống chẳng là bao nhiêu. Cuộc đời này là gì, ngắn ngủi hơn trí nhớ, ngắn ngủi hơn con người. (trang 100) - cuộc đừi là vĩnh hằng, ta phải yêu quý nó trong những hình thái không ngừng đổi mới (trang 100-101) -điếc như bao than, chậm chạp như tổ chức tư pháp. (trang 108) - Hãy trù liệu cho những việc lớn, nên biết rằng ý định là thực tế duy nhất trên đời. (trang 109) - Hãy coi trọng vỏ bánh mì khô trong chiếc đãy hai túi của anh hơn những chim sẻ vườn được quay trong bếp của lãnh chúa. (trang 110) - Tất cả chúng ta đều có trong người một Don Quixote và một Sancho mà chúng ta nghe theo, và cả đang khi Sancho thuyết phục chúng ta thì chính là Don Quixote mà chúng ta phải khâm phục. (trang 110) - Thời gian chỉ êm dịu đối với những ai khoan thai thận trọng đón nhận nó. (trang 112) - thực tế vũ trụ là phản ảnh của tâm hồn chúng ta. (trang 113) - Goethe ví đại có sức sống lạ thường, thực sự tin rằng người ta chỉ chết khi người ta muốn, nghĩa là khi tất cả sức mạnh chống lại sự phân hủy cuối cùng, khi toàn bộ khí lực làm nên sự sống bị hủy diệt đến tận cùng. Nói cách khác, ông nghĩ rằng người ta chỉ chết khi khôn muốn sống nữa. (trang 141-142) - tôi vẫn thích sự đam mê điên rồ hơn sự đứng đắn dửng dưng. (trang 144) - một thằng ngu, không phải bằng ba chữ mà đúng là bằng mười hai tập. (trang 147) - Những kẻ không có nhược điểm thì thật ghê gớm; không ai tác động đến họ được. (trang 150) - điều thực sự xấu xa trong thời đại chúng ta là khôn ai bằng lòng địa vị của mình, trong xã hội, trong mọi tầng lớp, từ trên xuống dưới, bao trùm sự túng thiếu, nỗi khắc khoải lo âu, sự khát khao hạnh phúc. (trang 153) - Không có thời đại nào con người lại thèm muốn sự túng thiếu. Họ luôn luôn tìm cách cải thiện địa vị xã hội của mình. Sự cố gắng kiên trì này đã sản sinh ra những cuộc cách mạng trường kỳ. Nó tiếp tục, thế thôi. (trang 153) - nghệ thuật giảng dạy chỉ là nghệ thuật kích thích tính tò mò ham biết của những tâm hồn non trẻ, tiếp đó là thỏa mãn tính tò mò ham biết đó, và tính tò mò ham biết chỉ mãnh liệt và lành mạnh trong những đầu óc sung sướng. Dùn quyền lực nhồi nhét kiến thức vào những đầu óc thông minh là bịt chúng lại, bóp nghẹ chúng. Trí thức phải được nuốt vào một cách ngon lành thì mới tiêu hóa được. (trang 155-156) *** Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault, 16 tháng 4 năm 1844 – 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas. Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).   Những năm cuối thế kỉ 19 và đầu thế kỉ 20, tư tưởng và sáng tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại, đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire, phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất Gô-loa đích thực”…   A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.     Tác phẩm chính:   - Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, 1881), tiểu thuyết.   - Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.   - Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.   - Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu thuyết:    + Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)   + Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)   + Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)   + Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)   - Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu thuyết   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.     Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:     - Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Vũ Thị Hay và Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972   - Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi kí), Hướng Minh dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.   - Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn Văn Thường dịch, NXB Văn Học, 1982.   - Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết), Đoàn Phú Tứ dịch, NXB Văn Học, 1987.   - Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định dịch, NXB Phụ Nữ, 1989.   - Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết), Trần Mai Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.   - Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard, tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.   - Thais-Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức dịch, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.   - Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà Nội 1987. ***  Tôi xỏ chân vào giày vải, khoác lại áo mặc trong nhà rồi lau giọt nước mắt do cơn gió bấc thổi ngoài bến tàu làm cho tôi tối tăm mặt mũi. Lửa rực sáng trong lò sưởi phòng làm việc của tôi. Những tinh thể băng tuyết hình lá dương xỉ phủ đầy bên ngoài mặt kính các cửa sổ, che lấp con sông Seine, các cây cầu và cung điện Louvre des Valois.   Tôi đẩy ghế bành và bàn di động đến gần lò sưởi chiếm lấy chỗ của chú mèo Hamilcar. Nó nằm khoanh tròn trên chiếc ghế lông, bốn chân ôm lấy mũi, ở đầu các thanh gác củi. Một làn gió đều đều phe phẩy bộ lông dày và nhẹ của nó. Thấy tôi đến gần, nó hé hai hàng mi, đưa cặp mắt mã não ra nhìn dịu dàng rồi nhắm lại ngay, nghĩ rằng: “Không hề gì, đó là bạn ta.” “Hamilcar!”. Tôi vừa kéo chân vừa gọi nó – “Hamilcar, ông hoàng ngủ gà của khu nhà sách, người canh gác ban đêm ơi! Mày chống lũ gặm nhấm hèn hạ, bảo vệ những bản thảo và ấn phẩm mà nhà bác học già nua đã mua với số tiền dành dụm ít ỏi là lòng nhiệt thành không mệt mỏi. Hamilcar, trong chốn thư viện im lặng này được các đức tính nhà binh của mày bảo vệ, mày hãy ngủ ung dung đài các như một bà hoàng! Bời vì ở mày hội tụ được dáng vóc tuyệt vời của một quân nhân Hung Nô với vẻ yêu kiều của một phụ nữ phương Đông. Hỡi chú Hamilcar anh hùng và thích khoái lạc, hãy vừa ngủ vừa chờ cơ hội lũ chuột nhảy múa dưới ánh trăng, trước giáo đường của nhà thông thái giáo phái Bông-lăng”.   Lời mở đầu bài diễn văn này làm vui lòng con Hamilcar, nó phụ theo bằng một tiếng khò khò trong họng như tiếng reo trong ấm nước sôi. Nhưng khi tôi cất cao lời nói, con Hamilcar cụp tai xuống, nhăn cái trán vằn, có ý cảnh cáo tôi nói năng cầu kỳ hoa mỹ như vậy là nghe chướng và nó nghĩ:   “Con người sách vở này nói năng chẳng đâu vào đâu, còn bà quản gia thì bao giờ cũng chỉ tuôn ra những lời lẽ đầy ý nghĩa, chứa đựng sự việc, hoặc báo tin một bữa ăn hoặc một trận đòn. Người ta biết chắc điều gì bà nói. Còn ông già này ghép lại những âm chẳng có ý nghĩa gì hết”.   Con Hamilcar nghĩ như vậy đó. Để mặc cho nó suy tư, tôi mở một cuốn sách và chăm chú đọc. Đó là cuốn danh mục các bản thảo. Tôi thấy không có gì dễ dàng hơn, thú vị hơn, êm đềm hơn bằng đọc một cuốn danh mục. Cuốn danh mục tôi đọc, do ông Thompson, cán bộ thư viện của ngài Thomas Raleigh, soạn thảo vào năm 1824 là cuốn sách hỏng, đúng thế, vì sự vắn tắt quá đáng và không thể hiện chút nào thứ chính xác mà các nhà lưu trữ thế hệ tôi đầu tiên đưa vào các tác phẩm về ngoại giao và về khoa chữ cổ. Nó chưa hoàn hảo, phái đoán mò. Có lẽ vì thế mà khi đọc nó, theo một bản tính tưởng tượng phong phú hơn bản tính của mình, tôi có cái cảm giác đáng được gọi là sự mơ mộng. Tôi lâng lâng thả mình trong dòng suy tư lơ mơ thì chị quản gia bằng một giọng cáu kỉnh bảo tôi biết có ông Coccoz yêu cầu nói chuyện với tôi.   Quả nhiên, một người nào đó lặng lẽ theo chị đi vào thư viện. Đó là một con người bé nhỏ, một con người bé nhỏ thảm hại, vẻ mặt ốm yếu, mặc chiếc áo mỏng dài đến đầu gối. Anh tiến về phía tôi, cúi chào mỉm cười nhiều lần, một cách tự tin. Anh rất đỗi xanh xao, tuy còn trẻ và nhanh nhẹn, nhưng hình như đang ốm. Nhìn anh, tôi nghĩ tới một con sóc bị thương. Anh cầm trong tay một mảnh vải bọc hàng màu xanh, đặt lên ghế, rồi mở bốn đầu mối của mảnh vải, để lộ một lô sách màu vàng.   - Thưa ông – lúc ấy anh cất tiếng – tôi không có hân hạnh được ông quen biết. Thưa ông, tôi là người môi giới cho hiệu sách. Tôi làm việc này cho các nhà buôn chính ở thủ đô, và với hy vọng rằng ông vui lòng cho tôi được hết sức tự hào về sự tin cậy của ông, tôi xin tự tiện mời ông một vài cuốn sách mới.   Trời đất ơi! Sách mới gì mà con người Coccoz nhỏ bé này mời tôi mua thế. Tập thứ nhất anh ta đặt vào tay tôi là cuốn Lịch sử tháp chiến Nesle với những chuyện dan díu giữa Margurite de Bourgogne và đại tá Buridan.   - Đó là cuốn sách lịch sử. – Anh vừa cười vừa bảo tôi. – Một cuốn sách đích thực.   - Trong trường hợp này – tôi đáp – thì chán lắm, bởi vì những cuốn sách lịch sử mà không nói láo thì đều buồn thiu buồn thỉu. Chính tôi đã viết những sách xác thực kia và nếu chẳng may cho anh, anh đi từ nhà này sang nhà khác giới thiệu cuốn nào, anh sẽ có nguy cơ suốt đời giữ nó lại trong cái bọc vải xanh của anh, không bao giờ tìm ra một chị cấp dưỡng nào khá kém chín chắn mua cho anh.   - Thưa ông, tất nhiên – Con người nhỏ bé đáp lại hoàn toàn chiều theo ý tôi.   Và vừa cười, anh ta đưa cho tôi cuốn Những chuyện dan díu của Héloise và Abeilard, nhưng tôi làm cho anh hiểu ngay rằng ở tuổi tôi, tôi chẳng làm gì với một chuyện tình.   Vẫn nụ cười trên môi, anh đề nghị tôi mua cuốn Luật về trò chơi đông người bài pikê, bài béji, bài các tê, bài uýt, bài súc sắc, bài con đam, cờ tướng.   - Chao ơi! – Tôi bảo anh ta – nếu anh muốn tôi nhớ lại luật chơi bài béji, anh hãy trả lại ông bạn già Bignan của tôi đã cùng tôi chơi bài mỗi buổi chiều, trước lúc ông ấy được năm viện hàn lâm long trọng đưa đến nghĩa địa, hoặc anh hãy làm xẹp sự thông minh trang trọng của con Hamilcar mà anh thấy nằm ngủ trên chiếc gối này, đối với chuyện phù phiếm về các trò chơi của con người, vì ngày nay, nó là người bạn duy nhất trong các buổi tối của tôi.   Nụ cười của con người nhỏ bé trở nên mơ hồ và hốt hoảng.   - Đây – anh bảo tôi – một tập mới xuất bản về các trò giải trí đông người, những câu pha trò, những trò chơi chữ, với những cách đổi một hoa hồng đỏ thành hoa hồng trắng.   Tôi bảo anh rằng từ lâu tôi đã rối lên với những hoa hồng, còn đối với những câu pha trò thì tôi chỉ cần những câu nào tôi được phép dùng một cách tự nhiên trong quá trình tiến hành các công việc khoa học.   Con người bé nhỏ lại đưa cho tôi cuốn sách cuối cùng với nụ cười lần chót. Anh nói:   - Đây là Sách giải mộng, giải thích tất cả mọi giấc mộng của người đời: mộng được vàng, mộng thấy mình là kẻ trộm, mộng thấy mình chết, mộng thấy từ trên cao trơi xuống… Đủ cả!   Tôi cầm cái gắp than, vung mạnh và trả lời ông khách luôn:   - Đúng, anh bạn ạ, nhưng những giấc mơ đó và muôn nghìn giấc mơ khác, vui có, buồn có, tóm lại chỉ là một mà thôi, đó là giấc mộng cuộc đời, và cuốn sách bìa vàng nhỏ của anh có cho tôi cái chìa khóa để giải giấc mộng đó không? Mời các bạn đón đọc Tội Ác Của Sylvestre Bonnard của tác giả Anatole France.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Người Đẹp Phi Châu
Nhà văn Henri Vernes tên thật là Charles-Henri Dewisme, sinh ngày 16/10/1918 tại Ath, thuộc vùng nói tiếng Pháp của Wallonia (Bỉ). Ông là người đã sáng tạo nên nhân vật nhà thám hiểm người Pháp Bob Morane - người đã xuất hiện trong 200 cuốn tiểu thuyết, bán được 40 triệu bản trên toàn thế giới. Ông Jacky Legge - phụ trách tại Bảo tàng Văn hóa Dân gian ở Tournai, nơi có một gian trưng bày cố định về cuộc đời và sự nghiệp của nhà văn Henri Vernes, cho biết ông rất thán phục trí nhớ siêu phàm, cách nắm bắt và đặc tả chi tiết, cùng niềm đam mê kể chuyện của nhà văn Vernes. Tác phẩm: Bảy Cây Thánh Giá Bằng Chì Pho Tượng Thần Kâli Người Đẹp Phi Châu ... *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Bob Morane đang thực hiện một chuyến thám hiểm ở vùng rừng rậm Congo. Anh gặp gỡ một cô gái trẻ tên là M'Bona, người đang bị một nhóm thổ dân săn đuổi. Bob Morane đã giúp M'Bona thoát khỏi tay thổ dân và đưa cô đến một ngôi làng gần đó. Tại ngôi làng, Bob Morane biết được rằng M'Bona là một người con gái của một bộ tộc cổ đại. Bộ tộc này đã bị một nhóm kẻ xấu hãm hại và buộc phải sống ẩn náu trong rừng rậm. Bob Morane quyết định giúp M'Bona tìm lại bộ tộc của mình và trả thù cho những kẻ đã hãm hại họ. Review "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu hấp dẫn, với những tình tiết gay cấn và những nhân vật thú vị. Bob Morane là một nhân vật nhà thám hiểm tài giỏi và dũng cảm, luôn sẵn sàng giúp đỡ những người gặp khó khăn. M'Bona là một cô gái trẻ xinh đẹp và thông minh, với trái tim nhân hậu và gan dạ. Cuốn sách cũng mang đến cho người đọc những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi. Henri Vernes đã dành nhiều thời gian nghiên cứu để khắc họa chân thực và sinh động hình ảnh của châu Phi trong tác phẩm của mình. Đánh giá "Người đẹp Phi Châu" là một cuốn tiểu thuyết phiêu lưu đáng đọc, phù hợp với mọi lứa tuổi. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút giải trí thú vị và những bài học ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất hấp dẫn và kịch tính. Tôi đã rất hồi hộp khi theo dõi Bob Morane và M'Bona vượt qua nhiều thử thách để tìm lại bộ tộc của mình." "Cuốn sách mang đến cho tôi những kiến thức thú vị về văn hóa và lịch sử châu Phi." "Cuốn sách có một thông điệp ý nghĩa về tình yêu, lòng dũng cảm và tinh thần nhân đạo." Mời các bạn mượn đọc sách Người Đẹp Phi Châu của tác giả Henri Vernes.
Kể Xong Rồi Đi
Những khi ta còn sống, còn thở, ta thường nghĩ về cái chết như là một điều gì xa xôi lắm. Và cái điều xa xôi ấy chắc phải “chừa mình ra” độ vài chục năm nữa. Nhưng cuộc đời có ai lường trước được chữ “ngờ”? Có điều, cái chết cũng chẳng đợi đến khi ta “ngờ” xong. Chúng ta sẽ dễ dàng bắt gặp điều đó trong tiểu thuyết mới của nhà văn Nguyễn Bình Phương - tiểu thuyết Kể xong rồi đi. Tiểu thuyết là lời kể của Phong - cậu cháu bồ côi bồ cút mắt lác của vị đại tá về hưu. Cậu kể chuyện với một con chó tên Phốc, về những sự kiện xảy ra từ khi đại tá đột quỵ, nằm viện, được đưa về nhà và đi tới cái chết. Lấy điểm nhìn từ góc độ cái chết, tiểu thuyết đưa ra một bức tranh đầy đủ hơn về cõi nhân quần bề bộn. Phong không chỉ kể về cái chết của ông mình, mà còn kể về cái chết của những người xung quanh. Những cái chết đến mỗi ngày, trong bệnh viện mà Đại Tá nằm, tưởng như bất chợt, nhưng cũng lại là một lẽ tự nhiên. Các nhân vật chết theo nhiều cách khác nhau: vì chiến tranh, thù hận, tai nạn, bất đắc kỳ tử…  Chú Khoa chết vì đánh nhau với tay Voong người Hoa… Chú Khoa chết lúc tảng sáng, trước khi chết hay nói hoảng, van vỉ cầu xin đổ nước vào miệng mình vì thấy lửa hun rần rật trong người. Nhưng tớ chưa kịp mang bi tới thì thằng Tuấn đã chết. Nó chết đúng lúc lũ từ mạn ngược tràn về dìm lút cả vùng Tuyệt Sơn… Những thần chết tưởng như luôn chờ đến khi ta sống hết cuộc đời dài mới tới đón lại bất thình lình lao vào giữa cuộc sống của ta mà không một lời báo trước. Dù biết vậy, nhưng cuộc đời con người vẫn luôn xoay quanh những tranh cãi, hơn thua, những tư lợi tầm thường. Khi chết đi ai cũng chỉ còn bộ xương trắng, còn nắm tro tàn, vậy cớ sao lúc sống lại cứ phải cố tranh giành? Giọng văn Nguyễn Bình Phương trong Kể xong rồi đi có gì đó như hững hờ, bình thản lại ma mị huyền bí. Lời kể của nhân vật Phong - đại diện cho tác giả có đôi chút trẻ con, nhưng đôi khi lại ẩn chứa những triết lí sâu xa về người, về đời và về cái chết. Phong nhận ra mọi góc tối luôn được che đậy kĩ càng xung quanh mình, nhưng kì lạ là Phong cũng không can thiệp. Phong im lặng, quan sát, ghi nhớ và bàng quan như một người ngoài cuộc. Đó phải chăng cũng chính là thái độ của chính Nguyễn Bình Phương giữa chốn hỗn độn xô bồ này? Đây là một câu trả lời mà không ai có thể giải đáp ngoài chính bản thân tác giả. Phong cách của Nguyễn Bình Phương vốn luôn là như thế. Tác giả không lớn tiếng chỉ trích, không thẳng thắn phê bình; tác giả lặng lẽ giữ những ưu tư của mình trên trang chữ, chờ người đọc phân giải. Một cuốn sách thành công, là một cuốn sách khơi gợi được những suy ngẫm từ chính bản thân người đọc. Và đó cũng là lý do Kể xong rồi đi được chúng tôi lựa chọn. Cuốn sách khơi gợi ở người đọc những suy tư sâu lắng về điều “vô thường” trong cuộc đời bình thường, về cuộc sống mà chúng ta đang sống, và thậm chí có thể là về cả thái độ sống của mỗi người. Nhà thơ, nhà văn Nguyễn Bình Phương sinh năm 1965 tại một làng quê ở Thái Nguyên. Tốt nghiệp trường viết văn Nguyễn Du, Nguyễn Bình Phương bắt đầu viết văn từ năm 1986. Anh đã trải qua những năm tháng rèn luyện trong quân đội nên có một vốn sống rất phong phú.  Là nhà văn quân đội, Nguyễn Bình Phương vẫn không ngừng sáng tác, anh còn làm thơ. Dĩ nhiên, nhà xuất bản thơ của anh cũng cảnh báo trong lời nói đầu với độc giả: thơ của Nguyễn Bình Phương không phải dễ đọc. Nhưng người yêu thơ có thể tìm thấy trong đó, những vần thơ thoáng buồn, không như thế giới rờn rợn trong tiểu thuyết của anh. *** Nguyễn Bình Phương sinh tại Thái Nguyên từng nhiều năm công tác tại biên giới phía Bắc. Từng biên kịch tại đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị, biên tập văn học tại Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân. Hiện công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội.  Nguyễn Bình Phương xuất thân lính. Thi đậu trường viết văn Nguyễn Du khóa 4 anh vẫn mang quân phục lính. Ra trường chuyển về đoàn kịch quân đội, và sau đó là Nhà Xuất bản QÐND. Ở cương vị này Nguyễn Bình Phương là bà đỡ cho nhiều nhà văn với mảng văn học chiến tranh.  Những năm 90, “Những đứa trẻ chết già” là một bước tiến vượt bậc của Nguyễn Bình Phương nhưng giới văn chương tiếp nhận dè dặt, cánh phê bình im tiếng. Chỉ khi Phương thành danh với một loạt tiểu thuyết không lẫn vào ai thì họ mới ào ạt tiếp cận với đủ chủng loại lý luận gán vào thậm chí là phong thánh cho tác giả một mình một ngựa một con đường này. Sau “Những đứa trẻ chết già”, Phương tiếp tục cho ra đời một loạt tiểu thuyết cùng một phong cách không lẫn vào người khác như “Người đi vắng”, “Thoạt kỳ thủy”, “Ngồi”…và mới nhất là cuốn tiểu thuyết có số phận kỳ lạ, “Mình và họ”. Ðây là cuốn tiểu thuyết được Phương viết xong năm 2010 nhưng bị các nhà xuất bản trong nước từ chối in ấn và nó được xuất bản ở Mỹ dưới cái tên “Xe lên xe xuống”. Mãi đến năm 2014 nó mới được nhà xuất bản Trẻ chấp nhận. Ngay lập tức “Mình và họ” nhận được hoan nghênh hưởng ứng của giới văn chương và độc giả.  Mời các bạn mượn đọc sách Kể Xong Rồi Đi của tác giả Nguyễn Bình Phương.
Wittgenstein Của Thiên Đường Đen
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Wittgenstein Của Thiên Đường Đen của tác giả Maik Cây. Cuộc sống này tiếp diễn như thế nào? Những chuyện đau thương diễn ra, mầm sống mới ra đời, hoa nở trên đống hoang tàn, người ta chết rồi yêu nhau, người ta dạt vào đời nhau rồi tạm biệt. Một cậu trai giỏi giang nhưng nhạy cảm với những nỗi đau và mất mát trong đời, một đứa trẻ không có tuổi thơ vẹn nguyên khiến nó cả đời lang bạt, một nhà khoa học tài năng cực đoan với quan niệm cuộc đời của mình, một ông lão với những ám ảnh quá khứ lựa chọn cách mãi mãi im lặng... tất cả dạt vào nhau thành một gia đình kỳ lạ nhưng không thiếu tình yêu, giữa thiên đường đen chết chóc - khu cấm địa sau một vụ nổ hạt nhân. *** Câu chuyện kể về Bô, một thanh niên tuyệt vọng sau cái chết của người anh yêu thương nhất. Từ hố sâu đen tối đối mặt với nỗi đau của sự chia lìa, anh bơi qua biển để đến với thành phố Lê, một khu cấm địa hoang tàn sau vụ nổ hạt nhân kinh thiên động địa, nơi dành cho những kẻ muốn cả thế giới bị hủy diệt, nơi dành cho những ai muốn chết. Tới Lê, Bô không những không thể chết mà còn gặp được gia đình của mình. Ở đó có Mẹ, nhà khoa học viện trưởng Viện Nghiên cứu Lai tạp Sinh học Cấp tiến của thành phố Lê, sau vụ nổ bom, thế giới quanh bà trở lại con số 0 tròn trĩnh khi cô con gái 19 tuổi, rồi cả chồng và cả chó cưng đều rời bỏ bà để ra đi về miền miên viễn. Có Lúk, cậu em trai mang trong mình nhiều vết sẹo của tuổi thơ bất hạnh và thời niên thiếu lang bạt kỳ hồ, người đã vớt Bô từ biển cả và mang Bô về nhà bên Mẹ. Có Bố, một cụ già câm nhỏ thó, đen đúa, “hôi rình” được Bô và Luk “nhặt” được từ trong mớ đổ nát của thành phố, lúc nào cũng cười “ơ hơ i khi” trong chuỗi ký ức của riêng mình. Tất cả bọn họ, đều là những tâm hồn “cô độc tuyệt đối, đau khổ tuyệt đối, những kẻgối đã mỏi, chân đã chùn, mắt đã nhàu và tim đã rã, sống nương nhờ vào nhau, vô thức chọn bãi lầy nguyên tử này làm nơi dừng chân cuối cùng”. Rồi một ngày, đến cả tổ ấm nơi Thiên đường đen cũng mất   Đó là ngày mà mọi người nhận được thư thông báo dời đi, vì chính quyền sẽ làm một cuộc san bằng tất cả thành tro bụi để chuẩn bị cho một cuộc tái thiết mới. Người Mẹ, sau tất cả mọi sự cố chấp và lời thề sẽ trụ mãi với thành phố Lê, đã quyết định bước lên chiếc thuyền của những ni cô già. Quyết định của Mẹ để lại trong lòng Bô những câu hỏi lớn, cả sự tổn thương và mất mát vì phải chia lìa thêm lần nữa, những xúc cảm tưởng như đã biến mất sau cái chết của Che, người anh yêu hơn tất cả chính ai khác trong quá khứ. Tạm biệt và vĩnh biệt, những cuộc chia ly cứ thế đến, không ngăn được như điều tất yếu. Những cuộc chia ly mang theo trong lòng nó những vết thương khó lành. Có người chọn sống với chuỗi hồi ức, có người gạt hết để làm lại, có người tìm đến cái chết và sự siêu thoát. Cũng có người buông xuôi để mặc thân thể cho biển cả cuốn đi. Cuối cùng, điều còn lại vẫn chính là dòng hồi ức đẹp đẽ và miên viễn. Mà suy cho cùng, hồi ức cũng chính là thứ nhân vật vẽ ra chính lúc này, ngay bây giờ, là mọi kỷ niệm yêu thương và tất thảy những gì khiến người ta nhớ đến, là kết quả của cuộc sống hiện tại, chứ không phải là của một cái chết nhẹ nhàng quá dễ dàng để chấm dứt tất cả. “Tôi từng tuyệt vọng, còn giờ thì không, tôi chỉ thấy trống hoác và thanh thản. Thế giới vẫn khét mùi tàn bạo, nhưng ta hoàn toàn có thể chọn quên thế giới.” Đằng sau những trang văn gai góc, là chuỗi suy tư về tuổi trẻ và cuộc đời Đằng sau những được và mất, tuổi trẻ còn lại gì? Có phải tất cả đều là ảo ảnh, như màn sương đêm bao phủ lấy tất cả nhân vật, giơ tay ra là bóng tối, là đại dương rộng lớn đen ngòm. Đến chúa tể của đại dương giờ cũng chỉ còn lại là một cái xác thối rữa, nằm chơ vơ trên bờ biển và trở thành bữa đại tiệc cho hàng ngàn sinh vật phù du khác. Thế nhưng, cảm thức được sống vẫn vô cùng mãnh liệt trên từng trang văn. Những sự tái sinh, những lần hạnh ngộ. Nơi thiên đường đen chết chóc, trẻ con đã cất tiếng khóc chào đời, mầm sống vẫn lên xanh rờn như sức trẻ của chú bê con Tô Tô mỗi lần rúc tìm vú mẹ. Lần đầu tiên, Bô sống được nhờ những điếu thuốc Mẹ đưa, nhờ thứ hợp chất nicotin để lãng quên mọi mất mát. Lần thứ 2, sau khi tưởng chết chìm giữa đại dương, hai anh em Bô và Lúk thực sự hạnh phúc với đôi cây xúc xích và túi trà chanh, mớ đồ ăn “giản dị như một con thỏ nhảy trên bãi cỏ”. Và giấc ngủ say buông bỏ hết mọi đau đớn của quá khứ, như đứa trẻ ở Niết bàn, bên gia đình mà Bô hằng yêu mến. Suy cho cùng, tình thân vẫn là thứ có sức mạnh vô biên, nó khiến người ta tồn tại và phải tồn tại, cho dù đang ở trong mõm trống hoác đen ngòm của cá voi hay nơi tận cùng thế giới. “Chúng tôi sẽ chết. Nhưng  chúng tôi sẽ sống vĩnh hằng. Nếu không thể từ chối luân hồi, thì đành vui lòng mà buông xuôi theo dòng chảy sâu thẳm của vũ trụ mà thôi.” *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Wittgenstein Của Thiên Đường Đen của tác giả Maik Cây kể về câu chuyện của Bô, một thanh niên tuyệt vọng sau cái chết của người anh yêu thương nhất. Anh bơi qua biển để đến với thành phố Lê, một khu cấm địa hoang tàn sau vụ nổ hạt nhân kinh thiên động địa. Tại đây, anh gặp được gia đình của mình, bao gồm Mẹ, Lúk và Bố. Tất cả bọn họ đều là những tâm hồn cô độc, đau khổ, nhưng họ đã tìm thấy nhau và cùng nhau tạo dựng nên một gia đình nhỏ trong thế giới đổ nát. Tuy nhiên, rồi một ngày, đến cả tổ ấm nơi Thiên đường đen cũng mất. Mọi người nhận được thư thông báo dời đi, vì chính quyền sẽ làm một cuộc san bằng tất cả thành tro bụi để chuẩn bị cho một cuộc tái thiết mới. Quyết định của Mẹ để lại trong lòng Bô những câu hỏi lớn, cả sự tổn thương và mất mát vì phải chia lìa thêm lần nữa. Cuối cùng, Bô và gia đình anh đã rời khỏi Thiên đường đen. Họ mang theo những kỷ niệm đẹp đẽ về nơi đây, về những người đã yêu thương họ, và về những gì họ đã học được. Review Wittgenstein Của Thiên Đường Đen là một tác phẩm có nhiều điểm nhấn. Thứ nhất, tác phẩm có một cốt truyện hấp dẫn, với những tình tiết bất ngờ và lôi cuốn. Thứ hai, tác phẩm có những nhân vật được xây dựng rất thành công, với những tâm lý và tính cách phức tạp. Thứ ba, tác phẩm có những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, về tình yêu và về sự mất mát. Về mặt cốt truyện, tác phẩm có thể được chia thành hai phần chính. Phần đầu của tác phẩm kể về cuộc sống của Bô tại Thiên đường đen. Phần thứ hai của tác phẩm kể về cuộc sống của Bô và gia đình anh sau khi rời khỏi Thiên đường đen. Phần đầu của tác phẩm khá hấp dẫn, với những tình tiết bất ngờ và lôi cuốn. Người đọc sẽ bị cuốn theo câu chuyện của Bô, từ lúc anh bơi qua biển đến Thiên đường đen, đến lúc anh gặp được gia đình mình, và đến lúc anh phải đối mặt với sự chia ly. Phần thứ hai của tác phẩm cũng có nhiều điểm nhấn. Người đọc sẽ được theo dõi cuộc hành trình của Bô và gia đình anh, từ khi họ rời khỏi Thiên đường đen, đến khi họ tìm được một nơi mới để sống. Về mặt nhân vật, tác phẩm có những nhân vật được xây dựng rất thành công. Bô là một nhân vật phức tạp, với những tâm lý và tính cách mâu thuẫn. Anh là một người thông minh, nhạy cảm, nhưng cũng rất cô đơn và đau khổ. Mẹ là một người phụ nữ mạnh mẽ, nhưng cũng rất yếu đuối. Lúk là một người anh trai yêu thương Bô, nhưng cũng rất phức tạp và khó hiểu. Bố là một người đàn ông trầm lặng, nhưng cũng rất ấm áp và yêu thương gia đình. Những nhân vật trong tác phẩm đều có những câu chuyện riêng của mình, những nỗi đau riêng của mình. Những câu chuyện và nỗi đau của họ đã tạo nên một bức tranh đa chiều về cuộc sống. Về mặt thông điệp, tác phẩm mang đến cho người đọc những thông điệp sâu sắc về cuộc sống, về tình yêu và về sự mất mát. Tác phẩm cho thấy rằng cuộc sống là một hành trình đầy thử thách, nhưng cũng đầy hy vọng. Tình yêu là thứ có sức mạnh vô biên, có thể giúp con người vượt qua mọi khó khăn. Sự mất mát là một phần tất yếu của cuộc sống, nhưng nó cũng là cơ hội để con người trưởng thành và mạnh mẽ hơn. Đánh giá cá nhân Tôi đánh giá cao cuốn tiểu thuyết Wittgenstein Của Thiên Đường Đen. Đây là một tác phẩm có nhiều điểm nhấn, với một cốt truyện hấp dẫn, những nhân vật được xây dựng rất thành công và những thông điệp sâu sắc. Tôi đặc biệt ấn tượng với những câu chuyện và nỗi đau của các nhân vật trong tác phẩm. Những câu chuyện và nỗi đau của họ đã tạo nên một bức tranh đa chiều về cuộc sống, về tình yêu và về sự mất mát. Tôi nghĩ rằng cuốn tiểu thuyết này sẽ là một lựa chọn phù hợp cho những ai yêu thích văn học Việt Nam đương đại. Mời các bạn mượn đọc sách Wittgenstein Của Thiên Đường Đen của tác giả Maik Cây.
Nàng Nadja
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Nàng Nadja (Tiếng Việt) của tác giả André Breton. Nadja là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Pháp André Breton. Tác phẩm được sáng tác vào năm 1928. Cuốn tiểu thuyết dựa trên cuộc đời của một có gái tên là Nadja (tên thật của cô là Léona Camile Ghislaine Delacourt). Đây là cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ phong cách siêu thực của Breton. *** André Breton (1896-1966) là nhà văn và nhà thơ người Pháp. Ông là người khai sinh ra nghệ thuật siêu thực, chủ nghĩa nghệ thuật làm nên nền văn học Pháp trong giai đoạn từ năm 1922 đến Chiến tranh thế giới thứ hai. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông đó là Nadja. *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Nadja kể về cuộc gặp gỡ giữa nhà văn André Breton và một cô gái trẻ tên là Nadja. Breton gặp Nadja trong một buổi dạo chơi ở Paris. Cô gái trẻ này gây ấn tượng với Breton bởi vẻ ngoài kỳ lạ và tính cách lập dị. Breton và Nadja bắt đầu gặp gỡ và trò chuyện, họ nhanh chóng có cảm tình với nhau. Breton và Nadja cùng khám phá Paris, họ đi dạo trên những con đường, ghé thăm những quán cà phê, và tham dự những buổi biểu diễn nghệ thuật. Trong những cuộc gặp gỡ này, Breton dần dần nhận ra rằng Nadja là một người có khả năng nhìn thấy những điều bí ẩn. Cô gái trẻ này có thể thấy những linh hồn, những con vật kỳ lạ, và những hiện tượng siêu nhiên. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa Breton và Nadja không thể kéo dài. Nadja bị bắt vào bệnh viện tâm thần, và Breton buộc phải rời xa cô gái trẻ. Cuốn tiểu thuyết kết thúc với việc Breton trở về Paris một mình, mang theo những hồi ức về Nadja. Review Nadja là một cuốn tiểu thuyết đặc biệt, nó không có một cốt truyện rõ ràng, mà chỉ là những dòng hồi ức của Breton về cuộc gặp gỡ của mình với Nadja. Cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ phong cách siêu thực của Breton, với những hình ảnh và ý tưởng kỳ lạ, phi logic. Nadja là một cuốn tiểu thuyết mang tính cá nhân sâu sắc. Nó là một câu chuyện về tình yêu, về sự khao khát tìm kiếm cái đẹp, và về những điều bí ẩn của cuộc sống. Ưu điểm Cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ phong cách siêu thực của Breton. Cuốn tiểu thuyết mang tính cá nhân sâu sắc. Cuốn tiểu thuyết có những hình ảnh và ý tưởng kỳ lạ, phi logic. Nhược điểm Cuốn tiểu thuyết không có một cốt truyện rõ ràng. Cuốn tiểu thuyết có thể gây khó hiểu đối với một số độc giả. Kết luận Nadja là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc đối với những ai yêu thích văn học siêu thực. Đây là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và ấn tượng, mang đến cho người đọc những trải nghiệm mới mẻ. Đánh giá cá nhân Tôi đánh giá cao cuốn tiểu thuyết Nadja. Đây là một cuốn tiểu thuyết xuất sắc, thể hiện rõ phong cách siêu thực của Breton. Tôi rất thích những hình ảnh và ý tưởng kỳ lạ, phi logic trong cuốn tiểu thuyết. Tôi cũng rất ấn tượng với tình yêu của Breton dành cho Nadja, một tình yêu chân thành và mãnh liệt. Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy rằng cuốn tiểu thuyết có thể gây khó hiểu đối với một số độc giả. Cuốn tiểu thuyết không có một cốt truyện rõ ràng, và nó có thể khiến người đọc cảm thấy lạc lõng. Nhìn chung, tôi nghĩ Nadja là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc. Đây là một cuốn tiểu thuyết độc đáo và ấn tượng, mang đến cho người đọc những trải nghiệm mới mẻ.   Mời các bạn mượn đọc sách Nàng Nadja (Tiếng Việt) của tác giả André Breton.