Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đức Mẹ Mặc Áo Choàng Lông

Xuyên suốt cuốn sách là một bản tình ca nhẹ nhàng, sâu lắng mà cũng không kém phần cảm động. Chuyện kể về tình yêu giữa Raip Efendi một người Thổ Nhĩ Kỳ có niềm đam mê với hội họa và Maria Puder - 1 họa sĩ người Do Thái với đôi mắt đen và làn da trắng muốt như tuyết, người mà Raip vẫn gọi là "Đức mẹ". Hai người họ gặp nhau ở Berlin và cũng tình cờ yêu nhau một cách say đắm cuồng nhiệt. Tuy ban đầu Maria có vẻ khá khắt khe, vạch ra ranh giới rõ ràng với Raip nhưng cô biết rằng bản thân đã yêu anh ngay từ cái nhìn đầu tiên. Cô luôn dằng xé cảm xúc bản thân vì cô đã mất niềm tin ở đàn ông từ lâu, chính Raip đã đem lại cho cô một hi vọng sống mới. Còn đối với Raip thì Maria thực sự là 1 "Đức mẹ" với đôi mắt đen rất khác biệt với các cô gái anh từng gặp, anh yêu cô bằng cả trái tim chân thành. Tuy nhiên cuộc đời rất không công bằng khi cướp đi mạng sống của Maria, khiến Raip phải chờ đợi suốt 10 năm trong vô vọng vì tưởng rằng cô đã phản bội anh để theo người đàn ông khác. Anh cưới vợ và sống một cuộc sống như người mất đi mọi tri giác, mọi cảm xúc của anh đã chết đi khi anh biết tin Maria vì sinh đứa con gái cho anh mà mất đi, để lại trong anh nỗi tuyệt vọng và dày vò suốt cuộc đời. Đến cuối đời anh vẫn sống trong sự cô đơn, bị sỉ nhục bởi chính người thân trong gia đình, anh chỉ tìm thấy sự bình yên khi ở bên Maria mà thôi. Một câu chuyện tình cảm động rất đáng để đọc. *** SABAHATTIN ALI sinh ngày 12 tháng 2 năm 1906 tại thành phố Egiơnidere, nay là thành phố Ardinê thuộc nước Cộng hòa Nhân dân Bungari. Vào đầu thế kỷ này thành phố vẫn thuộc Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng sau cuộc chiến tranh Bancăng ( 1912 - 1913 ), Bungari đã thu hồi mảnh đất ấy về mình. Năm 1927, sau khi tốt nghiệp trường trung học, Ali trở thành người thầy giáo nông thôn. Cuộc sống ở miền Iodơgađa ( Vùng trung tâm Anatôli ) đã làm cho ông kinh tởm. Những biến động lớn lao của xã hội hầu như không vang động được đến đây. Xung quanh vẫn là sự bóc lột tàn tệ, sự bất công, áp bức được khoác bộ mặt mới ngày càng tinh vi hơn, thâm độc hơn. Sự xung đột sâu sắc với cuộc sống xung quanh đã dẫn Ali đến ý nghĩ tự sát. Khó có thể nói được số phận của anh sẽ ra sao nếu như không có niềm an ủi duy nhất là văn học.  Vào cuối những năm 20 của thế kỷ, vì thiếu những giáo viên có kinh nghiệm, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ đã gởi một số giáo viên trẻ ra nước ngoài để học tập thêm. Lợi dụng cơ hội này như là một khả năng để thoát ra khỏi bầu không khí ngột ngạt tù túng ở nông thôn và để tìm hiểu thêm về thế giới, Sabahattin Ali đã cố gắng thi đậu kỳ thi tuyển sinh. Năm 1928 anh được gởi sang Đức học tập, đầu tiên ở Pốtxđam, sau đó ở Berlin.  Cũng như nhiều thanh niên tiến bộ khác lúc bấy giờ, Ali mơ ước xóa bỏ sự áp bức của chủ nghĩa đế quốc đối với nhân dân lao động. Anh đã cảm thấy điều ấy rất thấm thía ngay tại quê hương mình. Từ một đất nước lạc hậu, hoang tàn sau chiến tranh, Ali sang Đức là nhằm mục đích nắm vững kiến thức khoa học, văn hóa để phục vụ cho tổ quốc. Nhưng trong thời gian đó chủ nghĩa phân biệt chủng tộc ở Đức đang phát triển mạnh mẽ và ngày càng tiến dần đến việc nắm lấy chính quyền. Sự căm thù các giá trị tinh thần, văn hóa và nghệ thuật của bọn phân biệt chủng tộc và sô-vanh đã làm cho một số sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ đang học tập tại đó trở thành những người chống chủ nghĩa phát xít tích cực.  Một lần trong cuộc tranh luận, một người Đức theo chủ nghĩa xã hội - dân tộc đã xúc phạm đến lòng tự trọng của những sinh viên Thổ Nhĩ Kỳ, Sabahattin Ali đã tát cho y một cái. Lợi dụng sự kiện này những người lãnh đạo hội kiều dân Thổ đã đưa Ali về nước. Đã từ lâu, người thực tập sinh bướng bỉnh cùng với những lời nhận xét cay độc, độc địa đối với bọn sinh viên Đức và Thổ Nhĩ Kỳ theo chủ nghĩa sô-vanh đã làm cho giới lãnh đạo để ý, khó chịu.  Bất chấp những kinh nghiệm cay đắng, Ali không hề có ý định dấu diếm những quan điểm chính trị của mình. Nhà văn, thường đọc thơ cho học sinh và đồng nghiệp nghe. Một trong những độc giả của anh lại là tên chỉ điểm của mật thám trá hình, qua sự tố giác của y, Sabahattin Ali bị bắt vào mùa hè năm 1938. Tòa án hình sự thành phố Kônhi đã xử anh 14 tháng tù giam vì tội "đã thóa mạ những nhân vật cao cấp của chính quyền ". Ali bị giam ở pháo đài Xinôp trên bờ biển Đen.  Tình bạn với những người cộng sản trong nhà tù Xinôp đã giúp Ali hiểu về chủ nghĩa Mác một cách sâu sắc, khơi dậy trong lòng anh sự khát khao hiểu biết một cách khoa học những quy luật xã hội.  Vào đầu cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai, trong đất nước Thổ Nhĩ Kỳ những thế lực đen tối bắt đầu ra sức hoành hành. Những tên phát xít người Thổ đã tổ chức những cuộc biểu tình và những vụ tàn sát đẫm máu. Các câu lạc bộ mà thực chất là các tổ chức phát xít được Berlin đài thọ đã ra sức truy lùng, theo dõi những trí thức yêu nước, tiến bộ để sau đó tìm cách thủ tiêu, giết hại. Vào năm 1939, chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ còn tìm cách che đậy lập trường và thiện cảm của mình đối với chủ nghĩa phát xít, song hai năm sau, khi mà những chiến thắng tạm thời của Hitle ở mặt trận phía Tây làm xao động thế giới, thì chiếc mặt nạ của chính phủ cũng rơi ra. Thủ tướng Thổ lúc bấy giờ đã công khai lên tiếng " mong muốn tiêu diệt nước Nga Xô-Viết ".  Các tầng lớp nhân dân tiến bộ trong nước lúc đó đã phải đương đầu rất khó khăn với những thế lực phản động. Và trong cuộc đấu tranh này cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Sabahattin Ali : " Quỷ ám " đã giáng cho bọn phát xít bản địa một đòn đích đáng.  Trước đó tên tuổi nhà văn đã rất nổi tiếng qua những tác phẩm nói về những người công nhân, nông dân, những người thợ thủ công nghiệp và tầng lớp trí thức. Đó là tập thơ " Gió và núi " ( 1934 ), ba truyện ngắn : " Chiếc cối xay " (1935 ), "Arba " ( 1936 ), " Tiếng nói " ( 1937 ), cuốn tiểu thuyết "Uxup từ Kulzacka " ( 1937 ) và bây giờ là " Quỷ ám " (1940 ). Cũng theo lời Nazim Hikmet những tác phẩm trên đã làm cho Sabahattin Ali " trở thành thủ lĩnh của một trường phái văn học, mở ra một hướng đi mới trong văn xuôi Thổ Nhĩ Kỳ ". Hướng đi này trên quê hương nhà văn được gọi là : "Chủ nghĩa hiện thực xã hội."  Vào đầu những năm 40, một trong những chủ đề thu hút nhà văn là sự khủng hoảng trong ý thức cá nhân. Bằng kinh nghiệm sống của mình, Ali đã nhận thấy rằng chủ nghĩa cá nhân tiểu tư sản không thể dễ dàng từ bỏ những đặc điểm của mình dưới sự tác động của những yếu tố bên ngoài. Nhà văn đã đề cập đến vấn đề này trong cuốn truyện vừa " Đức Mẹ mặc áo choàng lông ".  Có lẽ đây là tác phẩm tâm huyết nhất của nhà văn, chứa đựng ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nếu như không tính đến người dẫn truyện thì trong tác phẩm chỉ có hai nhân vật. Những nhân vật khác chỉ xuất hiện vài chỗ và cũng rất ngắn. Thành phố Berlin sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sự khủng hoảng kinh tế thế giới, những cuộc tranh luận của những sĩ quan Đức theo chủ nghĩa phục thù…toàn bộ những vấn đề này chỉ là một tấm phông cho những hoạt động của nhân vật chính, một thanh niên trí thức Thổ Nhĩ Kỳ trong câu chuyện bị hoàn toàn tách ra khỏi quê hương, sống trong thành phố Berlin xa lạ, không người thân thuộc. Người thanh niên đó cũng giống như Sabahattin Ali lúc còn trẻ mơ ước một tình yêu trong sáng, lành mạnh như là một biện pháp duy nhất để nhận thức cá nhân mình. Và một tình yêu như vậy đã đến với anh và nó đã chỉ cho anh thấy rõ hơn bản thân mình : một con người có cuộc sống nội tâm phong phú, có một tâm hồn trong sáng, cao thượng. Nhưng để xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn, để trở nên xứng đáng với tình yêu của mình thì tất cả những điều ấy hãy còn chưa đủ.  Cuốn truyện vừa của Ali cũng giống như một tác phẩm văn học chân chính khác là một bức tranh tổng hợp phức tạp về nhiều mặt của cuộc sống. Mọi người đọc có thể tìm thấy ở đó những điều bổ ích cho mình, còn chính tác phẩm đã trao cho độc giả chiếc chìa khóa để mở ra những điều lý thú khác mà trong cuốn sách không nói đến.  Đối với những người đọc tinh ý thì có thể nhận thấy nhân vật của tác phẩm mang nhiều nét của chính Sabahattin Ali lúc còn trẻ, đặc biệt là trong thời gian ông học tập tại Berlin. Một số nhà phê bình Thổ Nhĩ Kỳ dựa vào đó đã khẳng định rằng đây là tác phẩm tự thuật của nhà văn. Nếu như điều ấy là đúng thì chỉ đúng ở một điểm duy nhất : Sau nhiều năm, trở lại với những suy tư thời trai trẻ, Sabahattin Ali đã hoàn toàn đoạn tuyệt với những ảo tưởng ngây thơ của mình. Ông đã chỉ rõ rằng con người sống bằng những ước mơ lãng mạn của mình, dù cho đó là những ước mơ cao đẹp nhất, trong sáng nhất nhưng nếu không được củng cố bằng những tri thức thực tế của cuộc sống thì sẽ không có khả năng thay đổi được điều gì. Hơn nữa những ước mơ ấy có khi lại trở thành những cạm bẫy mà không dễ gì thoát ra nổi. Một tình yêu đôi lứa cao đẹp cũng chỉ có thể giúp cho nhân vật chính của chúng ta thoát khỏi sự vô nghĩa, đơn điệu trong cuộc sống của anh ta mà thôi.  Năm 1948, sau khi mãn hạn tù 3 tháng vì làm báo " Pasa nổi tiếng ", Sabahattin Ali đi đến quyết định cần phải rời khỏi Thổ Nhĩ Kỳ để tiếp tục cuộc đấu tranh. Ý nghĩ đầu tiên của ông là sang Bungari, đất nước nơi đã sinh ra ông và hiện đang có nhiều người Thổ sinh sống. Nhưng lý do quan trọng hơn cả là ở đó nhân dân đã và đang thực sự làm chủ vận mệnh của mình. Trong số những người bạn tù với Sabahattin Ali có một người tự xưng là đảng viên Cộng sản, anh ta hứa sẽ giúp nhà văn trốn ra nước ngoài. Nhưng thực chất đó là một kẻ khiêu khích do mật vụ cài vào.  Vào đầu tháng 3 năm 1948, Sabahattin Ali biến mất. Mãi đến vài tháng sau các báo mới đưa tin phát hiện thấy xác nhà văn trong khu rừng Karabain gần biên giới Bungari. Những người thân phải khó khăn lắm mới nhận được ra Sabahattin Ali.  Từ đó đến nay đã 38 năm trôi qua. Ngày nay những kẻ thù chính trị của nhà văn cũng phải thừa nhận rằng những sáng tác của ông đã trở thành những tác phẩm cổ điển trong nền văn học Thổ Nhĩ Kỳ. Bằng những tác phẩm và chính cuộc sống của mình, nhà văn đã và đang là tấm gương sáng chói cho một thế hệ nhà văn trẻ tiến bộ của Thổ Nhĩ Kỳ noi theo.  Hàng năm, người ta trao cho những nhà văn xuất sắc nhất giải thưởng cao quý mang tên Sabahattin Ali và đó là niềm tự hào của nền văn học tiến bộ Thổ Nhĩ Kỳ.   Mời các bạn đón đọc  Đức Mẹ Mặc Áo Choàng Lông của tác giả Sabahattin Ali.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Biệt Thự Longbourn
Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và Định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet. Họ gửi thư và đánh xe ngựa; họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà - họ là “những người được ủy thác” để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người.  Biệt thự Longbourn đào sâu vào quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và Định kiến; nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen. Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và Định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này. Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill; sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, thì tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ. - Jo Baker - *** BIỆT THỰ LONGBOURN (JO BAKER) - NGOẠI TRUYỆN ĐẶC SẮC CỦA "KIÊU HÃNH VÀ ĐỊNH KIẾN" Không ai có thể nói trước được rằng cuộc đời chúng ta, những chọn lựa của chúng ta là sai hay đúng, và sai đúng ấy ở mức độ như thế nào... Nhưng cuộc tình giữa Elizabeth Bennet và Fitzwilliam Darcy trong Kiêu Hãnh và Định Kiến đã thành công, không chỉ nhờ sự vượt qua các rào cản từ phía họ, mà chính còn bởi những xung lực ngầm, những sự trợ giúp, những tác động rất nhỏ theo hiệu ứng cánh bướm, từ những người thân chung quanh. Trong đó, có các gia nhân của Biệt Thự Longbourn. Nhưng đồng thời, một người đọc không phải là độc giả của Jane Austen vẫn có thể đọc Biệt Thự Longbourn mà không cần quan tâm hay biết trước về cốt truyện của Kiêu Hãnh và Định Kiến. Đó chính là điểm độc đáo của một cuốn sách tiếp nối sự sáng tạo và thành công của một kiệt tác trước đó. *** Cuộc đời những nhân vật vô danh trong 'Kiêu hãnh và định kiến. Khi Elizabeth và Darcy trong "Kiêu hãnh và định kiến" đang mải tán tỉnh nhau trên lầu, những người hầu cận cũng đang bận rộn với chuyện tình cảm của riêng họ. Biệt thự Longbourn của tác giả Jo Baker đã đưa ra những góc nhìn khác về các sự kiện trong Kiêu hãnh và định kiến thông qua câu chuyện của hai người hầu vô danh.  Cuốn sách xoay quanh một phần cuộc đời của Sarah - cô hầu gái ở Longbourn, biệt thự của gia đình Bennet. Gia đình Bennet có 5 con gái và họ là nhân vật chính trong tiểu thuyết nổi tiếng Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen. Sarah đem lòng cảm mến chàng người hầu kỳ lạ có tên James. Cuộc tình của họ diễn ra song song với cuộc tình của Elizabeth và Darcy. Tuy nhiên, vì bí ẩn thân thế của James, cuộc tình của hai người hầu gặp nhiều sóng gió hơn. Quá khứ phức tạp của James dẫn anh đến nhiều rắc rối. Khi Wickham, một sĩ quan quân đội, người mà sau này trở thành chồng của Lydia (cô em út nhà Bennet) phát hiện ra quá khứ của James, anh phải lặng lẽ rời đi mà không để lại lời từ biệt cho Sarah.  Cô nàng Sarah, vì tình yêu của đời mình, đã từ bỏ công việc hầu gái cho cô chủ Elizabeth ở biệt thự của Ngài Darcy để bước vào cuộc hành trình đầy gian khổ đi tìm James.  Cuốn sách Biệt thự Longbourn được Jo Baker xuất bản năm 2013, bao gồm đủ cốt truyện của Kiêu hãnh và định kiến để một người dù từng đọc tác phẩm kinh điển này hay chưa đọc, đều không cảm thấy bị lạ lẫm. Thậm chí, một người say mê Jane Austen cũng có thể hài lòng với những gì được miêu tả trong cuốn sách này. Khi được hỏi về ý tưởng viết nên cuốn sách, tác giả Jo Baker đã chia sẻ: "Những nhân vật chính trong Biệt thự Longbourn chỉ hiện diện về mặt tinh thần trong Kiêu hãnh và định kiến. Họ tồn tại để phục vụ gia đình Bennet.  Họ gửi thư và đánh xe ngựa. Họ làm việc vặt khi không ai muốn ra khỏi nhà. Họ là "những người được ủy thác" để đi lấy những bông hồng đính giày cho buổi dạ hội ở Netherfield dưới cơn mưa rào. Nhưng họ - ít nhất trong tâm trí tôi - cũng là con người. Biệt thự Longbourn đào sâu quá khứ của các nhân vật này, và kéo dài sau cả cái kết hạnh phúc của Kiêu hãnh và định kiến. Nhưng ở những sự kiện trùng lặp trong cả hai cuốn sách, chúng được mô tả chính xác như trong cuốn sách của Jane Austen.  Khi một bữa ăn được dọn ra trong Kiêu hãnh và định kiến, nó đã được chuẩn bị ở gian bếp của Biệt thự Longbourn. Khi những tiểu thư nhà Bennet đến dự vũ hội trong cuốn sách của Austen, họ đã rời cỗ xe ngựa trong cuốn sách này.  "Tôi chỉ đặt tên cho những nhân vật vô danh - người hầu, người đánh xe, cô hầu gái - và dành vai trò nấu nướng kiêm quản gia cho bà Hill. Sự sắp xếp như vậy là khá phổ biến trong những gia đình với quy mô và vị thế như vậy. Nhưng những gì xảy ra ở gian nhà dưới giữa các gia nhân, khi Elizabeth và Darcy còn bận rộn yêu đương trên nhà chính, tôi nghĩ hoàn toàn tùy thuộc vào họ", tác giả cho biết. *** Người quản gia… Bà Hill và hai người giúp việc. Quần áo thì chắc chắn phải được giặt trước khi mặc, cũng như không thể ra ngoài đường mà không mặc đồ, ít nhất là ở Hertfordshire này, đặc biệt là vào tháng Chín. Ngày giặt giũ là không thể tránh khỏi, nhưng viễn cảnh gột rửa đống đồ vải của gia đình hằng tuần vẫn khá ảm đạm trong mắt Sarah. Trời vẫn lạnh buốt vào lúc bốn giờ ba mươi sáng, khi cô bắt đầu làm việc. Cần gạt nước bằng sắt lạnh như băng, mặc dù đã đeo găng nhưng những vết nẻ trên tay cô vẫn nhói đau khi cô bơm nước từ dưới lòng giếng tối om lên và đổ vào cái xô để sẵn bên cạnh. Còn cả một ngày dài phía trước, và công việc này mới chỉ là khởi đầu mà thôi. Mọi thứ xung quanh đều tĩnh lặng. Đàn cừu chậm rãi đi thành từng cụm trên sườn đồi; những con chim nấp trong bờ rào xù lông như những nùi bông kế; trong rừng, một con nhím bò qua đám lá vàng tạo nên tiếng kêu sột soạt; dòng suối phản chiếu ánh sáng lấp lánh lên những tảng đá. Dưới kia, trong khu chuồng gia súc, lũ bò đều đặn phả ra những làn hơi trắng mờ, còn ở chuồng bên, cô lợn nái nằm khụt khịt trong lúc đàn con tranh nhau bú mẹ. Bà Hill và chồng bà đang chìm trong giấc ngủ vì kiệt sức trên căn gác xép nhỏ bé; và ở dưới đó hai tầng, trong phòng ngủ chính, ông bà Bennet đang ngáy đều đều dưới tấm chăn thêu. Những tiểu thư trẻ, năm người cả thảy, đều đang ngủ trên giường, mơ về những gì mọi cô gái trẻ vẫn mơ. Và từ trên cao kia, ánh sao lạnh lùng chiếu xuống mái nhà lợp đá, khoảng sân lát đá, căn nhà phụ, bụi dâu và cả khu đất hoang nhỏ bên kia bãi cỏ, xuống bầy gà lôi đang túm tụm với nhau, và xuống Sarah, một trong hai gia nhân ở Longbourn, người đang kéo cần gạt nước, đổ đầy xô và vần nó sang một bên. Lòng bàn tay cô lúc này đã nhức nhối, nhưng cô vẫn kéo một cái xô khác sang để đổ đầy nó. Trên những ngọn đồi phía đông, bầu trời đã chuyển sang màu chàm trong trẻo. Sarah ngước nhìn lên, kẹp hai bàn tay vào nách, vừa thở ra khói vừa mơ về vùng đất hoang dã cuối chân trời kia, nơi mà mặt trời đã lên chiếu sáng rực rỡ, và khi ngày của cô kết thúc, nó vẫn tiếp tục chiếu sáng ở một nơi nào đó khác, như Barbados, Antigua và Jamaica, nơi những người đàn ông da đen cởi trần làm việc; chiếu lên toàn bộ châu Mỹ, nơi những người da đỏ hầu như không mặc quần áo, và do đó có rất ít đồ phải giặt; và một ngày nào đó, cô sẽ đến những vùng đất ấy và không bao giờ phải giặt đồ lót cho người khác nữa. Bởi vì, cô nghĩ trong khi đang móc những xô nước vào hai đầu đòn gánh, cúi xuống đỡ lấy nó rồi loạng choạng đứng thẳng lên, thực sự là không ai đáng phải giặt đống quần áo bẩn của người khác. Các tiểu thư có thể cư xử như những bức tượng thạch cao mịn màng và kín kẽ dưới lớp quần áo lượt là, nhưng khi họ vứt những bộ đồ lấm lem chờ được đem đi giặt xuống sàn phòng ngủ, bản chất yếu đuối, dơ dáy, cộc cằn của họ sẽ bị phơi bày. Có lẽ đó là lý do vì sao họ thường ra lệnh cho cô từ phía sau khung thêu hay khi đang cúi mặt đọc sách; cô là người đã vò sạch những mảng ố do mồ hôi, vết bẩn hay máu đến tháng của họ; cô biết họ không phải là những thiên thần tinh khôi như người ngoài vẫn nghĩ, và vì thế họ không dám nhìn thẳng vào mắt cô. Đống xô nước chao nghiêng khi Sarah loạng choạng đi qua sân; cô vừa bước tới bên cánh cửa phòng giặt thì trượt chân và mất thăng bằng. Khoảnh khắc ấy như được kéo dài, đủ để cô nhìn thấy đống xô nước vụt bay lên và văng ra, tuột khỏi đòn gánh, hất hết nước ra ngoài, khiến những gì cô làm nãy giờ bỗng chốc trở về số không, và cô còn kịp nhận ra khi sắp tiếp đất, cơn đau đang đón chờ cô. Rồi thì những cái xô rơi xuống đất và nảy lên, làm cho những con quạ đậu trên mấy cây dẻ gai giật mình kêu quang quác, còn Sarah thì đập mạnh người xuống nền sân lát đá. Cô đã đánh hơi ra thủ phạm làm cô trượt chân: bãi phân lợn phía dưới. Con lợn nái đã xổng ra ngày hôm qua, cả đàn lợn con đã chạy theo nó và chưa ai kịp dọn dẹp sau đó vì chẳng ai có thời gian. Công việc mỗi ngày đều bị dồn ứ đến ngày hôm sau, và không có việc nào được hoàn thành cả, vì vậy chẳng ai có thể nói câu: “Xem này, công việc hôm nay đã xong hết rồi.” Mọi việc cứ dồn ứ lại, uể oải và ngổn ngang để khiến bạn giẫm lên chúng và trượt chân vào buổi sáng. Sau bữa sáng, bên bếp lửa, Lydia vừa thu hai chân lên xếp bằng, vừa nhâm nhi ly sữa có đường và phàn nàn với bà Hill. “Bà không biết bà may mắn thế nào đâu, bà Hill. Được giấu mình ở nơi ấm áp và đẹp đẽ thế này.” “Đấy là cô nghĩ vậy thôi, cô Lyddie.” “Ồ, tôi nghĩ vậy thật đấy! Bà có thể làm gì tùy thích đúng không, mà không có ai lượn lờ xung quanh và chỉ trích bà. Chúa ơi! Nếu như tôi phải nghe thêm giọng điệu cảnh cáo của Jane một lần nữa - và đấy là tôi mới chỉ thử quậy một chút…” Ở phòng kế bên, cạnh những bậc thang dẫn lên phòng giặt đồ, Sarah đang còng lưng trên tấm ván giặt, vò sạch phần viền áo đã bị ố. Chiếc váy lót ngập sâu ba thước trong bùn mà cô nhặt lên từ sàn phòng ngủ của các cô gái đã được ngâm một đêm trong dung dịch kiềm. Xà phòng không lay chuyển được vết bẩn, nhưng lại gặm nhấm đôi bàn tay giờ đã nẻ và nứt toác của cô, khiến chúng nhức nhối. Sarah vẫn nghĩ, nếu Elizabeth phải tự giặt váy lót của mình, thì chắc chắn cô ấy sẽ cẩn thận hơn khi mặc chúng. Chiếc thùng hấp bốc hơi nghi ngút, một lô quần áo đang được ngâm trong đó, ngay cạnh khung cửa sổ mờ hơi nước trước mặt cô. Sarah cẩn thận bước từ ván giặt cạnh chậu rửa sang ván giặt cạnh nồi hấp, qua sàn đá trơn trượt và xỉn màu. Cô thả bộ váy lót vào thùng nước đang nổi bong bóng, nhấc cái gậy giặt lên và nhấn bộ đồ lót chìm xuống để những bóng khí thoát ra, rồi khuấy đều. Cô đã được dạy - và cô cũng phải tin như thế - rằng những bộ đồ lót cần phải được tẩy cho thật trắng trước khi chúng lại bị vấy bẩn trong lần mặc tiếp theo. Polly đang nhúng ngập khuỷu tay trong bồn rửa lạnh buốt, chà mạnh những cái nơ áo của Ngài Bennet trong nước, sau đó nhấc từng chiếc ra rồi lại nhúng vào nước lạnh lần nữa để giũ sạch chúng. “Ta còn bao nhiêu đồ phải giặt nữa nhỉ, chị Sarah?” Sarah nhìn quanh và ước lượng. Những cái chậu đang ngâm đầy đồ vải, những đống đồ sũng nước ở các công đoạn giặt giũ khác nhau. Ở một số nơi khác, người ta thuê thêm người phụ việc trong ngày giặt giũ. Nhưng ở đây thì không. Tại biệt thự Longbourn, họ luôn tự giặt đồ vải bẩn. “Vẫn còn ga trải giường, vỏ gối, và cả quần áo của chúng ta nữa…” Polly lau tay vào tạp dề và giơ tay lên đếm những đống đồ còn lại, nhưng khi thấy tay mình đã ửng đỏ, cô bé cau mày và xoay bàn tay lại, xem xét chúng như thể chúng rất thú vị và không hề liên quan đến cô. Hẳn là chúng đã tê dại rồi, ít nhất là vào lúc này. “Và còn cả đống khăn ăn nữa.” Sarah nói thêm. Giờ đang là khoảng thời gian khó khăn nhất của mỗi tháng, khi mọi người phụ nữ trong nhà đều trở nên nóng nảy, hậu đậu và dễ khóc hơn, chưa nói tới việc đến tháng. Những chiếc khăn ăn đang được ngâm trong chậu riêng, bốc lên thứ mùi đặc trưng không hề dễ chịu - cửa hàng bán thịt; chúng sẽ được đun sôi cuối cùng, lẫn với đống cặn trong thùng đồng trước khi bị đổ đi. “Chị nghĩ chúng ta còn năm chồng đồ nữa cần giặt.” Sarah thở dài rồi kéo kéo phần đường may dưới ống tay áo. Dưới lớp váy mà cô rất ghét, mồ hôi của cô đang tuôn ra như tắm. Đó là bộ váy vải thô mà bà Hill cho là có màu xanh của nước sông Nile, nhưng theo Sarah, nó có màu dịch mật thì đúng hơn; nhưng màu sắc khó chịu của bộ váy này không phải là vấn đề lớn, bởi sẽ chẳng có ai nhìn ngắm cô trong bộ đồ này cả, vấn đề nằm ở các đường may ấy. Nó vốn được may cho cô Mary, để quấn quanh cánh tay mềm mại, chuyên dùng để thêu thùa hoặc đánh đàn dương cầm. Nó không thoải mái và linh hoạt để phù hợp với những công việc đòi hỏi sức lực, và Sarah chỉ mặc bộ váy này bởi bộ đồ còn lại của cô, bộ bằng vải bông pha len xám xịt đã bị ngâm sũng nước và đang được treo trên dây phơi để chờ mùi phân lợn hôi thối bay đi. “Bỏ lượt tiếp theo vào đi.” Cô nói. “Em khuấy nhé, còn chị sẽ vò.” Như thế sẽ đỡ cho đôi bàn tay nhỏ của em, Sarah nghĩ bụng, mặc dù tay của cô cũng mất hết cảm giác rồi. Cô lùi lại khỏi thùng đồng, bước lên ván giặt cạnh bồn rửa để nhường lối cho Polly đi qua. Rồi cô dùng cái kẹp quần áo để lôi một chiếc nơ áo ra khỏi đống bột hồ và quan sát nước keo nhỏ giọt lại vào trong chậu. Polly vừa khuấy cây gậy trong thùng bằng đồng, vừa bóc da môi bằng phần móng tay đã bị cắt cụt lủn. Mắt cô bé vẫn còn sưng đỏ sau khi bị bà Hill mắng vì đã không dọn sân cẩn thận. Buổi sáng ấy, cô đã phải dậy nhóm lửa, xách nước, rồi thì chuẩn bị cho bữa tối ngày Chủ nhật; và khi mọi người ăn xong thì trời đã tối rồi, ai có thể dọn đống phân lợn dưới ánh sao mờ mịt được chứ? Mà chẳng phải lúc đó cô cũng đang phải ngồi cọ đống xoong chảo đấy thôi? Mười đầu ngón tay của cô đã xước hết sau khi cọ những vết cháy sém. Hơn nữa, nếu nghĩ lại thì chẳng phải đó là lỗi của người đã không khép cửa chuồng cẩn thận, khiến cho con lợn nái chỉ cần huých nhẹ là thoát được ra sân hay sao? Họ cũng không nên đổ lỗi cho Polly đáng thương việc Sarah bị ngã và công việc thì bị đình trệ - cô nhìn quanh rồi hạ giọng thì thầm để ông Hill không nghe thấy - mà nên trách chính ông ta, người chịu trách nhiệm trông coi chuồng lợn. Ông ta mới phải chịu trách nhiệm dọn dẹp sân sau chứ? Nhiệm vụ của ông già lôi thôi đó là gì? Tại sao khi cần thì chẳng thấy mặt ông ta đâu? Chẳng phải họ vẫn cứ càm ràm chuyện cần thêm người phụ giúp đấy thôi? Sarah gật đầu đồng tình và thở dài, mặc dù cô đã không còn lắng nghe nữa rồi. Lúc đồng hồ ở sảnh đánh lên tiếng chuông thứ tư, ông bà Hill đang phục vụ mọi người món ăn nhẹ vào ngày giặt giũ: thịt quay còn thừa từ Chủ nhật; hai cô hầu gái thì đang đứng ngoài bãi cỏ để phơi đồ, những tấm vải ướt vẫn còn bốc khói trong khí chiều mát mẻ. Một trong những vết nẻ của Sarah đã nứt toác và đang chảy mủ, khiến cô phải đưa lên miệng và liếm máu đi để không làm bẩn đồ vải. Cô đứng lặng người mất một giây để cảm nhận rõ cái nóng từ lưỡi mình chạm vào làn da lạnh tái, cái nhức nhối của vết nẻ, vị mặn của máu và hơi ấm của môi; vì vậy cô đã không thấy rõ, và có thể cô đã nhìn nhầm, nhưng trong thoáng chốc, cô nghĩ mình đã thấy thứ gì đó di chuyển trên con đường cắt ngang ngọn đồi đối diện, con đường nối giữa đường vận chuyển gia súc cũ tới London và làng Longbourn, và xa hơn nữa là trạm đóng quân Meryton mới. Mời các bạn đón đọc Biệt Thự Longbourn của tác giả Jo Baker & Phương Anh, Việt Anh (dịch).
Son Môi Trong Bóng Tối
Cô gái tóc vàng trần như nhộng nhảy qua cửa sổ bỏ trốn ấy là ai? Họ tên: Charlotte Malère Tuổi: Ba mươi, theo phong cách tuổi băm phơi phới. Nghề nghiệp: Phê bình điện ảnh Điểm đặc biệt: Là nạn nhân của mọi sự cố khó tin nhất trên đời. Một buổi sáng đẹp trời, Charlotte tỉnh dậy trơ trọi với cánh tay bị còng vào giường tại nhà người tình, đạo diễn nổi tiếng Richard Bouvier. Để trốn khỏi nanh vuốt của cô vợ người tình, nàng phá khóa, nhảy qua cửa sổ xuống phố trong tình trạng khỏa thân rồi chui tọt vào chiếc xe vừa xịch tới. Khi bị phát hiện, nàng vơ đại áo vest của anh chàng lạ mặt rồi biến mất… mà không thể ngờ rằng, năm tiếng sau, họ gặp lại nhau, thậm chí còn song ca cùng nhau trong buổi lễ bế giảng ở một trường tiểu học. Phải chăng dấu hiệu đầu tiên của một câu chuyện tình đang dần hé mở? Lạc quan, cuồng nhiệt và đầy ắp đam mê, mầm mống điên loạn mang tên Charlotte đó ập đến, khiến bạn phải sững sờ, xúc động và trên hết, bạn thấy rằng có lẽ cô nàng rất giống bạn!   Tác giả Sinh năm 1977,  là một nghệ sĩ đa tài. Cô là diễn viên, ca sĩ và nhà văn tài năng. Charlotte tham gia rất nhiều cuộc thi hát và kịch từ nhỏ, và sau này cô theo học diễn xuất tại trường điện ảnh. Cô đạt được thành tựu đáng kể với vai diễn trong các vở kịch của Obaldia, Molière, Camus... Cuộc gặp gỡ với Marion Michau mang tính quyết định tới sự nghiệp của Charlotte Marin. Hai người đã hợp tác trong nhiều dự án âm nhạc cũng như kịch ngắn. Son môi trong bóng tối chính là kết quả tuyệt vời của sự hợp tác đó, đánh dấu bước lấn sân sang văn học của Charlotte Marin. *** Khen tặng của báo chí “Sống động, tươi vui như một bộ phim hài lãng mạn.” - Elle “Một tiểu thuyết đầu tay xuất sắc, là sự pha trộn tài tình của hài hước đến phi lý và lãng mạn tuyệt đối!” - France Soir   ***   Một mớ tóc vàng thò ra khỏi chăn, là tôi: Charlotte Malère. Tôi tỉnh dậy, mỉm cười mãn nguyện như điệu cười trong quảng cáo cà phê Ricoré trên ti vi, vươn vai... Nói cho đúng thì tôi cố vươn vai: có cái gì đó ghìm bàn tay trái của tôi lại... Ơ... cái quái gì thế này? - Richard? Một tay tôi bị còng vào khung sắt rèn đầu giường! Nhớ lại buổi tối hôm qua, tôi bỗng cảm thấy cần một liều giảm đau quá. Tiếng cửa ra vào bật mở. Tôi bật phắt dậy. Tiếng phụ nữ hét lên “Ối giời ơi!” nghe chẳng khác gì trong một bộ phim hài sống sượng của Almodovar. Ối giời ơi? Thôi xong, chết bỏ xù rồi! Tôi luống cuống rút tay ra khỏi còng, không ăn thua. Tôi dùng đầu ngón chân quắp chiếc quần lót rồi oằn mình dùng một tay mặc nó vào như con giun bị xéo. Một phụ nữ thấp tè thò đầu vào phòng và trố mắt ra nhìn. Tôi chỉ kịp định thần tự nhủ trông bà ta chẳng khác gì hạ sĩ Garcia đeo hoa tai thì người đàn bà đã rống tướng lên như một con bò cái Tây Ban Nha. Lẽ ra tôi đã không nên trốn học như vậy. Cố che chắn ngực mình, tôi chỉ cho bà ta thấy cái còng số tám trên tay. - Tôi bị trói... ờ, xin mở cho tôi! Bà không... tưởng tượng được đâu. Đây là một trò đùa! - Một tròi đuồi* ? bà ta ngây ra hỏi lại. Xin chú thích, sau này tôi mới biết, trong tiếng Tây Ban Nha thì “tròi đuồi” có nghĩa là quần lót. - Đúng, đúng, đây là một trò đùa rất buồn cười! Bà có thể tìm tuốc nơ vít để mở cái khóa này được không? Tôi nói mà ngượng chín hết cả người. Bà ta bỏ đi sau khi sập cửa mạnh đến nỗi bung cả quả nắm cửa. Tôi nghe tiếng bà ta lục lọi ngăn tủ. Cầu mong là bà ta không đi tìm hắc in và lông vũ* . Người đàn bà mở cửa, nhưng lõi khóa cứ xoay tròn vô ích. Cơn ác mộng của Freddy* . Tôi trườn xuống sàn, cố rướn người móc lại quả nắm vào cửa. Bà ta bước vào phòng với hộp dụng cụ trên tay! Tôi cầu Chúa phù hộ cho bà ta bằng thứ tiếng Pháp pha tiếng Tây Ban Nha ngon nghẻ nhất của mình trong khi bà ta rút ra chiếc tuốc nơ vít nhỏ xíu rồi bắt đầu chọc ngoáy cái còng. Ngay khi bà ta giải phóng tôi khỏi món đồ kích dục kia, lại có tiếng cửa ra vào bật mở. Một phụ nữ cất tiếng gọi: - Richard à? Bà Rosa ơi? Rosa và tôi nhìn nhau bàng hoàng. Tiếng phụ nữ lại vang lên từ lối vào. Đột nhiên, mọi thứ xảy ra rất nhanh: tôi nhảy phóc lên quấn chân quanh mình như quấn nem trong khi Rosa thu dọn hiện trường. Bà ta nhặt túi xách và đôi giày cao gót của tôi, mở cửa sổ rồi quẳng chúng ra ngoài. Tôi nhảy tưng tưng ra đến lan can cửa sổ rồi ngay lập tức nhảy xuống dưới, ơn Chúa, đây chỉ là tầng hai. Tôi đã thôi không chơi thể thao từ năm 1987, nhưng vẫn nhảy qua được khoảng cách hai mét từ lan can xuống đến vỉa hè. Chiếc chăn mắc vào bản lề cửa sổ. Tôi đứng giữa phố, độc chiếc quần lót trên người, có thể coi là trần như nhộng. Rosa đóng cửa sổ. Tôi chộp lấy túi xách, cố dùng nó để che thân. Một chiếc taxi xẹt qua ngay bên cạnh. Tôi chạy đuổi theo như có tên lửa gắn đằng mông. Nhìn thấy tôi qua gương chiếu hậu, gã lái xe đê tiện vội tăng tốc. Tôi chỉ kịp đập vào cốp xe hắn mà chửi thề, trước khi ngồi thụp xuống nấp vào khoảng trống giữa hai chiếc ô tô. Tốt, tốt, tốt thôi... Vậy đấy, có những ngày địa, ngục mở toang cửa thế này ư? Vậy mà tôi chẳng biết đấy. Dù đang là tháng Sáu, nhiệt độ ngoài trời khá dịu mát. Đầu ngực tôi căng cứng. Thật phiền phức khi phải động não vào lúc này. Chết tiệt, tệ nhất là mình đã đánh mất một bên khuyên tai trong khi hoảng loạn. Bà chị gái sẽ giết mình mất thôi. Chiếc ô tô màu trắng làm bình phong cho tôi phát ra hai tiếng “tít tít”, báo hiệu có người vừa mở cửa từ xa! Theo phản xạ: tôi lao tới vặn tay nắm cửa sau rồi chui tọt vào trong xe. Một anh chàng tóc nâu cao lớn mở cửa chỗ người lái, vứt chiếc túi nhỏ lên ghế bên, cởi áo vest rồi quầng xuống ghế phía sau cạnh tôi. Khi đã yên vị sau tay lái, anh chàng cất giọng đùa cợt: - Cậu đúng là đồ hư hỏng. Tôi tưởng câu nói đó dành cho mình cho tới khi nhận ra anh ta đang đeo tai nghe điện thoại. Anh ta cười. Tôi lẳng lặng khoác chiếc áo vest của anh ta. - Kệ cậu thôi, Franck, tớ có hẹn với anh trai rồi... Không, chiều nay cơ, nhưng trước đó tớ sẽ tạt về nhà gửi chúng cho cậu. Cậu sẽ thấy thôi, hàng nặng đấy. OK... Cảm ơn nhé... Chào cưng. Ấn tượng đấy. Anh ta tắt điện thoại rồi nổ máy. Vào khoảnh khắc tôi mở cửa, ánh mắt chúng tôi giao nhau qua gương chiếu hậu. Anh ta hét lên một tiếng, tôi cũng hét. Tôi nhảy ra khỏi xe rồi nhanh chân tẩu thoát. *** Khi rốt cuộc cũng về được đến cổng vào chung cư, tôi chạm mặt ngay với lão đưa thư, tóc màu hung đỏ với gương mặt méo mó bởi một cái mụn đã lên mủ. Cạnh mũi lão ta mọc một cái mụn bọc to tổ chảng đủ khiến cho toàn thể hội nghị da liễu phải buồn nôn. Tôi kéo vạt áo của mình ra đê’ trông cho có vẻ tự nhiên (cũng là để tôi cảm thấy bớt căng thẳng hơn chút đỉnh). Im ắng quá. Lão ta hí hửng xóa tan bầu không khí im lặng... - Chầu êm bé! Ôi! Chết tiệt... Lão ta biết tôi làm trong ngành điện ảnh, kể từ cái lần tôi dại dột hỏi xem lão có thích phim của Dany Boon không, lão rất thích chêm vào vài từ theo thứ giọng của người miền Bắc. - Trang phục buồn cười quá, nhưng không nên đếnh giá quơ về bên ngoẩy đâu, êm nhỉ! Đúng đấy, chào mừng đến với thế giới mụn* , đồ đần. Tôi thậm chí không thể ép mình cười nổi. Lão ta khiến tôi thấy kiệt sức, nhất là hôm nay. Tôi có một mong muốn cháy bỏng là dúi cái đầu đỏ khè của lão vào hòm thư nhà tôi và, như Lý Tiểu Long, tôi sẽ dộng cửa liên hồi vào gáy lão cho tới khi cổ lão gãy ra thì thôi. - Xem nào, êm bé, ênh nghĩ là có một lá thư xíu xiu cho êm đây. Charlotte Malère... Charlotte Malère... A, đây rồi! Lão đưa tôi bức thư rồi bảo tôi chờ một lát: có một bưu kiện gửi cho tôi để trong xe tải. Giờ tôi chỉ mong biến khỏi đây ngay lập tức, nhưng không được, đó hẳn là món hàng gần đây nhất mà tôi mua vì không tự kiềm chế được: một chiếc đai lưng giảm eo. Cô gái trên ti vi vừa nói về nó vừa rơm rớm nước mắt. Lần này, tôi đã thề là cô ta sẽ không bao giờ làm đống đồ chất trong phòng tôi cao hơn được nữa: nào đai quấn nóng giảm mỡ bụng, nào xúp thảo mộc đóng gói, nào ống giấy hút ẩm để làm tóc xoăn, nào chân nhái đi bơi cho mông săn chắc và mấy thứ đồ linh tinh làm ngực căng chắc như bê tông. Tôi mở lá thư “xíu xiu” của mình ra thì thấy một tấm thiếp mời. Tối mai, tôi được mời đến dự lễ ra mắt bộ phim của người tình yêu dấu nhưng xấu xa của tôi, Richard Bouvier. Một quý ông đã kết hôn với hai đứa con... nói đúng ra là anh ta kết hôn với một người đàn bà. Lão đưa thư quay trở lại, đưa cho tôi bưu kiện và tờ giấy biên nhận. - Mời ký vào đây, êm bé... Cần phải chấm dứt ngay cái màn lố bịch này trước khi tôi xé lão ra thành trăm mảnh rồi gửi đến Valenciennes* qua chuyển phát nhanh. Tôi nhét thiếp mời vào túi áo vest, ký tên, chào lão rồi quay gót bỏ đi. Thật kỳ lạ, từ phía sau lưng, người ta lại càng cảm thấy mình trần trụi hơn. Mời các bạn đón đọc Son Môi Trong Bóng Tối của tác giả Charlotte Marin.
Dona Flor Và Hai Người Chồng
Kiệt tác của tượng đài văn học Braxin Gợi cảm và là cô giáo dạy nấu ăn giỏi giang, Dona Flor kết hôn với Vadinho, một kẻ vô lại, bài bạc nhưng quyến rũ khó cưỡng. Tám năm sau, chính giữa những ngày vũ hội hóa trang, Vadinho đột tử khi đang cuồng nhiệt trong điệu samba sôi động, trên mình là bộ đồ giả trang thiếu nữ Bahia. Với người chồng thứ hai, dược sĩ Theodoro uy tín, cô được hưởng một sống đủ đầy, êm ả, có phần tẻ nhạt, cho đến một ngày dona Flor bàng hoàng nhìn thấy... một Vadinho trâng tráo, trần như nhộng, nằm trên chiếc giường của vợ chồng cô, mời gọi cô. Điều kỳ lạ là không ai ngoài cô có thể nhìn thấy anh ta… Đậm màu sắc văn hóa ẩm thực và âm nhạc Bahia, với thần Xangô, với samba, lễ candomblé,  rượu cachaça…. “Dona Flor và hai người chồng” còn vượt khỏi một “câu chuyện đạo đức, câu chuyện tình yêu” xúc động để trở thành “trận chiến khủng khiếp giữa Tinh thần và Vật chất” qua lời kể hài hước và sinh động của Jorge Amado, một trong những nhà văn hàng đầu của Braxin thế kỷ XX. Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim vào năm 1976, bởi đạo diễn Bruno Barreto với vai dona Flor do Sonia Braga thể hiện. Bộ phim được coi là một trong những tác phẩm thành công nhất trong lịch sử điện ảnh Braxin. *** Đôi nét về tác giả Jorge Amado   Jorge Amado (1912-2001) là cây đại thụ văn học của Braxin, nơi không một nhà văn nào nổi tiếng, được yêu mến và có uy tín như ông. Và ông cũng là nhà văn Braxin nổi tiếng nhất ở nước ngoài. Các tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 50 thứ tiếng trên khắp năm châu. Dona Flor và hai người chồng là một trong những tác phẩm được ra nhiều thứ tiếng nhất của Jorge Amado. Đây là lần thứ hai tác phẩm này được xuất bản tại Việt Nam. *** Lời khen tặng dành cho Dona Flor và hai người chồng   "Đại sứ văn chương của Braxin.” - NXB Gallimard   “Một trong những tượng đài của nền văn học.” - L’Express *** trường nghệ thuật  ẩm thực và hương vị Phải mời khách món gì trong đêm viếng trước ngày tang lễ? Dona Flor trả lời câu hỏi của một học sinh. Cho dù đó là ngày tang gia bối rối, buồn bã khóc lóc thì cũng không thể để khách tới viếng phải nhịn đói nhịn khát. Nếu bà chủ nhà, đang nức nở nghẹn ngào và sắp ngất xỉu, ngập chìm trong đau đớn, hay chính là người nằm chết trong áo quan, không thể lo được, thì bà con hay bạn bè phải đứng ra lo liệu, vì không thể để những người khách khổ sở đến đây viếng thăm vì tình nghĩa phải nhịn đói nhịn khát suốt đêm; chưa kể lúc mùa đông giá rét hay tiết trời lạnh lẽo. Để cho đêm tang lễ được nhộn nhịp và thật sự tôn kính người đã khuất, chủ nhân của đêm đó, làm cho linh hồn anh được nhẹ nhàng trong đêm đầu tiên và đang rất bối rối trong cõi chết của anh, phải thật chu đáo, chăm chút về cả tinh thần lẫn đồ ăn thức uống. Lúc nào mời và mời món gì? Lúc nào ư? Đơn giản thôi: suốt cả đêm, từ lúc bắt đầu cho đến khi kết thúc. Cà phê thì dĩ nhiên là cần thiết vào bất cứ lúc nào, rót vào những tách nhỏ. Còn bữa sáng đầy đủ cả sữa, bánh mì, bơ, pho mát, bánh bích quy, vài cái bánh sắn, vài lát bánh ngũ cốc kèm trứng đặt trên đĩa thì chỉ cần dọn vào buổi sáng và cho những người đã thức suốt đêm. Quan trọng nhất là luôn luôn phải có nước sôi trong bình để pha cà phê, vì lúc nào cũng có người đến viếng. Thêm cả bánh nướng, bích quy kèm với cafezinho§.Thi thoảng mang ra vài món khai vị như bánh kẹp pho mát, giăm bông, giò, những thứ đơn giản, thể hiện sự tế nhị trước người đã khuất. Nhưng nếu đêm tang lễ của gia đình ở tầng lớp cao, sau đêm này tiền viếng cứ là dồi dào, thì đương nhiên phải có tách sô cô la thật đặc và thật nóng vào lúc nửa đêm, hay bát xúp gà mỡ màng. Sau cùng là cá tuyết viên, các món rán, các loại bánh kẹo, đồ ăn vặt, hoa quả khô. Về đồ uống thì nếu đó là gia đình khá giả, ngoài cà phê, còn có bia hay rượu vang, chỉ một ly thôi và chỉ để uống kèm xúp gà và các món rán. Tuyệt đối không dùng sâm panh, như thế không hợp cảnh cho lắm. Trong mọi trường hợp, dù là đêm viếng ở nhà giàu hay nhà nghèo, bắt buộc và cần thiết, đều phải có rượu cachaça§ nổi tiếng. Có thể thiếu gì cũng được, kể cả cà phê, nhưng rượu đó thì không thể thiếu. Không có chất trợ lực ấy, đêm viếng sẽ mất hết giá trị. Đêm viếng không có rượu tức là thiếu tôn trọng đối với người đã khuất, là vô tình, là ác nghiệt. *** REVIEW “DONA FLOR VÀ HAI NGƯỜI CHỒNG” Chắc chắn là một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất tôi từng đọc về tính hai mặt của tinh thần con người. Cuốn tiểu thuyết này đã chạm đến trái tim và tâm trí của tôi và lôi cuốn tôi vào câu chuyện huyền bí và mê tín của đất nước Brazil. Jorge Amado bắt đầu bằng cách nhắm trúng sự thích thú của độc giả thông qua một câu chuyện tình lãng mạn giữa một cô gái tốt bụng là Flor và một con bạc đáng yêu, gợi tình là Vadinho. Anh ấy là nhân vật phản diện kinh điển mà chúng ta khi đọc sẽ cảm giác vừa ghét vừa thương.  Amado tiếp tục đưa chúng đến với người dân của bang Bahian với những nhân vật tuyệt vời và thú vị. Người đọc gặp gỡ các nhà văn, người mù chữ, người ngoại đạo và người mê tín, người giàu và người nghèo, những lời đồn đoán, gái điếm, chế độ mẫu hệ và rất nhiều chuyện khác nữa. Cuối cùng, chúng ta sẽ thấy một bối cảnh đầy màu sắc với đủ các vấn đề và chi tiết khác nhau. Thêm vào đó, Amado đã vẽ ra nguyên mẫu hình ảnh của Brazil cùng với việc đặt “nền móng” phức tạp cho chủ đề chính của cuốn tiểu thuyết. Ngay cả khi chúng ta đang suy ngẫm về tính hai mặt thể hiện trong tâm hồn của nhân vật chính là Flor thì câu chuyện của Amado nổ ra trong sự hỗn loạn và mâu thuẫn tâm trí đến mức khó tin. Những thay đổi thần bí xảy ra khi các vị thần trở nên minh bạch trong sự trùng lặp của chính họ. Bất bình đẳng giai cấp xã hội, số phận cá nhân, lòng trung thành và tình yêu,... không có chủ đề nào vượt quá giới hạn trong câu chuyện tâm lý sâu rộng này. Amado là một bậc thầy tuyệt vời về khả năng tạo ra một nền văn hóa và cuốn hút người đọc bằng cách sử dụng những câu văn kết nối với cốt truyện kỳ diệu, văn xuôi lôi cuốn, phát triển nhân vật hoàn toàn tài tình và khiến chúng ta mê đắm với màu sắc của bối cảnh truyện. Cuối cùng, người ta có thể tin vào điều gì? Hòa bình đi kèm với sự chấp nhận vừa có cảm giác cưỡng ép vừa có cảm giác thích thú? Hay những góc khuất trong chính con người đang sống trong xã hội hiện nay khi có vô vàn những ước muốn khác nhau và lòng tham vô đáy đã ngự trị hết thảy tâm hồn của mọi người? Tất cả điều này diễn ra tại Bahia - nơi những điều quái lạ và những hành động ma thuật khác xảy ra mà không làm ai ngạc nhiên hay giật mình. Một góc phố nghèo dù cho có chuyện gì kinh thiên động địa hay chuyện con cóc vỉa hè cũng không còn đáng quan trọng nữa.  - Trần Thông Mời các bạn đón đọc Dona Flor Và Hai Người Chồng của tác giả Jorge Amado.