Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Istanbul - Hồi Ức và Thành Phố

“Tôi nghĩ tôi sẽ viết “Hồi ức và Thành Phố” trong sáu tháng, nhưng lại mất đến một năm để hoàn thành nó. Và tôi đã làm việc 12 tiếng mỗi ngày, chỉ đọc và làm việc. Cuộc đời của tôi, vì rất nhiều nguyên do, đang ở trong cơn khủng hoảng. Tôi không muốn đi sâu vào từng chi tiết: ly hôn, cha tôi chết, vấn đề chuyên môn, rắc rối chỗ này, rắc rối chỗ kia, mọi thứ đều tệ. Tôi nghĩ nếu lúc đó tôi yếu đuối, có lẽ tôi đã rơi vào trầm cảm. Nhưng mỗi ngày tôi đều dậy và tắm nước lạnh và ngồi xuống và nhớ lại và viết, tôi luôn chú ý đến vẻ đẹp của cuốn sách. Thành thực mà nói, có lẽ tôi đã làm tổn thương mẹ tôi, gia đình tôi. Cha tôi đã chết, nhưng mẹ tôi còn sống. Nhưng tôi không thể quan tâm đến điều đó, tôi phải quan tâm đến vẻ đẹp của cuốn sách.” Orhan Pamuk đã trả lời với tờ Wild River Review như vậy khi nói về khoảng thời gian ông viết quyển “Istanbul: Hồi ức và Thành Phố” – một quyển kí dày, 37 chương, về thành phố của ông. Orhan Pamuk viết lại tất cả những gì của chính ông, từ năm ông ra đời (1952), với những gì ông nhìn thấy, sự thay đổi xung quanh, người ông gặp, cuộc trò chuyện với mẹ, sự yên lặng của bà hay những bữa tiệc buồn tẻ nào đó. Ở giữa các chương viết, Orhan Pamuk phác thảo lại toàn bộ Istanbul của ông, từ hàng trăm năm trước, qua tay các nhà thơ, nhà báo, qua tay những người bán hàng, qua vịnh Bosphorus, từ những tiểu tiết trên tranh vẽ. “Istanbul” chứa tư liệu đầy ắp, so sánh liên tục, các ý tưởng sắp xếp cực kì ngăn nắp, chú thích rạch ròi trong từng đoạn viết. Orhan viết về vịnh Bosphorus của ông, một vịnh biển khi nhìn ra có thể thấy những dinh thự bằng gỗ đẹp tuyệt vời, nơi xưa kia là chốn ngự của những pasha quyền lực cai quản thành phố. Các toà nhà ấy cũ dần đi, mủn đi, trong kí ức có cả những người hàng rong lái thuyền đi bán trái cây, các món đồ thú vị… và Bosphorus nơi người ta đang phá dần đi và xây nên những toà nhà mới kiểu Tây, hào nhoáng, lấp lánh. Orhan lúc ấy chỉ còn là một đứa bé, nhớ rằng bác sĩ dặn mẹ hãy đưa mình ra vịnh để thở khí trong lành và khỏi bệnh. Sau tất cả những khắc hoạ chi tiết, tư liệu lịch sử, ông viết rằng: “… có một chuyện chẳng hề thay đổi: chỗ mà Bosphorus chiếm ngự ở trong trái tim cộng đồng của chúng tôi. Như khi còn nhỏ, chúng tôi vẫn coi nó như là một sự đảm bảo cho sức khoẻ tốt lành, một thứ linh dược khi lâm bịnh, một suối nguồn vô tận của điều tốt điều thiện, những gì gìn giữ thành phố và các cư dân của nó.” Trong suốt quyển sách, người đọc có thể tìm thấy Orhan tả vịnh Bosphorus, tả giáo đường Suleymaniye, tả ngoại ô Istanbul, tả bến cảng với thuyền đi qua ban đêm, tả những ngôi nhà yah đẹp huy hoàng một thời, những ngõ hẻm, trời tối… và khi đọc, người ta có thể tưởng tượng ra hình ảnh như thể ta đứng đó, với cảm giác của ông, với các chi tiết rõ ràng, mạch lạc, với cả mùi hơi nước, mùi khói, hay khí lạnh… Bên cạnh các chương kể về thành phố, Orhan Pamuk viết về những người đã biến Istanbul thành một vẻ đẹp có lịch sử, bằng tranh vẽ, thơ ca, văn học hay các bài báo. Có rất nhiều phần trong sách, Orhan nói lên nỗi khốn khổ của những nhà nghệ sĩ này. Họ ở một thành phố kì quặc, có một nửa Tây hẳn và một nửa mang đầy khí chất phương Đông. Orhan tả lại nỗi khổ sở của nhà thơ Yayah Kemal, nhà văn Abdulhak Sinasi Hisar, nhà văn Ahmet Hamdi Tanpinar, nhà sử học Resat Ekrem Kocu khi họ phải chọn cho mình một phong cách sáng tác. Họ học cái hay của các nhà thơ, nhà văn Pháp, họ thử viết, họ thấy không hợp với cái mùi phương Đông của Istanbul, rồi họ chọn cho mình một thứ: nỗi buồn của Istanbul và cứ thế xoáy sâu vào nó và được lưu danh vì những gì họ giữ lại cho thành phố này sau hàng chục năm phôi pha và biến đổi. Ông cũng nói về nỗi đau khổ của họ, những người bị nền Cộng Hoà kiểm duyệt gọi tên là “phản động” rồi kết thúc cuộc đời trong bi kịch: “… cả bốn ông nhà văn này buồn bã này sống và chết, một mình, chẳng bao giờ lấy vợ. Ngoại trừ Yayah Kemal, ba ông kia chết mà không thực hiện được giấc mơ của họ. Không chỉ là chuyện họ để lại đằng sau những tác phẩm chưa hoàn tất, mà ngay cả những cuốn sách được xuất bản khi họ còn sống cũng chẳng bao giờ với tới được các độc giả mà những nhà văn này tìm kiếm. Riêng Yayah Kemal, nhà thơ lớn lao nhất và ảnh hưởng nhiều nhất của thành phố Istanbul, suốt cuộc đời, ông từ chối cho xuất bản bất cứ tác phẩm nào của ông.” Dường như bóng ma kiểm duyệt của nền Cộng Hoà đã xâm lấn và huỷ hoại rất nhiều nghệ sĩ yêu thành phố này. Nhưng ở chương 15, Orhan lại nói về Ahmet Rasim, một người giữ chuyên mục báo đã viết về Istanbul bằng một thái độ vui vẻ, bình thản, trước sự kiểm duyệt tàn nhẫn đến đau lòng của nền chính trị. Ahmet Rasim dành 50 năm để viết về những gì xảy ra ở Istanbul, từ những tay nghiện rượu, đến dân bán hàng rong, khu phố nghèo, cửa hàng tạp hoá, phiên chợ, các món hàng… Ahmet Rasim từng nói: “Nếu những cấm đoán chính trị và sự thiển cận khiến bạn không tìm ra thứ gì để nói, hãy nói về hội đồng thành phố và cuộc sống ở thành phố, bởi vì mọi người luôn thích đọc mấy thứ này.” Orhan đã dành rất nhiều bài viết để ca ngợi những con người lao động miệt mài, bình tĩnh, người vẽ tranh, người viết từ điển, nhà thơ, nhà báo… đã kiên trì và bình tĩnh sống để viết về Istanbul trong sự ngột ngạt và đau đớn của nó. Có người kháng cự, có người ẩn nấp, có người cự tuyệt, lại có người cười khẩy vào mặt nó… nhưng tất cả họ đều cặm cụi sáng tác, nghiên cứu, viết để giữ lại một Istanbul đang dần đổ lụi vì những toà dinh thự đã quá cũ kĩ, vì thành phố đang méo mó đi bởi những kẻ xây dựng nó một cách kì quái và thô bạo. Orhan viết những điều này trong một nỗi buồn trong suốt và xuyên qua cả trang viết. “Chẳng làm gì có những tàn dư đế chế vĩ đại như vậy ở các đô thị Tây phương, được gìn giữ như viện bảo tàng lịch sử và được trưng bày một cách hãnh diện. Người dân của Istanbul cứ thế mà sống giữa những điêu tàn, hoang phế. Nhiều nhà văn, nhà du lịch Tây phương coi đây là một điều dễ thương vô cùng. Nhưng đối với những cư dân mẫn cảm, thân quen hơn, các tàn dư đế chế nhắc nhở họ rằng thành phố hiện nay quá nghèo, quá xô bồ, và thật vô phương nếu mơ ước sẽ có một ngày lại hiển hách như xưa, về những mặt giàu sang quyền uy và văn hoá. Thật khó mà tự hào về những căn nhà xiêu vẹo, đổ nát, bị bỏ bê, dơ dáy, bùn và bụi bám đầy, và thật đẹp làm sao, khi còn là một đứa nhỏ, những lần tôi đứng nhìn chúng bị lửa thiêu rụi từng chiếc một.” hay: “Bởi vì hình ảnh mà người dân Istanbul ôm ấp trong mình về thành phố thân yêu trong thế kỷ đã qua là hình ảnh một đứa trẻ nghèo đói, bị thất trận, bị tủi nhục, và cái còn lại chỉ là điêu tàn. Khi tôi mười lăm tuổi, tập tành vẽ những bức hoạ đầu tiên của mình, nhất là khi vẽ những con phố nhỏ của thành phố, tôi cảm thấy xốn xang tự hỏi nỗi buồn của chúng tôi sẽ dẫn dắt chúng tôi tới mãi đâu.”    Một phần khác được Orhan viết là những chuyện riêng của ông. Ông viết về cha mẹ mình, bà nội, cô chú, ngôi nhà yah sang trọng của dòng họ quý tộc nhà ông (đã hết thời) giờ chỉ là những cái hốc được ngăn ra cho cả dòng họ đu bám vào – gọi là nhà ổ chuột. Ở đó Orhan thấy cha mẹ cãi nhau, cha đi với mấy cô bồ, thấy bà nội ôm ấp mình, thấy cả cái tuổi dậy thì kì quặc của mình nảy mầm trong cơ thể. Ông mô tả những tính cách và suy nghĩ của người xung quanh ông. Người giàu Istanbul làm gì trong những buổi tiệc trà, khi có một đống tiền? – Họ đi mua nhà kiểu Tây, bất chấp căn nhà đó có vẻ vô cùng bất tiện và họ chẳng thích. Những chàng trai trẻ như Orhan làm gì? – Họ chạy như điên đầy phấn khích ra khỏi nhà mỗi khi có một dinh thự bùng lên trong ngọn lửa hay khi những chiếc tàu hàng khổng lồ đâm nhau ngoài vịnh Bosphorus và bốc cháy ra tro. Cảm xúc ấy được ông miêu tả:“Nhưng với những người trong số chúng tôi, đã từng nhìn thấy các yah cuối cùng của thành phố, những biệt thự, những khu nhà gỗ bị thiêu rụi vào thập niên 1950 và 1960, nỗi thích thú của chúng tôi có được bắt nguồn từ một trạng thái tinh thần khác hẳn các pasha thời kì Ottoman, những người thuần tuý thưởng thức cảnh tượng; niềm thích thú của chúng tôi còn bao gồm cảm giác tội lỗi, mất mát và ghen tức, trước sự huỷ diệt bất thình lình những dấu vết cuối cùng của một nền văn hoá lớn và một nền văn minh lớn mà chúng tôi không xứng hợp hay chưa được sửa soạn để mà thừa hưởng, trong khi chúng tôi điên cuồng biến Istanbul thành một thành phố hạng hai bắt chước một đô thị Tây phương nhợt nhạt, nghèo đói.” *** Orhan Pamuk, “một trong những tiếng nói mới mẻ và độc đáo nhất trong văn chương đương đại” như lời Independent on Sunday nhận xét, đã viết nhiều cuốn sách trong đó có Pháo đài trắng và Cuộc đời mới. Năm 2003, ông nhận giải International IMPAC Dublin cho cuốn Tên tôi là Đỏ, và năm 2004, Faber ấn hành bản dịch tiếng Anh cuốn Tuyết của ông, được Margaret Atwood ca ngợi là “cuốn sách không thể thiếu của thời đại chúng ta”. Istanbul, một ghi chép của ông về cuộc sống nơi thành phố này, đã được đề cử giải Samuel Johnson của BBC4, được Katie Hickman trong New Statesman gọi là “đẹp đẽ một cách phi thường và siêu việt”. Orhan Pamuk hiện đang sống ở Istanbul. *** Orhan Pamuk là một nhà văn người Thổ Nhĩ Kỳ, sinh ngày 7 tháng 1 năm 1952 tại Istanbul. Ông là tác giả của nhiều tiểu thuyết, truyện ngắn, tiểu luận và tác phẩm phê bình văn học. Pamuk đã được trao giải Nobel Văn học năm 2006, trở thành nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ đầu tiên nhận được giải thưởng này. Pamuk sinh ra trong một gia đình tư sản giàu có ở Istanbul. Ông theo học ngành Kiến trúc tại Đại học Istanbul, nhưng sau đó chuyển sang học Văn học Anh. Sau khi tốt nghiệp đại học, Pamuk bắt đầu viết văn và xuất bản tác phẩm đầu tay, "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) vào năm 1982. Tác phẩm của Pamuk thường đề cập đến các chủ đề như bản sắc, lịch sử, văn hóa và tôn giáo. Ông đã khám phá những chủ đề này theo nhiều cách khác nhau, từ sử dụng các thủ pháp hậu hiện đại đến tái hiện lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ. Tóm tắt một số tác phẩm "Cevdet Bey ve Oğulları" (Cevdet Bey và các con trai) (1982): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Cevdet Bey, một doanh nhân thành đạt ở Istanbul. Ông có ba người con trai, mỗi người đại diện cho một thế hệ khác nhau của Thổ Nhĩ Kỳ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những thay đổi xã hội và chính trị ở Thổ Nhĩ Kỳ trong thế kỷ 20. "Kara Kitap" (Sách đen) (1990): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal, một người đàn ông trẻ tuổi sống ở Istanbul. Kemal đang tìm kiếm sự thật về cái chết của cha mình, người đã bị giết bởi một nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những xung đột giữa các giá trị truyền thống và hiện đại ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Masumiyet Müzesi" (Bảo tàng sự trong trắng) (2008): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Kemal và Füsun, hai người trẻ tuổi yêu nhau ở Istanbul những năm 1970. Tuy nhiên, mối tình của họ bị ngăn cấm bởi gia đình của họ. Cuốn tiểu thuyết khám phá những phức tạp của tình yêu và sự mất mát. "Kar" (Tuyết) (2002): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Ka, một nhà văn trẻ tuổi đến Kars, một thị trấn nhỏ ở miền đông Thổ Nhĩ Kỳ. Ka được giao nhiệm vụ viết một bài báo về một vụ tự thiêu của một cô gái trẻ. Tuy nhiên, anh sớm bị cuốn vào một cuộc xung đột giữa các nhóm cực đoan. Cuốn tiểu thuyết khám phá những căng thẳng chính trị và sắc tộc ở Thổ Nhĩ Kỳ. "Kırmızı Saçlı Kadın" (Người phụ nữ tóc đỏ) (2016): Cuốn tiểu thuyết kể về câu chuyện của Mevlut, một người đàn ông bán bánh mì ở Istanbul. Mevlut đã kết hôn và có ba con, nhưng anh vẫn nhớ đến một người phụ nữ tóc đỏ mà anh đã gặp khi còn trẻ. Cuốn tiểu thuyết khám phá chủ đề tình yêu và mất mát trong bối cảnh của Istanbul đương đại. Tác phẩm của Orhan Pamuk đã được dịch ra hơn 60 thứ tiếng và được nhiều nhà phê bình đánh giá cao. Ông là một trong những nhà văn đương đại nổi tiếng nhất thế giới. Mời các bạn đón đọc Istanbul - Hồi ức và Thành phố của tác giả Orhan Pamuk.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chiếc Lồng Đèn Của Má - Khởi Huỳnh
Tập truyện ngắn đưa ta trở về dòng sông tuổi thơ nhiều nhiều khó nhọc nhưng thấm đẫm tình người ở một làng quê vùng Nam Bộ. Trên dòng sông ấy có nhiều xuồng ghe từ các nơi đổ về.  Những người đàn ông, đàn bà nghèo khổ đến đây gặt thuê, bắt cá và làm nhiều việc khác để sinh nhai. Ghe nào cũng chở theo những đứa trẻ. Chúng bị những đứa trẻ trên bờ ghét bỏ, xa lánh, thậm chí bị cấm không cho lên đó chơi. Truyên nào trong tập sách cũng khiến đọc giả rưng rưng xúc động. Đó là câu chuyện kể về người mẹ cõng đứa con tật nguyền mười hai tuổi mới xin được vào học lớp một. Mỗi ngày đi học phải qua cánh đồng lau sậy. Bờ ruộng trơn trượt khi trời mưa, người mẹ phải gồng mình bấm hai ngón chân cái xuống đất để khỏi ngã.  Đó là nỗi day dứt của đứa em chỉ vì muốn lấy lòng mẹ để được mặc thử bộ đồ tết mà nhẫn tâm làm khổ cả cuộc đời người chị. Tác giả cho biết những câu chuyện kể ra trong cuốn sách chủ yếu đều là ký ức về tuổi thơ của anh và bạn bè thuở cắp sách tới trường làng. Con sông êm đềm, cánh đồng lúa vàng rực rỡ, những trò chơi trận giả, buổi chiều ngóng gánh hát về quê… là những hình ảnh đẹp về quê hương, những  kỷ niêm ai lớn lên ở nông thôn cũng có một thời như thế. Bởi thế, bạn sẽ tìm thấy mình đâu đó khi đọc tập truyện này. Bằng giọng văn mộc mạc, giản dị Chiếc lồng đèn của má như một món ăn tinh thần dành cho các bạn tuổi mười bốn, mười lăm. Đọc cuốn sách này để hiểu hơn về tuổi thơ bố mẹ ta, yêu hơn những vùng đất trên quê hương mình. Tác giả cuốn sách là họa sĩ Khởi Huỳnh. Ngoài chuyên môn chính ra anh còn viết thơ, đóng phim, diễn kịch, viết văn, dạy vẽ.  *** Năm mười hai tuổi, lần thứ ba má xin cho tôi vào học lớp một. Má nói so với mấy đứa bằng tuổi trong xóm thì tôi đã trễ đến năm năm. Nghĩ vậy nên má khuyên tôi nếu được nhận vào thì phải ráng học cho thiệt giỏi, kẻo người ta coi không ra gì. Vả lại, con người ta “khi mất cái này thì phải cố gắng đạt được cái khác để bù lại”. Tôi chẳng hiểu ý má nói gì, cứ tưởng là má nói mất đồ nên tôi vội kiểm tra lại tập vở và tiền má cho thì vẫn còn y nguyên, tôi khoe với má. Má xoa đầu tôi rồi cười ý nhị. Nói nào ngay(1), lúc đó tôi cũng không để ý đến chuyện mất còn gì đó mà má vừa nói. Cái tôi lo nhất là năm nay biết có được nhận vào lớp một không (vì đã hai lần trước đều bị từ chối) nên trong lòng tôi lúc nào cũng phập phồng lo sợ. Trước ngày khai giảng, đêm nào tôi cũng lấy đồ đi học của thằng em mặc vào, rộng thùng thình, tay cầm mấy quyển tập cứ đi tới đi lui, gặp ai cũng thưa đi học, rồi ra trước sân đi một vòng lại trở vô thưa đi học mới về (những động tác này là tôi học được từ đứa em, khi tôi mới xuất viện). Trong nhà ai cũng ôm bụng cười ngất. Riêng mỗi mình má tôi là không cười, má nhìn về một hướng nào đó xa xăm, đôi mắt buồn hiu. Rồi ngày khai giảng đã đến. Đêm đó má bảo tôi ngủ sớm để ngày mai đi học. Tôi ngoan ngoãn nghe lời má lên giường nằm nhưng không tài nào ngủ được, cứ lăn qua lộn lại, trong lòng thì mừng lo lẫn lộn. Má thì ngồi cặm cụi dưới ngọn đèn dầu lo chuẩn bị cho tôi, nào là tập vở, nào là thước kẻ, bút chì rồi lấy chiếc áo của đứa em đã mặc chật sửa lại cho tôi. Má đi nhóm lửa đốt than ủi lại cho thẳng thớm treo lên vách, má đứng ngắm hoài như thể tôi đang mặc vậy. Nhà tôi cách trường xã chừng năm cây số, cái khó là phải băng qua hai cánh đồng đầy lau sậy, mùa mưa trơn trợt rất khó đi nên lúc màn trời còn một màu đen kịt thì má đã gọi tôi thức dậy. Tất cả má đã chuẩn bị từ đêm hôm, má chỉ tôi chỗ treo bộ đồ rồi nói khi nào mặc xong lại đây má biểu. Tôi rất hồi hộp không biết có chuyện gì. Đoạn tôi vừa đi đến thì má cũng vừa mở tủ lấy ra một cái chai chừng bằng ngón tay út có nước màu vàng nhạt, bên trong có một cọng dây bằng mủ màu trắng dính liền với cái nút đậy. Má lấy ra rẩy rẩy, quét quét lên đầu tôi. Mùi thơm nhanh chóng tỏa ra rất dễ chịu. Tôi cứ lấy tay quẹt lên đầu rồi đưa xuống mũi ngửi hoài. Má biết tôi thích nên ra điều kiện: nếu con đi học được điểm mười thì hôm nào má cũng xức dầu thơm cho. Tôi hí hửng dạ thiệt lớn rồi chạy quanh nhà một vòng với bước chân khập khiễng. Má lại có vẻ buồn. ... Mời các bạn đón đọc Chiếc Lồng Đèn Của Má của tác giả Khởi Huỳnh.
Đường Mòn - Chris Womersley
Một tên tội phạm vặt, Lee, thức dậy trong một nhà trọ tồi tàn với bên mạng sườn bị dính đạn và một vali tiền bị đánh cắp. Hắn mơ hồ nhớ lại làm thế nào mà lại đến được đây. Không lâu sau, hắn gặp Wild – một bác sĩ đang cố thoát khỏi cuộc sống bất hạnh của chính mình, và hai người đàn ông bắt đầu một cuộc sống mới an toàn ở vùng ngoại ô. Khi rời bỏ thành phố, họ có một thói quen khó chịu là nhớ lại quá khứ quen thuộc trước đây dẫu họ cố tìm mọi cách lẩn tránh. Lee bị ám ảnh bởi việc kiện tụng ở trong tù trước đây, trong khi Wild lại chạy trốn khỏi vụ kiện tụng của việc cho nhầm thuốc. Nhưng Lee và Wild không đơn độc: họ bị tên gangster già Josef, người đang tìm cách lấy lại số tiền bị đánh cắp và thương lượng với Lee về sự an toàn của chính mình, bám đuôi khắp các vùng đất xa lạ. Cuối cùng, cả ba người đàn ông đó đều buộc phải đương đầu với những bi kịch mà họ đã tìm cách trốn chạy. *** Lee dần thoát khỏi cơn mộng mị, tâm trí hệt như người chết đuối trồi lên từ đáy đại dương. Cơn ác mộng hắn vừa trải qua đầy rẫy cảnh náo loạn, kích động và những pha bủn rủn chân tay. Căn phòng lặng im như tờ, như thể đang chờ hắn mở mắt. Lee nằm cứng đờ, bất động như tượng đá sau vườn, tròng mắt động đậy sau mi mắt khép hờ. Hồi bé, đêm nằm trên giường Lee cũng sợ đủ thứ. Trong bóng tối, cậu bé Lee cố thở thật khẽ để thứ ẩn mình trong bóng đêm ngoài kia không phát hiện ra cậu. Lee chỉ hít vào rồi thở ra thật nhanh, những tưởng bầy ma quỷ lẩn quất ngoài đường lớn hẻm nhỏ chuyên rình bắt trẻ con ăn thịt không thể nhìn thấy mình. Thậm chí hồi lên mười bốn tuổi, có thời kỳ Lee thức suốt đêm với cảm giác sợ sệt ấy. Cậu vật vã, lăn lộn suốt. Thấy thế, Claire, chị gái cậu lại đến bên giường, ôm chặt hai vai em, chờ cho đến khi thằng bé nín khóc. Cô chị chẳng nói chẳng rằng. Hai chị em đều biết nói gì cũng bằng thừa, nhất là sau những gì chúng đã phải trải qua. Lúc này, Lee cố hết sức nằm yên. So với thế giới bên ngoài, hắn muốn mình thật nhỏ bé. Hắn e rằng cảm giác khó chịu khi thức giấc sẽ tác động đến cả ngày dài đang chờ hắn. Hắn cần ngày bình yên. Lee nằm yên thêm giây lát. Bọt khí ấm nóng lục bục trong phổi hắn. Lee lặng lẽ liếm cặp môi khô nẻ. Lát sau, hắn thả lỏng cho nhịp thở đều hơn và mở mắt. Căn phòng lạ trải ra trước mắt hắn như được phủ bằng tấm màn đỏ máu. Nắng mai lọc qua tấm màn cửa mỏng nhẹ như sa. Kia là tường nhà sơn màu vàng nhạt, kia là mấy khung cửa sổ bằng nhôm. Chỉ cần nhìn qua cũng biết đây là phòng trọ. Hình như da và xương không còn là thứ tạo nên cơ thể hắn. Người hắn bây giờ chắc ghép từ vật liệu vô cơ, như vải bạt, dây kẽm, gỗ vụn... ai đó lấy trộm ngoài đường mang về dùng băng keo bó lại một cách tạm bợ. Các khớp xương hắn ê ẩm và một cơn đau nhức nhối dai dẳng nằm ở đâu đó trong cơ thể mà ngay lúc này hắn chưa thể định vị chính xác. Lee nhớ đã có lần hắn mặc áo quần dính máu nằm trên giường chờ hồn về với xác, chờ đầu óc tỉnh táo để hiểu hoàn cảnh hắn đang lâm vào. Từ đó đến bây giờ đã mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày trôi qua rồi? Thi thoảng, tiếng một phụ nữ trung niên lại vang lên ở đâu đó trong căn phòng vắng. Bà ta cúi xuống nghe xem hắn còn thở hay chăng. Chắc bà ta tưởng hắn đã về chầu diêm vương rồi. Lee ngửi thấy mùi thuốc lá và phấn sáp rẻ tiền thoảng từ cơ thể bà. ... Mời các bạn đón đọc Đường Mòn của tác giả Chris Womersley.
Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại - Hành Trần
Lẩu - Chú Mèo Ở Nông Trại là câu chuyện kể về một chú mèo sinh ra ở thành phố bị bán về nông thôn. Từ đó mèo con phải làm quen với cuộc sống ở quê, và cũng từ đó chú kết bạn được với nhiều người bạn mới như gà, chó, chim sâu, cây khế... Xuyên suốt cuốn sách là những bài học về tình bạn và cuộc sống mà mèo con học được. *** Lẩu là một con mèo thành phố. Nó nhớ rõ như vậy. Nó vẫn nhớ như in ngôi nhà mà nó được sinh ra cùng bốn anh chị em khác. Mèo mẹ là một con mèo lai lông dài và có cái lưỡi mềm mại ấm áp. Mèo mẹ là người duy nhất không phân biệt Lẩu và các anh em khác. Bởi lẽ, mèo mẹ vẫn âu yếm và vuốt ve nó. Tất nhiên Lẩu còn quá bé để hiểu vì sao con người lại phân biệt nó với các anh em khác như vậy. Nhưng nhiều lần đang lim dim thưởng thức bầu sữa mẹ, nó thấy một bàn tay thô bạo tóm gáy nó lên soi mói, nó biết chắc đấy là bà giúp việc. Bà chép chép miệng: “Tự nhiên lại nảy nòi ra cái con mèo ta này…” Hình như người ta chê nó xấu. Khi uống nước ở bát nước to màu tím, có lúc Lẩu len lén soi mình, nó thấy mình cũng không đến nỗi nào. Lông vàng như tia nắng, đôi mắt to và cái tai rộng, nó hài lòng với bộ lông ngắn vì nó là con mèo duy nhất mèo mẹ không phải nhắc nhở cẩn thận khi đi vệ sinh để khỏi dây bẩn vào bộ lông như bốn anh chị em lông dài và trắng muốt khác. Một tối se se lạnh, Lẩu đang co người rúc vào mèo mẹ, lim dim giấc mơ ngọt ngào thì nghe tiếng khe khẽ. Đấy là tiếng của bà chủ. Bà bảo bà giúp việc cần giải quyết bớt lũ mèo con, trước khi cô chủ nhỏ trở về vào tuần sau. Bà giúp việc cười khùng khục. Lẩu không biết giải quyết bớt là gì, nó cũng không nghe được gì thêm, vì nó đã buồn ngủ lắm rồi. Lẩu định bụng sẽ hỏi mèo mẹ vào sáng hôm sau khi ngủ dậy. Cứ thế nó thiếp đi vào giấc ngủ ngọt ngào. ... Mời các bạn đón đọc Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại của tác giả Hành Trần.
Mong Manh Tình Đầu - Born
Tình đầu, đẹp như một đóa hoa tầm xuân chớm nở vào một sớm cuối đông. Nhưng, chỉ một cơn gió nhẹ thôi cũng khiến những cánh hoa rụng rơi, tản mác. Thiên Vi và Duy Phong - hai trái tim thuần khiết thuở nào trước những con sóng dữ cuộc đời, không biết từ bao giờ đã chắp vá đầy những vết sẹo mãi chẳng lành. Quá khứ luôn không ngừng bị đào xới, sai lầm luôn không ngừng lặp lại và những vết cứa trong tim luôn không ngừng rỉ máu. Nhưng, còn rỉ máu nghĩa là còn ấm nóng, còn ấm nóng nghĩa là còn thương yêu. Là sẽ có một ngày sau cơn giông bão, bầu trời bỗng sáng trong và cõi lòng chợt bừng tỉnh. Thì ra, yêu thương vẫn ở ngay đó thôi. Thật gần! "Phía sau lưng họ là những cơn gió, thế nhưng chẳng ai thấy lạnh lẽo. Bầu trời sau cơn mưa xuất hiện một cầu vồng rực rỡ, đẹp như một giấc mơ." *** Nắng vàng rộn rã giữa sân trường, từng lớp từng lớp học sinh dắt xe ra khỏi cổng trường, ai nấy đều hớn hở. Trên bệ đá dưới tán cây bàng, một nữ sinh đang ngồi ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy nắng qua kẽ lá. Đôi mắt trong trẻo, gương mặt ngây thơ của nữ sinh khiến khung cảnh xung quanh trở nên tươi đẹp lạ thường. Vẻ đẹp tinh khiết của cô khiến nhiều nữ sinh ghen tị, mấy bạn nam muốn đến bắt chuyện nhưng dường như chưa đủ dũng khí. Bỗng một nam sinh đến gần cô, tươi cười hỏi: - Đang chờ xe à? - Không. Mình đang chờ Dạ Thảo – Cô nhỏ nhẹ đáp lời. - Vậy mình về trước đây. Mai gặp nhé – Nam sinh vẫy tay tạm biệt rồi rời đi. Cô cũng mỉm cười vẫy tay với cậu bạn cùng lớp. Nụ cười của cô bạn khiến mấy nam sinh khác ngẩn ngơ. Phía sau mấy nam sinh bỗng vang lên tiếng nói nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để khiến họ giật mình quay đầu nhìn lại. Một gương mặt tròn đang đanh lại, ánh mắt nhìn họ giễu cợt, giọng cao vút: - Cho qua coi. Vừa nói cô bạn mặt tròn vừa ung dung bước qua họ một cách kiêu căng, còn hất tung mái tóc dài cột đuôi gà của mình về phía sau. Đám con trai nghẹn họng, lặng lẽ bỏ đi. Thiên Vi đang định lấy sách ra đọc thì thấy bạn mình bước tới, vẻ mặt rõ là chảnh chọe. Cô phì cười, khẽ hỏi: - Sao thế? Trưng vẻ mặt này cho ai xem vậy? - Thì mấy cái tên lóc chóc đó chứ ai? – Dạ Thảo hí hửng đáp. - Ai? - Thiên Vi ngơ ngác nhìn quanh. - Mấy cái đuôi – Dạ Thảo hững hờ đáp. - Oa oa… Không ngờ đó nha – Thiên Vi reo lên – Đã chọn được anh nào chưa? Dạ Thảo khẽ lườm Thiên Vi rồi thở dài đáp: - Ai mà thèm ngó tới mình chứ?! - Sao lại nói thế? – Thiên Vi tròn mắt nhìn Dạ Thảo. - Mình như vầy thì… – Dạ Thảo nhìn lại bộ dạng tròn trịa béo tốt của mình, vẻ mặt càng buồn bã hơn. Thiên Vi thấy bạn tủi thân như vậy cũng buồn, Dạ Thảo hơi mập nhưng gương mặt tròn trịa của cô vẫn mang nét dễ thương đáng yêu, hơn nữa Dạ Thảo rất tốt bụng, chẳng ai trong lớp vì ngoại hình của cô mà chán ghét cô cả. ... Mời các bạn đón đọc Mong Manh Tình Đầu của tác giả Born.