Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Một Người Chân Chính - Boris Polevoy

Năm 1954, khi từ bưng biền về hoạt động bí mật ở Sài Gòn, tôi đến cửa hàng Albert Portail ở đường Catinat mua sách báo ngoại văn. Tình cờ tôi thấy một số sách Liên Xô dịch ra tiếng Pháp của nhà xuất bản Xã hội Pháp (Editions Sociales) bày bán tự do. Tôi lựa được một cuốn tiểu thuyết rất hay: “Một người chân chính” (Un homme veritable) của nhà văn Xô viết Bôris Pôlêvôi. Tôi bắt đầu dịch ngay trong những thời gian rảnh rỗi, nhất là vào ban đêm. Lúc đầu tôi định chuyển thể để có thể đăng trên các báo Sài Gòn hoặc ra sách, như kiểu anh Năm Châu chuyển thể vở “Người mặt cháy”. Nhưng dưới sự kiểm duyệt rất khắc nghiệt của địch nên không thể qua mặt được. Tôi liền gửi đăng trên báo Sông Chung (sau này là báo Trung Lập) của Việt kiều ở Phnôm Pênh. Sau đó tôi sửa chữa lại lần nữa bản dịch gửi ra Hà Nội. Vợ tôi (chị Lê Đoan) lúc đó là thư ký tòa soạn báo Phụ Nữ Việt Nam đã đưa bản dịch cho Nhà xuất bản Thanh Niên. Cuốn sách được in 2 lần, mỗi lần với số lượng lớn 15.000 bản. Nhà xuất bản còn đề nghị tác giả Bôris Pôlêvôi gửi ảnh và lời tựa cho cuốn sách kèm với bản tự thuật của ông. Vì tôi dịch cuốn sách từ tiếng Pháp, chớ không phải tiếng Nga, nên phải nhờ Giáo sư Phạm Huy Thông hiệu đính theo nguyên bản tiếng Nga. Anh Phạm Huy Thông lại có dịp gặp cả tác giả Bôris Pôlêvôi và anh hùng Xô viết Alếchxây Mêrétxép nên việc xuất bản cuốn “Một người chân chính” càng có giá trị thắt chặt quan hệ anh em giữa Liên Xô và Việt Nam. Đây là bản dịch rất sớm các tác phẩm văn học của Liên Xô. Vì cuộc kháng chiến chống Mỹ kéo dài, tôi rất tiếc không gặp được Bôris Pôlêvôi và anh hùng Alếchxây Mêrétxép, chỉ có liên hệ thư từ với Bôris Pôlêvôi. Chính tác giả đã gởi cho tôi nhiều tác phẩm văn học của Liên Xô và cả sách học tiếng Nga để tôi tự học khi còn ở chiến khu. Bôris Pôlêvôi còn khuyên tôi nên dịch cuốn “Tấm kiếng Parabôn” của Alếchxây Tônstôi, tôi cũng đã dịch và in thành truyện nhiều kỳ (feuilleton) trong tuần san “Hòa bình trung lập” của Việt kiều ở Phnôm Pênh. Cuốn “Một người chân chính” có tính giáo dục, rèn luyện thanh niên rất cao, gần như cuốn “Thép đã tôi thế đấy”. Bởi vì phi công Alếchxây Mêrétxép sau khi bị bắn hạ trên bầu trời Đức chiếm đóng, gãy hai chân, đã bằng hai tay bò suốt 18 ngày đêm vừa đói vừa rét, để về căn cứ Hồng Quân. Sau khi lắp chân giả, anh lại bay nhiều ngày tấn công địch đến thắng lợi cuối cùng trong chiến tranh chống Phát xít. Anh được phong Anh hùng lực lượng võ trang Liên Xô và được bầu vào Ban Chấp hành “Hội đồng Hòa bình thế giới” chính anh đã lên tiếng nhiều lần ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam trên các diễn đàn Quốc tế. Tôi có ý định tái bản cuốn “Một người chân chính” vì cuốn sách là một tác phẩm có giá trị văn học, có giá trị giáo dục thanh thiếu niên, ngay cả trong thời kỳ đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Người dịch Minh Đô (Phạm Dân). *** LỜI TÁC GIẢ Tôi chưa sang thăm nước Việt Nam. Nhưng tôi có cảm tưởng là mình đã từng sống ở đấy, đã quen biết cảnh thiên nhiên giàu đẹp của đất nước này, với những khu rừng nhiệt đới, những con sông hùng tráng và những thung lũng phì nhiêu, những người Việt Nam tuy tầm vóc không cao lắm, nhưng gần cảnh vật và những con người ấy, không ai có thể coi là bé nhỏ. Những năm trước đây, khi nhân dân Việt Nam đang tiến hành cuộc đấu tranh thần thánh và anh dũng chống bọn thực dân được trang bị đẩy đủ thì những người Xô viết chúng tôi đã theo dõi quá trình các trận chiến đấu anh dũng của các bạn với tấm lòng kính phục và thông cảm sâu sắc. Nhân dân chúng tôi biết rõ giá trị của lòng dũng cảm, tinh thần can đảm và lòng yêu mến tự do. Người anh hùng họ biết kính phục tinh thần anh dũng của những người anh hùng khác. Vì vậy người Việt Nam ở xa chúng tôi, đã trở thành người bạn gần gũi và thân thiết. Chúng tôi rất vui mừng trước mỗi thắng lợi chống thực dân của các bạn và đã gửi đến đất nước các bạn lời chào hòa bình. Ngày nay với tấm lòng kính phục anh em, chúng tôi rất yêu mến những người Việt Nam quang vinh đang nắm trong tay vận mệnh của mình để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Tôi hy vọng Alếchxây Mêrétxép, nhân vật có thực trong cuốn sách của tôi, một người Xô viết bình thường sẽ được gặp những người bạn tốt trong hàng ngàn vạn người lao động của nước Việt Nam mới. Chính vì ở nước các bạn cũng biết rõ giá trị tinh thần anh dũng chân chính, nên Alếchxây Mêrétxép đã đến với các bạn như tình anh em. Mạc tư khoa (Mascơva) 2-1960 Bôris Pôlêvôi *** LỜI TỰ THUẬT CỦA TÁC GIẢ   Tôi sinh ngày 17 tháng 3 năm 1908 tại Mátxcơva, nhưng tôi lớn lên ở Tưve (bây giờ gọi là Calinin); cho nên tôi có thể có lý do để tự coi mình là một công dân Calinin. Cha tôi xưa là luật gia. Ông chết vì bệnh lao năm 1916. Tôi gần như không còn nhớ gì hết về ông, nhưng cứ phán đoán theo tủ sách rất tốt ông để lại, trong đó có đầy đủ các nhà văn cổ điển Nga và nước ngoài, và theo lời mẹ tôi nói lại, thì đối với thời ông, ông là một người có đầu óc tiến bộ và có học vấn cao rộng. Sau khi cha tôi mất, mẹ tôi vào làm việc ở một nhà thương xưởng máy, làm thầy thuốc, và mẹ con chúng tôi dọn đến ở trong một xưởng dệt lớn của bọn buôn bán Marôdốp. Tôi ở đấy suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu của tôi. Chúng tôi ở trong chỗ gọi là “nhà nhân viên”, nhưng bạn học và bạn chơi của tôi là các con cái thợ thuyền, và vì mẹ tôi làm việc ở nhà thương nên công việc bận rộn bù đầu và chả mấy khi gần gũi con được, có những khi tôi cứ cả ngày ở trong các nhà ngủ công cộng của công nhân hay ở vùng ngoại ô quanh đấy. Tôi học hành không đến nỗi quá kém ở trường, nhưng cũng không hào hứng quá độ, và vào ngày giờ rảnh, tôi hoặc ra giữa dòng sông Tưmaca - một dòng nước hôi thối chảy ngang qua xưởng - và hoặc đắm chìm trong sách vở trong thư viện của cha. Tuy bận bịu, mẹ tôi cũng cố gắng hướng dẫn tôi đọc sách và khuyên nhủ tôi đọc sách của những tác giả mà mẹ tôi ưa thích nhất. Những cuốn sách đầu tiên tôi đọc là Gôgôn, Sêkhốp, Nêcưraxốp, Pimialốpski. Nhà văn tôi thích nhất là Goócki. Khi còn là sinh viên, cha mẹ tôi đều rất tôn sùng ông, và tủ sách của gia đình gồm hầu tất cả những sách của ông xuất bản trước cách mạng. Thời còn bé, tôi lại còn có một chiều hướng thích thú khác nữa, là yêu thiên nhiên. Học lớp tư, tôi đã là một “người lãnh đạo” nhóm các nhà sinh vật học trẻ tuổi và đã tham dự những cuộc gặp gỡ của thanh thiếu niên thành phố và của thanh thiếu niên Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Xô viết Nga. Ở nhà tôi lúc nào cũng có chứa những khách lạ: một lần, có con ưng không biết tại sao lạc đến bay lới phới trong sân xưởng và đụng phải dây điện tín gẫy cánh; một lần khác, có con quạ con bị ngã từ trên ổ xuống được tôi cứu thoát khỏi móng mèo, có con nhím và có cả con rắn nước mà tôi dọn dẹp chỗ cho ở giữa hai khung cửa sổ, trong một đường rãnh nhỏ đã đào riêng cho nó. Trong thành phố bấy giờ có xuất bản một tờ báo địa phương: tờ Sự thật Tưve. Trong những năm hai mươi [1] có thành lập nên trong xưởng một mạng lưới quan trọng các thông tín viên công nhân. Tòa báo đặt trong căn nhà sắp xếp dụng cụ cứu hỏa. Và lũ bé con chúng tôi vô cùng kính phục nhìn những kẻ ra vào căn nhà gạch nhỏ ấy. Những thông tín viên công nhân mà! Những người viết bài trong báo mà! Chủ tịch của tổ chức đó, bác thợ nguội Gurianốp, là một trong những người được trọng vọng nhất nhà máy. Chắc hẳn là từ thuở xa xăm ấy đã chớm nở trong tôi cái chiều hướng thích thú đối với nghề viết báo, bấy giờ tôi đã coi như nghề hay nhất, quan trọng vô cùng, lại có cái khía cạnh đôi chút huyền bí. Tôi đang học lớp sáu khi báo Sự thật Tưve đăng bài báo nhỏ đầu tiên của tôi. Bài, theo như tôi còn nhớ được, có bảy dòng; nó kể chuyện một nhà thơ nông dân có tiếng tên là Đưrốtgin, đến thăm trường. Báo đăng bài đó cuối trang tư và tôi nhớ là đâu không có ký tên. Nhưng tôi thì tôi biết là ai viết bài đó, nên tôi không bao giờ rời số báo có đăng bài đó cho đến lúc nó rách tan từng mảnh trong túi tôi. Từ đó, tôi viết đều đặn trong báo Sự thật Tưve: bắt đầu là phản ánh mọi việc gì lôi thôi ở thành phố, rồi vào những đề nghiêm chỉnh hơn; cuối cùng, khi tòa soạn chú ý đến tôi, tôi được giao cho làm những phóng sự nho nhỏ về thời sự ở thành phố trong các xưởng, các nhà máy. Tôi tiếp tục học phổ thông, rồi tôi vào trường kỹ thuật công nghiệp; tôi chuyển ngành hóa học và cắm đầu vào phân tích chất lượng và số lượng. Nhưng tôi đã mơ màng tới những phòng tòa soạn phảng phất mùi mực in; trong những giờ nghe giảng, tôi viết trộm những bài báo hay những thiên phóng sự về những đề khá là xa với những đề mà giáo sư đang diễn đạt. Cứ như thế dần dần tôi đi đến làm cái nghề làm báo Xô viết, cái nghề mà tôi luôn vẫn coi như ngành văn chương nhiều hứng thú hơn tất cả các ngành khác. Báo Sự thật Tưve bấy giờ là một tờ báo rất là sinh động: Nhờ báo biết nắm lấy đúng lúc và “cho ra” cái gì có vẻ mới, hay và có giá trị trong công tác lao động xã hội chủ nghĩa ở xí nghiệp và ở thôn xóm. Làm việc báo chí, tôi quen quan sát cẩn thận, suy nghĩ về các sự việc, và chỉ viết về những vấn đề mà tôi biết thật đầy đủ. Tôi bỏ những tháng nghỉ ngơi của tôi để làm việc cho nhà báo, cố gắng lợi dụng thì giờ ấy để mà quan sát. Tấm gương huy hoàng của Goócki, mà tôi đọc tác phẩm từ bé, soi sáng đường đi cho tôi chẳng khác ngọn hải đăng. Tôi học được tinh thần quan sát là chính ở nơi ông. Một mùa hè nọ, tôi định sẽ cho tòa soạn một thiên phóng sự về những xí nghiệp làm nghề rừng và những xí nghiệp làm nghề thả bè trên sông trong vùng Tưve. Tôi đi tuốt đến quận Xêligiarốpski. Ở đó, tôi tới những xí nghiệp làm nghề rừng, tôi lên bè trôi sông và tôi làm việc ở đó, cầm tay lái, giữ tay chèo ở phía sau bè. Cứ thế là từ nguồn sông Vonga tôi xuống đến tận Calinin, rồi lại còn xuống thấp hơn thế nữa, đến tận Rưbinscơ, nơi đó kết thúc thật là mỹ mãn, lịch trình của tôi vừa lúc những bè cây cặp đúng bến. Trong khi rong ruổi như vậy, báo đăng loạt bài của tôi tựa là Trên những bè trôi sông. Tôi viết những bài đó ban đêm, gần ngọn lửa nhỏ đốt ở giữa nhà lều trên bè. Một mùa hè khác, tòa soạn báo Thôn xóm Tưve giao cho tôi làm một thiên phóng sự về tình hình chủ nghĩa xã hội thâm nhập đời sống các thôn xóm chưa tổ chức thành nông trang. Tôi đến làng Míchsina một nơi cùng tận trong tỉnh Tưve, làm nghề sắp xếp sách trong thư viện và viết một loạt bài báo về đời sống trong làng về những bước đầu tiên của lao động tập thể. Năm 1927, tập bài báo đầu tiên của tôi ra đời. Các bạn tôi trong tòa báo của thanh niên cộng sản Thế hệ trẻ không bảo gì tôi cả mà cứ gửi nó đến cho Mácxim Goócki ở Xorente. Khi hay biết được, tôi cuống cuồng cả lên. Bắt nhà đại văn hào phải mất công đọc các sáng tác chẳng ra gì mấy đó, mà tôi lại nhận thức được vô cùng rõ ràng là thật là còn non nớt, thì theo tôi thật là một việc xúc phạm. Cho nên tôi ngạc nhiên lạ lùng khi nhận được một cái gói to lùm lùm đề tên tôi, có dán tem nước ngoài, chữ viết to và cứng cáp lắm. Tự tay viết đến sáu trang giấy, Goócki nghiên cứu tỉ mỉ và rất đỗi khoan dung các tác phẩm tuổi trẻ đó của tôi. Ông khuyên tôi nên làm việc không ngừng, học tập các nhà văn cổ điển mà mài giũa văn như “anh thợ tiện mài giũa kim khí”. Bức thư ấy của nhà đại văn hào đối với tôi thật là bằng không biết bao nhiêu năm học tập. Tôi đã từng phen suy nghĩ về mỗi chữ ông viết, ra sức rút ra những kết luận đúng đắn và hữu ích. Goócki đã giúp tôi hiểu được rằng nghề làm báo và nghề viết văn là những nghề khó khăn, đòi hỏi phải học tập và lao động nhiều hơn bất cứ nghề nào khác. Tôi hiểu rằng không thể nào làm được những nghề ấy theo lối tài tử được, phải bỏ hết tâm lực vào, và chỉ có thế mới mong trở nên được một người lao động thực sự trong ngành báo chí bônsêvích. Thời ấy, tôi học xong trường kỹ thuật, vừa vào làm việc ở xưởng nhuộm, nơi in những thứ vải gọi là “vải Ấn độ”. Xưởng này là một bộ phận của nhà máy liên hợp Vô sản. Chẳng bao lâu, tôi đứng đầu một nhóm thông tín viên công nhân ở đó. Công việc của tôi ở xưởng và công tác xã hội của tôi ở nhà máy chẳng để cho tôi mấy thì giờ để làm cái việc tôi thích thú hơn cả, là làm báo. Mà sự ưa thích của tôi thì lại cứ ngày càng rõ. Cuối cùng, suy nghĩ chín chắn rồi, tôi thôi việc ở xưởng để vào làm biên tập viên tờ báo của thanh niên trong tỉnh, là tờ Thế hệ trẻ. Ở đó có một tập thể biên tập viên tốt, sau đó nhiều người đã trở nên những người làm báo có giá trị. Hoạt động thật là sôi nổi. Quỹ tờ báo nhỏ bé, rõ là không đủ cho sáu hay tám trang báo mà chúng tôi cứ hàng tuần cho ra hai kỳ. Cho nên phần chính công việc là phải do những nhà thông tín viên trẻ tuổi làm công không giúp cho. Tinh thần phát huy sáng kiến của báo đó đã khiến cho báo được từng phen khen ngợi trên những cột báo của Sự thật. Tôi đã làm việc ở tòa báo Thế hệ trẻ rồi, khi báo thôi, làm việc cho báo địa phương của Calinin là tờ Sự thật Vô sản, cứ thế không lúc nào ngừng mãi cho tới chiến tranh. Tôi viết những thiên phóng sự cùng những bài báo, và tôi phụ trách các mục kinh tế và văn hóa. Tôi được kết nạp Thanh niên năm 1930; năm 1940 tôi gia nhập Đảng Cộng sản, Nhờ trường học lớn của Đảng bônsêvích mà tôi trở nên được một nhà văn. Vừa tiếp tục cộng tác biên tập, tôi vừa viết truyện, nhưng, nghe đúng theo lời khuyên nhủ của Goócki, tôi chỉ cho đăng một phần nhỏ thôi trên báo hay trong tập niên lịch của vùng, là tập Ngày nay. Năm 1939, tập san Tháng Mười đăng cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi: Xưởng nóng hổi. Tôi định cố tóm thâu trong cuốn sách đó toàn bộ kết quả của những điều tôi đã quan sát được về tình hình phát triển của phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa trong những xí nghiệp ở Calinin và về hoàn cảnh trong đó phát sinh ra được những sáng kiến của những kẻ phát minh. Tôi đã tự mắt mình quan sát tất cả những cái đó và tôi đã viết phóng sự nhiều về việc này. Sách, sở dĩ thời ấy được đôi chút hoan nghênh, đó là nhờ trước hết ở sự vĩ đại của những sự việc mà sách viết ra, kể đến và của những con người đã là những vai chính của truyện. Tôi muốn được nhấn mạnh nhất là vào một điểm, là đề truyện và nhân vật trong truyện đều là từ trong đời sống mà lấy ra; những ai công tác từ lâu trong các xưởng chế tạo dụng cụ vận chuyển ở Calinin đều đã nhận ra ngay bạn mình trong đám nhân vật trong truyện, và, rốt cuộc, anh là vai nam chính trong truyện đã mời tôi dự lễ cưới chị là vai nữ chính. Hôm lễ, đã đùa khá nhiều về cái điều đó: chính là nhân vật trong tiểu thuyết bắt buộc phải làm cho xong hẳn công việc của tác giả, để cho tác phẩm được kết thúc có hậu, dầu không ly kỳ chi mấy. Công tác lâu năm trong báo chí đã khiến tôi viết được những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tôi, nhưng chính công tác của tôi trong tờ Sự thật, mà tôi là thông tín viên chiến tranh khi cuộc chiến tranh dân tộc vĩ đại bùng nổ, đã là bổ ích nhất cho sự nghiệp nhà văn của tôi. Có người đôi khi hỏi tôi: - Cố nhiên là anh làm báo thành ra bị trở ngại nhiều trong công tác viết văn của anh; cái đời nhà làm báo vốn rồn rập, cứ bắt là phải viết về những đề tài nhất định phải gửi bài đến những ngày giờ hẹn trước, chẳng kể tâm tình mình mỗi lúc thế nào, rồi lại kèm vào đấy nữa là phải viết đúng là bao nhiêu hàng chữ. Những câu hỏi loạt ấy không khiến tôi khó chịu, chỉ khiến tôi buồn cười, vì chính là công tác trong báo chí bônsêvích đã đưa tôi tới con đường văn chương. Làm báo giúp tôi biết rút ra cái chủ yếu, ghi cái gì là mới, là đã cộng sản rồi trong tâm tình của những người đương thời. Là thông tín viên chiến tranh của báo Sự thật, tôi lúc nào cũng ở những điểm quyết định của mặt trận mênh mông, nơi quyết định số mạng của Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chúng ta. Tôi đã thu thập được ở đó một khối lượng tài liệu vô giá. Mọi người đã biết rằng những vai chính trong những cuốn sách của tôi: Một Người chân chính và Người Xô viết chúng ta, đều là những nhân vật có thật. Phần lớn tên thật ngoài đời thế nào, tên trong sách của tôi cũng là thế, đôi khi có thay đổi rất ít mà thôi. Ý đầu tiên của hai cuốn sách này là do ở tòa báo Sự thật mà ra. Sự việc xảy ra như thế này này. Tháng 2 năm 1942, có đăng một bài tựa là: Thành tích của Mátvây Cuzơmin. Bài ấy, tôi đã viết vội vã, sau khi đưa ma vị anh hùng ấy. Đó là chuyện một nông dân tập thể, đã bát tuần, thuộc nông trang tập thể Bình minh, trồng gai, cụ nông dân này đã lập lại cử chỉ anh hùng của Ivan Xuxanin. Bài viết vội và không có giá trị chi mấy. Lần đầu tôi ở mặt trận về, anh chủ bút báo Sự thật gọi tôi đến và trách tôi viết về một thành tích đáng kính phục như vậy một cách quá ư vội vã, y như một phóng viên nhà báo. - Thật tiếc là lẽ ra có thể kể câu chuyện này một cách khác hẳn, - anh trách tôi như vậy. Rồi, với thói quen của anh là hay tổng quát, anh nói thêm: - Tôi đã bảo tất cả các anh thông tín viên chiến tranh, và tôi xin hết điều căn dặn anh: Cứ ghi cho đầy đủ chi tiết những công trạng của những người Xô viết mà các anh có cái may mắn được chứng kiến. Đó là bổn phận công dân của các anh, và, hơn thế nữa, đó là bổn phận đảng viên Đảng Cộng sản của các anh. Nghĩ coi: trong cuộc chiến tranh này, nhân dân Liên Xô đã vượt qua về dũng cảm tất cả các vị anh hùng của tất cả các thời đại xưa cũ. Và để cho không quên chi hết về những thành tích hiển hách ấy, để cho mọi người Xô viết biết rõ đồng bào mình đã đánh phát xít như thế nào, đã thắng nó như thế nào, thì phải ghi tất cả, tất cả. Tôi liền mang theo một tập vở to, đóng bìa cứng, và tôi bắt đầu ghi vào đó thật là rành mạch địa chỉ các vị anh hùng hay những người đã chứng kiến những sự việc quan trọng, nhất là những tấm gương anh dũng mà tôi biết được. Là thông tín viên chiến tranh, tôi bay nhảy từ góc mặt trận này đến một góc mặt trận khác, khi thì tôi tới cùng quân du kích, khi thì tôi vào rừng, nơi các biệt đội nhảy dù chuẩn bị đánh chớp nhoáng phía sau lưng địch, rồi tôi lại trở về chiến tuyến ở Stalingơrát, về tuyến lồi Cuốcscơ ở Goócxun Sépchengơrat, tới sông Visla, tới sông Naixơ, tới sông Spưtê, và đâu đâu tôi cũng đã được chứng kiến cái bản lĩnh anh hùng của người Xô viết, đã làm phai mờ cả những thành tích hiển hách của các bậc anh hùng xưa: Ivan Xuxanin, Mácpha, Côgina, Côsơca người thủy thủ Xêbastôpôn, và biết bao nhiêu người nữa mà lịch sử ta, văn chương ta còn nhớ tên, nhớ tuổi. Suốt thời chiến tranh như thế là tôi đã ghi chép được sự việc về sáu mươi nhăm câu chuyện thuộc loại ấy. Một trong những câu chuyện ấy kể lại buổi gặp gỡ kỳ lạ với trung úy Vệ quốc Marétxép, phi công ở một phi trường lâm chiến, gần Oren, thời tấn công đánh lấy thành phố ấy. Đó là đề tài cuốn Một Người chân chính. Tôi đã rút ra từ những điều tôi đã ghi chép được hai mươi bốn câu chuyện tôi cho là quan trọng hơn cả, điển hình hơn cả, bộc lộ rõ hơn cả tinh thần của con người Xô viết. Và tôi đã viết thành những bài truyện ngắn, tập hợp lại trong một cuốn sách lấy tựa là Người Xô viết chúng ta. Giờ đây, xong chiến tranh rồi, tôi cứ tiếp tục làm việc theo đúng phương châm ấy, là kể những cái mà tôi đã chứng kiến. Trong truyện lấy tên là Trở về, tôi đã cố gắng trình bày bằng một hình thức nghệ thuật một mẫu đời của một anh thợ đúc nổi tiếng ở Mátxcơva. Đề tài của cuốn tiếu thuyết Vàng cũng là lấy ra từ trong đời sống thực sự: nó kết liễu vào lúc tấn công trên mặt trận Calinin, đầu năm 1942. Cái quan tâm đến sự xác thực đó, không phải là một cái gì riêng cho một mình tôi chút nào. Đời sống của chúng ta, trong chế độ xã hội chủ nghĩa, cứ ngày một đổi thay hoài; nó tiến lên, nó cung cấp cứ mỗi ngày, mỗi giờ, cho nhà văn những đề vừa giản dị vừa say mê, lấy ở kinh nghiệm hàng ngày thấy có. Người Xô viết, được lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản dìu dắt, đạt đến đỉnh cao của sự vĩ đại trong lao động cũng như trong chiến đấu. Những công lao cao cả làm nên vì Tổ quốc, ta cố suy diễn đặt để nó ra thì thật là rất khó, ngay đối với một nghệ sĩ có trí tưởng tượng mãnh liệt nhất. Nhưng đời sống Xô viết chúng ta thì cung cấp cho nhà văn biết bao nhiêu tâm tình thật vô cùng là phong phú. Công tác làm báo luôn luôn đưa chúng tôi tiếp xúc với những người đáng lưu ý nhất của thời buổi này, và cho phép chúng tôi được thấy những người ấy trong lao động và trong đấu tranh. Nghề làm báo khiến cho mắt chúng tôi sắc hơn, tai chúng tôi thính hơn. Riêng về bản thân tôi, thì những sự việc mà đời sống hiến dâng cho, thay thế vào chỗ trí tưởng tượng văn chương của tôi bị thiếu sót. Những nhân vật mà tôi phác họa ra, mà đời sống vượt tràn ra khỏi những trang sách của tôi, hoàn thành cái gì còn chưa hoàn chỉnh trong sách tôi: chúng tôi đã cùng nhau gặp gỡ nhau lại với anh Marétxép ở Vácxava, không phải với danh nghĩa nhân vật và tác giả tiểu thuyết, mà lần này với danh nghĩa cùng là đại biểu Liên Xô tại Đại hội thế giới lần thứ hai của các Chiến sĩ Hòa bình. Malích Gápđulin, nhân vật truyện Một anh hùng ca ra đời hiện lãnh đạo Viện Văn học trong Viện Hàn lâm khoa học nước Cadắc và chị nông dân ở Pôntava, chị Uliana Bialôgơrút, người đã cứu được lá cờ của một trung đoàn chiến xa, trong truyện Lá cờ của trung đoàn của tôi, thì sau chiến tranh đã được tặng thưởng huân chương về kết quả chị đã thu được trong vụ mùa củ cải. Được chứng kiến hạnh phúc của những con người ấy, hoạt động say mê của những con người ấy, lao động sáng tác của những con người ấy, lòng ta thật là vui sướng không cùng không tận. Làm nhà văn ở xứ sở của chủ nghĩa xã hội, là được hướng một hạnh phúc lớn lao không bờ bến. Bôris Pôlêvôi Mátxcơva Tháng 11 năm 1950   Mời các bạn đón đọc Một Người Chân Chính của tác giả  Boris Polevoy.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Một Ý Niệm Khác Về Hạnh Phúc - Marc Levy
KHI CUỘC SỐNG BÌNH THƯỜNG TRỞ NÊN BẤT THƯỜNG... Philadenphia. Vào một ngày đầu xuân năm 2010, Agatha rời nhà tù, nhưng không phải bằng cửa chính. Ba mươi năm ngồi sau song sắt , bà chỉ còn vài năm nữa là mãn hạn. Vậy sao bà phải trốn trại? Tại một trạm xăng gần khu học xá đại học, Agatha trèo lên xe lửa của Milly rồi lôi cô vào cuộc chạy trốn mà không tiết lộ tình trạng của bản thân. Agatha đã phá vỡ nếp sinh hoạt tẻ nhạt thường nhật của Milly. Cách biệt nhau ba mươi tuổi, nhưng trong suốt chuyến đi, hai người phụ nữ cùng nhau chia sẻ quá khứ và khơi lại ngọn lửa tình yêu vốn đã tắt lụi. Năm ngày đi oto xuyên nước Mỹ...Mỗi chặng dừng, mỗi cuộc gặp với một nhân vật là mỗi lần bí mật của Agatha lại dần hé lộ. Trong cuộc hành trình hấp dẫn đó, Marc Levy giúp ta tìm câu trả lời cho những câu hỏi lớn : Chúng ta phải đi đến tận đâu trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc vô độ này? Vì sao không bao giờ được từ bỏ ước mơ? *** Marc Levy (sinh ngày 16 tháng 10 năm 1961, tại Boulogne-Billancourt, nước Pháp) là nhà văn người Pháp gốc Do Thái. Ở tuổi 18, ông gia nhập Hội Chữ Thập Đỏ ở Pháp, nơi ông đã dành 6 năm hoạt động. Trong cùng thời gian, Ông học ngành quản lý máy tính ở trường Đại học Paris-Dauphine và sau đó sinh sống tại Hoa Kỳ từ năm 1984 đến năm 1991. Tại đây, ông đã đặt nền tảng cho hai công ty - một đặt cơ sở tại California và một ở Colorado - chuyên về đồ họa tin học. Vào năm 1991, ông hợp tác lập ra một công ty thiết kế và xây dựng ở trong nước mà sau này đã trở thành một trong những hãng kiến trúc dẫn đầu ở Pháp. Marc Levy viết quyển tiểu thuyết đầu tiên của mình với tên Và nếu như chuyện này là có thật... vào năm 1998. Ông viết cuốn sách này cho con trai mình, khi đã là một thương gia thành công. Năm 1999, sau khi bán bản quyền phim Et si c'était vrai... cho hãng Dreamworks, ông kết thúc công việc ở hãng kiến trúc để theo đuổi sự nghiệp viết văn của mình. Năm 2001, ông cho xuất bản quyển sách thứ hai, Em ở đâu?, tiếp theo là quyển Bảy ngày cho mãi mãi... vào năm 2003, Kiếp sau vào năm 2004 và quyển Gặp lại vào năm 2005. Năm 2005 cũng là năm trình chiếu bộ phim Just like Heaven của hãng Dreamworks - phỏng theo tiểu thuyết Et si c'était vrai... bởi các diễn viên chính: Reese Witherspoon và Mark Ruffalo. Xuyên suốt sự nghiệp viết văn kéo dài gần 20 năm của mình, nhà văn người Pháp Marc Levy sáng tác được tổng cộng 14 quyển tiểu thuyết. Trong số đó có 13 tác phẩm đã được dịch ở Việt Nam. Điểm thu hút trong văn chương của Marc Levy nằm ở chỗ lãng mạn, ngọt ngào. Ông bao giờ cũng khai thác những câu chuyện tình yêu ở khía cạnh tròn trịa và hấp dẫn nhất. Bên cạnh đó, vì tiểu thuyết của Marc Levy bao giờ cũng kết thúc bằng "happy ending" nên nó được xem là "kinh thánh" của những tâm hồn đang yêu. Và ngay cả những người đã mất lòng tin ở tình yêu cũng sẽ dễ dàng có lại được niềm tin đó ở sách của Marc Levy. Một số tác phẩm đáng chú ý: Nếu em không phải một giấc mơ, Gặp lại, Em ở đâu, Mọi điều ta chưa nói…   Các tác phẩm của Marc Levy đã được xuất bản tại Việt Nam: Nếu Như Được Làm Lại - Marc Levy Chuyện Chàng Nàng - Marc Levy Mạnh Hơn Sợ Hãi - Marc Levy Nếu Em Không Phải Một Giấc Mơ - Marc Levy Mọi Điều Ta Chưa Nói - Marc Levy Bảy Ngày Cho Mãi Mãi - Marc Levy Em Ở Đâu - Marc Levy Gặp Lại - Marc Levy Kiếp Sau - Marc Levy Đêm Đầu Tiên - Marc Levy Ngày đầu tiên - Marc Levy Những Đứa Con Của Tự Do - Marc Levy Bạn Tôi Tình Tôi - Marc Levy Chuyến Du Hành Kỳ Lạ của Ngài Daldry - Marc Levy Người Trộm Bóng - Marc Levy .... *** Ông cầm cuốn nhật ký trên tay, ngấu nghiến những dòng chữ bà viết trên giấy, cố gắng nhận ra dáng dấp của mình trong nhân vật này hay nhân vật kia, tiếng vọng từ những buổi chuyện trò giữa họ trong các quán cà phê ở Greenwich Village, một thời kỳ bị đánh cắp khỏi thời gian. Mỗi khi sang trang, ông lắng nghe tim mình đập, nghẹn ngào bởi một mối tình mà kỷ niệm về nó đã bị xóa nhòa như những bước chân của kẻ bộ hành cứ xa dần trên tuyết.   Trong khi màn đêm dần buông, ông vẫn tiếp tục đọc, một mình ngồi bên chiếc bàn trong căn phòng duy nhất của ngôi nhà, chẳng bận tâm gì đến bữa tối cũng như thời gian đang đưa ông vào màn đêm. Ở nhà ông chẳng thừa thứ gì, nhưng cũng chẳng thiếu thứ gì cần thiết để có thể sống sót. Khi những tia sáng đầu ngày len lỏi qua khe cửa chớp, ông gấp cuốn nhật ký lại, và, hai tay đặt trên đầu gối, ông hít một hơi thật sâu để cố kìm dòng nước mắt.   Bà đã kể lại cuộc đời mình mà không một lần gọi tên ông, không lời ám chỉ dù nhỏ nhất đến vai trò ông từng giữ cũng như lựa chọn mà ông đã làm vì bà, và ông tự hỏi phải chăng đây là kết quả của thái độ thờ ơ từ phía bà hay của mối oán hận mà thời gian chưa kịp xoa dịu. Ông đi tới bồn rửa, nhìn khuôn mặt mình trong chiếc gương rạn nứt móc vào một cái đinh mà không nhận ra những đường nét của người đàn ông đã ám ảnh ông khi đọc cuốn nhật ký. Có lẽ đó chính là lý do khiến Hanna xóa bỏ ông khỏi quá khứ của bà. Kỷ niệm thật kỳ quặc, ông tự nhủ trong lúc vỗ làn nước lạnh băng lên mặt. Có những người nuôi dưỡng kỷ niệm như thể có sợi dây níu giữ chúng tồn tại giúp họ tránh xa cái chết; những người khác lại xóa bỏ chúng để quãng thời gian còn lại tươi sáng hơn.   Ông chuẩn bị bữa sáng. Một ly cà phê kèm vài quả trứng đảo cùng dải thịt ba chỉ xông khói cháy xèo xèo trong chảo gang trên bếp. Bà hẳn đã để lại một dấu hiệu, một câu trả lời cho câu hỏi mà sự biến mất của bà đã đặt ra, một manh mối nào đó. Nếu không, hẳn bà sẽ đốt những trang viết này hoặc sẽ mang chúng theo bên mình.   Ông đặt dĩa vào bồn rửa rồi trở lại ngồi bên bàn. ... Mời các bạn đón đọc Một Ý Niệm Khác Về Hạnh Phúc của tác giả Marc Levy.
Yêu Anh Tới Tận Mặt Trăng Và...Quay Trở Lại - Jill Mansell
Mọi cánh cửa trái tim Ellie Kendall tưởng chừng vĩnh viễn khép chặt khi người chồng qua đời trong một tai nạn giao thông. Nhưng cuộc sống cũ với quá nhiều ký ức và sự thương hại đã thôi thúc cô ra đi kiếm tìm một khởi đầu mới. Jack McLaren, doanh nhân trẻ vốn yêu các phi vụ làm ăn hơn những cuộc hẹn hò lãng mạn, không thể ngờ người mình yêu từ cái nhìn đầu tiên lại xuất hiện trước ngưỡng cửa xin làm trợ lý, đẩy anh vào tình huống giằng xé: vừa phải né tránh thảm họa tình công sở, vừa khao khát có được cô gái mình yêu. Roo (hay Daisy Deeva), một ngôi sao ca nhạc hết thời nơi Ellie chuyển tới, sống bất cần đời và liên tiếp phạm phải sai lầm cả trong quá khứ lẫn hiện tại. Tình bạn với Ellie đã khiến cô muốn thoát khỏi cuộc sống vô mục đích và sửa chữa những lầm lỗi đã gây ra. Và một năm đầy xáo động của ba con người đã diễn ra trong khu phố nhỏ trên đồi Primrose... *** “Xúc động, vừa khiến bạn bật cười, vừa vô vùng lãng mạn.” - Woman's Day Australia  “Một cuốn tiểu thuyết chứa chan cảm xúc và đầy tinh nghịch.” - Woman and Home ***   Nếu bạn là fan của dòng văn chick lit - thể loại văn học dễ đọc, mang tính giải trí, viết về những phụ nữ trẻ trong lứa tuổi 20 - chắc chắn không thể không biết đến Jill Mansell. Cô là một trong 20 nữ nhà văn lãng mạn hàng đầu của xứ sở sương mù. Năm 2009, tờ Telegraph bầu chọn cô là một trong những tác giả bán chạy của thập kỷ. Tại Việt Nam, độc giả đã biết tới Jill Mansell thông qua Mình thử yêu nhé, Cleo? (tên gốc: Take a chance on me) - tác phẩm đoạt giải Tiểu thuyết lãng mạn hài hay nhất năm 2011 của Hiệp hội Tiểu thuyết Lãng mạn (RNA). Giờ đây, người hâm mộ lại có cơ hội tiếp cận với một cuốn sách nữa của Jill Mansell mang tên: Yêu anh tới tận mặt trăng... và quay trở lại. Yêu anh tới tận mặt trăng… và quay trở lại là câu chuyện về cô gái trẻ xinh đẹp Ellie Kendall. Kendall đang tận hưởng cuộc sống hôn nhân viên mãn thì tưởng như rớt thẳng xuống địa ngục khi nhận được tin chồng chết trong một tai nạn giao thông. Sau cái chết của chồng, cuộc sống của Ellie trở nên khép kín. Nỗi đau lớn đến mức đóng sầm mọi cánh cửa nơi trái tim cô. Cô cảm thấy thật khó khăn khi sống tiếp mà không có người chồng yêu quý bên cạnh. Công việc cũ, căn hộ cũ mà cô và chồng từng có bao kỷ niệm khiến nỗi đau trong cô càng sâu thêm và ngăn cản cô tiến bước. Biết được tình trạng đó của Ellie, bố chồng cô, Tony – một diễn viên Hollywood nổi tiếng, đã can thiệp hòng giúp cô vượt lên nỗi đau. Ông mua một căn hộ sang trọng ở khu phố Primrose Hill giàu có và đề nghị con dâu dọn tới ở. Chuyển tới nơi ở mới, cô tình cờ quen biết cô gái sống bên kia đường tên Roo, vốn từng là một ca sĩ nổi tiếng nay đã giải nghệ, có cuộc sống phóng túng, bất cần. Biết Ellie đang cần thay đổi việc làm, Roo tìm cách giúp bạn nhận ghế trợ lý cho một doanh nhân trẻ tuổi, thành đạt, đẹp trai tên Jack. Jack McLaren, doanh nhân trẻ vốn yêu các phi vụ làm ăn hơn những cuộc hẹn hò lãng mạn, không thể ngờ cô gái mình yêu từ cái nhìn đầu tiên lại xuất hiện ngay trước ngưỡng cửa xin làm trợ lý. Điều này đã đẩy anh vào tình huống giằng xé: vừa phải né tránh thảm họa tình công sở, vừa khao khát có được người mình yêu. Về phía Ellie, cô dần dần không thể phủ nhận sự hấp dẫn của Jack, dù một phần trong cô vẫn chưa muốn quên đi Jamie để sống tiếp. Mối tình lãng mạn đó cứ âm thầm nảy nở, trở nên mãnh liệt, nhưng không ai dám thừa nhận hay chủ động bày tỏ. Trong khi đó, với Roo, tình bạn giữa cô và Ellie đã khiến cô muốn thoát khỏi cuộc sống vô mục đích và sửa chữa những lầm lỗi đã gây ra. Và một năm đầy xáo động của ba con người đã diễn ra tại khu phố nhỏ trên đồi Primrose... Mời các bạn đón đọc Yêu Anh Tới Tận Mặt Trăng Và...Quay Trở Lại của tác giả Jill Mansell.
Tháp Muốn và Đế Chế Thi Ca - Y Ban
Chúng tôi là dân làm báo chuyên nghiệp. Ngoài việc là hội viên Hội Nhà báo chúng tôi còn đặt ra những hội nhỏ, như Hội những nhà báo IT, Hội những nhà báo môi trường, Hội những nhà báo văn hóa, văn nghệ… Còn Hội của chúng tôi là Hội những nhà báo viết về chuyện xia. Gọi cho hay ho văn minh hơn là Hội các nhà báo viết về môi trường. Thì sao chứ, xia là chuyện liên quan đến con người, mà còn rất rất quan trọng. Có thể nhịn ăn mươi mười lăm ngày chứ đố ai nhịn đái một ngày, nhịn xia mười ngày. Có mà chết tiệt. Vả lại trong văn thơ dân gian cứt đái cũng được đưa vào, ví như: Em như cục cứt trôi song Anh như chó đói đứng trông trên bờ. Hoặc như trong thành ngữ cứt cũng dùng để răn dạy: Cứt nát còn đòi có chóp. Tôi nói rông dài một chút để khẳng định rằng xia cũng luôn là một đề tài hay cho đến thời điểm hiện tại. Thu Hà Nội tuyệt đẹp. Nắng vàng tươi như mật. Nơi chúng tôi thích ngồi nhất là quán trà xanh bà gù dưới gốc cây sấu già. Cây sấu đã già lắm. Những cái rễ của nó bạnh cao trên mặt đất. Bà gù ngồi dựa vào một cái bạnh rễ sấu. Trông cái gù trên lưng bà cũng như một cái rễ sấu bạnh lên. Cây sấu già lá đã thưa. Những vạt nắng xiên qua vòm lá thả xuống đất những cái bóng tròn. Khi có gió những bóng nắng nhảy nhót. Tôi ngồi dưới tán sấu những bóng nắng vẽ hoa trên áo tôi. Tôi vừa đưa chén trà xanh lên miệng thì X, báo P đỗ xịch xe lên vỉa hè. Miệng luyến thoắng: - Mỗi mình chị à? - Thì vừa thêm em nữa. - Đang chết cười đây chị ơi. Em phải phi đến đây ngay. - Lại chuyện xia à? ... Mời các bạn đón đọc Tháp Muốn và Đế Chế Thi Ca của tác giả Y Ban.
Tội Tình Vì Yêu - Liane Moriarty
Có một loại sâu sống kí sinh trong cơ thể con người, cách trừ khử duy nhất là tự bỏ đói bản thân, đặt một món ăn nóng sốt nơi miệng, đợi con sâu ngửi thấy mùi thức ăn, chậm rãi duỗi mình ra và tìm đường bò ngược lên. Có một thứ bí mật đen tối ẩn sâu dưới những nếp gấp thời gian, cách trừ khử duy nhất là bỏ đói ký ức, đừng động tay vào nó, trông thấy cũng tảng lờ, và chối bỏ mọi lời cáo buộc liên quan đến bí mật ấy. Nhưng sẽ ra sao nếu có người, vô tình hoặc cố ý, không muốn trừ khử? Sẽ ra sao nếu trên đời thật sự có nhân quả? Con người có bản tính tò mò. Nhờ vậy, ta luôn khát khao chinh phục tự nhiên và khám phá những chân trời mới. Nhưng cũng chính bởi tò mò, Adam rủ Eva ăn trái cấm và bị đuổi khỏi vườn địa đàng, Pandora mở chiếc hộp thần khiến bệnh tật tràn lan, nhũng nhiễu thế gian đời đời kiếp kiếp. Và giờ đây, hậu quả của tò mò hiện hình trong một phiên bản mới, câu chuyện về Cecilia tội nghiệp với lá thư định mệnh.  Tội tình vì yêu, tiểu thuyết tâm lý xã hội của Liane Moriaty, là một hành trình cảm xúc, dẫn dắt người ta đi từ dằn vặt này tới giày vò khác, đầy khổ đau, tuyệt vọng xen những phút giây lặng lẽ, an nhiên; như mặt biển hiền hòa trước cơn cuồng phong, bão tố. Một bí mật nên được chôn vùi mãi mãi đã bị mở ra. Và quả báo xuất hiện, trò đùa số phận bắt đầu… *** Tất cả cũng chỉ tại bức tường Berlin. Nếu không phải vì bức tường đó thì Cecilia sẽ chẳng bao giờ tìm thấy bức thư, và giờ cô sẽ không phải ngồi đây nơi bàn bếp, lòng thầm ước mình chưa từng mở nó ra. Chiếc phong bì màu xám đã phủ một lớp bụi mỏng. Chữ trên mặt trước được viết cẩu thả bằng mực bút bi xanh, nét chữ viết tay thân thuộc như chính cô viết vậy. Cô bóc ra. Chiếc bì thư được dán bằng mẩu băng dính màu vàng. Nó được viết ra từ bao giờ vậy nhỉ? Thư đã cũ, có vẻ như được viết từ nhiều năm trước, nhưng không làm sao biết chắc chắn được. Cô không định mở nó ra. Rõ ràng cô không nên mở nó ra. Cô là người hết sức kiên quyết, một khi đã quyết định không mở lá thư ra thì cũng chẳng nên suy nghĩ về nó nữa. Mà nói thực lòng, nếu cô mở ra thì có vấn đề gì nghiêm trọng cơ chứ? Bất cứ người đàn bà nào cũng sẽ làm như vậy mà chẳng cần nghĩ ngợi gì nhiều. Cô thầm hình dung trong đầu liệu những người bạn của cô sẽ phản ứng ra sao nếu ngay bây giờ cô gọi điện hỏi xem họ nghĩ gì. Miriam Openheimer: Xời! Mở ra đi! Erica Edgediff. Nàng đùa đấy à? Mở ngay đi chứ! Laura Marks: A, cậu mở ra đi, rồi đọc lên cho tớ nghe với. Sarah Sacks: Thật vô ích khi hỏi Sarah bởi cô nàng chẳng bao giờ quyết định được gì. Giả sử Cecilia có hỏi cô ấy muốn uống trà hay cà phê, cô nàng sẽ ngồi thừ ra cả phút, trán nhăn lại vô cùng khổ sở như thể đang suy nghĩ điều gì trọng đại lắm, và rồi thế nào cũng đáp: “Cà phê đi! Mà khoan, trà đi vậy!” một câu trả lời như thế chỉ khiến Cecilia lên cơn tai biến mạch máu não thôi. Mahalia Ramachandran: Tớ nghĩ hoàn toàn không nên. Như vậy là thiếu tôn trọng chẳng cậu lắm đấy. Cậu đừng mở. Đôi khi Mahalia tự tin thái quá về đôi mắt nâu to tròn nhuốm màu đạo đức của cô nàng thì phải? Cecilia để lá thư lại trên bàn, bước ra đổ thêm nước vào ấm. Chân Esther biết ai là người đề xuất ý tưởng về bức tường Berlin. Và hẳn con bé còn có thể cho cô hay ngày sinh tháng đẻ của kẻ đó nữa. Chắc chân đó là một gã đàn ông rồi. Chỉ có đàn ông mới nghĩ ra trò nhẫn tâm như thế: đủ ngu đần và thừa hung bạo. Phải chăng đây là một dạng biểu hiện của thành kiến giới tính? Cô xả nước đầy ấm, cấm điện rồi lấy khăn giấy lau những giọt nước vương trên bồn rửa, miết đi miết lại tới khi sạch bóng. Tuần trước, ngay trước khi khai mạc đại hội phụ huynh học sinh ở trường, mẹ của ba cậu nhóc suýt soát tuổi ba cô con gái của Cecilia đã bảo rằng những lời nhận xét của Cecilia “phần nào mang xu hướng thành kiến giới tính”. Cecilia không thể nhớ chính xác chị ta đã nói nhưng gì, nhưng hẳn là chị ta chỉ đùa thôi. Hoặc có lẽ cô là người có xu hướng thành kiến giới tính thật. Ấm nước reo. Cô xoay xoay túi trà lọc Earl Grey, ngắm những gợn màu đen lan tỏa trong nước. Có những thứ còn tồi tệ hơn cả thành kiến giới tính. ... Mời các bạn đón đọc Tội Tình Vì Yêu của tác giả Liane Moriarty.