Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Miền Tây

Trong làng văn học Việt Nam rất hiếm có nhà văn nào nhận được sự yêu thương, mến mộ từ nhiều thế hệ độc giả khác nhau như nhà văn Tô Hoài. Nếu các bạn nhỏ biết đến ông như một người bạn dí dỏm, đáng yêu qua kiệt tác Dế mèn phiêu lưu ký và series truyện ngộ nghĩnh về loài vật, thì độc giả lớn tuổi biết đến ông như một cây đại thụ của làng văn với nhiều tác phẩm đã trở thành những tượng đài bất tử như Vợ chồng A Phủ, Cứu đất cứu mường, Chuyện đầm sen đền Đồng Cổ… Bộ sách tập hợp những tuyệt phẩm để đời của Tô Hoài để tưởng nhớ một năm ngày Cụ trở về với cát bụi gồm 9 tác phẩm, bao gồm 4 tiểu thuyết, 3 truyện ngắn và 2 bút ký: Quê nhà (tiểu thuyết) Quê người (tiểu thuyết) Mười năm (tiểu thuyết) Khách nợ (truyện ngắn) Chiếc áo xường xám màu hoa đào (truyện ngắn) Chuyện để quên (truyện ngắn) Miền Tây (tiểu thuyết) Kí ức Đông Dương (bút ký) Kí ức Phiên Lãng (bút ký) Được viết năm 1965, Miền Tây là tác phẩm tiếp nối cho đề tài về vùng đất Tây Bắc “để thương để nhớ” cho Tô Hoài trong suốt cuộc đời cầm bút của mình. Tô Hoài đã dành cho cuốn tiểu thuyết những nét vẽ chân thật và sinh động nhất, với hình ảnh những người con đất Phiềng Sa tình nghĩa đã sống qua hết những vất vả, đau thương, đấu tranh và dựng xây. Khai thác nhiều tư liệu lịch sử, chính trị, quân sự, tác phẩm đã tạo nên những bức tranh đối lập xưa và nay trong cuộc sống, số phận con người Phiềng Sa. Ở đó, hình ảnh con người chưa bao giờ được tác giả tạo nên bằng bút pháp lí tưởng hóa, mà họ luôn chân thật và gần gũi, mang đầy đủ mặt tốt và mặt xấu của một con người bình thường trong đời sống. Chính vì thế, họ đã sống rất lâu và vững bền trong trái tim rất nhiều độc giả Việt. *** Cảm nhận Quen biết nhiều, từng trải lắm, quả thật có thể nói Tô Hoài đã trở thành một cuốn từ điển sống của nghề văn. Qua các tác phẩm đã in của ông, mãi mãi người ta còn tìm thấy hình ảnh con người một thời, với tất cả những lo toan hàng ngày, sự phấn đấu của chúng ta cùng những khó khăn những hạn chế hoàn cảnh đã đặt ra mà không ai trong chúng ta vượt qua nổi. Thời gian sẽ sàng lọc để chọn ra những gì tinh hoa Tô Hoài đã viết, từ đó làm giàu thêm cho văn học Việt Nam. Nhà phê bình Vương Trí Nhàn Tô Hoài hay “khoe”, chẳng chịu bỏ phí những chuyến đi nên ông viết bút ký, ký sự về rất nhiều nước ông có dịp đặt chân đến. Về điều này có lẽ ông cũng là bậc thầy. Những tập ký, truyện ngắn lấy bối cảnh nước ngoài của ông rất khác với nhiều tập sách về nước ngoài của các tác giả thế hệ sau này. Đọc ông luôn có văn, có sáng tạo. Cũng như nhiều bạn đọc thuở ấy, trong đó có tôi, các tác phẩm này của Tô Hoài đã mở giúp chúng tôi một cửa sổ để nhìn ra một góc thế giới trong thời buổi sách quá hiếm, không có phương tiện thông tin. Đỗ Quang Hạnh Tiểu thuyết Tô Hoài là hình ảnh của dòng đời tự nhiên, chảy trôi miên viễn. Cuộc sống hiện ra dưới cái nhìn của Tô Hoài thật dung dị tự nhiên như nó vốn thế: có mọi thứ của sinh hoạt đời thường, vặt vãnh, cái tốt đẹp và cái tầm thường, có đời sống xã hội, vận động của lịch sử và đời sống thế sự, sinh hoạt phong tục. Nhà phê bình Nguyễn Văn Long Đời thường, bình dị và trầm buồn, đó là miền núi của Tô Hoài. Những đặc trưng phong cách này đã khơi gợi lịch sử nhiều đau thương của miền núi theo một cách riêng, gần gũi và nhân bản. Nét dịu dàng, sâu lắng, giàu chất thi họa của nó cũng là một đặc sắc thẩm mĩ, vừa mộc mạc cổ điển vừa có sức sống lâu bền. Phạm Duy Nghĩa ***             Năm nào cũng vậy, đoàn ngựa buôn của ông khách Sìn về đến châu Yên, dừng lại, thay tay thồ, thì vừa xong gặt hái tháng mười. Các phiên chợ tết đã đến rồi.             Ông khách Sìn chỉ bán ghé chợ châu Yên có một phiên, rồi lại đóng hàng vào ngựa mới, bắt đầu lên Phiềng Sa. Hàng của khách Sìn vốn quen ăn các chợ Mèo.             Câu chuyện giữa khách Sìn và chủ ngựa Tòng hôm ấy.             - Chào ông chủ Tòng, năm nay bao nhiêu ngựa ông đi Phiềng Sa được? Hàng nặng đấy, ông ạ.             - Bẩm ông chủ, ngoài trăm con tôi cũng có thừa sức.             - Tốt lắm...             - Nhưng mà...             - …             - Con nhất, con nhì... tôi.             - Sao?             - Nó... ốm.             - Không may cho ông.             - Vâng, bẩm ông chủ, mấy chợ nay, tôi bỏ cả những chuyến thồ gần thật ngon ăn để đợi hàng ông chủ về…             Ông khách Sìn liền khóa ngay cái giọng sắp muốn mè nheo của lão chủ ngựa:             - Phải rồi, ông mà lên được Phiềng Sa với tôi, ông cứ nhấc cái thồ xuống là có tiền chảy đến, ông còn kiếm gấp trăm những chuyến ngon ăn khác kia!             - Vâng, cũng nhờ lộc ông chủ.             - Hàng tôi cần lên kịp chợ, không nấn ná được. Để bảo ngựa ông Đèo vậy.             Lão chủ ngựa Tòng xám hẳn mặt. Ngựa lão Tòng vốn quen thồ hàng cho khách Sìn trên chặng Phiềng Sa đã hàng chục năm. Ngưạ tốt, khách hàng sòng phẳng, mà lão Tòng mỗi chuyến lên vùng Mèo cũng phát tài riêng được một bọn thuốc phiện mang lậu về.             Không ngờ khách Sìn lại dửng dưng ném phắt ngay lão đi như thế.             Lão Tòng cay quá, đứng ơ. Ông khách Sìn còn vỗ vai lão, cười nhăn nhở, nói:             - Ông chủ bằng lòng nhé, sang năm giúp cho tôi, tôi chờ đấy.             Nhưng lúc ấy lão Tòng chẳng còn nghe biết khách Sìn nói vuốt gì nữa. Lão điếng người, lại nghĩ đến hai con ngựa.             Hai con ngựa nhất, ngựa nhì đầu đàn của lão.             Chỉ có nửa buổi, lăn ra chết cả.             “Hay là nhà thằng Đèo hại mình?” - Lão Tòng hốt hoảng, bối rối nghĩ.   * *    *               Đoàn ngựa thồ hàng ông khách Sìn lên Phiềng Sa.             Tết sắp đến, những đoàn ngựa thồ hàng của người buôn lại lũ lượt lên các vùng núi cao miền tây.            Không ai biết ngựa buôn hàng ở mãi đâu về, phía nào tới, Vân Nam xuống hay bên nước Lào, nước Miến Điện sang, hay từ ngoài sông Đà vào. Nhưng cứ trông người đi đuổi ngựa cho các ông chủ hàng có thể đoán những chặng đường họ đã đi qua. Đủ cả: người Kinh, người Lào, người Thái, người Xạ Phang, người Hà Nhì, đôi khi cũng có người Xá, người Mèo tận Mường Cò Nòi bên Miến Điện. Hễ năm nào nhiều người Xạ Phang, người Hà Nhì theo ngựa thì bảo đoàn này trên Vân Nam xuống, có người Kinh thì chắc hàng ngoài cửa Vạn sông Đà vào, có người Lừ, người Khạ thì biết họ từ Lào sang.             Có đến ngoài trăm cơn ngựa thồ hàng ông khách Sìn lên Phiềng Sa.             Con ngựa nhất, con ngựa nhì thắng yên cương đỏ, lưng không đeo hàng, thung dung đi trước. Tiếng nhạc rung sang sảng. Trên bờm cắm ngù đỏ, hai bên mông rực rỡ chiếc hoa thị vải đỏ năm cánh.             Những con ngựa mộc, thồ hàng đi sau, tai nghe nhạc, mắt chăm chăm nhìn vào cái hoa đỏ đính đuôi ngựa trước, mõm cất cao, bước không loạn vó, không đá nhau, không quơ vặt ven đường. Ngựa nào cũng ngoan nết bắt chước hai con đầu đàn.             Lão chủ ngựa họ Đèo ngồi xếp chân trên cọc thồ giữa lưng con ngựa thứ ba. Lão náu mình trong chiếc áo bành tô đẫm nước mưa, xám ngắt. Nếu chốc chốc không thấy từ trong đống áo xù xụ có một đám khói thuốc lá cuốn xanh mờ nhả ra, cũng dễ tưởng đấy là một kiện hàng.             Sau lưng lão, cứ chừng mười thồ, lại một người phu ngựa kèm.             Những người phu co ro cầm cái roi, khi thì lập cập chạy theo ngựa, khi thì gật gưỡng ngủ ngồi trên thồ hàng.             Đàn ngựa kéo dài qua những vùng vàng rượi cỏ tranh cứ xoay tròn lên lưng trời, đi cả ngày trông xuống vẫn thấy độc có một vết dốc vượt hôm trước. Không một tiếng người, chỉ nghe vó ngựa và tiếng roi quất dứ qua quãng kẹt núi dựng, tiếng gió gào quẩn trên đầu sóng cỏ tranh, chốc lại xô lên, lấp cả người, cả ngựa.             Đôi khi mặt trời rầu rĩ nhô ra, làm cho các mỏm núi và đến cả các khe suối xa bỗng nhiên nhuộm nắng úa xuộm.             Một tiếng hát, tiếng hò hay tiếng kể lể than vãn của người phu ngựa Xạ Phang đột ngột cất lên, lê thê lướt qua. Cái dốc núi càng rét, càng vắng, càng chơ vơ.   * *    *               Bóng tối trĩu nặng từng quãng, nhanh và dữ tợn. Các mỏm núi đương vàng rực, bỗng xanh rợn. Gió chồm lên rồi chết đứng từng đợt ngay giữa các triền đồi tranh im lặng.             Đoàn ngựa lên dốc. Tối dần.             Một lúc, cả đoàn dừng lại. Những người phu nhảy xuống, chạy quanh ngựa, hấp tấp rút trên túi ngực ra một ống nứa đựng rượu ngâm củ gấu đặc sẫm. Họ lần lượt xách cương kéo mõm từng con ngựa lên, rồi dốc ngược cả ống rượu gấu vào họng ngựa. Những tiếng hí rít vang sâu vào các hõm núi. Con ngựa rùng mình, lắc lắc, nhảy vung hai chân trước. Rồi lại đứng yên. Ngựa đã quen được nhai củ gấu ngâm rượu thuốc, mỗi chuyến đi dài. Rượu gấu ngấm vào làm rung bốn vó, đổ thêm sức cho ngựa dấn nốt đoạn dốc cuối cùng dài nhất, dai dẳng nhất.             Rồi đoàn ngựa lại chuyển động và bắt đầu ló lên một quãng trống lưng đèo, trông như đàn kiến nối nhau, nhấp nhô.             Trên một khe núi kia, bà Giàng Súa đương nhìn xuống.             Đàn ngựa thấp thoáng qua khúc đường còn loang lổ sót lại một chút nắng đến chỗ tối bóng núi, bà Giàng Súa không đếm hết từng con được. Bà chỉ thấy mờ mờ lố nhố.             Bà Giàng Súa sợ hãi, nghĩ đến các con.             Trong vách, lúc ấy chỉ có bé Mỵ ngồi bên đống lửa đương lụi. Bé Mỵ đợi anh Nhìa vác thêm củi về nhóm sưởi. Còn Khay thì ra nhà nương lấy ngô. Sao hai anh em nó đi lâu thế? Bà Giàng Súa lại lo. Cứ bao giờ có nỗi lo láng gì đến, mọi người mẹ đều tựa gà mái ấp, muốn được các con mình ở cạnh. Chúng nó đi đã lâu, mà đàn ngựa ai lên núi thì nhiều thế kia, dài thế kia…             Ngựa lên núi, ngựa lính, ngựa quan, ngựa thồ người buôn, ngựa nào cũng chỉ buộc lo, buộc sợ vào mình. Ngựa nào cũng của quan, của người chức việc, của người ta. Nhà bà Giàng Súa chưa được nuôi ngựa bao giờ. Mà đời bà, con ngựa chỉ có mang tai họa đến mà thôi.             Năm ấy, đương cày nương xuân, chồng bà Giàng Súa phải bỏ cày. Mùa nương nhà dân sao bằng mùa thuốc nhà quan, chồng bà Giàng Súa đành cắm cái cày giữa nương, bỏ đi tải thuốc phiện cho nhà thống lý.             Con ngựa tải thuốc phiện lần ấy chẳng may tuột chân xuống vực đá.             Có người về bảo: lúc ngựa ngã, chồng bà còn bíu được ghềnh đá, thằng người nhà quan thấy rơi mất thồ thuốc, nó mới luống cuống đẩy nốt chồng bà xuống.             Có người về nói: tại chồng bà sợ quá, nhảy liều theo ngựa và thuốc phiện.             Có người về thì thào: chồng bà phải ma chài nên đánh mất thuốc phiện nhà quan, quan bắt nó chết rồi.             Người nào cũng rằng đích tai đã nghe quan nói thế.             Đằng nào thì chồng bà Giàng Súa cũng không về nữa, dù cho mọi đồn đại khác lời nhau. Nhưng còn một điều ghê gớm hơn thế. Ấy là từ đấy, cả làng bảo: con mẹ Giàng Súa có ma.             Người ốm rét mê hoảng, reo: “Giàng Súa, con ma Giàng Súa bắt tôi!". Hôm sau nữa, có người ra nương gặp bà Giàng Súa về rồi ốm, họ bảo đấy là tại đi đường gặp "con ma Giàng Súa". Bà Giàng Súa khiếp sợ quá. Có lúc tưởng mình có ma thật, bà Giàng Súa đã đi lấy sỏi lấy đá ngậm hàng tháng trong miệng. Khi còn bé nghe nói ai có ma muốn giải ma thì ngậm hòn đá ba mươi đêm, con ma sẽ hóa cục máu ra theo hòn đá. Hòn sỏi nằm trong miệng đủ ba mươi đêm, đến lúc bà Giàng Súa nhổ ra, cũng chẳng thấy cục máu ra!             Người làng xôn xao lo lắng, giận dữ bàn tán: cho mẹ con nhà Giàng Súa ăn Tết này xong rồi đem giết đi. Nếu không, cũng có lúc ma làm chết hết làng.             Đến cả bé Mỵ cũng nghe trẻ con dọa bé Mỵ thế. Suốt ngày, suốt mấy ngày, suốt tháng, bé Mỵ, các anh Thào Nhìa, Thào Khay, với mẹ, cứ ngồi xó nhà, tưởng người ta sắp xông vào bắt đem đi giết.             Rồi, một hôm, ai như ngựa nhà thống lý đến trước cửa. Có nhẽ thế. Một tiếng quát chõ qua khe cửa:             - Con ma Giàng Súa! Mày chết đi, con ma Giàng Súa à!             Tiếng chân ngựa vừa rời, bốn mẹ con bà Giàng Súa lật đật chạy vào rừng. Đấy là quan bảo, hay người làng đến chửi rủa? Chạy vào rừng, cũng chẳng dám quay lại đeo đi một mảnh chảo gang vỡ nữa!             Từ đấy, bốn mẹ con chúi vào rừng sâu. Tối quá, khổ quá. Nhưng thà ở rừng một mình, chứ nếu ra ngoài gặp người thì còn khổ hơn, hãi hơn. Thấy bóng ai làm nương phía nào, mẹ con lại lủi đi trú chân rừng khác - như con hươu, con chuột sợ người. Quanh năm chẳng gặp ai. Người ta cũng tránh ma chài. Mẹ con cứ vật vờ như người hủi, người ốm lâu bị làng đem bỏ vào rừng đợi chết.             Nhưng không chết. Mẹ con bà Giàng Súa bám lấy rừng mà sống. Cũng phá được một khoảnh nương kín đáo trồng bắp và nuôi được nhiều đàn ong mật trong gốc cây. Không chết, bà Giàng Súa sống mịt mù như trên đời chỉ còn có bốn mẹ con.             Mấy năm như thế, mấy năm đổi rừng ở mấy lần, bà Giàng Súa cũng không đếm được.             Lúc ấy có tiếng lạt sạt đến sau lưng bà Giàng Súa. Một thân cây to tướng rơi huỵch xuống trước vách. Thào Nhìa chạy vào, vừa thở vừa trỏ tay đằng kia:             - Bao nhiêu ngựa, mẹ ơi!             Bé Mỵ cũng lật đật chạy ra khỏi đám lửa lom đom. Bé Mỵ rét quá, run rẩy, lập cập hàm răng hỏi anh:             - Nhiều quá hả? Có ngưa à? Ngựa nào, ngựa quan à?             Thào Khay, ngoài nương ngô, cũng vừa về.             Cái địu nhẹ thếch khoác vai, buông thõng một dây nghiêng trên lưng. Trong địu lăn ra mấy bắp ngô khấp khểnh, hạt long, hạt chuột gặm, mỗi bắp rơi một nơi. Cũng chưa ai buồn nhặt, có gì mà nhặt! Khay đứng trố mắt, như hỏi Nhìa. Thào Nhìa còn mải cắt nghĩa cho bé Mỵ:             - Không, ngựa thồ đấy. Mày chưa trông rõ à? Một toán lại có một người đuổi ngựa đấy thôi. Toàn ngựa tải hàng.             Chẳng hiểu gì cả, bé Mỵ cũng reo to:             - Phải rồi.             Thào Khay nhìn ra phía dốc núi tối mịt rồi nói:             - Ngựa tải hàng, mẹ ạ. Nhiều quá. Mẹ thấy không?             Bà Giàng Súa đáp:             - Mẹ nghe tiếng rồi.             Những tiếng gì cứ vừa xôn xao vừa mơ hồ tới, như tiếng rít, tiếng vó ngựa, tiếng thở, tiếng nhạc khô lạnh ở cổ ngựa.             Trẻ con lúc nào cũng thích xem ngựa. Cả ba anh em đều ra chăm chú nhìn xuống. Bấy giờ chẳng nhìn thấy gì nữa, nhưng vẫn sướng mê vì chúng đương tưởng ra một đàn ngựa hết sức đông đương nối đuôi đi lên, lẫn lộn với bóng sương, bóng núi, bóng tối.             Bà Giàng Súa đứng dậy, gỡ cái địu nghiêng trên vai Thào Khay. Cái bắp ngô bị chuột cắn xơ xác rơi nốt xuống. Bà toan hỏi Khay: "Còn mấy bắp này thôi à?", nhưng thấy bọn trẻ con mải nghé nghiêng, bàn tán chuyện đàn ngựa, bà lại im. Nỗi lo hết ngô chen mềm vui có các con đông đủ trước mặt. Bà Giàng Súa thở dài rồi ngồi xuống.             Lát sau, bà khe khẽ nói:             - Ngựa tải hàng ông Sìn đấy. Tết đến rồi.             Bây giờ thì cả các chỏm núi và vệt đường chân dốc đều đã bị xóa mờ từ lâu. Nhưng người đàn bà khốn khổ vẫn trông thấy trong vòm sương đặc những ngày xưa có gió thổi thật rét, những ngày Tết nhộn nhạo tiếng khèn, tiếng sán tiếng thanh la, tiếng người cúng hò hét, rin rít, có cả xóm đến xem cúng và ăn cỗ.             Ngày Tết vui những nhà ai ngày trước. Trẻ con khi ấy cũng biết uống từng bát rượu.             Bốn mẹ con cứ ngồi yên quanh bếp đã vạc hết lửa, trong lòng rừng.             Trên lưng dốc tối đen dưới kia bỗng bật hồng một loạt đuốc dài, sáng lốm đốm như hàng chân con giời leo đương bám bóng đêm bò lên.             Đã nghe rõ hẳn tiếng móng ngựa trượt đá, tiếng ngựa hí vào đêm vắng. Những âm vang lạ lùng đem đến bao nhiêu chờ đợi và lo lắng cho mọi người.             Một cái Tết lại sắp qua ngoài kia, đến tận các làng xa. Lũ con bà Giàng Súa nương náu trong rừng không biết Tết, chỉ mang máng cái Tết từ lâu lắm, và bao giờ nghĩ đến cũng háo hức vô cùng.             Đêm ấy, mẹ con nhà Giàng Súa đành ngồi chịu lạnh đến tận khuya.             Không dám nổi lửa, sợ người ngựa đi ngoài rừng trông thấy. Mời các bạn đón đọc Miền Tây của tác giả Tô Hoài.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đứa Con Người Yêu - Pearl S. Buck
Một phong thư mang một con tem lạ - con tem Triều Tiên - với tên người gửi là Kim, đã đến với thượng nghị sĩ Christoper Winters vào lúc ông đang tranh cử chức Thống Đốc tiểu bang tại Hoa Kỳ. Ông vội chuồi nó xuống dưới đống thư tín để che mắt vợ. Quá khứ đột nhiên hiện ra trong tâm trí ông. Kim là đứa con của ông và cô Kim Sương, một cô gái Triều Tiên mà ông thực sự yêu một cách nào đó... trong chiến tranh. Đứa bé vừa tròn một tháng tuổi thì Trung úy Chris được gọi về Mỹ. Kể từ đó, với Laura, vợ ông, Chris đã sống một cuộc sống vô cùng hạnh phúc và hầu như quên hết... Ban đầu Chris có ý đinh giấu vợ, nhưng sau nhiều đêm suy nghĩ ông đã thú thật với bà. Vô cùng hốt hoảng, Laura bay đi Séoul để tìm đứa bé và bà đã gặp nó cùng với Kim Sương trong một phòng trà. Bé Kim, con trai một quân nhân Mỹ, đã bị cộng đồng người Triều Tiên ruồng bỏ và nó đang hát tại một phòng trà. Với sự đồng ý của Kim Sương Laura đã đưa thằng bé về Mỹ... *** Pearl Buck (tên thật là Pearl Comfort Sydenstricker, có tên Trung Quốc là Trại Chân Châu) là con một nhà truyền giáo người Mỹ. Sau khi ra đời chưa đầy 5 tháng, bà đã được cha mẹ đưa sang Trung Quốc sinh sống. Từ nhỏ và suốt cả cuộc đời bà yêu mến và thích tìm hiểu cuộc sống của người dân Trung Quốc, cảm thông với những người dân địa phương bị nhiều tầng áp bức. Năm 1938 Pearl Buck nhận giải thưởng Nobel vì các tác phẩm mô tả đời sống nông thôn Trung Hoa một cách phong phú và xác thực (chủ yếu với tiểu thuyết Đất Lành và hai cuốn tự truyện Người Tha Hương (1936) viết về người mẹ và Thiên Thần Chiến Đấu (1936) viết về cha của bà). Sau khi nhận giải, Pearl Buck tiếp tục sáng tác rất nhiều, ngoài văn xuôi bà còn viết kịch, kịch bản phim, tiểu luận và sách cho thiếu nhi. Bà cũng là người đã dịch Thủy Hử (All men are brothers) và một số tác phẩm văn học Trung Quốc sang tiếng Anh. Cuối đời, bà quan tâm đến đề tài các nhà bác học nguyên tử buộc phải chế tạo vũ khí giết người hàng loạt. Đồng thời, bà tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, xã hội như: sáng lập ra tổ chức không vụ lợi Hiệp hội Đông Tây (The East and West Association, 1941) nhằm truyền bá những hiểu biết giữa các dân tộc trên thế giới; cùng chồng lập nên tổ chức Căn nhà tình nghĩa (Welcome Home, 1949) giúp trẻ mồ côi; lập ra Quỹ Pearl S. Buck (The Pearl S. Buck Foundation, 1963) và tặng cho quỹ này 7 triệu đôla. • Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt: Gió Đông, gió Tây; Ảo vọng; Sống vì đất; Tiếng gọi đồng quê; Lá thư Bắc Kinh; Tình yêu sau cùng; Người mẹ; Nhớ cảnh nhớ người; Yêu muộn; Nạn nhân buổi giao thời; Mấy người con trai Vương Long; Đứa con người yêu; Một phút một đời; Một lòng với em; Một cuộc hôn nhân; Lưu đày; Lưu đày biệt xứ; Cánh hoa e ấp; Đông phương huyền bí qua truyện cổ thần tiên; Truyện Đông phương; Người vợ tiên; Những người đàn bà tuyệt vời trong gia đình Kennedy; Những người đàn bà trong gia đình Kennedy; Tà áo xanh; Nỗi buồn nhược tiểu; Người yêu nước; Ngoài chân mây; Hứa hẹn; Bão loạn; Mẫu đơn; Quỷ địa ngục chẳng bao giờ ngủ; Yêu mãi còn yêu; Ba người con gái của Lương phu nhân; Trái tim kiêu hãnh; Một trái tim tự hào; Biên giới tình yêu; Tình cõi chân mây; Nô tì Mẫu Đơn; Đóa hoa ẩn mình; Trang; Người thành phố; Bí mật đời nàng; Người yêu nước; Thiên Hậu; Người cung nữ; Từ Hi Thái hậu; Con rồng linh diệu; Hạt giống của rồng; Vương Nguyên; Đất lành; Chuyện Kinh Thánh; Những người con của tiến sĩ Lương; Tiếng nói trong nhà; Tử thần và rạng đông; Người mẹ; Những mảnh hồn sầu xứ. Khi người con gái lên núi *** Chris đợi Laura và bé Kim tại phi trường Los Angeles. Chàng xinh trai biết bao! Laura thầm nghĩ. Không phải bà đã quên điều đó, nhưng vì bà đã quen nhìn một loại đàn ông xinh trai khác mà ông Chu là tiêu biểu. Bây giờ bà có cảm tưởng rằng thế giới này chia thành hai loại đàn ông và đàn bà mà Kim Christopher thì đứng một mình ở giữa cô độc. Không, nó không cô độc vì bà đã chấp nhận nó kể từ khi nó cất tiếng đầu tiên gọi bà bằng mẹ. Nó đã dứt bỏ mọi quá khứ để theo bà, Sương là một người đàn bà tế nhị và có giáo dục: cái chi phiếu mà bà đã đưa cho nàng, khoảng năm Rgàn đô la, nàng chỉ liếc mắt trông qua và để xuống bàn mà không gấp lại bỏ ngay vào túi. Tại phi trường, nàng đã dặn dò bé Kim từng li từng tí, chẳng sót điều gì. Nàng nói : - Con hãy vâng lời cha con. Con cũng phải vâng lời bà Winters bởi vì bà là vợ yêu quý của cha con. Con ráng nhớ lời mẹ dặn. Khi cha con bước vào phòng, con phải lễ phép đứng dậy. Con hãy chăm lo học hành hằng ngày để cha con được vui lòng. Ban sáng, con hãy mang trà lại cho cha con trước tiên. Trong bữa ăn, con phải đợi cha con bắt đầu ăn trước. Con hãy nhớ tất cả những gì mẹ đã dặn con nhé! Nàng tỏ cho Laura biết, nàng là một người khéo dạy con. Kim Christopher chăm chú nghe, không nói gi. Hơn nữa nó đã lẳng lặng mãi cho đến khi phi cơ cất cánh. Chi khi đó mới quay sang Laura và cất tiếng gọi "Mẹ!". Bà đã mỉm cười cùng nó, nhưng hai mắt bà rưng rưng ngấn lệ. Bây giờ đã về đến Mỹ quốc, Kim Christopher nhìn cha nó. Nó nghiêng mình chào và im lặng chờ đợi. Cha nó nói : - À con. Có vẻ ngượng nghịu, ông ngắm nhìn đứa bé - đích thực là con trai của ông, không nghi ngờ gì nữa - với những đường nét giống nhau đến thế thì làm sao chối cãi được? Tim ông bắt đầu đập mạnh hơn. Ông ngắm nhìn Kim Christopher và thương yêu nói : - Con cao lớn lắm! ... Mời các bạn đón đọc Đứa Con Người Yêu của tác giả Pearl S. Buck.
Đôi Bạn Chân Tình - Hermann Hesse
Đôi bạn chân tình (nguyên tác Narcissus and Goldmund) là một câu chuyện kể về một thanh niên tên là Goldmund. Anh đã từng theo học trong trường học của tu viện dòng Thiên Chúa giáo để tìm hiểu và nghiên cứu xem cái gì được diễn tả như là “ý nghĩa của cuộc sống”, hay cụ thể hơn, là tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống của chính bản thân anh. Nhưng rồi, anh đã rời bỏ trường và đi lang thang khắp miền trung nước Đức mà không có mục đích gì cụ thể. Narcissus, một thầy giáo trẻ có năng khiếu trong trường học của tu viện đã nhanh chóng kết bạn với Goldmund, vì hai người chỉ chênh nhau có vài tuổi và Goldmund vốn là sáng dạ. Goldmund kính trọng Narcissus, còn Narcissus thì lại rất yêu mến Goldmund. Một hôm, với ý định hái lượm thảo mộc, Goldmund đã thơ thẩn trên cánh đồng quá xa và anh tình cờ gặp một phụ nữ xinh đẹp. Cô hôn anh và đề nghị anh chung giường với mình. Cuộc gặp mặt này trở thành sự kiện Chúa hiển linh đối với Goldmund, và rồi anh nhận biết được rằng anh không thể nào đi tu được. Goldmund ôm trong mình khát vọng trải nghiệm mọi thứ, học hiểu về cuộc sống, về thiên nhiên theo lối thực hành của chính anh. Với sự ủng hộ của Narcissus, anh rời tu viện và lang thang khắp các miền quê, vẽ nên một câu chuyện về sự tương phản giữa nghệ sĩ và nhà tư tưởng. Câu chuyện kéo dài nhiều năm, mô tả chi tiết những sự việc cụ thể có liên quan đến những địa điểm mà ở đó Goldmund đã học được những điều hết sức có ý nghĩa, và anh thường xuyên trầm ngâm suy tưởng đến những trải nghiệm cũng như những lối sống này.   Đôi bạn chân tình của Hermann Hesse xoay quanh những cuộc đối thoại giữa Narcissus (Tri giác) và Goldmund (Trực giác): Con đường tiếp cận chân lý của tôi và anh có thể hòa hợp không? và Chúng ta bổ sung cho nhau những gì? Cuộc hành trình đi tìm bản ngã của Goldmund bắt đầu từ những lời khai minh của Narcissus. Điều này ngụ ý rằng Trực giác luôn cần sự hướng dẫn của Tri giác, đó cũng là khác biệt quyết định giữa Trực giác và Bản năng. Khi cái chết và những trải nghiệm đã bóc tách những lớp vỏ phù phiếm, họ đã gặp nhau ở cuối con đường và cùng bắt đầu một hành trình mới. *** Văn hào lỗi lạc người Đức Hermann Hesse sinh ngày 2/7/1877 tại Đức. Cha mẹ ông đều là những nhà truyền giáo từng làm nhiệm vụ ở Ấn Độ, còn ông ngoại là nhà nghiên cứu nổi tiếng về Ấn Độ, bởi vậy tư tưởng của Hesse chịu ảnh hưởng sâu sắc của Phật giáo. Cảnh gia đình trí thức ngoan đạo với sự pha trộn của nhiều nền văn hoá khác nhau ảnh hưởng rất sâu đậm trong con người nhà văn Hermann Hesse. Tâm hồn ông luôn chuyển động giữa hai cực Đông - Tây để đi tìm một nhân loại thuần khiết, một nhân loại sống trong cảnh bình yên. Hermann Hesse khởi nghiệp sáng tác bằng thơ ca năm 1898, với tập thơ "Romantische Lieder" (Các bài hát lãng mạn). Tuy nhiên, tên tuổi ông được biết đến nhiều hơn qua các tiểu thuyết "Peter Camenzind", "Demien", "Steppenwolf" (Sói đồng hoang), "Siddhartha" và "Das Glasperlenspiel" (Trò chơi với chuỗi hạt cườm). Con đường sáng tác của Hesse đi từ tình cảm cô đơn và nỗi buồn lãng mạn của cuối thế kỷ XIX đến tầm nhìn xa trông rộng, có trách nhiệm đối với xã hội ở thế kỷ XX, ước mơ và tin chắc vào tương lai tốt đẹp hơn của con người. Hermann Hesse đã từng viết : "Dù bị đau đớn quằn quại, tôi vẫn tha thiết yêu thương trần gian điên dại này". Cuộc đời ông đã trải qua vô vàn những thăng trầm đau đớn, nhưng ông vẫn miệt mài sáng tạo. Năm 1946 ông được tặng Giải Goethe và Giải Nobel Văn học. *** Mùa hạ đã qua, hoa ruối hoa bìm đã tàn lụi, ao chuôm nín tiếng ếch kêu, hạc tung cánh bay đi. Goldmund trở về! Y trở về vào một buổi quá trưa âm u mưa bụi, y không vào tu viện mà đến ngay xưởng họa. Y đi chân, không có ngựa. Erich trông thấy y vào thì lo sợ. Thoáng nhìn nó biết ngay và chạy vội ra đón, nhưng hình như nó gặp một người khác: một Goldmund giả, già đi đến vài năm, mặt bơ phờ, ủ rũ, đầy cát bụi, nét mặt nhăn nhúm như người đau đớn bệnh nặng; tuy nhiên y không tỏ vẻ đau đớn mà mỉm miệng cười, một cái cười quen thuộc, bình tĩnh và nhẫn nại, Hai chân kéo lê một cách nhọc nhằn, người ra bộ mệt mỏi thiểu não. Chàng Goldmund đã biến ra người lạ ấy nhìn cậu thợ bạn với cặp mắt kỳ dị. Y trở về một cách kín đáo, làm như ở phòng bên cạnh bước sang, làm như mới hồi nãy vẫn ở đấy. Y giơ tay bắt tay Erỉch, không nói gì cả, không chào hỏi, không chuyện trò. “Tôi phải ngủ một giấc,” y chỉ nói vậy, ra bộ mỏi mệt vô cùng. Y bảo Erich đi chỗ khác và bước vào phòng mình ngay cạnh xưởng. Vào đến nơi y bỏ mũ ra quăng xuống đất, tháo giầy và lại gần giường. Phía trong là tượng Đức Mẹ phủ tấm màn, y tỏ vẻ thân mật nhưng không vén màn lên chào. Trái lại, y bước tới gần cửa sổ, trông thấy Erich sốt ruột đứng đợi ở ngoài, y nói lớn: “Erich, chú đừng nói cho ai biết tôi về nhé. Tôi mệt lắm. Để đến mai hãy hay.” Rồi y để nguyên quần áo mà đi nằm. Nằm một lúc lâu không ngủ được, y trở dậy lê bước nặng nề đến cái gương soi treo tường, nhìn vào thấy một chàng Goldmund nữa nhìn lại; một khuôn mặt quen thuộc nhưng đã thành ra người lạ, hình như không có mặt đối với mình, không có liên lạc gì với mình. Người ấy chỉ làm y nghĩ đến một người mà y biết: nhang nhác thầy Niklaus, nhang nhác nhà quý tộc ngày xưa đã tặng y một bộ quần áo cậu ấm, nhang nhác Thánh Jacques ở nhà thờ, một ông thánh râu ria, đội mũ hành hương, nom già nua lụ khụ, nhưng có vẻ vui vẻ nhân từ. Y nhận kỹ khuôn mặt trong gương như để biết rõ người lạ mặt. Khi đã nhận ra, y vội tỏ dấu thân mật: phải rồi, chính là mình, khuôn mặt đúng là những nét y tưởng tượng ra là nét mặt mình. Đó là một ông già mệt mỏi, đờ đẫn, mới đi xa về, một nhân vật để chọc cười, chẳng đáng đếm xỉa đến; nhưng ông ta chẳng có gì giận y, y còn khoái ông ta là đằng khác, y khám phá ra ông ta có cái gì mà chàng Goldmund xinh trai ngày xưa không có: ông già mỏi mệt và xuống dốc này có vẻ bằng lòng, đúng hơn, vẻ trai lỳ, trơ trơ. Y khẽ mỉm cười, ông già cũng mỉm cười đáp lễ. Chà! Y đi xa về đã dẫn về nhà một người như thế đó! Sau chuyến đi này y trở về, mỏi mệt và lụn bại như vậy đó! Không những y mất cả ngựa, tay nải lẫn tiền nong, y còn mất nhiều cái khác: tuổi trẻ, sức khoẻ, lòng tự tin, cặp má hồng hào, cặp mắt sáng nảy lửa. Tuy nhiên y cũng thích chí: ông già lẩm cẩm và hết gân này lại hợp sở thích của y hơn chàng Goldmund thuở trước. Ông ta có tuổi, yếu đuối và héo hon thật, nhưng chất phác hơn, an phận hơn, người ta dễ thỏa thuận với ông. Y cười, hạ một mi mắt nhăn nheo xuống, rồi vào gường ngủ. ... Mời các bạn đón đọc Đôi Bạn Chân Tình của tác giả Hermann Hesse.
Người Đi Dây - Colum McCann
"Người đi dây" là cuốn tiểu thuyết cảm động, phản ánh cuộc sống người dân nước Mỹ trong thời chiến tranh với Việt Nam và những chuyển biến xã hội thập niên 70.   Người đi dây là cuốn sách viết theo thủ pháp tiểu thuyết mới của tác giả Column McCann. Tác phẩm đã nhận được giải thưởng Văn học quốc tế Impac Dublin 2011 và là cuốn sách bán chạy theo New York Times Tiểu thuyết gồm nhiều truyện dạng trọn vẹn và độc lập, nhưng các nhân vật và tình tiết đều có mối liên hệ với nhau. Tác giả mượn sự kiện có thực là nghệ sĩ đi dây qua hai tòa tháp trung tâm Thương mại thế giới tại New York để nói về những cuộc đời, phản ánh nước Mỹ thập niên 70 trong không khí xáo động vì chiến tranh Việt Nam lẫn những chuyển biến trong xã hội. Trong ánh rạng đông của một buổi sớm cuối mùa hè, người dân ở Manhattan đứng nín lặng, chằm chằm nhìn lên điều không thể tin nổi ở tòa tháp đôi. Đó là tháng 8, năm 1974, và một người biểu diễn bí ẩn hết chạy lại nhảy trên sợi dây chăng giữa những tòa tháp, lơ lửng cách mặt đất một phần tư dặm. Dưới đường phố, biết bao nhiêu những cuộc đời bình dị đã trở nên phi thường trong bức chân dung lộng lẫy về một thành phố và những con người của nó, được phác họa bởi ngòi bút tiểu thuyết gia xuất sắc Colum McCann, những con người ấy được liên hệ với nhau theo những cách mà chính họ cũng không hề hay  biết. Người đi dây đã nắm bắt được cái hồn của nước Mỹ trong buổi giao thời, với triển vọng phi thường, và ẩn sau là một sự vô tội đến xé ruột. Góc nhìn tinh tế của tác giả khai thác được những khía cạnh rất đời thường mà gây cảm động sâu sắc. *** Colum McCann sinh ngày 28/02/1965 tại Dublin, Ireland. Hiện sống cùng vợ và ba con ở New York và đang giảng dạy tại chương trình Viết Sáng tạo, trường Hunter College. McCann được xem là một người nghệ sĩ quốc tế, sinh ra tại Ireland nhưng ông đã đi du lịch hầu như khắp thế giới. Đến Hoa Kỳ năm 1986, trong hai năm trên chiếc xe đạp ông đã đi khắp nước Mỹ với quãng đường 12.000 km. Rồi cùng vợ Allison sống ở Nhật 18 tháng trước khi đến New York. Trong một bài phỏng vấn, McCann đã chia sẻ "Tôi tin vào sự bình đẳng của những câu chuyện. Tôi yêu sự thật rằng những câu chuyện của chúng ta có thể vượt qua tất cả các loại biên giới và ranh giới. Tôi cảm thấy khiêm nhường khi biết rằng mình chỉ là một phần nhỏ bé của nền tri thức văn chương. Tôi lớn lên trong một ngôi nhà, ở một thành phố, trong một quốc gia được hình thành từ những quyển sách. Tôi không biết còn có đặc ân nào lớn hơn việc được kể lại những câu chuyện hay lắng nghe chúng. Đó là điều làm cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn." Colum McCann là tác giả của 6 tiểu thuyết và 2 tập truyện. Tác phẩm của ông đã được xuất bản với hơn 35 ngôn ngữ, và đã xuất hiện trên các tờ New Yorker, Esquire, Paris Review, Granta, The Atlantic Monthly, GQ, Tin House, Bomb,... Ông là người nhận được nhiều danh hiệu quốc tế, giải thưởng Sách quốc gia Mỹ (The National Book Award) năm 2009, tiểu thuyết nước ngoài hay nhất năm 2010 ở Trung Quốc, giải Impac Dublin (2011), Hiệp sĩ Văn học Nghệ thuật từ chính phủ Pháp và một đề cử Oscar. Tiểu thuyết Let the great world spin (Người đi dây, NXB Trẻ) đã mang về cho Colum McCann rất nhiều giải thưởng lớn và dành được sự ca ngợi trên toàn thế giới. Trở thành tác giả sách bán chạy nhất trên 4 lục địa. Bản quyền phim Let the great world spin đã được mua bởi J.J Abrams đang trong quá trình bấm máy. Tiểu thuyết mới nhất của Colum McCann Transtalantic được xuất bản vào mùa hè 2013 bởi Random House (U.S), Blomsbury (U. K) và muộn hơn trên các nhà xuất bản nước ngoài khác như Belfond (Pháp) và Rowholt (Đức). Mời các bạn đón đọc Người Đi Dây của tác giả Colum McCann.
Lâu Đài Cát - Magdalena Witkiewicz
Bằng ngôn ngữ của nhà văn và sự nhạy cảm của phụ nữ, Magdalena Witkiewicz đem tới những cảm xúc hỗn độn của một người đàn bà trước vực thẳm hôn nhân. Veronika và Marek quen nhau khi còn là học sinh trung học. Sáu năm hẹn hò của họ kết thúc bằng một đám cưới hạnh phúc. Với Veronika, được kết hôn với mối tình đầu là một điều tuyệt vời. Mặc kệ những lời trêu chọc của cô bạn thân lẳng lơ Dominika: "Sẽ chán chết nếu chỉ kè kè với một người đàn ông", Veronika vẫn mỉm cười hạnh phúc, bởi người chồng Marek là quá đủ với cô. Họ luôn ở bên nhau, tận hưởng những cảm xúc ngọt ngào của tình yêu cho đến khi những bất ổn xuất hiện. Khi những cặp tình nhân xung quanh đã làm cha mẹ, Veronika và Marek vẫn là vợ chồng son. Veronika rất yêu trẻ con và luôn mơ ước sẽ sinh cho Marek những đứa con xinh xắn. Nhìn con gái đáng yêu của cô bạn thân Eva, ước mơ đó càng mãnh liệt. Cô bắt đầu bàn bạc nghiêm túc với chồng về chuyện sinh con. Cô bắt chồng ăn uống và sinh hoạt điều độ để khả năng thụ thai cao hơn. Điều này làm Marek không thoải mái và mâu thuẫn dần nảy sinh giữa hai người. Nhưng mọi thứ vẫn không như ý muốn. Cuối cùng, cả hai quyết định tìm đến bác sĩ. Kết quả kiểm tra sức khỏe như một lưỡi dao chĩa thẳng vào cuộc hôn nhân của họ. Mọi vấn đề đến từ phía Marek. Tinh trùng của anh quá yếu để thụ thai. Để tình hình được cải thiện anh buộc phải điều trị bằng thuốc. Marek bắt đầu thấy ngột ngạt khi Veronika lúc nào cũng đề cập đến vấn đề con cái. Ngược lại, Veronika bực bội khi thấy chồng hút thuốc và uống bia. Cô còn có cảm giác như chính Marek đã cướp đi cơ hội làm mẹ của mình. Đúng lúc đó Kuba xuất hiện. Bằng sự tinh tế và nhạy cảm của một người đàn ông từng trải, anh mang đến cho Veronika những lời khuyên hữu ích, làm tâm trạng của cô nhẹ nhàng hơn. Họ bắt đầu gọi điện và gửi email cho nhau. Cùng thời gian này, Veronika nghi ngờ Marek gian díu với Dominika. Cộng thêm việc anh suốt ngày vắng nhà và lấy lý do bận bịu công việc khiến khoảng cách giữa hai vợ chồng ngày một lớn. Marek quyết định ra đi để cho cả anh và Veronika có thời gian suy nghĩ thông suốt mọi chuyện. Ban đầu, tình cảm giữa Veronika và Kuba chỉ là tình bạn thuần túy. Nhưng khi Marek ra đi, họ đã trở thành bạn tình của nhau. Veronika hoàn toàn hài lòng với mối quan hệ này. Chỉ đến khi biết mình có thể đã mang thai với Kuba, cô mới nhận ra mọi khúc mắc trong lòng bấy lâu. Cô rất mong mỏi có con, nhưng khi biết mình có thể đang mang thai, Veronika lại không cảm thấy hạnh phúc như cô vẫn nghĩ. Cô nhận ra, cô yêu chồng nhiều hơn cả việc cô muốn có một đứa con. Bao lâu nay khát khao có con đã làm cô quên đi điều đó... Lần đầu tiên trong đời, Veronika cảm thấy may mắn khi mình không mang thai. Cô quyết định cắt đứt với Kuba và cho cuộc hôn nhân của mình thêm một cơ hội. Cuốn tiểu thuyết khép lại với cái kết hạnh phúc dành cho Veronika và Marek. Họ trở về bên nhau và có một cô con gái xinh xắn. "Hôn nhân không chỉ là sống cùng nhau và đeo nhẫn cưới mà là phải thấu hiểu và thông cảm cho đối phương" là ý nghĩa Veronika tìm được cũng là thông điệp của câu chuyện. Bằng bút pháp tinh tế của một nhà văn và sự từng trải của một người phụ nữ có gia đình, Magdalena Witkiewicz đã vẽ nên một bức tranh sống động và chân thực về tình yêu và hôn nhân. Tác giả không cho rằng tình yêu là vĩnh cửu. Bằng câu chuyện đầy thực tế, tác giả cho người đọc thấy, dẫu có là tình yêu đích thực vẫn luôn có một đặc tính: mong manh dễ vỡ. Giữ gìn một tình yêu cũng giống như xây một lâu đài cát, ta phải luôn để mắt đến nó để giữ không cho sóng cuốn đi. Lâu đài cát không chỉ là câu chuyện về một về một người phụ nữ đau khổ trước hôn nhân tan vỡ. Đó còn là câu chuyện của niềm khát khao làm mẹ đến vô bờ. Chính nỗi khát khao đó khiến con người ta đứng trước nhiều lựa chọn khó khăn. Magdalena Witkiewicz đã rất khéo léo khi xây dựng tính cách các nhân vật. Một Veronika với vẻ ngoài cứng cỏi nhưng bên trong lại rất yếu mềm. Cô là một người phụ nữ trưởng thành nhưng đôi lúc lại ngây thơ như một thiếu nữ.  Đó là Marek - một người chồng vừa cứng rắn, vừa cương quyết, nhưng vẫn tràn đầy yêu thương và luôn điềm tĩnh. Còn Kuba - người đàn ông tinh tế và mạnh mẽ - tưởng chừng rất tuyệt vời hóa ra lại là một người đàn ông nhu nhược và chỉ biết trốn chạy. *** Magdalena Witkiewicz là một cái tên quen thuộc trong dòng văn học lãng mạn Ba Lan. Ngoài Lâu đài cát, tác giả có một số cuốn tiểu thuyết khá nổi tiếng về đề tài phụ nữ và gia đình, đã ra mắt độc giả Việt Nam như: Trường học dành cho các bà vợ, Chuyện kể của người đàn bà không chung thủy... Lâu đài cát do Nguyễn Thị Thanh Thư chuyển ngữ, vừa được Nhà xuất bản Trẻ phát hành tại Việt Nam. *** “Lâu đài cát” – chúng tôi đã suy nghĩ rất lâu về tựa đề này. Tôi đã khăng khăng đòi cuốn sách phải có tên là “Trên khúc ngoặt”. Bởi nó nói về chuyện đó. Về những khúc ngoặt của cuộc đời, mà đôi khi chúng xảy ra hoàn toàn bất ngờ. Và đôi khi tưởng như sẽ dẫn đến một con đường thẳng. Nhưng lúc này, khi đọc lại một lần nữa toàn bộ cuốn sách, tôi hiểu rằng sự mong manh của lâu đài cát là phù hợp hơn cả... Tất nhiên là có một số người mà tôi muốn bày tỏ lòng biết ơn vì sự ủng hộ trong quá trình viết. Nếu không có các bạn, thì cuốn sách sẽ không giống như cuốn sách mà các bạn đang cầm trên tay. Trước hết, xin cám ơn các bạn đọc nữ của tôi, nhưng người rất hiểu về chủ đề của cuốn sách và đã viết cho tôi. Tôi không thể kể hết tên các bạn ra đây được. Cám ơn Kasia Drywa vì sự giúp đỡ và Cô gái trên chiếc tàu xoáy cao tốc (có thể cuối cùng thì bạn ấy đã rời khỏi chiếc tàu cao tốc) vì cuốn nhật ký. Cám ơn cô bạn gái thân thiết của tôi, Gosia Lorek vì sự ủng hộ không ngừng nghỉ trong tất cả các giai đoạn hình thành nên tiểu thuyết này. Vì điều đó, tôi cũng cám ơn Ola Kucewicz-Nastaly – nhờ bạn mà những cái thai trong sách không đến nỗi quá hiển nhiên... Và như vậy sẽ hay hơn. Và nhờ bạn mà những calo được sử dụng trong phạm vi sáng tạo đã không bị phí phạm... Xin cám ơn! Cám ơn Ania Jarmolovska và Monika Borovska vì cuộc nói chuyện của chúng ta ở khu vui chơi. Nhờ các bạn mà tôi đã nảy ra những ý tưởng rất rối rắm... Và còn nữa Ania – cám ơn vì những tư vấn về tâm lý đối với các nhân vật của tôi. Tôi cũng xin cám ơn chuyên gia lớn nhất trong lĩnh vực thần thoại – cô gái hai mươi tuổi Sonia Domaradzka, người mà khi nghe tôi hỏi rằng, trong thần thoại Hy Lạp có nhân vật nào muốn có con nhưng không thể, đã suy nghĩ chỉ trong ba giây và trầm ngâm trả lời: “trong thần thoại Hy Lạp thì em không biết, nhưng trong thần thoại Ai Cập thì có Neftyda, người...” – và ở đây tôi đã biết đến mọi mối liên kết giữa Neftyda với các vị thần Hy Lạp... Cám ơn em, Sonia!!! Michalina Malczewska, xin cám ơn vì phần âm nhạc tuyệt vời và sự thể hiện ca khúc do tôi viết lời cho riêng tiểu thuyết này. Michalina đã đưa vào âm nhạc chính xác cái không khí của cuốn sách. Mời các bạn nghe ca khúc này trên trang web của tôi www.magdalenawitkiewicz.pl. Cám ơn Ania Grzyb vì sự ủng hộ trong từng giai đoạn viết cuốn sách này; Slawek – vì những tư vấn liên quan đến xe máy và không chỉ có vậy. Cám ơn Ivona Grodzka-Górnik, vì điều này: trên bảng của chị ấy tôi đã nhìn thấy sơ đồ cuốn sách của chị được viết ra rất tuyệt vời và tôi đã bỏ qua ý tưởng ấy. Cám ơn Kasia Bondz vì đã dạy Ivonka lập bảng kế hoạch. Các bạn có biết rằng đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi được viết theo sơ đồ dựng sẵn? Cám ơn mẹ tôi vì đã quán xuyến mọi việc (nhất là các con tôi), khi deadline hối thúc. Và Mai Witkiewicz, người đã trông nom các con tôi một cách kiên cường khi tôi ở Amalka để viết cuốn sách này. Kamilia Wyroślak, vì những bức ảnh đẹp, như mọi lần! Cám ơn ông xã tôi vì hình như anh đã nhất trí với việc tôi sẽ là nhà văn. Và cám ơn các con tôi – đơn giản vì sự hiện hữu. Vô cùng cám ơn Olga và Marysia. Vì sự tận tâm và vì các bạn yêu những gì mình làm. Hay ít ra cũng có vẻ như vậy. Và các bạn, NHỮNG BẠN ĐỌC YÊU QUÍ CỦA TÔI! Không có các bạn chắc sẽ không có tôi. Như thường lệ, tôi hết sức muốn biết nhận xét của các bạn về cuốn sách của tôi, về đứa con tinh thần thứ bảy này. Tôi chờ mail của các bạn ([email protected]) và xin mời các bạn đến với những cập nhật mới nhất trên Facebook www.facebook.com/witkiewicz. Magdalena Witkiewicz Mời các bạn đón đọc Lâu Đài Cát của tác giả Magdalena Witkiewicz.