Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Căn Phòng Của Giovanni

Tóm tắt, Review và Đánh giá sách Căn Phòng Của Giovanni của tác giả James Baldwin & Đoàn Duy (dịch): Đặt bút viết Căn phòng của Giovanni là một quyết định liều lĩnh, nhưng là một quyết định tôi buộc lòng thực hiện, nhằm khai sáng cho bản thân về niềm tuyệt vọng khôn kham của thân phận hiện sinh và giải mã những chất liệu kỳ dị đã dệt thành bản ngã của tôi. Đây không chỉ là một tiểu thuyết về đề tài đồng tính, đồng tính đơn thuần là phương tiện chuyên chở những gì cuốn sách muốn truyền tải. Với cá nhân tôi, tính dục có mối liên hệ mật thiết với tâm lý con người, xung đột nội tâm về đạo đức, và ý chí lập nghiệp với tư cách một nhà văn. Nếu như không viết Căn phòng của Giovanni, có lẽ tôi sẽ không thể cầm bút viết một tác phẩm nào nữa... (James Baldwin) *** Ẩn dụ bao trùm cuốn sách này chắc chắn là căn phòng của chàng người tình Giovanni, nơi cậu và David ẩn náu, căn phòng nơi cuộc sống trong đó “như đang xảy ra trong lòng biển. Thời gian trôi qua hững hờ bên trên chúng tôi; ngày giờ nào còn ý nghĩa gì”. Một người đàn ông da đen trần truồng trong một khu vườn nguyên sơ tựa như quần đảo Taihiti nơi xa khơi của Paul Gauguin, người đàn ông đó ngồi vắt chân, vừa có vẻ thoải mái mà cũng vừa có vẻ gượng gạo, người đàn ông đó là James Baldwin, hay nói đúng hơn, bức chân dung mang tên Dark Rapture (Sự mê ly tăm tối) về nhà văn James Baldwin trong mắt họa sĩ Beauford Delaney, được vẽ theo trường phái Dã Thú với những đường cọ rốt ráo nhưng thiếu dứt khoát và màu sắc mãnh liệt nhưng bị xé lẻ. Delaney vẽ rất nhiều tranh về Baldwin, đến mức làm cả một hợp tuyển mang tên Chúa đã làm ra gương mặt tôi. Nhưng trong số những bức tranh ấy, có lẽ không một bức tranh nào soi tỏ tâm hồn Baldwin rõ ràng hơn bức tranh này: một người Negro mới như đã sẵn sàng phô bày mình triệt để nhưng vẫn còn đó những nghi vấn, những mặc cảm và tội lỗi không thể giãi bày. James Baldwin ra đời năm 1924. Tình cờ hay định mệnh, đó cũng là năm phong trào Phục Hưng Harlem1 chính thức khởi điểm, sau một bữa tiệc ở câu lạc bộ Civic tại New York do nhà xã hội học kiêm biên tập viên của tờ tập san Opportunity là Charles S. Johnson  tổ chức, với sự xuất hiện của hơn 100 văn sĩ cả da màu lẫn da trắng. Năm 13 tuổi, Baldwin có bài báo đầu tiên đăng trên tạp chí trường trung học, với tựa đề: “Harlem, ngày đó và bây giờ” Harlem, khu phố của người Mỹ gốc Phi, nơi những Langston Hughes, Martin Luther King, Malcolm X, Ralph Ellison, George và Ira Gershwin, Oscar Hammerstein, anh em nhà Marx, Louis Armstrong, Billie Holiday, Bud Powell, Duke Ellington, Fats Waller, Nina Simone đều từng một thời lưu trú, là mối quan tâm suốt đời của James Baldwin. Sau tiểu thuyết đầu tay Go tell it on the mountain lấy bối cảnh Harlem, độc giả chờ đợi tác phẩm thứ hai của James Baldwin cũng là một tiểu cảnh Harlem nữa, nhưng không, đến Giovanni’s Room (theo bản dịch của Đoàn Duy do NXB Hội Nhà Văn và Tao Đàn phát hành là Căn phòng của Giovanni), Baldwin thoát ly khỏi Harlem, thậm chí, khỏi nước Mỹ, đẩy nhân vật của ông đến Paris và Cựu lục địa, và nhân vật của ông, lần này, thậm chí còn không phải một người da đen, mà là một người đàn ông da trắng: “Tổ tiên tôi từng chinh phục một lục địa, băng qua những bình nguyên đầy chết chóc, cho tới khi họ đến một đại dương quay lưng lại châu Âu nhìn vào một quá khứ tăm tối hơn” – không phải một chủng tộc Caucasian thượng đẳng và kiêu hãnh, mà là những kẻ chinh phục đã vượt qua địa ngục để chỉ đành đoạt lấy một miền đất buồn. Đằng nào thì con người dù đội lốt ra sao, đen hay trắng, cũng không qua mặt được những nỗi đau tham lam đã rình sẵn để ngốn ngấu lấy họ. Giờ đây, David, một người đàn ông Mỹ da trắng quay lại nơi bắt đầu, để, như trong cuốn tiểu luận Một câu hỏi về danh tính mà Baldwin từng viết, “chịu đựng những ống nước tồi tàn của Paris, những nhà tắm công cộng, tuổi đời của Paris, và sự bẩn thỉu – để theo đuổi một điều kỳ cùng nào đó, bí ẩn và đa phần là không thể diễn giải rõ, mà có thể gói gọn lại một cách tùy tiện trong một động từ là học”. Dĩ nhiên, sự học mà ông nhắc đến ở tiểu luận này là làm một  sinh viên, còn trong Căn phòng của Giovanni, nhân vật chính đã học về những cặn lắng trong bản ngã của mình, anh thả mình vào một dung môi mới, để những cặn lắng cũ xưa nổi lên – anh bị kéo vào một cuộc tình không thể cưỡng bách với một chàng trai tên Giovanni, hay nói một cách không hoa mỹ, anh “come out” với những khát khao đồng tính. Niềm khao khát nhúc nhắc như một sinh vật biết trườn dần siết chặt lấy anh và nếu muốn thoát ra khỏi nó, anh chẳng còn cách nào khác ngoài cách giết bỏ nó. Lời đề tựa của Căn phòng của Giovanni được trích từ thơ Walt Whitman: “Tôi là con người, tôi đã khổ đau, tôi đã ở đó.” Nó khiến người ta nhớ đến câu đầu tiên trong lá thư tình bất hủ De Profundis của Oscar Wilde gửi người tình đồng tính của mình khi ông ngồi trong ngục thất: “Sự đau khổ là một khoảnh khắc rất dài. Chúng ta không thể chia nó theo các mùa. Chúng ta chỉ có thể lưu trữ những tâm trạng của nó, và biên niên ký lại mỗi lần nó trở về”. Cả hai tác phẩm đều là những lời tự thú, nhưng khác với Oscar Wilde, nhân vật của James Baldwin chịu nỗi đau của người không bị xét xử, người sẽ bị hành hình cuối cùng không phải là anh, thứ duy nhất mà anh phải hứng chịu là một sự yên ổn nằm ngoài sức chịu đựng. James Baldwin dắt ta đi một con đường vòng dài quanh co mà phong cảnh hai bên trải dài tít tắp những trạng huống bi kịch, không điểm tận cùng, không có đích, bởi với một kẻ phạm tội không bị xử tội thì đích cũng đồng nghĩa với sự trở về vạch xuất phát. Ẩn dụ bao trùm cuốn sách này chắc chắn là căn phòng của chàng người tình Giovanni, nơi cậu và David ẩn náu, căn phòng nơi cuộc sống trong đó “như đang xảy ra trong lòng biển. Thời gian trôi qua hững hờ bên trên chúng tôi; ngày giờ nào còn ý nghĩa gì”. Trong văn chương, những căn phòng hoặc là chứa đựng một bí mật kinh hoàng hoặc là một thiên đường kỳ diệu. Căn phòng của Giovanni là cả hai điều đó. Căn phòng ấy là một mật thất của một tình yêu bị cấm, cũng là một tầng hầm của những giấc mơ đóng bụi. Những vách ngăn của căn phòng vừa là nơi trú ngụ và cư lưu, vừa là song sắt chắn giữ không để những say đắm lọt ra ngoài; rồi đến một ngày, căn phòng ấy cũng chính là lăng mộ chôn sống đối tượng của sự say đắm ấy. Phải, dường như Giovanni không phải đợi đến khi bị xử tử mới chết đi, cậu đã chết ngay trong căn phòng của mình vào lần cuối mà David bước vào đó, dưới ánh nắng lóa mắt ngập tràn chiếu lên thân thể cậu trần truồng, trắng bệch và bại hoại. Khi James Baldwin quyết định di cư sang Paris vào năm 24 tuổi, ông nói không muốn mình được đọc “chỉ như một người da đen; hay, thậm chí, chỉ như một cây bút da đen”. Có lẽ đó là một phần nguyên nhân khiến Căn phòng của  Giovanni là một cuốn sách toàn-tập-trắng. Nhưng chính qua sự phản tư của một người đàn ông da trắng bỗng thấy mình bị dạt ra vùng biên và lâm vào tình thế “đồng tính”, anh ta sẽ chiêm ngưỡng thế giới bị màu đen chiếm lấp ra sao. Màu đen không chỉ là một màu da, một dòng giống, một tộc người, mà ở đây, nó hiện diện trong bóng tối, trong những ngày nhập nhoạng Paris, trong một cuộc sống lấp liếm bên dưới bề mặt đời sống thường nhật, trong nỗi âu lo ngột ngạt bị phát giác, trong chính căn hầm mục rữa của tâm hồn anh, nó là tất cả những gì đối lập với ánh sáng lóa mắt của một người đàn ông da trắng dị tính. Thay vì vạch ra biên giới của màu đen, James Baldwin vạch ra biên giới của những gì không phải là màu đen, và trong khi màu trắng (sự sáng tỏ) ngày càng co cụm lại trong nỗi ân hận của mình thì màu đen (sự che đậy) của những nỗi thống khổ ngày càng dâng cao vời vợi. Vậy là, sẽ có lúc, ngay cả một người da trắng cũng sẽ sa vào bóng đen, ngay cả một kẻ ở trung tâm cũng sẽ thấy mình đã mất phương hướng và kẹt ở phía ngoại vi. Đen – trắng, đồng tính – dị tính, chúng chỉ là ẩn dụ của những xung đột giữa sự thật về con người và những kỳ vọng không tưởng mà ngoại cảnh áp đặt lên con người. Nhưng để làm gì? Đằng nào thì con người dù đội lốt ra sao, đen hay trắng, cũng không qua mặt được những nỗi đau tham lam đã rình sẵn để ngốn ngấu lấy họ. *** Tôi đứng bên cửa sổ ngôi nhà lớn này ở miền nam nước Pháp khi đêm xuống, cái đêm dẫn lối tôi đến buổi sáng kinh khủng nhất đời mình. Tôi cầm trên tay ly rượu, chai rượu cặp giữa khoeo tay. Tôi quan sát bóng mình trong khung cửa sổ lấp loáng đương tối dần. Cái bóng của tôi cao, có lẽ khá giống một mũi tên, mái tóc vàng lấp loáng. Khuôn mặt tôi giống một khuôn mặt bạn đã gặp nhiều lần. Tổ tiên tôi từng chinh phục một lục địa, băng qua những bình nguyên đầy chết chóc, cho tới khi họ đến một đại dương quay lưng lại châu Âu nhìn vào một quá khứ tăm tối hơn. Tôi có thể say trước khi trời sáng, nhưng sẽ chẳng ích gì. Kiểu gì tôi cũng sẽ bắt tàu đi Paris. Chuyến tàu sẽ vẫn vậy, những hành khách xoay xở trên những băng ghế gỗ thẳng lưng của toa hạng ba để được thoải mái, thậm chí giữ thể diện, sẽ vẫn vậy, và tôi sẽ y vậy. Chúng tôi sẽ lướt qua vẫn phong cảnh đồng quê không ngừng thay đổi ấy, để lên phía bắc, bỏ lại sau lưng những hàng ô-liu, biển cả và mọi vẻ huy hoàng của bầu trời miền nam giông bão, để tiến vào vùng mưa khói của Paris. Ai đó sẽ mời tôi ăn chung sandwich, ai đó sẽ mời tôi nhấp ngụm rượu vang, ai đó sẽ hỏi xin tôi tí lửa. Người người sẽ tha thẩn ngoài hành lang bên ngoài, nhìn ra cửa sổ, nhìn ngó chúng tôi. Đến mỗi ga, đám tân binh quân phục nâu thùng thình đầu đội mũ màu sẽ mở cửa dòm vào và hỏi Complet?1 Tất cả sẽ gật đầu Phải, như đồng lõa, yếu ớt mỉm cười với nhau khi họ đi khắp tàu. Hai hay ba người sẽ dừng bước trước cửa khoang chúng tôi, hét vào mặt nhau bằng chất giọng nặng nề, tục tĩu, hút thứ điếu nhà binh kinh tởm. Sẽ có một cô gái ngồi đối diện, tự nhủ sao tôi không ve vãn nàng, sẽ bồn chồn trước sự hiện diện của đám tân binh. Tất cả sẽ vẫn vậy, chỉ có tôi là nín lặng hơn. Và miền quê đêm nay cũng nín lặng, miền quê này phản chiếu xuyên qua hình ảnh của tôi trên tấm kính. Ngôi nhà này ở ngay bên ngoài một khu nghỉ dưỡng mùa hè nhỏ bé - vốn hãy còn trống vắng, mùa nghỉ vẫn chưa bắt đầu. Nó nằm trên một ngọn đồi nhỏ, ta có thể nhìn xuống những ngọn đèn phố thị và nghe thấy tiếng thình thịch của biển. Bạn gái tôi, Hella, và tôi thuê ngôi nhà này ở Paris sau khi xem mấy tấm ảnh chụp cách đây mấy tháng. Giờ thì nàng đã đi được một tuần. Giờ nàng đang ở ngoài khơi, trên đường quay về Mỹ. Tôi có thể thấy nàng, rất đỗi thanh lịch, căng thẳng, lấp lánh, bao quanh là ánh đèn vốn đang lấp đầy khách sảnh trên con tàu viễn dương, nốc rượu ừng ực, cười cợt, và quan sát bọn đàn ông. Đó là cách tôi gặp nàng trước đây, trong một quán bar ở Saint- Germain-des-Prés, khi ấy nàng đang uống rượu và quan sát, đó cũng là lý do tại sao tôi thích nàng, tôi đã tưởng nàng hẳn sẽ là người vui nhộn để cùng vui thú. Đó là cách chuyện này khởi sự, toàn bộ chuyện này chỉ có ý nghĩa đến thế là cùng; mặc cho mọi sự, giờ đây tôi không chắc rằng nó có bao giờ thực sự có ý nghĩa nhiều hơn thế đối với tôi không. Và tôi không nghĩ nó có bao giờ thực sự mang nhiều ý nghĩa hơn thế đối với nàng - ít nhất là không cho đến khi nàng làm một chuyến tới Tây Ban Nha, và có lẽ khi thấy mình cô độc, nàng bắt đầu tự vấn rằng liệu cả một đời uống rượu và quan sát đàn ông có phải chính xác là thứ nàng muốn. Nhưng tới lúc đó thì quá trễ tràng. Tôi đã ở cùng với Giovanni rồi. Tôi đã cầu hôn nàng trước khi nàng lên đường đi Tây Ban Nha; và nàng bật cười rồi tôi bật cười nhưng chuyện đó, vì lẽ nào đấy lại làm cho mọi thứ trở nên nghiêm trọng hơn đối với tôi, bao giờ củng thế, và tôi cứ kiên trì; rồi sau đó nàng bảo nàng sẽ phải đi khỏi đây và nghĩ về chuyện đó. Và ngay vào đêm cuối cùng nàng ở đây, ngay lần cuối cùng tôi gặp nàng, khi nàng đang gói ghém đồ đạc, tôi bảo nàng rằng tôi đã từng yêu nàng và tôi khiến bản thân mình tin là vậy. Nhưng tôi tự hỏi liệu có đúng thế không. Khi ấy hẳn là tôi đang nghĩ về những đêm của chúng tôi trên giường, về sự ngây thơ và sự tự tin đến dị kỳ, vốn sẽ không bao giờ trở lại, vốn là thứ làm cho những đêm ấy trở nên quá sức khoái cảm, quá sức khập khiễng với quá khứ, hiện tại, hay bất kỳ thứ gì sẽ đến, và rốt cục quá sức khập khiễng với cuộc đời tôi vì tôi thấy mình không cần đảm lấy bất kỳ trách nhiệm nào ngoại trừ trách nhiệm máy móc nhất cho những đêm đó. Và những đêm này được thực hiện dưới một bầu trời ngoại quốc, không ai trông chừng, không án phạt nào kèm theo - chính cái sự sau cuối này dẫn đến sụp đổ giữa chúng tôi, bởi không gì khôn kham hơn sự tự do, một khi ta đã có nó. Tôi cho đây là lý do tại sao tôi cầu hôn nàng: để ban cho chính tôi một thứ mà neo vào. Có lẽ đây là lý do tại sao, ở Tây Ban Nha, nàng quyết định là nàng muốn cưới tôi. Nhưng buồn thay, người ta đâu thể nào chế ra cột neo, chế ra tình nhân và bạn hữu, giống như họ đâu thể chế ra cha mẹ mình. Đời trao những thứ này rồi lại lấy chúng đi và điều khó khăn ghê gớm là nói Vàng với đời. Mời các bạn mượn đọc sách Căn Phòng Của Giovanni của tác giả James Baldwin & Đoàn Duy (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Lọ Lem đường phố - Quái Vương
Cô gái Lã Thiên Ân có một thân phận không khác cô bé lọ lem quen thuộc trong truyện cổ tích là mấy. Cũng bố mất, cũng cảnh con chồng dì ghẻ, chị em cùng cha khác mẹ. Nhưng lọ lem của thế kỷ 21 không nhu mỳ, chẳng đảm đang, chưa bao giờ tháo vát. Một lọ lem tin vào những điều kì diệu nhưng không tin vào bà tiên. Ông trời thử thách cô? - Cô sẽ thách thức ngược lại. Làm tổn thương cô? - Cô sẽ đạp bẹp tất cả tổn thương. Một lọ lem không cho phép ai đứng trên đầu mình mà sai bảo. Mẹ kế? Em kế? Muốn hành hạ sao? - Cửa sổ cũng không có. Bước vào Lọ Lem Đường Phố chúng ta sẽ như được bước vào thế giới cổ tích với biết bao điều kỳ diệu xảy ra, đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác nhưng nó không đem lại cho bạn đọc cái cảm giác quen thuộc là thương cảm, và thấy may mắn khi cô bé lọ lem được bà tiên giúp đỡ mà là cảm giác thú vị, nể với những điều kỳ diệu do chính cô bé lọ lem Lã Thiên Ân tạo ra cho mình. Một cô bé tên Lã Thiên Ân thông minh, tài năng, cứng rắn, mạnh mẽ ngay cả trong ngày bố mất cũng không rơi một giọt nước mắt và luôn có cho mình một thế giới riêng. Với những ý nghĩ khác người đổ ảnh thờ của bố mẹ, thay vì hai bức ảnh chân dung trên bàn thờ thì cô thay bằng một bức ảnh cưới có mặt hai người. Bố mất để lại một di chúc giống như trò chơi cuối cùng ông dành cho cô và mẹ con nhà Nguyễn Ánh Mai và Lã Nguyên Đan. Bí mật về tài sản trong di chúc sau ba năm ông mất mới được công bố.    *** Suốt những ngày mùng Thiện đều đến cô nhi viện Mái Ấm và ở đó cho đến tối mặc cho Ân thờ ơ, lạnh nhạt. Cô không nói chuyện với cậu, cậu nói chuyện với bọn trẻ. Cô đuổi cậu, cậu mua chuộc bọn trẻ để năn nỉ cho cậu ở lại. Tóm lại, Thiện đã “không từ thủ đoạn” để được bên cạnh Ân. Hôm mùng sáu, Thiện đến thì đã thấy Hy đang ở trong nhà trò chuyện cùng Ân, Linh và Phụng. Thấy đông vui, Thiện liền đề nghị mọi người đánh bài cát tê. Sở dĩ Thiện rủ chơi cát tê là vì đây là món bài tủ của cậu. Cậu đoán bài khá chuẩn. Trưng hay cúp đều không trùng nước. Cuối cùng khi kết thúc, mọi người ngồi nhẩm lại thì Ân là người ăn nhiều nhất rồi đến Hy, Linh cũng ăn nhưng không nhiều còn Phụng thì huề, chỉ có Thiện là thua lớn. Cậu nghĩ mãi nghĩ thế nào cũng không ra tại sao bình thường bài cậu rất mạnh nhưng hôm nay lại “hai ba bước đều”. Thua không gỡ được lấy một ván. Trong nét mặt ngây ngô của Thiện, Hy phán rằng: “Đỏ tình đen bạc”. Thiện nghiêng đầu ngẫm nghĩ một hồi không lâu liền quay sang Ân phụng phịu: “Tại cậu đấy!” Trong một buổi trưa mùa xuân, Linh, Phụng và Hy được một trận cười lớn. Mời các bạn đón đọc Lọ Lem đường phố của tác giả Quái Vương.
Là Điều Anh Muốn - Lynn Kurland
Giống như những nhân vật anh hùng trong tác phẩm của Lynn Kurland, Là điều anh muốn kể câu chuyện về kị sĩ Christopher - một chiến binh được mệnh danh là "con rồng xứ Blackmour”. Trong một cuộc tấn công từ kẻ thù, anh bị mù. Sau khi mất đi ánh sáng, Christopher chẳng quan tâm tới bất cứ điều gì. Anh lảng tránh tất cả mọi người, thu mình trong lâu đài và vẽ lên những câu chuyện ma quái về bản tính lạnh lùng, tàn bạo và khắc nghiệt của mình. Tuy vậy, Christopher vẫn thực hiện lời hứa với William - người bạn thân thiết từng đồng cam cộng khổ - rằng anh sẽ cưới cô em gái đáng thương của bạn. Gillian Warewick - em gái của William - suốt bao năm vẫn ẩn mình sau sự bảo vệ của anh trai. Nhưng William lại ra đi quá sớm, bỏ lại cô một mình với người cha ác độc cùng sự tự ti về vẻ bề ngoài mà theo lời cha cô nói, thì thật xấu xí. Những ngày đầu sống cùng Christopher, Gillian luôn nép mình vào sợ hãi và tìm cách bỏ trốn, bởi những lời đồn đại về bản tính ác quỷ trong con người chồng mình. Sự che giấu vụng về song vẫn chứa đựng quan tâm của Christopher đã khiến Gillian nhận ra rằng, lâu đài và vòng tay của kẻ được coi là "tai họa của nước Anh” kia là chốn an toàn duy nhất cho cô. Cũng chính từ đó, cuộc sống của hai con người mang trong mình những mặc cảm và vết thương khó lành dần có sự thay đổi… Là điều anh muốn kể câu chuyện cảm động giữa hai linh hồn mang nhiều tổn thương. Cả hai tưởng rằng trái tim họ sẽ không bao giờ lành lại, nhưng chính sự sắp đặt của số phận đã mang họ đến bên nhau, nhóm lên ngọn lửa của niềm tin và tình yêu. Tác phẩm không chỉ là một câu chuyện tình lãng mạn, mà ẩn chứa trong những trang viết là một niềm tin về giá trị chân thực của tình yêu, thứ duy nhất có thể chữa lành mọi thương đau và đưa hai linh hồn lạc lối về bên nhau. Là điều anh muốn là một trong 29 cuốn tiểu thuyết của Lynn Kurland. Trong gia tài đó, nhiều tác phẩm của nữ nhà văn nằm trong danh sách bán chạy của New York Times, USA Today, Amazon Top 100... *** Lynn Kurland bắt đầu sự nghiệp văn chương từ khi mới lên năm tại Hawaii với series tiểu thuyết ngắn có nhan đề Clinton’s Troubles, xoay quanh vị anh hùng bất đắc dĩ nhận ra bản thân mình đang vướng vào một đống rắc rối. Sau khi trở về đất liền, bà tạm gác niềm say mê sáng tác sang một bên để tập trung vào âm nhạc cổ điển. Những năm tháng học đại học đã mang đến cho Kurland cơ hội được tiếp cận với những kệ sách chất đầy tiểu thuyết lãng mạn trong thư viện trường, chúng không chỉ khiến bà mê mẩn mà còn tiếp thêm can đảm cho bà để đặt bút viết những trang sách của riêng mình. Năm 1996, bà cho ra đời cuốn tiểu thuyết đầu tay Stardust of Yesterday, và giành được hai giải RITA cho Tiểu thuyết đầu tay hay nhất và Tiểu thuyết huyền bí hay nhất. Tính đến nay, bà đã xuất bản hai mươi chín cuốn tiểu thuyết dài với lịch trình đều đặn, một tác phẩm giả tưởng Nine Kingdoms vào tháng Giêng và một tác phẩm huyền bí/xuyên không vào tháng Tư. Bà cũng đã xuất bản tám tiểu thuyết ngắn, trong đó To Kiss in the Shadows đã giành giải RITA cho Tiểu thuyết lãng mạn ngắn hay nhất. Nhân vật trong phần lớn các tác phẩm của bà đều xuất thân từ ba dòng họ truyền thống: MacLeod, McKinnon và de Piaget, và thường có mối quan hệ đan kết chặt chẽ với nhau. Tiểu thuyết của Kurland luôn nằm trong danh sách bán chạy nhất của tạp chí New York Times, USA Today, Amazon Top 100, Barnes & Noble, Walden và B. Dalton. Tháng 8 năm 1997, Lynn Kurland xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ tư, Là điều anh muốn (This is All I Ask). Tác phẩm thuộc series De Piaget và được viết theo thể loại lãng mạn lịch sử pha giả tưởng. Cuốn sách đã đoạt giải Care Finalist của Romantic Times Bookstores cho Tiểu thuyết lịch sử hay nhất. Hai tác phẩm khác, The More I See You (series De Piaget) và A Garden in the Rain (series The MacLeods), cũng sẽ được BachvietBooks giới thiệu đến độc giả trong thời gian tới. BachvietBooks *** Những nhánh củi khô nổ lách tách trong lò sưởi, mang theo cụm hoa lửa bùng sáng trên mặt đá lạnh lẽo. Chất lỏng màu nâu sóng sánh bên trong chiếc vạc sôi ùng ục dâng cao đến mép rìa như chực tràn ra ngoài, tựa hồ một người trẻ tuổi đang chằm chằm nhìn vào vực sâu tội lỗi và đùa giỡn với ý nghĩ nảy ra trong đầu. “Magda, để mắt cái vạc đun kìa!” Người phụ nữ già nua nhăn nheo nhảy dựng lên như giẫm phải đinh, hất mái tóc bạc khỏi gương mặt mình bằng bàn tay béo múp rồi thổi bùng ngọn lửa. “Ôi Đức mẹ Mary, ta nghĩ ta lại đun quá lửa rồi!”, Magda thút thít. “Bằng Ngọn lửa Địa ngục à, ta rất ghét khi ngươi cứ gọi những tên Thánh linh thiêng ấy”, người thứ hai lên tiếng, bước tới lấy cái muỗng. Bà ta nếm thử rồi chửi rủa, “Thánh thần thiên địa ơi, mọi thứ cứ luôn phải qua tay ta mới được hay sao?”. “Nemain ơi, chúng ta phải làm sao bây giờ?”, Magda kêu lên, siết chặt đôi tay. “Ta không chịu đựng nổi nếu thấy họ đánh mất cơ hội này khi số phận đến lúc này vẫn an bài thật viên mãn và thuận lợi theo mong muốn của chúng ta!” Nemain càu nhàu khi kéo cái vạc ra khỏi lò. “Berengaria, đến nếm thử mà xem. Ta phải nói rằng đây là thứ tình dược tệ nhất Magda từng phối chế.” Berengaria không trả lời. Bà đang bận nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ, quan sát quá khứ mở lối cho tương lai. Đó là một món quà bà sở hữu: Tiên tri. Bà thích thú khi đắm chìm trong quá khứ để xem tương lai diễn ra thế nào, hiểu được các bậc đế vương vì sao chết và những lãnh địa do đâu mà thất thủ. Khả năng này cũng tỏ ra hữu ích khi cần biết lúc nào lâu đài bà đang sống gần đó sẽ bị bao vây, giúp bà có đủ thời gian gói ghém hành lý và tìm chỗ ở mới trước khi bọn cướp tới. Nhưng nhiệm vụ bày ra trước mắt bà bây giờ mới là điều quan trọng nhất: Mang hai linh hồn bất đắc dĩ, thẳng thắn và hơi quá quắt đến được với nhau. Vâng, điều này quả xứng với sự khéo léo khiêm tốn của bà. Bà nhận thấy Magda kiễng chân, nghe được Nemain cự nự khi bà ta giậm đôi ủng phù thủy mòn cũ xuống sàn, nhưng bà không thèm chú ý đến họ. Thành bại chỉ trong hơi thở. Nếu Lãnh chúa Blackmour không có chút danh dự nào, hắn sẽ bỏ mặc lời thề bảo vệ một người phụ nữ hắn hầu như chẳng quen biết. Có lẽ, cuối cùng thì danh dự cũng không hẳn là một đức tính hoang phí. Berengaria để hiện tại trôi qua tầm mắt, nhìn gã Rồng tăm tối hung bạo xứ Blackmour gửi đi thông điệp của hắn. Bà nghiền ngẫm kỹ lưỡng người chiến binh được trận mạc trui rèn nọ, hài lòng thấy rằng hắn sẽ không chùn bước cho đến khi đạt được mục đích. Hắn không thể, hoặc sẽ mất tất cả. Chẳng còn cơ hội nào khác cho hắn. “Magda, ôi mũi tôi, mùi đó thật khủng khiếp”, Nemain bịt mũi và thụt lùi tuốt về phía bên kia căn lều. “Đổ nó đi, làm lại. Và lần này hãy cẩn thận! Phải mất hàng chục năm mới tìm được xương ngón tay của một pháp sư, ngươi thì đã dùng gần hết rồi. Ta không có ý định mạo hiểm đến Scotland lần nữa để tìm thêm mẩu xương khác đâu!” “Đừng la lối nữa”, Magda khịt mũi. “Ta chỉ ở đây vài năm thôi.” “Ta dám khẳng định ngay cả linh mục hèn mọn nhất cũng có thể nói vậy. Hắn sẽ sớm nghĩ ngươi giống một nữ tu hơn là một phù thủy.” ... Mời các bạn đón đọc Là Điều Anh Muốn của tác giả Lynn Kurland.
Đợi anh ở Toronto - Nguyễn Thu Hoài
Đợi anh ở Toronto của nữ tác giả Nguyễn Thu Hoài được coi là "Bản tình ca mùa đông Canada" trong lòng đọc giả yêu văn chương, là một câu chuyện đẹp từ đầu đến cuối với màu tuyết trắng, nỗi buồn, niềm vui đều nhịp nhàng, hợp lý. Nguyễn Thu Hoài thuộc thế hệ 7X cuối cùng với những biến động lớn về cả nội tâm lẫn ngoại cảnh. Với ước vọng được kể chuyện, Đợi anh ở Toronto là câu chuyện đầu tiên được kể một cách say mê, hồ hởi lạ kì. Là cựu học sinh chuyên Văn PTTH chuyên Hà Nội- Amsterdam và là một thạc sĩ kinh tế nhưng cô luôn tin rằng: chỉ những chuyện dễ dàng mới có thể giải quyết bằng tiền, chuyện tình cảm mới thật là khó khăn. Là người Hà Nội, hiện đang định cư tại Toronto, cô yêu Hà Nội bằng cả trái tim nhưng Toronto là nơi cô dành cho những cảm xúc lãng mạn nhất cuộc đời mình. Vào những đông lạnh giá, tuyết trắng phủ ngập đường, trên một đất nước xa lạ. Cô - một cô gái Việt Nam nhỏ bé, gặp anh. Anh - lãnh đạm, rắn rỏi và rất thu hút. Ở bên anh, cô như lao đầu vào một trò chơi: những khi tưởng anh thích mình anh lại hờ hững, tưởng anh theo đuổi anh lại lặn mất tăm, tưởng anh tỏ tình anh lại muốn làm bạn. Cuối cùng, khi đã trong vòng tay vững chãi của anh, lại một lần nữa vụt mất anh. “- Vi, tôi rất cần em... - Anh bỏ lửng câu nói, ngừng lại lấy hơi, giọng khàn đi vì xúc động. Trái tim Vi run rẩy, hồi hộp. Cô hoảng hốt nhận thấy mình đang nín thở. Lẽ nào, đây chính là điều anh muốn nói với cô? - … rất cần… một người bạn như em… - Anh kết thúc câu nói của mình bằng một tiếng ho khẽ. Vi thấy hẫng một cái, hệt như cảm giác khi máy bay đang sắp sửa hạ cánh. Có điều, đối với cô đây không phải là một cuộc hạ cánh an toàn. Lòng tự trọng của cô có lẽ đã bị tổn thương đôi chút. Cô thấy tim mình nhói đau, ước gì cô có thể tan biến khỏi nơi này như một làn khói.” Nhiều người ví “Đợi anh ở Toronto” như một bản nhạc - một bản tình ca. Câu chuyện tình yêu của hai nhân vật chính Vi và Nguyên là một bản nhạc nhiều tiết tấu. Có khúc bối rối, gấp gáp theo tâm trạng của Vi lần đầu biết đến tình yêu; có khúc nhẹ nhàng, vui vẻ khi họ yêu nhau; có khúc trầm lặng như nỗi đau đớn khi tình yêu đi xa. Khúc nào “Đợi anh ở Toronto”cũng đẹp, cũng lãng mạn. Thế nên, có hàng vạn chuyện tình trên thế gian này, nhưng chuyện tình ở Toronto vẫn có thể khiến người đọc say mê dõi theo và hòa chung cảm xúc yêu đương với nhân vật.   *** Văn phòng ở downtown(1) Toronto của tập đoàn kiểm toán NKT chiếm trọn toàn bộ một tòa nhà hai mươi sáu tầng bề thế trên đường Front Street. Được làm việc ở đây là ước mơ mà Vi ấp ủ suốt bao nhiêu năm qua. Ước mơ ấy của cô cuối cùng cũng đã trở thành hiện thực. Vi vẫn còn cảm thấy lâng lâng như đang trong mơ. Cô không thể ngờ rằng, điểm dừng chân của cô trong cuộc hành trình tìm kiếm việc làm lại chính là ở đây, trong tập đoàn kiểm toán đa quốc gia rất nổi tiếng này… Đến bây giờ Vi mới thực sự cảm thấy quyết định chuyển sang học ngành kế toán của cô là một quyết định sáng suốt, vì đó là ngành dễ tìm việc nhất ở đất nước này so với các chuyên ngành kinh tế khác như tài chính hay marketing mà trước đây cô đã định theo học. Vi ngước nhìn một lần nữa biểu tượng của công ty với ba chữ NKT màu trắng giản dị, trước khi bước xuống đường, hòa vào dòng người đang tấp nập trên hè phố trong giờ tan tầm. Cô vừa nhận được quyết định tuyển dụng của công ty, trước hết với vị trí summer student(2). Đây hoàn toàn là một khởi đầu đầy hứa hẹn, bởi nếu quá trình làm việc được đánh giá tốt, cô sẽ có nhiều cơ hội có được một công việc toàn thời gian ổn định. Cô sẽ chính thức bắt đầu làm việc ở đây trong tháng năm này. Chỉ mới một tháng trước đây thôi, Vi vẫn còn mờ mịt về tương lai của mình. Hơn ai hết, cô nhất định phải tìm được một công việc để có thể tồn tại ở đây sau khi tốt nghiệp. Đó chính là yếu tố quyết định đến tương lai của cô và của cả gia đình cô nữa. Chính vì thế, hàng tháng trời nay Vi đã âm thầm chuẩn bị hồ sơ, học hỏi kinh nghiệm trả lời phỏng vấn, tích cực tham gia các công tác ngoại khóa, các buổi hội thảo… để có thể sẵn sàng cho cuộc chạy đua tìm kiếm việc làm. Cô đã cày nát các website về việc làm. Nhưng thật không may cho cô, thời điểm nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khủng hoảng. Các công ty liên tục cắt giảm người. Hiếm hoi lắm mới có một vài vị trí mà cô nghĩ là phù hợp với chuyên ngành học của mình thì lại đòi hỏi các ứng viên phải có kinh nghiệm. Trong hoàn cảnh ấy, sinh viên mới và sắp ra trường kiếm được việc làm hẳn đã là một kỳ tích, huống hồ cô lại là một du học sinh từ nơi khác đến, ngôn ngữ, văn hóa, mối quan hệ… đều hạn chế và không phải là thế mạnh. Cô chỉ có thể trông chờ duy nhất vào điểm số, khả năng làm việc và sự may mắn mà thôi. Giữa lúc Vi gần như mất hết hy vọng nhận được hồi đáp tích cực cho các hồ sơ mà cô đã gửi đi, thì một cơ hội bỗng mở ra cho cô. Hôm đó, khóa của cô nhận được thông báo: tập đoàn NKT sẽ có một buổi career boot camp(3) ở trường cô nhằm giới thiệu về tập đoàn và tìm kiếm những ứng viên xuất sắc cho các vị trí summer student làm việc ở Toronto. Vi không thể để lỡ một cơ hội hiếm hoi như thế. Cả đêm hôm trước cô đã ngồi rà soát lại toàn bộ hồ sơ, kiểm tra chi tiết từng thông tin, từng từ, từng chữ trong đơn xin việc, để đảm bảo bộ hồ sơ của cô được chuẩn bị một cách hoàn hảo nhất. Sáng hôm boot camp, Vi đến thật sớm để kiếm chỗ ngồi ngay hàng đầu tiên, gần với các diễn giả. Hôm nay, sau phần giới thiệu về tập đoàn, còn có hai nhân viên của NKT đến chia sẻ với các bạn sinh viên những kinh nghiệm cá nhân của họ trong quá trình được tuyển dụng và làm việc ở NKT. Vi phát hiện ra một trong hai nhân viên đang thuyết trình là người Việt, hay ít nhất cũng là người gốc Việt, căn cứ vào bảng tên đang cài trên ngực áo của người đó. Cô quyết định sẽ thử một nước cờ táo bạo. Số cô đúng là có quý nhân phù trợ. Vi nhanh chóng tiếp cận được chàng kiểm toán viên đó trong giờ nghỉ giải lao. Chọn đúng lúc đám sinh viên bắt đầu tản ra, và Nam (tên của chàng kiểm toán viên) đang ngồi một mình trước đống giấy tờ, chăm chú nhìn vào màn hình máy tính xách tay, Vi bèn tiến lại gần, cất lời chào bằng tiếng Việt: - Xin lỗi, em có thể hỏi anh một chút được không ạ? ... Mời các bạn đón đọc Đợi anh ở Toronto của tác giả Nguyễn Thu Hoài.
Adeline Bên Sợi Dây Đàn - Thang Vũ Đình
Một cô gái mồ côi cả cha lẫn mẹ. Một chàng trai xuất thân danh giá, nhưng lại bị ghẻ lạnh. Một người theo đuổi giấc mơ, tràn đầy hy vọng về cuộc sống, hy vọng tìm ra người tài trợ bí mật ở đất nước Hàn Quốc xa xôi. Một người trốn tránh hiện thực, thờ ơ với tất cả, một mình cô độc trong ngôi nhà gỗ. Truyền thuyết kể rằng: Có một vị quốc vương tên là Pyg­malion, tạc nên một bức tượng thiếu nữ vô cùng xinh đẹp và đặt tên là Ade­line. Thiếu nữ ấy đã trở thành người bạn duy nhất trong cuộc đời của quốc vương, ngài cầu khấn thần linh, chờ đợi kỳ tích của tình yêu… Tiếng đàn của vận mệnh ngân lên nơi đất khách, Nàng Ade­line liệu có thức tỉnh được trái tim đã ngủ say? Tình yêu có làm nên kỳ tích??? *** Một buổi chiều mùa hạ dịu mát, những cơn gió nhẹ nhàng lướt qua người, không để lại bất kỳ cảm giác nhớt dính nào. Mặt trời đỏ lựng hắt lên ánh hào quang, nhuộm không gian thành sắc đỏ của anh đào, rực rỡ nhưng không chói mắt. Những bông hoa sen kiêu hãnh nở trên hồ nước trong sân trường, không hề bận tâm đến những chú cá nhỏ đang làm nũng dưới mặt lá xanh mơn mởn, quẫy mình tạo thành những gợn sóng lăn tăn. Thỉnh thoảng có mấy tia sáng nghịch ngợm hắt qua song cửa sổ, rọi chiếu vào phòng nhạc. Những hạt bụi bay bay dưới ánh nắng, như đang thì thầm to nhỏ về tiếng đàn du dương trầm bổng. Phòng nhạc trống trải nhưng sáng sủa. Cách bài trí giá để bản nhạc và bàn ghế ở đây theo phong cách cổ điển. Mùi hương của gỗ lan tỏa khắp mọi nơi. Giữa phòng nhạc là một cây đàn tranh cổ tao nhã. Một cô gái thanh tú hơi ngả người về phía trước, hai mắt khép hờ, những ngón tay nhẹ lướt trên dây đàn. Phấn tùng hương lẫn với tiếng đàn bay lượn trong không trung, càng tăng thêm phần hấp dẫn cho người chơi đàn. Mái tóc đen nhánh dài đến eo được vén gọn gàng sau tai. Mười ngón tay dài và trắng mịn. Ngón tay lướt nhẹ tạo thành đường cong hoàn mỹ trong không trung rồi lại từ từ hạ xuống. Những nốt nhạc như nhảy múa giữa không trung, tiếng nhạc du dương trầm bổng say đắm lòng người. Bản nhạc kết thúc, tiếng vỗ tay vang lên giòn giã. Người phụ nữ trung niên đứng trước cửa sổ, quay lưng về phía cô gái lúc ấy cũng quay người lại, mỉm cười và nói: “Rất tốt, rất tốt”. Người phụ nữ nhìn cô học trò giỏi giang của mình với ánh mắt tán thưởng, không tiếc lời khen ngợi: “Bản nhạc Khổng tước đông nam phi(1)này rất khó. Cô còn lo không biết có phải mình chọn sai bản nhạc cho em không. Nhưng em đã hoàn thành rất xuất sắc, ngoài cả sự mong đợi của cô. Dù là kỹ thuật diễn tấu, cách biểu hiện tình cảm hay phương pháp biểu diễn đều rất tốt. Cô tin rằng chắc chắn em sẽ vượt qua vòng phỏng vấn vào trường cấp ba thuộc Học viện Âm nhạc Trung Quốc lần này”. “Thật ạ? Thật sự có thể được ạ?”. Hiểu Tranh nói, nhìn cô Diệp bằng ánh mắt rất chân thành. Đôi mắt to tròn dưới đôi lông mày rậm sáng lấp lánh, toát lên vẻ trẻ con đáng yêu. “Ừ, đúng rồi, trường mình có một suất trao đổi học sinh sang Hàn Quốc. Em đã nghe nói chưa?”. Cô Diệp bước lại gần, khẽ hỏi Hiểu Tranh. “Rồi ạ, nhưng em nghĩ chuyện ấy không liên quan đến em. Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của em bây giờ là vượt qua kỳ thi phỏng vấn của trường cấp ba Học viện Âm nhạc”. Hiểu Tranh gấp bản nhạc, ngẩng đầu nhìn cô Diệp với ánh mắt ẩn chứa sự tò mò. “Nếu em đến Hàn Quốc sẽ có thể gặp một người. Cô ấy là một trong những nghệ sĩ đàn tranh vô cùng nổi tiếng hiện nay”. Cô Phó chậm rãi nói. “Sao lại thế được ạ? Đàn tranh là nhạc cụ truyền thống của Trung Quốc. Nghệ sĩ đàn tranh giỏi nhất sao lại là người nước ngoài ạ?”. Hiểu Tranh ngạc nhiên hỏi. Cô Phó không nói gì, hướng ánh mắt ra ngoài cửa sổ, ngước nhìn bầu trời đêm u tối, dường như ký ức đang quay trở về với những năm tháng xa xôi trước đây. ... Mời các bạn đón đọc Adeline Bên Sợi Dây Đàn của tác giả Thang Vũ Đình.