Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cuộc Sống Ngắn Ngủi

Rosamund Morgan còn rất trẻ, mới hai lăm tuổi. Nàng mồ côi cả cha lẫn mẹ và lại rất giàu có. Nàng thông minh, xinh đẹp, có bằng ưu về lịch sử và là một nghệ sĩ piano tài năng. Nhưng, nàng sắp chết vì bệnh máu trắng. Sự ra đi của Rosamund là điều không thể tránh khỏi, song một số người lại muốn nhận được chúc thư của nàng, sớm hơn và tìm cách để đạt được điều đó. Và rồi những người xa lạ ở đâu bỗng bước vào cuộc đời Rosamund - họ muốn gì, liệu điều này có tác động đến quãng đời còn lại của nàng và có ảnh hưởng đến các chúc thư mà bao người đang thèm muốn. ***   "Một căn nhà nhỏ xinh xắn, dễ thương - Jane đọc - Hai phòng khách, hai phòng ngủ, phòng làm việc, công trình phụ và giàn nho ngoài hiên. - Sao cơ? - Robert hỏi. Anh chuyển vị trí con tốt trên bàn cờ rồi liếc về phía tờ báo để trên bàn cà phê. - Sao cái gì? - Hay ho gì cái giàn nho ngoài hiên mà lại đưa vào nhỉ. Chỉ tổ làm tối nhà chứ được tích sự gì. Anh không hiểu là làm thế nào mà quân trắng có thể đi hai nước chiếu tướng được. Quân đen chắc là ngớ ngẩn rồi. Bao nhiêu? - Bao nhiêu cái gì? - Thì cái căn nhà xinh xắn em vừa nói ấy giá bao nhiêu tiền? - Một trăm ba nhăm ngàn bảng - Jane trả lời. - Tức là gấp 11,25 lần thu nhập hàng năm cùa cả anh và em à - Robert nói không chút lưỡng lự. Jane ném tờ Everting Standard sang cho anh, tờ báo đánh văng con tướng trắng khỏi bàn cờ. Anh lẳng lặng đặt nó lại vị trí cũ, liếc mắt sang tờ báo đặt trên bàn lần nữa và rồi chống cằm đăm đăm nhìn bàn cờ. Ở phía bên kia lò sưởi, Jane với nét mặt rầu rầu ngồi bó gối trong chiếc ghế bành nhìn sang anh. - Anh thật là ngớ ngẩn mới đi dạy văn học Anh trong khi có thể giải được những nước cờ bí như vậy và thậm chí tính toán không cần suy nghĩ. Nhất định anh phải có cách nào đó để có thể kiếm ra tiền chứ - Cô nói. - Thì anh có bằng về văn học Anh mà lị - Robert trả lời - Ngoài việc đó ra anh chẳng làm được gì khác đâu. - Nhưng bây giờ có ai cần đến những sinh viên tốt nghiệp ngành văn chương đâu, ngoài những trường dạy thêm đáng ghét chẳng có triển vọng gì. - Anh chẳng hiểu gì về máy tính cả và sẽ chẳng bao giờ học được - Robert nói - A! Con mã. Mày chết này! Có thế chứ. Rất cao thủ - Anh chăm chú nhìn bàn cờ một lúc vẻ rất hài lòng trước khi bỏ quân cờ vào hộp - Anh đang ở đây với em mà, cưng. Có thật là em đang thèm khát một cái chuồng thỏ xa hoa với những chùm nho xanh quanh cửa không? - Không nhất thiết là thế, nhưng em muốn có một ngôi nhà tươm tất. Em đã ngấy lên tận cổ cái cảnh sống nghèo nàn này rồi. - Mình không phải hoàn toàn nghèo. Và vẫn còn may là mình được sống tương đốì giữa London đấy. - Và may là mình còn đủ cơm mà ăn và may là cả hai đều còn có việc làm để không đến nỗi phải sống nhờ vào của bố thí chứ gì. Em biết, em biết, em biết! Và em chán cũng vì thế đấy. Em đã hai bảy, còn anh hai chín, và năm năm nữa chúng ta cũng vẫn chỉ vậy thôi nếu không nói là sẽ khốn khổ hơn vì mọi thứ cứ đắt lên còn công việc thì thậm chí cứ ngày một ít đi. Em cần tiền. Tiền thật sự cơ. Và em cần ngay bây giờ. Em không muốn sống trong cái căn hộ tồi tàn từ thời Victoria với cái kho để than sửa lại thành bếp này đâu. Thử tưởng tượng một cái kho than dùng để làm bếp giữa năm một nghìn chín trăm tám hai này mà xem! Thật nực cười. Thử hỏi xem có bao nhiêu người dùng kho để than làm bếp? - Anh không biết - Robert nói - nhưng chắc chắn là ta có thể tìm được từ các con số thông kê điều tra dân số. Trông lên thì chẳng bằng ai, trông xuống đã chắc mấy ai bằng mình.” - Ôi, đừng pha trò ngớ ngẩn thế nữa đi - Jane hét lên - Anh không hiểu em muốn nói gì à?" Robert ngước lên nhìn cô, gật đầu không nói. Anh là người đàn ông cao lớn, điềm đạm và có vẻ trẻ hơn so với tuổi. Còn Jane vào những lúc buồn nản như thế này trông lại có vẻ già hơn. Nhưng những khi cô vui vẻ và tràn trề hy vọng thì khuôn mặt bừng sáng đầy sinh khí làm cô trông trẻ hẳn ra và hấp dẫn hơn bất kỳ vẻ đẹp hình thức nào. Cô có mái tóc hung đỏ, đôi mắt xanh, cả người như toát lên sự nhanh nhẹn, tháo vát, trừ những lúc làm công việc của một y tá chăm sóc bệnh nhân, mà quả thực là cô làm việc này cũng rất tốt. Họ đã sống với nhau năm năm, vậy mà chính Jane lại là người không muốn tổ chức đám cưới. - Chưa được - cô luôn nói vậy mỗi khi Robert đề nghị làm đám cưới - Em cảm thấy chưa ổn định lắm. Hãy đợi đến khi chúng mình kiếm được căn nhà tử tế một chút.” Anh cảm thấy hơi đau lòng khi nghe cô nói vậy, nhưng rồi cô thường xuyên nói ra những điều làm anh tổn thương. Robert không bao giờ để lộ ra là mình cảm thấy đau lòng. Cuộc sống đã dạy anh phải giấu tình cảm thật của mình. Khi còn là một đứa bé mới hai tuần tuổi, một viên cảnh sát đã nhặt được anh trong buồng điện thoại công cộng gần ga Waterloo, và trong mấy tháng sau đó nhà của anh là Bệnh viện Trẻ em. Các bác sỹ và y tá đã chiến đấu với tử thần, giành giật lại mạng sống cho cái hài nhi hấp hối ấy như thể nó là một hoàng thái tử, và khi họ đã hoàn thành phần việc của mình rồi thì họ giao lại nó cho Phòng Dịch vụ Xã hội. Nhận con nuôi, chứ không phải là đưa vào trại trẻ mồ côi, đang là trào lưu rất thịnh hành lúc bấy giờ, và trong mấy năm tiếp theo, đứa trẻ được chơi trong một căn phòng nhỏ cùng với một thằng bé Tây Ấn và một đứa trẻ Bắc Alien mồ côi, nó lớn phổng lên và tập đi, tập nói nhưng rất chậm. Gia đình tiếp theo nuôi nó được khoảng một năm, và cũng chính ở đây lần đầu tiên nó bắt đầu được biết thế nào là đau đớn, sợ hãi. Khi bà mẹ nuôi nó từ bỏ không tham gia Dịch vụ Xã hội, không phải do lỗi của bà mà là do lão chồng nghiện ngập, Robert lại bị chuyển đỉ, lần này là đến một nơi nương náu tạm thời do một giáo phái trông nom trong khi chờ đợi quyết định của các nhà chức trách xem phải làm gì với nó. Hóa ra đây lại là khoảng thời gian hạnh phúc duy nhất mà nó có được trong cả quãng đời niên thiếu cùa mình. Ánh nắng ấm áp chan hòa, bãi cỏ để chạy chơi, thỏ và mèo để chơi cùng thay vì căn nhà nhỏ bé chật chội sặc mùi sợ hãi. Hơn tất cả là một khuôn mặt với mái tóc sẫm màu, tuy xanh xao nhưng đôi mắt luôn nhìn thẳng vào nó mỗi khi người đó gọi tên nó, làm cho nó lần đầu tiên hiểu được rằng nó đích thực là Robert, và rằng trên thế gian này còn có người cũng biết đến điều đó, và rằng nó vẫn phải là Robert - mỗi ngày một lớn lên và mạnh khỏe thêm. Nó chẳng bao giờ học cách đặt tên cho một khuôn mặt, nhưng lại biết gắn liền khuôn mặt đó với một thứ tình cảm mà mãi đến tận sau này nó mới biết là tình yêu. Và khi khuôn mặt và giọng nói đó biến mất thì nó lại bị chuyển đi một lần nữa vì đó chỉ là một giải pháp tạm thời cho nó và còn có nhiều trẻ em khác có điều kiện khó khăn hơn cần được giúp đỡ - nó đã học được cách cảm nhận mất mát, đau buồn và tuyệt vọng. Và cả nghệ thuật để tồn tại. Để không bị tổn thương, anh hãy làm một kẻ vô cảm. Để khỏi bị thất vọng thì tốt nhất là đừng có hy vọng. Hãy tự tạo ra xung quanh mình một vỏ bọc dễ chịu để mọi đau khổ bên ngoài không thể xuyên qua, và trong cái vỏ bọc đó chỉ có bản thân mình, tuy cách biệt nhưng an toàn. Đó là hành trang sinh tồn của Robert Fenniman, cái tên được đặt theo người cảnh sát hôm đó đã tìm thấy anh và người bác sỹ chịu trách nhiệm chính trong việc cứu sống anh hồi ấy. Tính cách ôn hòa, điềm đạm chính là một phần đáng kể để hình thành nên cái vỏ bọc bảo vệ đó. Jane đã không nhận thấy điều này mặc dù cô luôn có cảm giác rằng cô sẽ chẳng bao giờ thực sự hiểu anh, cũng như là anh sẽ chẳng bao giờ biết được sự thật về cội nguồn của mình. Lịch sử ra đời của anh làm cho cô nửa lo âu, nửa bị mê hoặc, và không thể hiểu được làm sao anh có thể điềm tĩnh và thờ ơ đến vậy. Quá khứ của cô chẳng có gì là bí mật cả, nhưng về nhiều phương diện thì cuộc sống của cô lại hoàn toàn không ổn định, cũng giống như anh vậy. Bố cô đã từng là một nhà sáng chế, một người đàn ông bừa bãi và kỳ quặc mang chút hơi hướng thiên tài, nợ nần triền miên để rồi bắt đầu lại từ con số không. Mẹ cô thường xuyên bỏ đi rồi lại trở về với ông, và hiện giờ đang rất thỏa mãn sống một cuộc sống góa bụa ở một thị trấn nhỏ ven biển phía Nam, trông nhà cho ông em độc thân, hưởng thú điền viên và chơi bài brít. Jane thích mẹ theo cái cách cáu kỉnh của riêng cô, song lại luôn trở về mệt mỏi hơn bao giờ hết sau mỗi chuyến đi thăm bà và luôn miệng kêu ca về cuộc sống nghèo nàn và tự mãn quá quắt của mẹ. - Anh nghĩ là thể nào ông chú Walter của em cũng sẽ để lại cho em một ít tiền khi ông ấy mất - Robert nói. Họ thường nói với nhau những câu chuyện đại loại như vậy. Jane đã không mảy may hình dung được rằng sự bất mãn biểu lộ mãnh liệt ấy của cô đã chạm tới nguồn gốc của sự thiếu tự tin và bức bốì sâu thẳm trong anh. - Ông ấy thì làm gì có cái gì đáng giá - Jane nói vẻ khinh miệt. - Có cái nhà đấy thôi. - Cái nhà gỗ bé tẹo rẻ tiền giữa cả đống đến bốn trăm cái nhà cũng tồi tàn như nó ấy à. Không! Xin cảm ơn. - Em có thể bán nó đi mà. Robert với tay lấy cái hộp nhựa đỏ đựng các quân cờ, cảm giác đó làm anh thấy thỏa mãn. Anh đã nghĩ ra giải pháp đương đầu với vấn đề này và điều đó làm anh hài lòng. Nó tựa như một cái cọc chắc chắn cho anh bấu víu trong cơn phẫn nộ của Jane. - Cái nhà ấy có bán cũng chẳng mua nổi một túp lều ỏ London chứ đừng nói đến cái kho để than - Jane ước đoán. Robert biết rằng tốt hơn hết là họ nên chuyển đi khỏi London. Anh im lặng chờ đợi, đầu óc bị ám ảnh bởi nước đi tuyệt đẹp của con mã, trong khi Jane thao thao nói về những mơ ước đẹp đẽ hoang tưởng. Khi ván cờ hết nước đi, điều này thì chẳng mấy vì cơn giông tố có vẻ như trở nên tệ hơn bao giờ hết, anh sẽ lẩn tránh bằng cách tự nhủ mình bằng câu nói vĩ đại của Macbeth. "Ngày mai, ngày mai và ngày mai ..." Điều này chẳng dễ chịu gì, ngoài sự lo sợ trống rỗng đen tối với ý nghĩ mất Jane. Nhưng dù sao thì nó cũng giúp cho anh giữ được bình tĩnh để đánh giá và đối mặt với sự thật. Cuối cùng thì cơn bão cũng qua đi. Jane lại gần và ngồi xuống sàn bên cạnh cái ghế anh đang ngồi, dụi đầu vào gốỉ anh như một chú mèo hiền lành bày tỏ tình cảm với chủ.  - Em xin lỗi, anh yêu - Giọng cô nghẹn lại. - Anh cũng xin lỗi - Một tay vuốt mái tóc cô, tay kia vẫn cầm cái hộp đựng các quân cờ, anh nói: Anh thấy chỉ có một cách duy nhất để có thể giải quyết được vấn đề này - Thông thường trong những dịp như thế này anh thường đưa ra giải pháp như là cặp vé hạng nhất đi xem nhạc kịch ở Covent Garden hay một kỳ nghỉ cuối tuần ở Paris. Những “giải pháp” thường xuyên này, cùng với sách, đĩa nhạc và quần áo mới cho Jane, đã xóa sạch những gì hiện là nỗi ám ảnh của Jane về việc muốn có một “ngôi nhà xinh xắn”. Đã từ lâu, Robert nghiệm ra rằng cuộc trò chuyện tế nhị về các khoản vay nợ chẳng bao giờ được hưởng ứng cả. Đôi khi anh cũng có ý nghi ngờ rằng những mong ước cùa Jane là không tưởng, nhưng đề cập đến vấn đề này với cô hay cố gắng dưới bất kỳ hình thức nào để cô không ảo tưởng nữa có khác gì đưa quan hệ của họ đến bờ vực thẳm. - Cách gì, anh yêu? - Jane vừa hỏi vừa xích lại gần. Thay vì định nói “Chúng mình đến Caprice ăn tối đi”, anh bỗng sửng sốt và kinh hãi khi nghe thấy những lời mình thốt ra: - Hãy bỏ anh và tìm cho mình một người đàn ông có thể mua cho em tất cả những gì em muốn”. Không chỉ lời nói, cả giọng nói dường như cũng khác: chua chát, cay đắng, giận dữ và đau khổ, một giọng nói mà Jane thậm chí không hề biết đến và Robert nghĩ là đã hoàn toàn bị lãng quên trong suốt nhiều năm qua. Điều đó như thể Macbeth và các quân cờ đã quá căng thẳng để vượt qua cơn bão vừa kết thúc đến mức phá vỡ lớp vỏ bọc của anh. Jane co rúm người lại, trườn ra xa như thể anh đã đánh cô. - Anh nghĩ thế thật đấy à? Có phải anh muốn tống khứ em đi cho rảnh nợ không? Họ chằm chằm nhìn nhau trong giây lát, người này thấy rõ nỗi sợ hãi trong ánh mắt của người kia, và rồi họ ôm chầm lấy nhau như chẳng bao giờ có thể chia lìa. Tốỉ hôm sau, cũng vào tầm ấy, Jane về nhà và thông báo rằng cô đã suy nghĩ rất nghiêm túc rồi và đã quyết định phải chấm dứt cằn nhằn Robert, không rền rĩ với anh nữa và phải tự làm điều gì đó để có thể kiếm được nhiều tiền hơn. Đừng lo - cô nói thêm – Em sẽ không làm điều gì sai trái đâu, không bao giờ, dù bất cứ giá nào.” - Phúc đức quá - Robert uống cạn và rót thêm một ly nữa. Sống với Jane, người ta rất dễ mất đi những thói quen tiết kiệm. Trước khi gặp cô, anh thấy bằng lòng với những gì mình có. Hay nói khác đi, với anh một chút thôi cũng đã là nhiều rồi. Trong suốt mười năm sau khi bà mẹ nuôi, người đã nói với anh bằng giọng nói đem lại ý nghĩa lớn lao cho cái tên của anh ra đi, Robert đã có quá nhiều cơ hội để củng cố thêm cái vỏ bọc của mình. Chẳng có sự đốỉ xử thô bạo nào, nhưng vô cảm thì quá nhiều và thiếu thốn tình thương và niềm động viên. Rồi cuối cùng, khi bước vào tuổi mười sáu, anh được ông bà Quaker, cả hai đều là giáo viên đã nghỉ hưu nhận chăm sóc. Lòng tốt không dễ xúc động của họ rất thích hợp với Robert và họ cũng đã mở ra cho anh một cuộc sống trí tuệ. Dưới sự khuyến khích và hưóng dẫn của họ, anh bắt đầu đọc, học và trải qua các kỳ thi. Luôn rất thích ứng, luôn sẵn sàng điều chỉnh theo bất cứ điều gì anh muốn để anh chàng Robert trong vỏ không bị sợ hãi, anh nhanh chóng học được cách cảm thấy thoải mái khi đến trường. Cha mẹ nuôi vui mừng khi anh có giấy gọi vào đại học, và anh sung sướng cho họ và cho mình. Anh có thể và đã cảm nhận được lòng biết ơn, nhưng lại không thể nào cảm thấy hay bày tỏ tình yêu đốì với họ. Cũng may là họ không đòi hỏi điều này. Trong căn nhà tĩnh lặng của họ không có chỗ cho những cảm xúc mạnh mẽ. Nhẹ nhàng và lòng tốt; tôn trọng sở thích cá nhân của người khác, ưa thích đọc sách và tôn trọng sự thật là những bài học mà Robert đã học được từ gia đình cuối cùng nuôi anh này. Anh quen nhiều trong trường đại học nhưng không có bạn thân. Chẳng ai ghét anh song cũng chẳng có ai chú ý gì nhiều đến anh. Anh chẳng bao giờ gây ra điều gì rắc rốỉ, và luôn hòa nhập ở bất cứ nơi nào anh đến. Nhưng luôn luôn anh chỉ như một khán giả theo dõi diễn biến cuộc sống của những người xung quanh mà thôi: niềm hy vọng và sự sợ hãi, tình yêu và sự căm ghét - nhưng không bao giờ tham gia vai nào trong đó. Tránh những cảm xúc mạnh mẽ để không bị đau khổ, tránh những hy vọng cao xa vì chúng chỉ mang lại toàn thất vọng: đó là những bài học ban đẩu mà anh không bao giờ quên. Vì anh luôn tỏ ra điềm tĩnh và mãn nguyện, ở anh không bao giờ có dấu hiệu nào cho thấy sự cô đơn hay bất hạnh, nên thầy cô giáo cũng như các bạn sinh viên của anh đều cho rằng chắc chắn là anh có thân với một ai đó. Lối sống tách biệt nhưng không bất hạnh từ thời học đại học này đã theo anh đến khi ra đi làm. Robert chẳng có mục đích nào khác ngoài kiếm sống bằng cái cách mà sẽ không làm phật lòng ông bà Quaker, và đức tính kiên nhẫn cùng khiếu hài hước của anh rất thích hợp với nghề giáo và các bạn đồng nghiệp. Anh dạy ngôn ngữ và văn học Anh cho sinh viên nước ngoài, tham dự vào các hoạt động xã hội khi cần, nhưng không hề có quan hệ thân thiết với bất cứ một ai. Thời gian rỗi anh dành để đọc sách, chơi cờ, đi dạo một mình và thăm cha mẹ nuôi. Và rồi trong buổi liên hoan do một đồng nghiệp tổ chức, ai đó đã giới thiệu anh với Jane, cô chợt đến như một vầng nắng chói lòa phá vỡ cuộc sống khổ hạnh của anh, mang lại hơi ấm và làm tan đi sự cằn cỗi trong anh. Cô không để cho anh lảng tránh như những cô gái khác. Cô thích anh; cái vẻ bề ngoài lạnh lùng của anh như một thách thức với cô - cô yêu thích chính cái vẻ thách thức ấy ở anh, và cô quyết định phải làm cho anh chú ý đến mình, phải yêu mình. Trong hành trang của Robert, trong tất cả những bài học trường đời mà anh đã học, chẳng có điều gì dạy anh phải làm thế nào để chống trả những cuộc công kích dữ dội như vậy cả. Càng cố lẩn tránh, càng bị cuốn đi mạnh hơn. Và cuối cùng thì anh chẳng còn muốn trốn chạy nữa mà bước ra khỏi tình trạng vô thức như mặt đất thức dậy vào mùa xuân, và để cô dẫn dắt cuộc đời mình. Bây giờ thì anh không thể hình dung được cuộc sống mà không có Jane và cũng chẳng còn đường thoái lui. Anh đã phá vỡ cái nguyên tắc an toàn của bản thân và phải trả giá. Điều khá kỳ quặc là, gần gũi nhau như vậy nhưng Jane chưa bao giờ thành công trong việc đột nhập vào bên trong cái vỏ bọc của Robert. Có lẽ sẽ chẳng ai làm được điều đó. Có lẽ những tổn thương hồi nhỏ đã ăn quá sâu vào tâm hồn anh nên khó ai có thể hàn gắn lại được. Robert cũng phần nào hiểu được điều này và đôi khi anh cảm thấy giữa họ vẫn còn thiêu thiếu cái gì đó và rằng anh cần phải cởi mở hơn đốì với cô, chí ít là như cô luôn cởi mở về cuộc sổng và tâm tư của mình vậy. Anh trả lời cô những câu hỏi về quá khứ của mình với vẻ bình thản vốn có nhưng không bao giờ kể cho cô nghe về khuôn mặt và giọng nói đã ăn sâu vào tiềm thức anh trong nhiều năm qua. Đó là một thế giới huyền bí, quá mong manh và quý giá mà anh không muốn cho Jane biết đến. Cô phải cố phân tích nó từ xa, và anh đã bỏ lỡ điều gì đó mà ở một khía cạnh nào đó, thậm chí gần gũi với anh hơn cả bản thân Jane. Như vậy là vì một lý do nào đó, giữa họ đã có một hố sâu ngàn cách. Những khoảng quan trọng trong cuộc đời và cảm xúc mà họ chẳng thể gặp nhau. Nhưng về cơ bản là họ cần cho nhau và điều này giúp họ có thể tránh không nhìn vào cái khoảng cách đó. Tối nay cả hai người đều có vẻ như rất ý thức được mối nguy hiểm đang rình rập và thu mình lại trong sự cố gắng vượt qua ý nghĩ ảm đạm về buổi tối hôm trước. - Em không hiểu làm sào mà anh lại trở thành một công dân đáng kính như vậy - Jane nói giọng âu yếm - Điều này trái với mọi nguyên tắc xã hội học. Với sự dạy dỗ như anh được hưởng, chí ít anh phải là một thanh niên ngỗ ngược, và hiện giờ lẽ ra phải là một tên tội phạm nguy hiểm mới đúng. - Có lẽ phải vậy - Anh vừa cười vừa nói. - Tiếc là chẳng được cái may mắn như thế. Nếu cần làm điều gì bất hợp pháp thì chắc em sẽ phải làm một mình rồi. - Chắc không phải là em đang nghĩ đến việc ám sát các bệnh nhân giàu có đấy chứ - Robert bỡn cợt hỏi. - Đúng rồi, em đã nghĩ vậy đấy - cô trả lời anh cũng bằng giọng hài hước vậy - nhưng mà điều đó sẽ chẳng có tác dụng gì trừ phi họ để lại cho em thật nhiều tiền trong chúc thư, phải không?" Đôi mắt cô sáng long lanh trong tâm trạng hân hoan, tinh nghịch. - Anh không tin - Robert nói - Em mà nghỉ việc ở bệnh viện là rất tiếc đấy." - Em chẳng có sự lựa chọn nào khác sau cái lần cuốỉ cùng cãi lộn với bà quản lý bệnh viện. Và có khối điều đáng nói về dịch vụ chăm sóc bệnh nhân. Môi trường khác này, chọn được thời gian cho mình này, và ... - ... các bệnh nhân tư giàu có này, Robert cắt ngang - Anh biết em muốn nói gì rồi. Em định chiếm lòng tin cùa một bà lão ốm yếu nào đó để rồi nẫng đồ nữ trang của bà ta chứ gì. - Đúng là hiện có nhiều trường hợp thế thật - Jane nói giọng đã nghiêm túc hơn - Em có thể hiểu sự cám dỗ cùa nó, nhưng sẽ không bao giờ em làm vậy đâu. Đây là lợi dụng sự ốm yếu của người ta trong khi người ta tin tưởng giao cho mình chăm sóc. Nếu ai đó có chủ tâm muốn cho em một món quà thì đó lại là việc hoàn toàn khác. Chắc chắn không phạm pháp đúng không, em hứa với anh thế đấy, và điều đó chắc chắn chỉ đem lại thêm niềm vui cho người ta thôi chứ không phải là bớt đi đâu.’ - Anh có thể được biết đó là gì không? - Chỉ khi nào nó ảnh hưởng đến anh dưới bất kỳ hình thức nào thôi. Không phải bây giờ. - Nếu thế thì anh sẽ đi nấu vài món cho bữa tối đây để em đỡ phải vào cái kho than đó. Cô vênh mặt lên và đưa cho anh một túi đầy thức ăn vừa mua về. “Có thịt bê và một ít bột mua tận cái cửa hàng mới lộng lẫy ở phố Hampstead High đấy. Công việc ngày hôm nay của em phải đi qua phố ấy mà, em sẽ kể cho anh nghe lúc chúng mình ăn tối. Tối qua em thật đáng ghét phải không? Em sẽ nghĩ cách đền anh nhé.” “Cứ làm như mình còn bé lắm ý” - Robert nghĩ thầm khi mang túi đồ ăn vào bếp, tuy nhỏ nhưng rất tiện nghi. Trên thực tế thì khối người London còn phải thèm rỏ rãi căn nhà cách ga Paddington không xa của họ. Các buồng tuy nhỏ nhưng được sửa sang lại rất hoàn hảo; tàu qua lại hơi ồn một chút nhưng ở mãi cũng thành quen, và cặp vợ chồng trung niên trên gác thân thiện mà kín đáo. Thậm chí họ còn có một khoảnh khoảng vài mét để làm vườn và còn có vài tiếng được hưởng ánh nắng chiều trong những tháng hè. Điều lo ngại chính của Robert là hiện nay chủ nhà, một người có tuổi, lập dị nhưng nhân từ, có thể chết và họ sẽ phải chịu sự quản lý của một công ty bất động sản. Lúc bấy giờ thì Jane sẽ có lý do chính đáng để phàn nàn. Anh đặt thịt vào trong vỉ nướng và ao ước không biết đến lần thứ bao nhiêu là Jane có thể sẽ thấy hạnh phúc như anh, hài lòng như anh với những gì họ hiện có. Nhưng anh hiểu rằng mong muốn này cũng là không tưởng giống như sự thèm muốn không giới hạn của Jane đối với một cuộc sống xa hoa. Anh phải chấp nhận những ước mơ và hy vọng hão huyền của cô, cũng như cô phải chấp nhận thực tế là anh sẽ chẳng bao giờ kiếm được nhiều tiền cả. Khi yêu ai thì người ta phải chấp nhận những điều khó chịu này thôi. Và rốt cuộc, trong hoàn cảnh của anh, điều may mắn là Jane đã không yêu cầu anh phải là người trưởng thành trong khuôn phép, với một người có tuổi thơ như anh, lẽ ra anh đã không dám bước chân vào lĩnh vực tình ái nữa kia. Có lẽ anh đã điên khi yêu và phơi bày cái sinh vật nhút nhát trong vỏ bọc ra trước mọi thế lực phá hoại. Và tối qua, một cái gì đó đã rạn nứt. May mắn là Jane đã kịp nhận ra và nhanh chóng giúp anh sửa lại vết nứt đó. Vì thế bây giờ họ đang quay trở lại những gì đã qua, không bao giờ dự kiến cho bất kỳ tương lai hiện thực nào cả, chỉ mơ mộng (trong trường hợp của Jane) hay trốn tránh trong các con số và quân cờ (trong trường hợp của bản thân anh) và thu xếp các giải pháp nho nhỏ cho mình như thể họ là một cặp bé thơ không tình yêu cố gắng bù đắp lại cho nhau những gì mà cuộc đời đã không dành cho họ. Nhưng chúng ta không thể cứ sống mãi như thế này được, Robert nghĩ trong khi xé gói đậu đông lạnh; chúng ta sẽ không thể che mãi cái vết rạn ấy bằng một tờ giấy. Nỗi hoang mang sợ hãi lại tăng lên cùng với ý nghĩ về một cuộc sống không có Jane. Anh đấu tranh tư tưởng, tự nhủ rằng mọi cái không thể hoàn toàn giống như trước khi có cuộc tranh cãi tối qua được bởi vì chẳng có ai hai lần tắm trên cùng một dòng sông, nhưng sự khác biệt không có nghĩa là tồi hơn. Có lẽ cuối cùng thì Jane cũng bắt đầu hiểu ra rằng tính khí của cô đã có tác động đến anh. Có lẽ cô sẽ phải cố gắng để dung hòa. Thực tế là những cuộc tán gẫu như vậy về việc kiếm tiền từ những bệnh nhân giàu có có thể là bước khởi đầu của quá trình dung hòa đó. Trong chốc lát, anh không tin là cô đã có một kế hoạch cụ thể trong đầu, ngoại trừ mong muốn rất hợp lý là đến lúc nào đó nhận được một món quà mà thôi Robert rất thích nấu nướng, và với những ý nghĩ vui sướng ấy, anh với tay lấy mấy quả cà chua cùng một ít cải xoong để tô màu cho bữa ăn, và gọi với lên nhà bảo Jane sắp xếp bàn ăn. Cũng chẳng có gì phải làm nhiều ngoài việc dọn chồng sách báo và đẩy mấy cái ghế bành lại gần lò sưởi. Jane vui vẻ làm mà không cằn nhằn như mọi khi về chỗ ở và phòng ăn chật chội. - Mâm cơm tuyệt đẹp - Jane tán dương sau một hai phút im lặng - Khi nào chán dạy học anh có thể chuyển sang làm đầu bếp được đấy, nghề này chẳng bao giờ lo thất nghiệp cả. Robert không thấy có ẩn ý gì trong nhận xét đó nên không có phản ứng gì. - Anh không hế phản đốì, nhưng anh tin là giờ thì họ cần em cung cấp thực phẩm cả năm cho trưòng đấy. - Em sẽ không nhận làm cho họ nếu anh có ý định tự mình mở một tiệm ăn nhỏ.” Họ không ngừng tranh luận sôi nổi về vấn đề này cứ như định thực hiện những việc đó thật. Robert phân vân không biết đó có phải là một phần nỗ lực của Jane trong việc chỉ ra rằng cô cũng có thể thực tế trong việc làm ăn kiếm tiền. Dường như anh thấy rằng mình cũng cần phải cố gắng để làm được như vậy, và anh đề nghị cô kể cho anh nghe về người bệnh ở Hampstead, vì anh có cảm giác là cô đang muốn được anh hỏi. Jane kể chi tiết cho anh nghe, và Robert quên bẵng đi sự căng thẳng giữa hai người và quên đi nỗi sợ hãi của mình. Họ ngồi sang ghế bành trước lò sưỏi uống cà phê, và Robert theo dõi biểu hiện diễn biến tình cảm của Jane trong khi nghe câu chuyện thương tâm và bi thảm của một kiếp người. Mời các bạn đón đọc Cuộc Sống Ngắn Ngủi của tác giả Anna Clarke.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Cuộc Đời Chìm Nổi của Thuyền Trưởng Blood
Cuộc đời ba chìm bảy nổi với nhiều bi kịch éo le của Peter Blood trên sóng nước Đại Tây Dương thế kỷ 17 đã được Rafael Sabatini (1875 – 1950) kể lại trong nhiều thiên truyện hấp dẫn. Một trong số những thiên truyện ấy là bộ tiểu thuyết lịch sử có tính phiêu lưu mà các bạn có trong tay.  Từ một thầy thuốc trị bệnh cứu người, số phận suýt đưa chàng lên giá treo cổ, sau đó lại đẩy chàng sang Barbados làm nô lệ, rồi buộc chàng làm cướp biển trái với ý muốn. Tuy vậy, chàng vẫn tâm niệm diệt trừ cái ác. Điểm tựa nhân ái trong lòng chàng là mối tình éo le với Arabella Bishop, cháu gái kẻ tử thù của nàng…  *** Nói đến R.Sabatini, người ta thường coi ông là chàng hiệp sĩ cuối cùng của thể loại tiểu thuyết "áo choàng và thanh kiếm". Lựa chọn cho mình làm đề tài sáng tác duy nhất một thể loại văn học đã đến buổi hoàng hôn, Sabatini hầu như bị che khuất bởi ánh hào quang của các bậc tiền bối như Dumas, Scott. Ngày nay có lẽ ít ai ngờ nổi ông là một trong những tác giả nổi tiếng và được hâm mộ nhất khi còn sinh thời, và những cuộc phiêu lưu do ngòi bút của ông viết ra không chỉ làm say mê bạn đọc mà còn gây cảm hứng rất lớn cho sự ra đời của hàng loạt phim điện ảnh về đề tài phiêu lưu cướp biển. Tên của Sabatini là một đảm bảo thành công về thương mại đến mức bất chấp nội dung khác hẳn, hai cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của ông "The Sea Hawk" và "The Black Swan" đã được đặt cho hai bộ phim khá nổi danh của Hollywood những năm 40. Ảnh hưởng của ông thậm chí còn kéo dài đến sau này, đến tận những năm 60. Tới mức khi bộ phim kiếm hiệp Pháp "Le capitan" được trình chiếu ở nước Anh, nhà phát hành đã công nhiên sửa tên phim thành "Captain Blood" để lôi khán giả đến rạp. Tuy thế, con đường đến với thành công của nhà văn mang trong mình hai dòng máu Italia và Anh này không hề dễ dàng. Ra đời năm 1875 tại Italy, con trai của hai ca sĩ opera, thậm chí hình như còn là con ngoài giá thú, số phận ngoài đời của ông cóp lẽ cũng là một lý do khiến sân khấu, các nghệ sĩ cũng như thân phận của những đứa con ngoài giá thú thường xuyên xuất hiện trong các câu chuyện của ông. Thời gian dài học trường nội trú ở Thụy Sĩ, những năm theo cha mẹ đến Bồ Đào Nha nơi hai người mở trường dạy thanh nhạc cuối cùng đã giúp Sabatini sử dụng thành thạo năm thứ tiếng và được tiếp xúc trực tiếp với con người, tập quán của nhiều nền văn hóa khác nhau. Nhưng ảnh hưởng sâu đậm nhất đến văn nghiệp của ông sau này có lẽ là thời gian sống cùng ông bà ngoại tại nước Anh. Có lẽ tình yêu từ tấm bé dành cho quê ngoại là một lý do khiến Sabatini tuyên bố "tất cả các câu chuyện hay nhất từ trước tới giờ đều viết bằng tiếng Anh" và chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ sáng tác của mình. Năm 17 tuổi, cha của Rafael gửi chàng thanh niên tới nước Anh,nơi theo ông có nhiều cơ hội nhất để chàng trai lập nghiệp trong ngành thương mại. Thế nhưng Sabatini lại chọn nghề cầm bút. Bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ 19, Rafael bắt đầu thử sức mình, đầu tiên với nghề viết kịch - một thất bại hoàn toàn, sau đó ông chuyển sang viết truyện ngắn nhưng cũng chỉ thu được những thành công hạn chế. Bắt đầu từ năm 1902, năm Sabatini cho ra đời tiểu thuyết phiêu lưu đầu tiên của mình "Người tình của Yvonne", một cuốn sách chịu ảnh hưởng rất rõ của Dumas và tiểu thuyết Pháp, nhà văn dường như cuối cùng cũng đã tìm ra sở trường của mình. Ông sẽ tiếp tục trung thành với thể loại này tới cuối đời với tốc độ sáng tác đáng nể: hầu như một đầu sách mỗi năm trong thời kỳ sung sức. Thế nhưng những tiểu thuyết đầu tiên của Sabatini ra đời trong giai đoạn trước chiến tranh thế giới thứ nhất cũng chỉ thu hút được sự chú ý khá hạn chế của độc giả.  Có lẽ vào thời kỳ tốt đẹp (Belle époque - 1894-1913) ấy, tại các nước châu Âu, nước Anh hơn đâu hết, những tiểu thuyết thuộc địa pha lẫn màu sắc chinh phục "khai hóa văn minh" với những bí ẩn nửa thực nửa hư như của H.R.Haggard phù hợp với khẩu vị người đọc hơn. Cuộc tàn phá khủng khiếp 14 - 18 làm người phương Tây nhận ra một cách kinh hoàng mặt trái của khoa học kỹ thuật, và người ta tìm cách quên đi vết thương chiến tranh còn rỉ máu bằng cách quay lại với những thời quá khứ xa xưa mà lúc đó trở nên thơ mộng, lãng mạn hơn bao giờ hết. Trong hoàn cảnh đó, cuốn tiểu thuyết lấy bối cảnh cách mạng Tư sản Pháp "Scaramouche" (1921) trở thành một thành công quốc tế. Tên tuổi của Sabatini bắt đầu được biết đến rộng rãi, gần hai mươi năm sau khi ông bắt đầu cuốn tiểu thuyết đầu tiên của mình! Một năm sau, "Captain Blood" xuất hiện, được đón chào thậm chí còn nhiệt liệt hơn nữa. Chàng cướp biển kiêm thầy thuốc này đã được số phận lựa chọn để trở thành nhân vật được yêu thích nhất của Sabatini. Nói đến Sabatini bất cứ ai cũng nhớ ngay đến Blood, cũng như Doyle luôn đi liền với Sherlock Holmes vậy. Trong cơn nhiệt thành, một loạt tác phẩm trước đó của Sabatini cũng được tái bản lại, nhưng có lẽ chỉ có "The Sea Hawk", cuốn tiểu thuyết đầu tiên của ông về đề tài cướp biển được xuất bản lần đầu năm 1915 và chẳng được mấy ai để ý đến, là có được thành công ngang ngửa với "Captain Blood" và "Scaramouche".  Thậm chí với nhiều độc giả trung thành của ông, đây mới là tác phẩm "hay nhất" của Sabatini. Sau những trang giấy đến lượt màn bạc. Ngay từ thời kỳ phim câm, "The Sea Hawk" (1924) đã được đưa lên màn ảnh lớn. Nhưng thành công nhất trong số nhiều chuyển thể điện ảnh (với mức độ trung thành khá khác nhau so với nguyên tác) là bộ phim "Captain Blood" công chiếu năm 1935. Bộ phim đã lần đầu tiên đưa lên màn bạc bộ đôi Errol Flynn (Blood) và Olivia de Haviland (Arabela Bishop), một bộ đôi sau đó đã đi vào huyền thoại của Hollywood. Bên cạnh hàng chục tiểu thuyết phiêu lưu lấy bối cảnh lịch sử từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 và địa điểm trải rộng khắp Tây Âu, Bắc Phi thậm chí cả châu Mỹ, Sabatini còn cho ra đời ba tập "Chuyện kể giải trí về những đêm lịch sử" kể lại những vụ án, những bí ẩn nổi tiếng trong lịch sử châu Âu. Bên cạnh những tập sách ít nhiều mang tính tiểu thuyết hóa này, hiển nhiên chịu nhiều ảnh hưởng từ "Những tội ác trứ danh" của Dumas, Sabatini còn là tác giả của một tập sách danh nhân " Những cuộc đời anh hùng", cùng hai cuốn tiểu sử "Cuộc đời của Cesare Borgia" và "Toquemada và Tôn giáo pháp đình Tây Ban Nha". *** Cử nhân y khoa Pitơ Blood vừa phì phèo tẩu thuốc vừa cúi xuống mấy chậu trúc quì đang đơm hoa trên bệ cửa phòng mình trông ra đường Oatơ ở thành Britgiơoatơ. Blood không nhận thấy những ánh mắt đầy vẻ chê trách đang dõi theo mình từ khung cửa sổ bên kia đường. Chàng mê mải chăm hoa và chỉ xao nhãng một chút khi dòng người lũ lượt tràn qua khu phố hẹp. Từ sáng đến giờ, dòng người ấy đã hai lần kéo qua những đường phố của thị trấn ra khu bãi trước lâu đài, nơi trước đó không lâu, Fơguxơn, cha tuyên uý của quận công, vừa đăng đàn thuyết giảng, nặng phần kêu gọi con chiên bạo loạn hơn là khuyên răn họ kính Chúa. Ðám người nhốn nháo ấy phần lớn là đàn ông, ai nấy đều giắt một nhánh cây tươi trên vành mũ và mang theo đủ thứ vũ khí linh tinh. Của đáng tội, cũng có vài người vác súng săn, số khác thậm chí còn có cả kiếm, nhưng nhiều người chỉ vũ trang bằng gậy gộc, còn phần lớn thì tha theo những cây lao to kệch, chữa lại từ những cái phảng hái cỏ, nom dữ tợn ra phết nhưng khó mà dùng để đánh nhau được. Trong đám quân ô hợp ấy có đủ cả: thợ dệt, thợ nấu bia, thợ mộc, thợ rèn, thợ đẽo đá, thợ nề, thợ giày và đại diện của những nghề nghiệp bình dị khác nữa. Thành Britgiơoatơ cũng như Taonơtơn, đã huy động hầu hết đàn ông của mình đi theo lá cờ của vị quận công con hoang. Ai còn cầm nổi vũ khí mà định lẩn tránh không tham gia cuộc dấy loạn, thì kể như người ấy đã tự mình đeo lấy tiếng là kẻ hèn nhát hoặc tín đồ Công giáo La Mã. Tuy vậy, Blood, một người chưa từng biết đến sự hèn nhát và cũng chỉ nhớ mình là người Công giáo La Mã lúc nào thấy cần mà thôi. Không chỉ cầm được vũ khí mà còn biết sử dụng nó rất thành thạo, nhưng trong buổi chiều tháng bảy ấm áp ấy chàng lại đang chăm chút mấy giò trúc quì và phì phèo tẩu thuốc với một vẻ phớt đời như thể xung quanh chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Ðã thế thỉnh thoảng chàng lại còn ném theo đám người hừng hực máu quyết chiến kia một câu thơ của Hôraxơ, nhà thơ mà chàng yêu thích: “Ði đâu, đi đâu, hỡi lũ người mất trí?”. Ðến đây chắc bạn đã bắt đầu đoán được tại sao Blood, một người mang trong mình dòng máu nhiệt tình, quả cảm của bà mẹ vốn xuất thân từ dòng họ những kẻ lang bạt hải hồ ở miền Xomơxetsiơ, mà lại có thể bình chân như vại giữa lúc cơn bạo loạn điên rồ đã lên đến cực điểm: tại sao cái tâm hồn đầy biến động, đã một lần vứt bỏ nghiệp đèn sách mà ông bố bắt ép kia, lại vẫn dửng dưng khi xung quanh đang nhộn nhạo lên như thế. Bây giờ thì bạn đã biết những người đang vội vã đi theo cái gọi là ngọn cờ tự do, sản phẩm thêu thùa của bàn tay các cô gái đồng trinh thành Taonơtơn và các cô môn đồ của tiểu thư Blâykơ và bà Maxgrôf trong các trường nội trú, được Blood liệt vào loại nào. Các cô gái hồn nhiên ấy đã xé đồ tơ lụa của mình, như trong các trường ca dân gian vẫn kể, để may lên những lá cờ cho quân đội của Mônmút. Câu thơ Hôraxơ mà Blood khinh bỉ ném theo đám người đang chạy trên phố đã tỏ rõ thái độ của chàng lúc ấy. Tất cả bọn họ dưới con mắt của Blood chỉ là một lũ ngu ngốc và điên rồ đang hối hả đi đón nhận cái chết dành cho mình. Số là Blood đã biết quá rõ về quận công Mônmút và mẹ y - một người đàn bà da ngăm ngăm xinh đẹp - nên chẳng thể tin được huyền thoại về sự hợp lẽ trong tham vọng của quận công đối với ngai vàng Anh quốc. Chàng đã đọc những bố cáo vô lý dán đầy rẫy ở Bitgiơoatơ, ở Taonơtơn và những nơi khác, rằng “.. khi đấng quân vương Sáclơ II của chúng ta băng hà, ngôi vua Anh quốc, Xcốtlen, Pháp và Ailen cùng tất cả các thuộc quốc và thuộc địa phải được truyền lại cho quận công xứ Mônmút là Giêmx vinh quang và cao quí, con trai và là người kế vị hợp pháp của đức tiên vương Saclơ II”. Bản bố cáo ấy đã làm chàng buồn cười, cũng như đoạn chua thêm ở dưới: “Quận công xứ Yooc là Giêmx đã ra lệnh đầu độc tiên vương và sau đó đã chiếm đoạt ngôi báu”. Thậm chí Blood không dám nói chắc trong hai tin ấy thì tin nào dối trá hơn. Một phần ba cuộc đời chàng đã sống ở Hà Lan, nơi trước đó ba mươi sáu năm gã Giêmx Mônmút bây giờ đang tự nhận rằng được đấng chí tôn lựa chọn làm vua Anh quốc, Xcôtlen vân vân và vân vân kia ra đời. Blood biết rõ cha mẹ thực sự của Mônmút. Quận công không những không phải là con trai hợp pháp của ông vua quá cố, là giọt máu của cuộc hôn nhân bí mật giữa ông ta với Liuxy Oantơx, mà chưa chắc đã là con ngoài giá thú của ông ta nữa kia. Những tham vọng ngông cuồng của y còn có thể đem lại cái gì khác ngoài bất hạnh và tàn phá? Làm sao có thể hy vọng rằng đất nước sẽ tin vào chuyện bịa đặt đó kia chứ? ấy thế mà một số nhân vật có thế lực của đảng Whig đã theo nhau dấy binh khởi loạn. - “Ði đâu, đi đâu, hỡi lũ người mất trí?” Blood giễu cợt thốt lên, nhưng liền ngay đó chàng lại thở dài. Như phần lớn những người biết suy nghĩ độc lập chàng không thể đồng tình với cuộc bạo động ấy. Biết suy nghĩ độc lập là do cuộc đời đã dạy chàng. Một người mềm lòng hơn, nếu có được những nhận thức và quan điểm của chàng, thì chắc chắn đã tìm thấy không ít lý do để đau lòng khi trông thấy đám đông những tín đồ Tin Lành cả tin và hăng máu đang lao đi như đàn cừu lao vào lò sát sinh kia. Họ được những bà mẹ, những người vợ, con cái, người tình tiễn đưa ra nơi tập trung - là khu bãi đằng trước lâu đài. Họ bước đi, lòng vững tin rằng vũ khí trong tay họ sẽ bảo vệ lẽ phải, tự do và đức tin. Cũng như tất cả mọi người ở Bitgiơoatơ, Blood đã biết rõ ý định của Mônmút sẽ mở trận đánh ngay trong đêm nay. Quận công sẽ thân chinh cầm đầu cuộc tập kích bất ngờ vào quân đội của nhà vua do Favơsem chỉ huy, đang hạ trại gần Xegiơmua. Blood hầu như tin chắc rằng lord Favơsem đã biết rõ ý đồ đối phương. Thậm chí cứ cho là dự đoán đó của Blood có sai lầm đi nữa thì chàng vẫn có đầy đủ cơ sở để tin chắc như vậy, bởi vì khó mà nghĩ rằng chủ tướng của quân sĩ triều đình lại không biết bổn phận của mình. Gõ tàn thuốc trong tẩu ra, Blood rời khỏi cửa sổ và định đóng cửa sổ lại, thì đúng lúc ấy chàng nhận thấy từ khuôn cửa sổ ngôi nhà bên kia đường những ánh mắt hằn học của chị em nhà Pit, những cô gái dễ thương đa sầu đa cảm, những người hâm mộ cuồng nhiệt nhất anh chàng Mônmút kẻng trai ở Bitgiơoatơ. Blood mỉm cười và gật đầu chào các cô gái mà chàng vẫn có quan hệ tốt, thậm chí có dạo chàng đã chữa bệnh cho một cô. Ðáp lại cử chỉ thân thiện của chàng là cái nhìn lạnh lùng và khinh thị. Nụ cười vụt tắt trên đôi môi mỏng của Blood, chàng đã hiểu ra nguyên nhân sự thù địch cứ ngày một lớn dần của chị em nhà bên ấy, từ lúc chàng Mônmút chuyên làm điên đầu những người đàn bà thuộc mọi lứa tuổi kia xuất hiện. Phải, chắc chắn chị em nhà Pit lên án thái độ của Blood. Họ cho rằng chàng trai khoẻ mạnh và dày dạn chiến trận này đáng ra có thể giúp ích cho sự nghiệp chính nghĩa, thế mà vào cái ngày quyết định như thế này, anh ta lại bàng quan đứng ngoài, bình thản hút tẩu và chăm hoa, khi tất cả mọi người đang náo nức đi theo vị hiệp sĩ bảo vệ nhà thờ Tin Lành, thậm chí sẵn sàng hiến dâng cho ngài cả cuộc đời mình, miễn sao ngài được ngự trên cái ngôi báu thuộc về ngài một cách hợp pháp ấy. Nếu có dịp thảo luận về vấn đề này với chị em nhà Pit, thì chàng sẽ bảo cho họ biết rằng sau khi đã lang bạt khắp gầm trời, đã trải qua nhiều cuộc phiêu lưu, bây giờ chàng muốn theo đuổi cái công việc mà chàng đã được học hành từ bé. Có thể chàng sẽ bảo họ rằng chàng là thầy thuốc chứ không phải chiến binh, là kẻ chữa cho người ta sống chứ không phải giết người ta chết. Tuy vậy, Blood đã biết trước họ sẽ trả lời chàng ra sao. Họ sẽ nói thẳng vào mặt chàng rằng, lúc này bất kỳ một người nào tự coi mình là đàn ông đều nhận thấy nghĩa vụ phải cầm vũ khí. Họ sẽ lấy cậu cháu Jêrêmy của họ - một thuỷ thủ, người cầm lái của một chiếc tàu buôn mà điều thật không may cho cậu ta là nó vừa bỏ neo ở vịnh Bitgiơoatơ - họ sẽ lấy Jêrêmy ra làm gương cho chàng. Họ sẽ bảo rằng Jêrêmy đã rời bỏ tay lái con tàu để cầm lấy khẩu súng trường bảo vệ sự nghiệp chính nghĩa. Nhưng Blood không phải là người thích tranh cãi. Như tôi đã nói ở trên, chàng là một người độc lập. Ðóng cửa sổ và buông rèm, chàng quay vào căn phòng ấm cúng đầy ánh nến, nơi bà chủ nhà, bà Baclâu, đã bày bàn xong. Quay sang bà, Blood nói lên thành tiếng suy nghĩ của mình: - Tôi đã để mất ân sủng của các cô gái ở nhà bên kia đường rồi. Giọng nói sang sảng dễ chịu của Blood pha lẫn những âm sắc cứng rắn lạnh lùng, ít nhiều đã dịu đi và trầm lắng xuống bởi lối phát âm Ailen, mà những năm dài lưu lạc nơi đất khách quê người vẫn không làm mất đi được. Toàn bộ tính cách dường như hiện rõ trong giọng nói của chàng, lúc dịu dàng lôi cuốn khi cần phải thuyết phục ai đó điều gì, lúc lại rắn rỏi đanh thép như mệnh lệnh cần buộc ai đó phục tùng. Vẻ ngoài của Blood cũng đặc biệt: cao dong dỏng, xương xương, nước da rám nắng như người Bôhêmiêng. Bên dưới cặp lông mày đen nhánh thẳng tắp là đôi mắt điềm tĩnh nhưng sắc sảo, trông xanh đến lạ lùng trên khuôn mặt ngăm ngăm. Cả ánh mắt, cả chiếc mũi thẳng đều hài hoà với cái miệng rắn rỏi cương nghị. Chàng mặc đồ đen phù hợp với nghề nghiệp của mình nhưng vẫn toát lên vẻ tao nhã, chứng tỏ óc thẩm mỹ lành mạnh của chàng. Tất cả cho thấy cái chất của Blood vẫn là một người tìm kiếm những chuyện phiêu lưu như xưa hơn là một thầy thuốc mực thước bây giờ. Chiếc áo camisole của chàng được may bằng da camelot mỏng thêu những dải chỉ bạc ở cổ tay, còn cổ áo lót những mảnh đăng ten Brabant xếp nếp. Bộ tóc giả mầu đen bồng bồng được uốn chải kỹ càng như tóc giả của bất kỳ một ông lớn nào ở Oaitơhôn. Nhìn kĩ Blood, bất giác ta phải tự hỏi: một con người như vậy liệu có ở lâu được cái xó yên tĩnh này, nơi sáu tháng trước cuộc đời đã tình cờ xô đẩy chàng đến hay không? Chàng có thể theo đuổi lâu dài cái nghề nhân đạo mà chàng đã được tiếp thụ ngay từ buổi đầu cuộc sống tự lập của mình hay không? Tuy nhiên, khi bạn đã được biết cuộc đời Blood, không chỉ quãng đời đã qua mà cả quãng đời sắp tới nữa, thì bạn sẽ tin - tất nhiên không phải dễ dàng - rằng nếu không có sự trớ trêu của số phận mà chàng sắp phải nếm trải ngay sau đây thì rất có thể chàng đã tiếp tục cuộc đời bình lặng trong một thị trấn yên lành miền Xomơxetsiơ này, hoàn toàn thoả mãn với địa vị khiêm nhường là thấy thuốc tỉnh lẻ của mình. Rất có thể là như thế… Blood là con trai của một thầy thuốc Ailen và một người đàn bà quê ở quận Xomơxetsiơ. Trong huyết quản của bà, như tôi đã nói ở trên, là dòng máu của những kẻ ngang dọc hải hồ không mệt mỏi và chắc điều đó đã giải thích cho cái khí chất ít nhiều xốc nổi sớm xuất hiện ở Pitơ. Những dấu hiệu đầu tiên của nó đã làm cha chàng, một người Ailen ôn hoà hiếm thấy, phải thực sự lo ngại. Ông đã định sẵn là trong việc chọn nghề, nhất thiết cậu bé phải theo nghiệp nhà. Và Blood, vốn sẵn năng khiếu lại thêm thói ham học nên đã làm ông bố vui lòng. Hai mươi tuổi đầu chàng đã đỗ cử nhân y khoa đại học Ðablin. Sau khi nhận được cái tin mừng ấy, cha chàng chỉ sống thêm ba tháng nữa (bà mẹ thì đã mất trước đó mấy năm) và thế là Pi-tơ, thừa hưởng vài trăm pound sterling của bố để lại, liền lên đường đi chu du thiên hạ để thoả chí bay nhảy của mình. Những hoàn cảnh thú vị đã đưa chàng đến đầu quân cho người Hà Lan, lúc này đang chiến tranh với nước Pháp, và tình yêu biển cả đã lôi kéo chàng vào hạm đội hải quân. Ðược đích thân de Ruyter lừng danh phong hàm sĩ quan, chàng đã tham dự trận thuỷ chiến trên Ðịa Trung Hải, trong lần viên đô đốc nổi tiếng kia tử trận. Quãng đời của Blood sau khi kí kết đình chiến Njimegen thì chúng tôi hầu như không hay biết gì hết. Tuy vậy, chúng tôi đã nghe nói Blood đã bị giam hai năm trong nhà tù Tây Ban Nha, nhưng vì sao chàng bị bắt vào nơi đấy thì chúng tôi không được rõ. Có lẽ chính vì thế mà vừa chân ướt chân ráo ra khỏi nhà tù, Blood đã tìm đến đầu quân cho người Pháp; và trong hàng ngũ quân đội Pháp, chàng đã tham dự các trận đánh trên lãnh thổ Hà Lan, lúc này đang bị quân Tây Ban Nha chiếm đóng. Cuối cùng năm ba mươi hai tuổi, khi đã thoả cái khát vọng phiêu lưu vẫn đeo đuổi mình, hơn nữa cảm thấy sức khoẻ có phần suy sụp sau lần bị thương không được kịp thời chạy chữa, đột nhiên chàng thấy nhớ quê hương da diết và thế là chàng xuống tàu thuỷ ở Năngtơ để trở về Ailen. Thế nhưng, trong chuyến đi này sức khoẻ của Blood giảm sút trông thấy và khi con tàu bị bão đánh dạt vào vịnh Bitgiơoatơ, chàng quyết định lên bờ vì hơn nữa, đây còn là quê ngoại của chàng. Thế là vào tháng giêng năm 1687 Blood đã đặt chân lên Bitgiơoatơ, trong túi vẫn chỉ có khoảng ngần ấy tiền như cách đây mười một năm, lúc chàng rời Ðablin đi chu du thiên hạ. Blood đã thấy thú cái nơi mà mình vừa trôi dạt đến. ở đây, sức khoẻ của chàng đã mau chóng bình phục. Sau rất nhiều cuộc phiêu lưu, mà một người khác khó lòng trải hết trong suốt cả cuộc đời, Pitơ quyết định buông neo bắt rễ ở thị trấn này và trở lại với nghề thầy thuốc mà chàng đã dứt bỏ để đổi lấy một món lợi chẳng đáng là bao. Ðó là bản tiểu sử tóm tắt của Blood, hay đúng hơn là một phần của nó, cái phần sẽ chấm dứt vào đêm nổ ra trận đánh ở Xegiơmua, nửa năm sau ngày chàng đặt chân lên Bitgiơoatơ. Cho rằng trận đánh sắp tới chẳng dính dáng gì tới mình - mà thực ra thì đúng là thế - và hoàn toàn dửng dưng trước niềm phấn khích đang bao trùm khắp Bitgiơoatơ đêm ấy, Blood đi nằm sớm. Chàng đã ngủ say, khi còn khá lâu mới đến mười một giờ, là giờ mà như các bạn đã biết, Mônmút dẫn đầu toán quân khởi loạn theo con đường đi Brixtôn, vòng qua đầm lầy đánh vu hồi vào đội quân binh triều đình đang đóng trại ở phía sau. Các bạn cũng biết rằng cái ưu thế về quân số của quân khởi loạn và chút ít lợi thế vì họ có khả năng đánh úp quân triều đình - lúc đó đang ngái ngủ - đã chẳng đem lại ích lợi gì do lỗi của kẻ cầm quân, và Mônmút đã thua trận ấy ngay từ trước khi bắt đầu giáp chiến. Trận chiến đấu nổ ra vào khoảng hai giờ đêm. Blood không nghe thấy tiếng pháo từ xa vọng lại. Mãi gần bốn giờ sáng, khi trời đã rạng xua tan sương mù trên bãi chiến trường ảm đạm, thì giấc ngủ yên lành của chàng mới bị phá ngang. Blood ngồi trên giường, cố dụi mắt cho tỉnh ngủ. Cửa nhà chàng bị đập mạnh, có người đang hét lên những tiếng gì đó đứt quãng. Tiếng ồn ào ấy đã làm Pi-tơ thức giấc. Ngỡ rằng người ta gọi mình đến thăm bệnh gấp cho một phụ sản nào đó, chàng khoác vội chiếc áo choàng mặc đêm, xỏ chân vào đôi dép và chạy ra khỏi phòng đến nỗi va phải bà Baclâu ở cầu thang. Cuống cuồng bởi tiếng ầm ĩ bà ta không còn hiểu đầu đuôi gì mà cứ đi lại lăng xăng. Blood nói cho bà yên lòng và đi xuống mở cửa. Ngoài đường, trong ánh bình minh vàng rực là một chàng trai mặc bộ quần áo rách toạc và bê bết bùn đất. Anh ta thở hổn hển, đôi mắt loang loáng kích động. Con ngựa đứng bên cạnh anh ta mình sủi đầy bọt. Chàng trai mở miệng, nhưng hơi thở đứt đoạn, không thốt lên nổi một lời. Blood nhận ra đó là anh chàng lái tàu trẻ tuổi Jêrêmy Pit, cậu cháu của các cô gái nhà đối diện. Cả phố bị những tiếng ầm ĩ của anh chàng thuỷ thủ đánh thức dậy: cửa sổ, cửa ra vào mở toang và từ trong đó lố nhố những người hàng xóm lo âu đang ngơ ngác ngó ra. - Bình tĩnh, bình tĩnh nào - Blood nói - Hấp tấp thì chẳng bao giờ được việc gì đâu. Nhưng đôi mắt anh chàng kia vẫn đầy vẻ sợ hãi, thậm chí kinh hoàng, và anh ta không để ý gì đến lời Blood nói. Vừa ho vừa thở hổn hển, rốt cuộc anh ta lên tiếng: - Huân tước Hinđoi bị trọng thương... lúc này đang ở trang trại Oglơthopơ... bên bờ sông... tôi đã đưa ngài về đó... ngài sai đi gọi ông. Ông đi nhanh lên... Nhanh lên mới được! Anh ta nhào đến, định lôi tuột Pi-tơ đi, bất kể lúc ấy chàng đang mặc áo choàng đêm và đi dép trong nhà. Nhưng Blood đã tránh được đôi tay đang vươn ra chực tóm lấy mình. - Tất nhiên tôi sẽ đi - chàng nói - nhưng không phải ăn mặc thế này. Blood rất áy náy, lord Hindoi đã đỡ đầu chàng suốt từ ngày chàng đến Bitgiơoatơ. Blood muốn bằng cách nào đó đáp lại lòng tốt của ngài đối với mình và chàng khổ tâm thấy dịp ấy đến trong một hoàn cảnh đáng buồn như vậy. Chàng biết rõ rằng nhà quí tộc trẻ tuổi kia là một trong những người ủng hộ Mônmút hăng hái nhất. - Tất nhiên tôi sẽ đi - Blood nhắc lại - nhưng trước hết để tôi thay quần áo và lấy theo những thứ cần thiết đã. - Thế thì không kịp mất. - Bình tĩnh nào, bình tĩnh nào. Ta sẽ đến nơi chóng hơn nếu không hấp tấp. Anh vào trong này đợi tôi đã, anh bạn trẻ. Pit khoát tay thoái thác. - Tôi sẽ chờ ở đây. Lạy chúa, xin ông hãy nhanh lên cho! Blood leo nhanh lên thang gác để thay áo quần và lấy túi thuốc. Về tình trạng bị thương của lord Hindoi chàng có thể hỏi trên đường dến trang trại Oglơthopơ. Vừa xỏ giầy Blood vừa nói chuyện với bà Báclâu, nhờ bà làm giúp mấy việc, nhân tiện dặn bà làm bữa trưa mà, than ôi, không bao giờ chàng được đụng đến nữa. Cuối cùng, khi chàng thầy thuốc và bà Baclâu đang càu nhàu như con gà ấp mất ổ bước xuống đường thì chàng trông thấy tay thuỷ thủ trẻ tuổi bị một đám đông dân phố xúm xít bu quanh, ai nấy đều hốt hoảng, quần áo còn chưa kịp mặc. Phần lớn là đàn bà mới vội vã chạy ra hóng tin trận đánh. Chẳng khó đoán Pit đã cho họ biết những tin tức gì, bởi vì cảnh yên tĩnh buổi sáng lập tức tràn ngập tiếng khóc và những lời than thở sầu não. Trông thấy bác sĩ đã ăn mặc gọn gàng với túi thuốc đeo dưới nách, Pit vội rời khỏi đám đông, cố gắng xua đi cơn mệt mỏi và gạt hai bà cô đang giọt ngắn giọt dài bám chặt lấy mình. Nắm lấy cương ngựa, anh ta nhảy phắt lên yên. - Ta đi thôi! - anh ta hét - ông ngồi lên phía sau tôi! Không nói một lời, Blood làm theo và Pit lập tức thúc ngựa. Ðám đông dãn ra, Blood ngồi trên mông con ngựa bị oằn xuống vì sức nặng của hai người. Ôm thắt lưng của người bạn đường, chàng bắt đầu chặng đời ba chìm bảy nổi của mình. Anh chàng Pit mà Blood chỉ coi là người đưa tin của một loạn quân bị thương, ngờ đâu lại là tín sứ của số mệnh. ... Mời các bạn đón đọc Cuộc Đời Chìm Nổi của Thuyền Trưởng Blood của tác giả Rafael Sabatini.
Chị Em Thù Hận - Janet Dailey
Janet Anne Haradon Dailey (21/5/1944 - 14/12/2013) là một tác giả Mỹ về nhiều tiểu thuyết lãng mạn với bút danh Janet Dailey. Các tiểu thuyết của cô đã được dịch sang hơn 90 ngôn ngữ và đã bán được hơn 300 triệu bản trên toàn thế giới. Dailey vừa là một tác giả vừa là một doanh nhân. Dailey luôn muốn trở thành một nhà văn và yêu sách. Ba chị gái của bà thường đọc cho bà khi còn là một đứa trẻ. Đến năm 4 tuổi, bà đã có thẻ thư viện riêng của mình.  Bà tốt nghiệp năm 1962 tại Trường Trung học Jefferson ở Independence, Iowa và làm việc cho một công ty xây dựng thuộc sở hữu của người chồng tương lai của cô, Bill Dailey, hơn bà 15 tuổi. Hai người tiếp tục làm việc cùng nhau, thường dành 17 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần làm việc và kết hôn năm 1964. *** Các tác phẩm của bà đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam, bao gồm: Bến Hẹn Chị Em Thù Hận Chỉ Vì Yêu Chuyện Tình Dưới Nhành Cây Tầm Gửi Con Đường Đêm Điểm Hẹn Của Tình Yêu Giông Tố Thảo Nguyên Hai Chị Em Hoa Thảo Nguyên Khung Trời Quyến Rũ Ngôi Sao Đơn Độc Ngựa Hoang Sự Lựa Chọn Cuối Cùng Tình Địch (The Rivals In Love) Vũ Hội Hoá Trang *** Dạo này hết truyện Tàu hấp dẫn, tôi lại lượn một vòng qua truyện Tây, cuối cùng là dừng lại ở cuốn tiểu thuyết tình cảm đầu tiên (kể cả Tây lẫn Tàu) mà tôi đọc. Tôi nhớ đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi đọc sau khi tôi bắt đầu học đại học, và đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên tôi mượn ở Thư viện Tổng hợp Tp.HCM. Bản lúc đó tôi đọc khá cũ kỹ, và có một số trang đã bị xé bỏ. Mãi sau đó vài năm tôi mua cuốn truyện này khi tái bản thì tôi mới biết là mấy trang đó là mấy trang có đôi chút nóng bỏng, tính ra cũng chẳng đáng kể gì nếu so với những truyện được xuất bản mấy năm gần đây. Truyện này nội dung không phức tạp lắm, nhưng nó không hẳn là truyện chỉ có yêu đương nam nữ. Có thể nói là nhân vật chính trong truyện là hai người phụ nữ, Abbie Lawson và Rachel Farr, họ có thể xem gần như là chị em sinh đôi, bởi họ được sinh cùng ngày, giống nhau đến mức đáng ngạc nhiên, và họ có cùng một người cha là Dean Lawson. Dean có một cuộc hôn nhân không hạnh phúc với người vợ chính thức, có một tình yêu lớn của đời ông với một người họa sỹ. Vì nhiều lý do nên ông chọn duy trì cuộc hôn nhân với người vợ nhưng đồng thời ông cũng qua lại với người tình của ông, nhiều người biết điều đó, và quan trọng hơn là những người trong cuộc chấp nhận điều đó. Cho đến một ngày Dean bất ngờ ra đi do một tai nạn sau chuyến đi thăm người con ngoài giá thú là Rachel Farr, người con được thừa nhận của dòng họ Lawson là Abbie Lawson mới biết được sự thật rằng cô không phải là người con duy nhất, và rằng những nghi ngại trước đây trong tình cảm của ông dành cho cô đã được sáng tỏ. Mâu thuẫn giữa hai người con gái càng được đẩy lên cao hơn khi Rachel Farr được thừa hưởng một quỹ ũy thác hàng triệu USD, còn Abbie cùng mẹ của mình được thừa hưởng toàn bộ tài sản hiện có của dòng họ nhưng kèm theo một khoản nợ khổng lồ mà nếu không bán tất cả tài sản ấy đi thì không thể nào thanh toán được khoản nợ ấy. Rachel Farr được sinh ra và ở với mẹ của cô ở California, nơi cách xa dòng họ Lawson, đồng nghĩa với cách xa người cha mà cô yêu quý. Với số lần ít ỏi đến thăm của người cha, cùng với niềm đam mê nghệ thuật của người mẹ, Rachel cô đơn trong cuộc sống suốt 27 năm của mình. Những món quà có giá trị của Dean luôn là những thứ được dùng để khỏa lấp đi sự mặc cảm vì không được gần Rachel, nhưng không ai biết rằng cô lại căm ghét những món quà ấy như thế nào. Tất cả những gì cô muốn chỉ đơn giản là được yêu thương thực sự. Mẹ của Rachel là người có thể từ bỏ tất cả mọi thứ vì đam mê của bà, còn Dean lại có trách nhiệm với gia đình lớn của ông. Rachel luôn cảm thấy bị bỏ lại đằng sau rất nhiều thứ quan trọng hơn, cô không được ai cần đến. Mặc cho cha mẹ cô đều nói rằng cô là đứa con của tình yêu, nhưng cô không cần như vậy, cô muốn được thừa nhận, dần dần Rachel tự ti, mặc cảm và sống trong thế giới lẻ loi một mình cô. Sự ra đi của Dean cùng với gia sản cô được hưởng đã giúp Rachel thực hiện được những ước mơ mà cô hàng theo đuổi. Một kế hoạch về một trang trại ngựa danh tiếng của cô, được bước vào thế giới của Dean, hơn thế nữa cô còn có thể thừa hưởng một cách công khai River Bend – tài sản bao đời của dòng họ Lawson. Lane Canfield đã giúp Rachel có được điều cô mong muốn một cách suôn sẻ hơn, giúp cô thực hiện được các ước mơ của cô dễ dàng hơn, đồng thời cũng cho cô được hưởng những ấm áp từ tình yêu thương thật sự, cho cô một danh phận và một gia đình thực sự. Cuộc sống của Rachel như bước sang một trang mới hoàn toàn, trở thành một bà Canfield mà người ta ngưỡng mộ, có mọi thứ mà người khác mong muốn, không còn là một Rachel trong vỏ ốc của riêng mình nữa.  Abbie Lawson lại hoàn toàn khác Rachel, kể cả hoàn cảnh sống lẫn tính cách. Nếu Rachel nhút nhát, tự ti bao nhiêu thì Abbie lại cứng rắn và tự tin bấy nhiêu. Sự ra đi của Dean cùng với những bí mật được mở toang ra sau đó đã khiến cho thế giới vốn có của Abbie sụp đổ hoàn toàn. Không còn sự sung túc giàu có, cũng không còn River Bend cùng những con ngựa mà cô yêu quý, cuộc sống trước đây của cô đã chấm dứt hoàn toàn. Nhưng có lẽ những vật chất ấy không khiến cho Abbie đau khổ như khi những yêu thương cô đang có và gia đình hạnh phúc êm ấm của cô không như cô tưởng, những tình cảm ấy hóa ra lại giả dối khiến cho Abbie không chịu đựng được. Abbie không chấp nhận được sự phản bội, ngay cả trước khi Dean ra đi. Sự phản bội của người chồng khiến Abbie không băn khoan chút nào khi chọn giải pháp ly hôn, trong khi cha mẹ cô vẫn âm thầm chấp nhận tình trạng đó. Họ thỏa hiệp với phản bội, nhưng Abbie thì không. Abbie yêu thương và kính trọng Dean hơn bất cứ người nào khác, nhưng cô luôn nhận ra sự xa cách của ông dành chô cô, luôn có một thứ gì đó ngăn cách, Abbie luôn cảm thấy ông tìm kiếm điều gì đó ở cô, là ông đang nhìn cố nhưng lại như đang ngắm nhìn một người khác vậy. Sự thật sau đó đến quá nhanh cùng với đau lòng khi Dean ra đi, chật vật cùng với món nợ mà ông để lại, rồi lại chu toàn mọi thứ trong phạm vi tốt nhất có thể, Abbie từ một tiểu thư quyền quý trong giới quý tộc Taxas  rất nhanh chóng đã trở thành một cô gái gần như chỉ có bàn tay trắng. Nhưng trong chính lúc khốn khó ấy Abbie đã gặp được Mac Crea Wilder. Vấp ngã một lần trong hôn nhân của bản thân và những mặt tối trong cuộc hôn nhân của cha mẹ không khiến Abbie mất niềm tin vào tình cảm, nhưng bây giờ tất cả mọi thứ của cô không thể liên quan đến Rachel Farr, mọi thứ liên quan đến cô gái đó đều khiến lòng đố kị của Abbie không thể ngủ yên được. Chính lòng đố kị đó đã che mờ đi rất nhiều thứ khác, bao gồm luôn cả tình cảm mà Mac dành cho cô. Tình cảm của Mac Crea Wilder và Abbie giống như rất nhiều chuyện tình phương Tây khác, đó là sự hấp dẫn về giới tính trước khi có được tình cảm thực sự. Nhưng chỉ có Abbie là khiến Mac lưu luyến mãi không thôi. Cô nồng nhiệt trong tình cảm nhưng đồng thời cũng rất lý trí khi xác định vị trí của mình, cô có niềm đam mê mãnh liệt đối với ngựa nhưng khi phải rời xa River Bend thì cô đã cố gắng để giữ lại được món quà tặng của Dean, cô thông minh nhưng đôi khi mất lý trí chỉ bởi những chuyện chẳng liên quan gì đến nhau, miễn là chuyện đó có liên quan đến Rachel Farr. Không giống như Lane Canfield cho Rachel Farr mọi thứ cô cần, cô mong ước, Mac ở thời điểm gặp Abbie không thể  Abbie điều gì cả ngoại trừ tình cảm của anh. Và Abbie cũng không có vỏ bọc yếu đuối và tự ti của Rachel để khiến anh phải chiều chuộng như Lane đã làm. Abbie ngang ngược và Mac còn hơn thế nữa, nhưng những lúc cô mệt mỏi, cô cần một bờ vai thì anh đã đến bên cô, cho cô dựa dẫm vào bản thân, lặng lẽ canh giấc ngủ cho cô, dịu dàng với cô những lúc cần thiết. Sự đố kị giữa Rachel Farr và Abbie không những giảm bớt đi mà ngày càng sâu đậm hơn. Từ những hụt hẫng về tình cảm mà bấy giờ 2 cô gái mới sáng tỏ, cho đến chênh lệch giữa khoản thừa kế là một quỹ ủy thác và một món nợ khổng lồ, sau đó nữa là ngôi nhà mà bao đời dòng họ Lawson đã sống buộc phải bán để trả nợ và trớ trêu thay là Rachel đã mua nó bằng chính khoản tiền mà cô được thừa kế. Sau tất cả, một tai nạn đã xảy ra và River Bend bị thiêu rụi ngay sau khi Rachel sở hữu. Tất cả những điều đó đã làm cho sự đố kị ấy trờ thành thù hận khó có thể xóa bỏ được giữa 2 người. Mà nạn nhân đầu tiên chính là Mac Crea. Ngay lúc anh hỏi cưới Abbie thì cũng là lúc mối quạn hẹ giữa họ chấm dứt, bởi những mối làm ăn của anh có liên quan đến Lane, đồng thời liên quan đến Rachel. Nhiều năm sau khi tất cả mọi người đều đã bắt đầu yên vị với một cuộc sống mới, Abbie cố gắng làm mọi thứ để có được một trại ngựa của riêng mình, Mac Crea trở thành một triệu phú mới nổi trong giới dầu mỏ, và Rachel với sự giúp đỡ của Lane có thể làm mọi điều với niềm đam mê ngựa đẹp của cô, nhưng mối hận giữa hai cô gái vẫn hiển hiện. Cùng một đam mê về ngựa nên họ không thể tránh được những lần đụng độ nhưng họ biết kìm chế hơn trước. Cuộc hôn nhân giữa Lane và Rachel không được suôn sẻ như trước. Lane mải mê với công việc của ông, những khoảng thời gian trống ông luôn dành cho đứa con trai giữa hai người. Những mặc cảm khi không được ai cần đến lại quay trở về với Rachel, cô yêu Lane nhưng cô cảm thấy đối với ông thì cô không quan trọng đến vậy, ngay cả đứa con trai của hai người cũng xa lánh cô, con của cô nhưng lại sợ ngựa vô cùng. Gia đình ấy mỗi người một thế giới của riêng mình, Lane quay cuồng với công việc, đứa con trai gửi trường nội trú, và Rachel cảm thấy cô đơn trong chính ngôi nhà của mình. Có lẽ sự chênh lệch tuổi tác khiến Rachel và Lane không có được tình yêu nồng cháy như các cặp đôi trẻ khác, ít nhất là trong đời sống tình dục. Sự săn đuổi của Tips khiến Rachel cảm thây xao lòng bởi được chăm sóc, được theo đuổi và được yêu thương trong lúc cô đơn. Quan hệ ngoài luồng ấy dường như là một điều tất yếu sẽ phải xảy ra vậy, Lane biết nhưng ông không ngăn cản sự phản bội ấy, bởi ông biết có những điều ông không thể cho Rachel được, chỉ cần cô yêu ông, và quay về bên ông là được. Abbie có một cuộc hôn nhân toan tính với Dobbie – người hàng xóm yêu cô tha thiết từ thời trung học – để che đậy bào thai đang từ từ lớn lên trong cô. Abbie muốn có đứa bé nhưng cô không chấp nhận quay lại với Mac Crea, cũng không thể làm mẹ đơn thân bởi dòng họ cô có quá nhiều điều để mọi người bàn tán trong thời gian ấy. Dobbie là sự lựa chọn hoàn hảo trong thời điểm ấy bởi anh quá yêu cô. Nhưng cuộc hôn nhân này không thể bền vững được khi mà Dobbie chỉ muốn vợ là một bà nội trợ, keo kiệt trong chi tiêu, trong khi Abbie có niêm đam mê quá lớn đối với ngựa, cô cũng không muốn bó buộc cuộc sống trong bếp. Những tranh cãi của họ luôn xảy ra, và cuộc hôn nhân lúc nào cũng như bên bờ vực.  Mac Crea gặp lại Abbie trong một lần thi ngựa đẹp, sau bao nhiêu năm gặp lại cô thì anh phát hiện ra rằng mình vẫn còn yêu cô nhiều như thế nào. Nhưng lần này thì khác, anh sẽ không để cho cô quyết định chuyện giữa họ nữa, anh muốn cô, và anh muốn có gia đình của mình. Đã qua thời nay đây mai đó, với địa vị hiện tại Mac Crea có thể ở một chỗ, cũng có thể cắt đứt mọi làm ăn liên quan đến vợ chồng Lane Canfield – một điều để đảm bảo mối quan hệ lâu dài giữa anh và Abbie. Có lẽ thực sự Abbie may mắn hơn Rachel khi có được tình yêu của Mac Crea và người bạn già thân thiết Bend. Hai người đàn ông ấy đã giúp cô nhận ra được tình cảm của Dean dành cho cô, xóa bỏ dần những thù hận mà cô dành cho Rachel.  Nhưng Rachel lại không được như vậy, cô có được tình yêu từ 2 người đàn ông nhưng lại vẫn cảm thấy cô đơn. Họ biết cô thù hằn với Abbie, biết rõ nguyên nhân nhưng không một ai kiên quyết khuyên nhủ cô giống như Bend và Mac Crea đã làm đối với Abbie. Và sự thù hận ấy ngày càng ăn sâu nhiều hơn vào trong suy nghĩ của Rachel, để rồi chính sự ghen ghét ấy đã dẫn đến những quyết định sai lầm của cô. Chỉ đến khi chuẩn bị lìa xa thế giới, Rachel mới kịp nhận ra tình yêu của mình ở nơi nào, và thù hận kia không đáng để cô phải trả giá nhiều như vậy. Sau tất cả, Dean đã đến đón cô đi trước. Thực sự truyện này có thể không hay đối với nhiều người, nhưng không hiểu sao tôi cứ ấn tượng mãi với suy nghĩ của 2 nhân vật về tình cảm trong gia đình. Abbie nghĩ rằng trong một gia đình thì những đứa con không thể có được tình yêu đồng đều như nhau từ cha mẹ được. Mac Crea nói với Abbie rằng, cha mẹ yêu mỗi đứa con theo những cách thức khác nhau mà thôi. reviewnovelbygiangkt1.wordpress.com Mời các bạn đón đọc Chị Em Thù Hận của tác giả Janet Dailey.
Cái Bóng - Khôi Vũ
rời mưa rất lớn. Vẫn là một cơn mưa tháng tám miền Đông Nam bộ với những hạt mưa nặng chen chúc nhau dữ dội. Dông gió quấn quít với mưa như đôi nam nữ say tình lăn qua những vòm cây mái nhà ngã nhào xuống những con đường ngang dọc chằng chịt trong khu công nghiệp chẳng còn ai quằn mình chơi trò trốn tìm với sấm chớp ầm ào truy đuổi. Cây đa cổ thụ trước khu văn phòng xí nghiệp sừng sững như một trái núi chỉ thấy những bộ rễ chùm từ trên cao thòng xuống ngả nghiêng theo chiều gió trong khi tàn cây như cái mũ nấm khổng lồ thì chống cự dũng mãnh với cơn mưa. Đột nhiên một tiếng sấm ì oàng xé tai cùng luồng sét lóa mắt phóng thẳng từ trên bầu trời đen kịt và ướt đầm xuống cây đa cổ thụ. Cả cái khối tưởng vững vàng như núi ấy bị xé làm hai mảnh đổ bật ra hai phía. Một nửa của nó ngã đè lên tòa nhà hai tầng của khu văn phòng đúng vị trí một căn phòng rộng phía trên cửa ra vào có tấm bảng nhỏ màu xanh dương nổi lên hai chữ trắng: "Giám đốc". *** Khi cô nhân viên trực tiếp tân hỏi Tư Thanh nói cần ba phòng. Anh nhận ba chùm chìa khóa trao cho cậu lái xe một Út Minh một và giữ lại chùm chìa khóa cuối cùng rồi nói với Chuyên: - Tôi với cậu ở chung phòng... Út Minh hiểu ý chồng trong khi kỹ sư Chuyên không giấu sự ngạc nhiên: - Ồ! Sao lại vậy hả anh Tư? Tư Thanh một tay khoác vai Chuyên một tay xách túi hành lý ghé đầu nói nhỏ với Chuyên: - Tôi với bả ở chung gần hai chục năm nay rồi đêm nay có xa nhau thì đã sao mà cậu phải lo cho tôi! Tư Thanh thử một loạt các thiết bị dùng điện. Đèn trần đèn ngủ đèn toa-lét tủ lạnh ti-vi và cả hai ổ cắm điện trong phòng. Cuối cùng anh mở máy lạnh chọn nhiệt độ 20. - Cậu không ưa lạnh lắm phải không? Vậy cậu nằm ở giường kia bên cạnh cái bàn viết đó. Tôi khoái lạnh để tôi nằm cái giường sát máy lạnh... Chuyên làm theo lời Tư Thanh như một cậu em. Người đàn ông ngoài năm mươi này thời gian gần đây bỗng có nhiều đổi khác. Anh ta hoạt bát hẳn lên so với cũng con người đó trước kia thường trầm lặng. Kỳ bầu cử Hội đồng nhân dân vừa qua sắp xếp lại nhân sự ở văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố Tư Thanh được cử vào nhiệm vụ Phó Văn phòng. Ra thành phố biển Vũng Tàu lần này Tư Thanh là người mời còn Chuyên là khách. "Bọn mình đàn ông với nhau nói chuyện dễ thông cảm hơn". Tư Thanh nói vậy khi điện thoại mời Chuyên đi chơi hai ngày cuối tuần. Anh hỏi lại: "Nhưng sao lại có việc đột xuất này?". Tư Thanh cười trong máy: "Cũng tại cái lá đơn xin nghỉ việc ở Sao Mai của cậu thôi. Này cậu nghe tôi nói đây cậu không được từ chối lời mời của tôi đó!". - Cậu Chuyên! Tụi mình qua rủ bà xã tôi đi tắm biển đi... Tắm xong về ăn cơm mới ngon... Tôi biết có một phố phía bên này là quán lẩu dê phía bên kia là quán lẩu bò rất đông khách ta ra đó sẽ lựa chọn coi ăn món gì... Út Minh lắc đầu: - Hai anh đi tắm với nhau em có biết bơi đâu! Tư Thanh đưa cao bàn tay ngang mặt: - Nhưng đây là lệnh! Đồng chí có nghe lệnh của Phó Văn phòng không thì nói! Hai người đàn ông đứng đợi mười phút dưới sân mới thấy Út Minh xuống. - Sao lại mặc cái áo một mảnh này? Cái hai mảnh đâu rồi? Tư Thanh trêu chọc vợ. Út Minh đập vào vai chồng: - Thôi đi em không giỡn... Ba người băng qua đường là đến bãi tắm. Tư Thanh vẫn hứng thú trong vai trò là "người chỉ huy": - Út Minh mướn phao khoác vào người chỉ ngâm mình sát mép nước cho an toàn. Còn Chuyên cậu với tôi cùng thử sức bơi mỗi người đúng năm trăm sải tay coi ai bỏ cuộc trước... Cứ yên tâm người ta cắm cờ trắng báo hiệu an toàn kia kìa... Út Minh khoác phao và lần bước xuống biển. Trời hôm nay trong xanh nắng mười giờ chưa gắt những con sóng ùa vào người chị chỉ nhẹ nhàng như đùa giỡn. Hai người đàn ông bắt đầu bơi và ít phút sau chị chỉ còn thấy bốn cánh tay vung lên đập xuống... Một ít phút sau nữa chỉ còn hai cánh tay vung tiến về phía trước mà mặc dù khá xa chị vẫn nhận ra đó là Tư Thanh... Ba người ngồi trên bãi cát ăn ghẹ. - Cái món này thì không thể uống với Sài Gòn xanh theo gu của cậu được. Làm đỡ một chung rượu chuối hột đi Chuyên! Tư Thanh "chủ xị" ép vợ nhấp môi đến hai lần. - Cậu thấy không Chuyên khi bơi đầu óc mình thật thanh thản. Không còn kính thưa kính gửi lúc họp hành. Không còn điểm cao điểm thấp của con cái. Không có những bữa tiệc xã giao lắm khi vô bổ... Chỉ có đôi tay vung đập sóng để tiến về phía trước của chính mình... Út Minh nhìn chồng: - Bữa nay anh triết lý "hơi bị nhiều" đó... - Triết lý à? Không đâu bà xã của tôi ơi! Thực tế cuộc đời đó chớ. Để tiến tới cái đích của mình phải tập trung sức vào đôi tay phải gạt ra hai bên những gì ngăn trở... Cậu thấy tôi nói có trúng không hả cậu Chuyên? Út Minh nhìn Chuyên với cái nhìn nhiều ý nghĩa. *** Buổi chiều ba người thả bộ dọc bờ biển. Họ đi từ nhà nghỉ hướng về phía ngọn núi trên đỉnh có tượng Chúa đứng giăng tay. Chuyên kể: - Từ vị trí đó bắt đầu con đường vòng quanh biển được xếp hạng là đường đô thị đẹp nhất Việt Nam. Út Minh đề xuất: - Vậy thì chiều nay ăn cơm xong mình lấy xe chạy một vòng trên con đường đó... Tư Thanh không tham gia vào câu chuyện mà chú ý nhìn con đường lát gạch dưới chân mình. Hồi lâu anh nói với Chuyên và vợ: - "Quý vị" thử nhìn xuống đây coi những viên gạch tàu này có gì khác lạ không? - Mặt viên gạch bị rỗ vì sóng gió biển? - Út Minh trả lời. - Đúng! Thế còn những viên đá kè kia thì sao? - Không có gì khác cả! - Đến lượt Chuyên. - Đúng! Thế "quý vị" rút ra được điều gì? - "Triết gia" nói trước đi... Tư Thanh cười hà hà: - Lần này thì đành làm "triết gia" vậy. Cái "triết lý" này nôm na dễ hiểu thôi: ở nơi đầu sóng ngọn gió thế này phải là những viên đá mới vững vàng theo năm tháng được... Nghĩa là... nghĩa là em đó Út Minh em hãy coi chừng mình chỉ là những viên gạch tàu... Út Minh không bỏ lỡ cơ hội: - Sẽ không sao đâu "triết gia" ạ. Nếu bên cạnh em có những viên đá bảo vệ vững vàng như anh Chuyên... Chuyên bật cười: - Người ta nói "Chồng tung vợ hứng" quả không sai. Tôi hiểu ý ông bà rồi... Nhưng thôi chuyện gạch tàu đá núi hãy tạm gác lại tôi mời đi uống cà phê "quý vị" thấy thế nào? *** Mười giờ đêm ở khách sạn biển đã lặng thinh. Út Minh nằm một mình trên chiếc giường nệm đắp tấm mền mỏng màu nâu nhạt đến ngang ngực. Ti-vi không có gì để chị thích coi. Chị gọi điện về nhà hỏi thăm hai đứa con rồi mới yên tâm nhắm mắt tìm giấc ngủ. Giờ này không biết ở phòng bên hai người đàn ông đã ngủ chưa hay vẫn còn tâm sự. Liệu Tư Thanh có thành công trong việc thuyết phục kỹ sư Chuyên rút đơn xin nghỉ việc và nhận quyết định bổ nhiệm Phó giám đốc Sao Mai giúp chị như chồng chị đã hứa hay không... Sau những chiếc máy ND6 của loạt sản xuất đầu tiên đến tay bà con nông dân nuôi tôm trong tỉnh tiếng khen đồn xa và sản phẩm này đã được cả bà con ở những tỉnh miền cực Nam Trung bộ cùng miền Tây Nam bộ đặt hàng. ND5 thì vừa được hai nước ở châu Phi ký hợp đồng mua với số lượng lớn. Công nhân làm không hết việc phải tăng ca thu nhập cũng tăng theo. Phòng kỹ thuật lại vừa báo cáo sắp cho chạy thử máy mới ND7... Trong những thành công ấy của Sao Mai công sức đóng góp của kỹ sư Chuyên rất lớn. Nếu anh vắng mặt ở Sao Mai thì quả là thiệt thòi cho xí nghiệp và cả ngành sản xuất cơ khí của tỉnh. Chị nhớ lúc ngồi trên xe đi dạo quanh con đường đô thị đẹp nhất Việt Nam ở Vũng Tàu Tư Thanh có nói với Chuyên: "Tôi thấy cậu mâu thuẫn lắm đó nha! Út Minh kể với tôi rằng cậu thường khuyên cô ấy phải cứng rắn phải bản lĩnh để vượt qua chính mình khi gặp khó khăn trong công việc tôi coi bộ thời gian qua cô ấy cũng kha khá tiến bộ rồi. Nhưng cậu lại làm khác điều mình nói. Tại sao cậu lại tự ý rút lui đúng lúc mọi người ủng hộ mình?"... Út Minh chờ nghe Chuyên trả lời nhưng anh chỉ im lặng... Từ xa có tiếng động cơ xe gắn máy vang lên rồi nhỏ dần. Đêm đã khuya hơn. Út Minh nghiêng người theo thói quen và nhận ra mình đang nằm một mình bên cạnh không có Tư Thanh. Chị ao ước có anh bên cạnh ngay lúc này. Chị biết chắc rằng sẽ chẳng có tiếng gõ cửa nào trong đêm nay để khi chị ra mở cửa sẽ thấy người đứng bên ngoài là Tư Thanh. Nhưng Út Minh vẫn mong ước nghe được tiếng gõ cửa của chồng... Mời các bạn đón đọc Cái Bóng của tác giả Khôi Vũ.
Bước Giang Hồ Của Thuyền Trưởng Blood - Rafael Sabatini
Rafael Sabatini (1875-1950) mang trong mình hai dòng máu, Italy và Anh. Có thể nói, Chim ó biển là một dấu son chói lọi trong sự nghiệp sáng tác của ông. Cùng với Scaramouche - Kiếm sĩ không trái tim, Này chiến trận, này cuồng si,… đây là một trong những tác phẩm đưa tên tuổi ông sánh ngang hàng cùng các bậc tiền bối của thể loại tiểu thuyết “áo choàng và thanh kiếm” như Dumas, Scott. *** Cuốn nhật ký tàu do Jeremy Pitt để lại đã kể về cuộc đối đầu dai dẳng giữa Peter Blood với thuyền trưởng Easterling, kẻ được số phận dùng làm công cụ định đoạt vận mệnh của các tù nhân đã cướp tàu "Cinco Llagas" để chạy trốn khỏi Barbados. Những người này chỉ còn biết trông đợi vào vận may. Giá như lúc đó gió mạnh lên hay yếu đi một tí hoặc hướng gió thay đổi một tí thì cuộc đời họ rất có thể đã bị ngoặt sang ngả khác rồi. Số phận của Peter Blood hẳn là do cơn bão tháng mười nọ định đoạt. Cơn bão này đã xô đẩy chiếc xà lúp mười pháo của thuyền trưởng Easterling vào vịnh Cayona 1 nơi con tàu "Cinco Llagas" lững lờ buông neo đã gần một tháng ròng. Thuyền trưởng Blood đang cùng những người chạy trốn với mình trú lại trong cái sào huyệt cướp biển trên đảo Tortuga này vì biết rằng họ có thể ẩn náu tạm ở đây khi chưa quyết định được tiếp theo nên làm gì. Họ chọn bến này vì trong vùng biển Caribe thì đó là nơi duy nhất họ sẽ không bị quấy nhiễu bởi những câu hỏi khó chịu. Không một vùng dân cư nào của Anh lại chịu bỏ qua quá khứ của họ để chứa chấp họ. Với Tây Ban Nha thì họ bị coi là kẻ thù bất cộng đới thiên không chỉ bởi họ là người Anh mà chủ yếu là vì họ đang chiếm giữ một chiếc tàu Tây Ban Nha. Họ sẽ không cảm thấy an toàn trong bất kỳ một thuộc địa nào của Pháp bởi lẽ giữa Pháp và Anh đã có một thỏa ước mà theo đó cả hai bên có trách nhiệm phải bắt giữ và dẫn về nguyên xứ những tên tù trốn. Chỉ còn lại Hà Lan giữ trung lập. Nhưng Peter Blood cho rằng tình trạng trung lập đó đầy những bất ngờ bởi vì nó để mặc mọi bên tự do hành động. Bởi vậy chàng đã tránh xa vùng bờ biển thuộc Hà Lan cũng như những khu định cư khác và đưa tàu thẳng đến đảo Tortuga của Công ty Tây Ấn thuộc Pháp và trên danh nghĩa là đất Pháp, song chỉ là danh nghĩa thôi, thực chất nó không thuộc một nước nào nếu "Hải hồ huynh đệ " như bọn hải tặc tự xưng - không được coi là một quốc gia. Ít ra luật pháp của Tortuga cũng không hề ngáng trở luật lệ của đám cường khấu hùng mạnh đó. Chính phủ Pháp đã tỏ ra lưu tâm che chở những kẻ ngoài vòng pháp luật ấy để rồi họ sẽ giúp lại nước Pháp kìm bớt lòng tham của Tây Ban Nha. Do vậy, ở Tortuga, những kẻ đào thoát bị kết án phản loạn kia đã cặp bến bình an trên con tàu "Cinco Llagas" cho tới khi Easterling đến quấy phá sự bình yên đó, buộc họ phải hành động và mưu tính cho tương lai - điều mà, nếu không có hắn, họ hẳn còn tiếp tục trì hoãn. Tên thuyền trưởng Easterling này - ghê tởm như bất cứ tên vô lại nào trong vùng biển Caribe - chở theo mấy tấn ca cao vừa cướp được từ một chiếc thương thuyền Hà Lan từ quần đảo Antilles về nước. Chiến tích này ngay sau đó hắn thấy đã không làm hắn đẹp mặt hơn, bởi lẽ trong con mắt của tên cướp biển ấy vinh quang được đo bằng giá trị của món đồ cướp được, mà món lợi này thì quá nhỏ nhoi, không đủ sức nâng cao cái giá trị vốn đã thấp kém của hắn trong giới "Hải hồ huynh đệ". Giá Easterling biết trước rằng trên chiếc thương thuyền Hà Lan kia của cải chỉ có vậy thì hắn đã để nó đi yên lành rồi. Nhưng sau khi đã áp mạn bắt được chiếc tàu hàng, Easterling cho rằng bổn phận đối với đám lâu la dưới quyền buộc hắn phải chiếm lấy những gì nhặt nhạnh được. Nếu trên tàu không còn gì đáng giá hơn ca cao thì dĩ nhiên là do cái số không may, hắn nghĩ vậy. Vận xui này gần đây cứ lẵng nhẵng bám theo hắn, khiến hắn ngày càng khó thu mộ bọn tay chân hơn. Ngẫm nghĩ về điều đó và mơ đến những chiến tích vĩ đại, hắn đưa chiếc xà lúp "Bonaventura" của mình vào vịnh Tortuga nằm khuất sau các vách đá dường như chính thiên nhiên đã dành nó làm nơi đậu tàu chắc chắn. Những vách đá dựng đứng chắn hai đầu cái vịnh hẹp, muốn vào được bên trong phải đi qua hai eo nhỏ - đòi hỏi tài nghệ của một hoa tiêu lão luyện mới qua lọt. Bàn tay con người lại làm tiếp công việc của tạo hóa, dựng lên ở đó một pháo đài dữ tợn án ngữ lối vào: pháo đài Chóp Núi. Bến cảng này đã bị bọn cướp biển Pháp và Anh biến thành sào huyệt của mình, từ đấy chúng tha hồ ngang nhiên thách thức sự hùng cường của vua Tây Ban Nha, tên vua mà chúng căm ghét hơn cả vì đã xua đuổi, bức hại chúng, biến chúng từ những dân cư hiền lành thành cướp biển hung hãn. Nhưng vừa vào đến vịnh, Easterling đã quên hết những mơ mộng của mình, điều đang biểu hiện trước mắt hắn còn lạ lùng hơn cả giấc mơ. Điều phi thường kia là hình dáng một chiếc tàu lớn màu sơn đỏ thắm, ngạo nghễ vượt lên trên những chỉếc thuyền nhỏ bé như một con thiên nga trong đàn ngỗng. Lúc đến gần hơn, Easterling đọc thấy dòng chữ vàng to tướng ở mạn tàu: CINCO LLAGAS CADIZ ... Mời các bạn đón đọc Bước Giang Hồ Của Thuyền Trưởng Blood của tác giả Rafael Sabatini.