Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Mọi Cái Tên - Jose Saramago

“Là một nhà văn lớn của thời đại, dấn thân vào con đường sáng tạo từ ngày trẻ, nhưng phải tới ngoài lục thập mới được xã hội nhìn nhận ít nhiều đúng tầm cỡ (Giải Nobel Văn học 1998). José Saramago đã có lúc phải cay đắng thở than: ‘Lên sao Hỏa còn dễ hơn gõ được vào trái tim những người đồng thời…’ Cách đây sáu năm, ngày 18-6-2010, ông đã qua đời trên đảo Lanzarote, thọ 87 tuổi.” José Saramago sinh năm 1922, trong một gia đình nông dân nghèo ở cách thủ đô Bồ Đào Nha hơn trăm cây số. Cha ông từng là lính pháo binh trong chiến tranh thế giới thứ nhất và sau khi giải ngũ, đã trở lại với công việc đồng áng. Tuy nhiên, khi nhà văn tương lai lên ba tuổi, người cha đã quyết định tìm kế sinh nhai ở Lisbon. Và thủ đô cũng là nơi mà Saramago sẽ sống từ đó đến gần hết cuộc đời mình. Saramago đã phải trải qua một tuổi thơ vất vả, thậm chí còn không được học hết trung học. Những công việc đầu tiên khi ở tuổi trưởng thành là làm thợ nguội sửa chữa ô tô, kỹ thuật viên vẽ thiết kế, nhân viên y tế, nhân viên bảo hiểm xã hội… Nhưng dù vất vả thế nào thì chàng thanh niên Saramago cũng rất hiếu học, rất chăm chỉ đọc sách và tự nghiên cứu các ngoại ngữ. Năm 22 tuổi, nhà văn tương lai đã lấy vợ là một nữ họa sĩ. Tới những năm 80 của thế kỷ trước, Saramago đã li dị người vợ đầu và cưới một nữ nhà báo làm vợ… Tác phẩm đầu tay của Saramago “Mảnh đất tội lỗi” được xuất bản năm 1947 nhưng từ thời điểm đó, ông đã ngừng xuất hiện cho tới năm 1966 mới cho in tiếp tập sách mới là “Chùm thơ có thể”… Theo các nhà phê bình văn học, tài năng ở Saramago nảy nở… hơi bị muộn. Ông từng làm phóng viên, từng viết nhiều về chính trị, nhưng chỉ từ năm 1976, ở tuổi 54, ông mới được sống hoàn toàn nhờ lao động văn học. Thành công vang dội đầu tiên tới với Saramago là vào năm 1980 với tiểu thuyết “Đứng lên từ cát bụi”, tác phẩm được dư luận chung đánh giá là cuốn tiểu thuyết vĩ đại đầu tiên của ông. Hai năm sau, tên tuổi của ông càng được tôn vinh với tiểu thuyết mới “Hồi ức về tu viện”. Cuốn sách này ngay sau khi ra đời đã được dịch ra vài thứ tiếng nước ngoài và mở cửa cho Saramago đi tới cùng thế giới. Trong những năm 80 của thế kỷ trước, Saramago hoàn toàn tập trung sức lực cho sáng tác văn học và đã liên tiếp cho ra đời các tập tiểu thuyết có ấn tượng như “Năm Ricardo Reis qua đời” (1984), “Chiếc bè đá” (1986), “Lịch sử cuộc phong tỏa Lisbon” (1989)… Năm 1991, Saramago cho xuất bản tiểu thuyết “Phúc âm theo Jesus Christ” mang đậm cách nhìn tả khuynh vào lịch sử nhà thờ. Cuốn sách này đã gây nên nhiều chuyện ầm ĩ nhưng vẫn được xuất bản tới hơn 20 lần tại Bồ Đào Nha và đã được dịch ra 25 thứ tiếng khác trên thế giới. Chính quyền Bồ Đào Nha dưới sức ép của Nhà thờ đã cắt xén bản thảo “Phúc âm theo Jesus Christ” nên Saramago đã rời bỏ đất nước sang cư trú tại quần đảo Canarias của Tây Ban Nha. Trong nhiều cuốn sách của mình, Saramago đã lựa chọn những cốt truyện lạ, thậm chí mang tính dị thường. Thí dụ như trong cuốn “Chiếc bè đá”, câu chuyện diễn ra trên bán đảo Iberia bị tách lìa khỏi lục địa châu Âu và buộc phải trôi lênh đênh trên biển. Trong tiểu thuyết “Mù lòa” (1995), cư dân của một quốc gia đã phải gánh chịu bệnh dịch bí hiểm làm hỏng mắt, dần dà khiến cho xã hội bị tan rã. Trong tiểu thuyết “Những gián đoạn trong cái chết”, cư dân ở một quốc gia khác đã phải gánh chịu một tai họa khác – không ai bị chết cả nên đất nước phải đối mặt với nạn nhân mãn, các cơ sở mai táng và tổ chức lễ tang bị ăn không ngồi rồi và thế là xuất hiện một tổ chức bất hợp pháp tìm cách sát hại những người già cả… Mỗi một cốt truyện như thế đã được Saramago sử dụng như phương tiện để bày tỏ một hay một vài ý tưởng, nay đã tạo dựng thành di sản tinh thần đích thực của nhà văn. Để tiếp cận với những ý tưởng ấy, độc giả bắt buộc phải vượt qua được những cửa ải của thứ ngôn ngữ nặng nề của nhà văn vì Saramago hay sử dụng các cú pháp đã được phức tạp hóa và bất chấp các quy tắc ngữ pháp hay chính tả và vì thế, đã khiến cho không ít nhà phê bình văn học nhìn ra trong phong cách sáng tác này của ông những dư âm của vô thức… Một trong những thủ pháp điển hình khác của Saramago là nhà văn còn hay tạo nên một hiện thực khác. Thủ pháp này đã được thể hiện rõ nhất trong tiểu thuyết “Năm Ricardo Reis qua đời” (1984) mà trong đó nhà văn đã làm sống lại “cái tôi thứ hai” của thi sĩ Bồ Đào nha Fernando Pessoa hay trong “Lịch sử cuộc phong tỏa Lisbon” (1989) với nhân vật chính là người hiệu đính cuốn sách sử về thành phố và đã thêm một từ “không” vào đó khiến cho ý nghĩa cuốn sách trở nên hoàn toàn sai khác… Những quan điểm chính trị và tôn giáo của José Saramago đã mang lại cho ông danh tiếng không kém gì những tác phẩm của ông. Ông gia nhập đảng Cộng sản Bồ Đào Nha năm 47 tuổi và đã giữ nguyên danh hiệu đảng viên cộng sản cho tới khi trút hơi thở cuối cùng. Năm 1975, sau cuộc “cách mạng hoa cẩm chướng”, chính thẻ đảng Cộng sản đã trở thành nguyên do khiến ông bị loại khỏi vị trí Phó Tổng biên tập báo “Diario de Noticias”. Về sau ông đã đánh giá sự việc này là chuyện may mắn nhất của đời ông: “Khi đó, tôi đã dừng bước và suy ngẫm. Khi đó tôi lại tái sinh như một nhà văn”… Saramago là người nhất quán phê phán mô hình hiện đại của xã hội tư bản chủ nghĩa ở phương Tây. Ông nói: “Con người là một sinh vật duy lý nhưng lại hành xử một cách phi lý. Nếu sự thật ngược lại thế thì trên thế giới đã không xảy ra nạn đói…” Những tuyên ngôn dễ quá mù ra mưa của ông đã khiến Saramago trở thành mục tiêu phê phán cả từ phía những chế độ chính trị mà ông dị ứng lẫn từ phía các đồng nghiệp trí thức. Một trong những vụ việc gây tai tiếng nhất trong các hoạt động xã hội của Saramago là chuyến thăm của ông tới khu tự trị Palestine năm 2002. Ở Ramalla, ông đã so sánh thành phố đang bị phong tỏa này với các trại tập trung của bè lũ phát xít Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai… “Sống trong âm vọng của nạn diệt chủng Do Thái Holocaust, người Israel cứ tưởng rằng họ làm gì cũng được vì họ đã phải trải qua một thảm kịch như thế. Quan điểm này theo tôi là rất đạo đức giả. Những khốn khổ của cha ông họ đã không làm họ sáng mắt thêm điều gì cả” – Saramago đã tuyên bố như thế sau một năm tới thăm Ramalla. Sau sự kiện này, ông đã bị buộc tội là một kẻ theo chủ nghĩa bài Do Thái và thật đáng tiếc là một bộ phận của xã hội phương Tây đã nghĩ ông quả thực là như vậy. Khi tin tức về việc ông qua đời lan đi trên thế giới, trên một số phương tiện thông tin đại chúng đã xuất hiện những dòng tít: “Người được nhận giải thưởng Nobel và người bài Do Thái đã mất”, “Đã qua đời một nhà văn Bồ Đào Nha, người từng so sánh Israel với nước Đức Quốc xã”… Có thể đối với một số người, Saramago là một nhà văn “khẩu xà”, nhưng đó là một trí thức “tâm Phật”. Tuy nhiên, theo đánh giá của một ông chủ nhà xuất bản có tiếng ở Bồ Đào Nha, Jorge De Avezado, đối với Saramago, “đen luôn là đen, không thể nào nói khác đi được”. Saramago đã sáng lập Mặt trận Bảo vệ Văn hóa Quốc gia. Là một nhà văn vĩ đại, Saramago không hẳn đã được những người đồng bào đương thời của mình ưa chuộng nhất. Không ít người Bồ Đào Nha lại cho rằng khó chiều ông quá. Nhưng sách của ông ở Bồ Đào Nha thì ai cũng đọc và khi ông được trao giải Nobel văn chương năm 1998, thì rất nhiều người Bồ Đào Nha cảm thấy đó là một tin mừng. Khi hay tin nhà văn qua đời, Thủ tướng Bồ Đào Nha lúc đó là Jose Cocrates đã nói rằng, Bồ Đào Nha “đã bị mất một trong những nhà văn hóa chính yếu của mình mà sự ra đi của ông đã là một tổn thất lớn lao đối với đất nước”. Bản thân nhà văn lại coi thái độ không đồng nhất đối với mình từ phía độc giả là chuyện thường tình: “Tôi không phải là người xấu. Nếu tôi có thể làm hại gì đó thì chỉ bằng lời mà thôi”. Sinh thời, Saramago dù muộn màng nhưng cũng đã được vinh danh không ít. Và ông cũng coi chuyện này rất bình thường. Trong một bài trả lời phỏng vấn trước khi mất không lâu, ông đã nói: “Tôi không phải thiên tài. Tôi đơn giản chỉ làm tròn phận sự của mình thôi”. Trong một bài trả lời phỏng vấn khác trước khi qua đời ba năm, Saramago nói: “Tôi không có cớ gì để than thở cả. Trong cuộc đời có quá nhiều việc mà ta cứ tưởng là oách, nhưng thực ra chúng chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi đã nhận giải thưởng Nobel. Nhưng điều này thì cũng ích gì?” *** José Saramago gọi cuốn “Mọi Cái Tên” của ông là câu chuyện giản dị nhất trong mọi chuyện. Câu chuyện của một người đi tìm một người khác, vì cuộc sống chẳng có gì quan trọng hơn. “Mọi Cái Tên” có sự hiện diện của mọi người đã và sắp sinh ra trên đời này. Nhân vật duy nhất có tên cụ thể trong tác phẩm là Senhor José, một cái tên không đầy đủ. Senhor José là viên thư ký hạng bét trong Phòng Đăng ký Trung Ương, nơi giữ hồ sơ khai sinh, hôn thú và khai tử của mọi người. Người chết và người sống đều nằm trên những ngăn kệ trong Phòng Đăng ký, nơi có vị trưởng phòng được nhắc đến như chúa trời toàn trí toàn năng. Thú vui duy nhất trong cuộc sống công chức nhàm chán của Senhor José là làm bộ sưu tập chi tiết về cuộc đời của những người nổi tiếng. Một hôm tình cờ bắt gặp tờ khai sinh của một thiếu phụ vô danh, Senhor José quyết định đi tìm nàng. Cuộc sống sẽ trở nên vô nghĩa đối với Senhor José nếu anh không đi tìm người phụ nữ đó. Mọi cái tên dẫn người đọc vào cõi không gian vô tận, về nỗi cô đơn mênh mang cùng cực của cuộc sống, vì những sự kiện ngẫu nhiên sẽ thay đổi toàn bộ cuộc đời chúng ta. Câu văn của Saramago đủng đỉnh, thường có nét lừng khừng, rất đáng sốt ruột, nhưng dí dỏm. Trong cùng một câu viết, người đọc có thể thấy Saramago vừa đóng vai nhân vật trong truyện để mô tả sự kiện đang xảy ra, vừa là kẻ bàng quan chen lời bình phẩm của hắn vào giữa dòng, nhân vật và tác giả luôn luôn chuyển đổi vị trí. Ẩn giữa hai dòng chữ, Saramago để lộ nụ cười tinh quái của ông, và dường như trong khi đọc sách, những sự việc được mô tả mơ hồ giữa hai dòng chữ thường là những điều gây ấn tượng nhất. Saramago dễ chuyển từ một suy nghĩ nghiêm trang sang lời nói kề cà như đùa bỡn, từ những câu nói khoa trương sang một ý niệm súc tích, khiến người đọc phải dừng lại, rồi vội vàng đọc tiếp, hoặc quay ngược lại đoạn trước, để nắm bắt cái tinh tế và đôi khi ranh mãnh của tác giả. Đùa cợt hoặc mỉa mai, ông có thể đặt một quan sát thô kệch ngay trước một ý tưởng lãng mạn. *** Những tác phẩm khác Mảnh đất tội lỗi (Terra do Pecado, 1947), tiểu thuyết. Chùm thơ có thể (Os poemas possiveis, 1966), thơ. Đứng lên từ cát bụi (Risen from the ground, 1979), tiểu thuyết. Năm Ricardo Reis qua đời (O ano da morte de Ricardo Reis,1984), tiểu thuyết. Chiếc bè đá (A jangada de pedra, 1986), tiểu thuyết Cuộc đời thứ hai của Francis Assisi (A segunda vida de Francisco de Assis,1987), kịch. Phúc âm theo Jesus Christ (O evangelho segundo Jesus Cristo,1991), tiểu thuyết. Mù loà (Ensaio sobre a cegueira, 1995), tiểu thuyết. Mời các bạn đón đọc Mọi Cái Tên của tác giả Jose Saramago.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nữ Phi Công
Kristin Hannah là một gương mặt tiêu biểu ở đề tài viết về người phụ nữ và gia đình. Với văn phong giản dị, sâu lắng và cảm động, bà đã có những 20 tác phẩm thuộc top bán chạy theo bình chọn của tạp chí uy tín New York Times. Cuốn tiểu thuyết tình cảm "Nữ Phi Công" được nữ tác giả đầu tư rất nhiều tâm huyết để khắc họa chân thực cuộc hơn nhân đang trên bờ vực của sự tan vỡ thời chiến tranh của Michael và Jolene Zarkades. Họ đã bên nhau suốt 12 năm, những áp lực trong cuộc sống cứ thế đè nặng lên đôi vai của đôi vợ chồng khiến họ dần nảy sinh nhiều hơn những mâu thuẫn, mối đe dọa rạn nứt ngày càng hiện rõ. Câu chuyện tiến triển khi Jonene nhận được lệnh đi tập trung chiến đấu bởi cô vốn là một nữ quân nhân. Anh chồng luật sư Michael phải học cách xoay xở với cảnh gà trống nuôi con. Liệu chiến tranh và sự xa cách có trở thành một tác động xấu hơn cho cuộc hôn nhân này? Jolene và Michael sẽ hành xử như thế nào, cứu vãn hay buông xuôi? *** Đây là tác phẩm thứ hai của nhà văn Mỹ Kristin Hannah mà tôi đọc, và một lần nữa, cái nhìn thấu suốt của một tác giả viết về phụ nữ, gia đình cùng văn phong giản dị, sâu lắng và cảm động của bà đã chinh phục tôi hoàn toàn. “Nữ phi công” (tựa gốc là “Home Front”) không có cái kinh hoàng và ám ảnh của một thời kỳ chiến tranh loạn lạc như Sơn ca vẫn hót, thế nhưng nó vẫn đủ sức lay động tâm hồn bất kỳ ai bởi cái cách mà nó đi sâu vào bóc tách những diễn biến tình cảm và tâm lý của những con người bị tác động bởi chiến tranh ngay giữa thời hiện đại này, cùng những giá trị làm nên một gia đình toàn vẹn. Cuốn sách là bản hòa ca mang nhiều cung bậc cảm xúc, dành tặng cho những nam và nữ quân nhân Mỹ - những người anh hùng thực sự - đã dành trọn cuộc đời và tính mạng của mình để bảo vệ và giữ gìn cuộc sống cho người dân. Nhân vật chính của “Nữ phi công” là Jolene, một người lính lái máy bay của quân đội Hoa Kỳ, vợ của luật sư Michael và là mẹ của hai cô con gái: Betsy 12 tuổi và Lulu 4 tuổi. Mở đầu câu chuyện, tác giả Kristin Hannah đã vẽ nên một bức tranh chân thực đến nhói lòng về thực tại của một cuộc hôn nhân đang trên bờ vực đổ vỡ, và những khủng hoảng mà Jolene phải đối mặt trong việc làm vợ, làm mẹ của một cô con gái đang ở lứa tuổi nổi loạn. Lớn lên giữa một gia đình lộn xộn, với một người cha nghiện rượu và một người mẹ yếu đuối, luôn đi theo van xin tình yêu của chồng, Jolene từ thuở bé đã rèn luyện cho mình một tính cách vững vàng, can đảm, không ngại khó khăn và vô cùng mạnh mẽ. Tính cách ấy chính là điều đã cuốn hút Michael về phía chị, nhưng giờ đây nó lại là một trong những nguyên nhân khiến chị và anh cách xa nhau. Không biết làm gì với cuộc đời mình, và với niềm đam mê mong mỏi muốn được bay, Jolene đã gia nhập quân đội, trở thành nữ phi công, tự hào với chính những gì mình đã đạt được với cương vị là một người lính. Nhưng niềm đam mê ấy, những câu chuyện của đời quân nhân, chị đã không thể nào chia sẻ được với Michael. Anh là một luật sư, một con người ngồi phòng máy lạnh, mặc áo sơ mi là phẳng phiu đi làm, là người thuộc “giới tinh hoa” của xã hội. Anh ở trong cái thế giới được bảo bọc của mình và không có chút xíu hiểu biết thực sự nào về sự nghiệp của vợ mình cùng niềm tự hào của chị về cái thế giới của những chuẩn úy và đại đội. Cái chết của cha anh - người cha đã gắn bó với sự nghiệp làm luật sư của anh suốt bao năm - là giọt nước làm tràn ly khiến cuộc hôn nhân của Michael và Jolene càng ngày càng đến bờ vực đổ vỡ. Chị quá mạnh mẽ, quá can đảm, quá tự tin, với một sức sống và sự kiên cường rạng ngời, và chị lại ở bên cạnh anh, một người đàn ông đang đau khổ vì mất mát của mình, chán ngấy những lời khuyên nhủ “mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi” của vợ. Đơn giản, Michael cảm thấy quá yếu đuối và ngộp thở khi sống cùng với người phụ nữ không cần phải dựa dẫm vào anh, một người có thể tự đứng trên đôi chân của mình và khiến anh không còn được cần đến. Cho đến cái ngày Mỹ tuyên chiến với Iraq sau sự kiện 11/9 kinh hoàng, và Jolene nhận lệnh điều động ra chiến trường lái máy may Black Hawk. Sự yên bình giả tạo của một cuộc hôn nhân đang gặp khủng hoảng bỗng chốc nứt toác, để lại một gia đình với những thành viên tức giận trước quyết định thực hiện lời hứa với quân đội của Jolene. Chị sẽ ra đi, đến Iraq, chiến đấu cho cuộc chiến mà nhiều người Mỹ cho là phi nghĩa và chẳng khác hành động giết người. Và trên tất cả, chị lại còn là một người lính nữ, người đã dũng cảm và mạnh mẽ đặt sứ mệnh mình được giao phó với tổ quốc, với nhân dân Mỹ lên hàng đầu, lên trên cả hạnh phúc gia đình mình, trách nhiệm làm mẹ và một cuộc hôn nhân đang rất cần được sửa chữa. Trường đoạn khi Jolene chuẩn bị ra trận, trải qua những ngày cuối cùng ở bên gia đình trước khi tham chiến là một trong những trường đoạn gây xúc động nhất của toàn bộ câu chuyện, khi độc giả có thể thấy được sự hy sinh cao cả và những gì Jolene chấp nhận bỏ lại ở quê nhà và bỏ lỡ trong cuộc đời hai con gái của mình để lên đường làm nhiệm vụ. Chị là một người phụ nữ phi thường, người đã tôn vinh và sống đúng với những giá trị làm nên một người lính Mỹ chân chính, dù điều đó có nghĩa là chị sẽ không được thấy nụ cười của bé Lulu trong suốt một năm ròng, sẽ không được cùng Betsy trải qua lần đầu tiên cô bé hành kinh, sẽ không được nấu đồ ăn sáng cho con, được đưa con đến trường. Và còn đó Michael, người chồng mà chị yêu đến đau đớn, đến rúng động tâm hồn, yêu từ thuở ban đầu khi họ mới gặp nhau, khi chị còn là cô bé 17 tuổi, xơ xác sau cái chết bất ngờ của cha mẹ và không một xu dính túi, đến gặp anh ở văn phòng hỗ trợ trẻ vị thành niên khi anh còn là sinh viên năm nhất đang đi thực tập. Giờ đây, tình yêu đó hình như đã chết trong lòng Michael, hóa thành thứ trái đắng khiến những ngày cuối cùng trước khi chị đi chiến đấu trở thành địa ngục với cả anh và chị. Michael là một người chồng ích kỷ, anh chưa lần nào thể hiện lòng tự hào của mình dành cho vợ và công việc mà chị làm; giờ đây, anh lại còn chì chiết chị, buộc tội chị là một người mẹ không tốt khi đành đoạn bỏ lại con và chồng mình - người chồng suốt ngày ngập ngụa trong công việc và hiếm khi nào dành thời gian cho các con - để tham gia chiến tranh như thể đây là một hành động tự sát. Và trên hết, chắc hẳn anh đã rất sợ, sợ cái trách nhiệm vừa phải làm cha, vừa phải làm mẹ mà sắp tới anh phải lãnh nhận thay vợ mình. Nhưng nỗi sợ lớn nhất, nỗi sợ mà phải tới cái buổi lễ chia tay gia đình để các quân nhân đi tòng quân, anh mới nhận ra, là nỗi sợ sẽ mất chị, được hình thành từ cái nhận thức muộn màng nhưng đáng sợ về chiến tranh, về cái thứ rồi đây Jolene sẽ phải đối mặt. Chiến tranh, dù ở thời đại nào, đều là một thứ chứa rủi ro và cái chết. Và đó là thứ Jolene sẽ phải dấn thân vào, sẽ phải chạm đến hằng ngày, hằng giờ ở Iraq: bom rơi, đạn lạc, thiết bị gây nổ bất ngờ, những mảnh thịt người không còn rõ hình dạng văng tứ tung sau một vụ nổ bom, đồng đội ngã xuống, máu, mùi thuốc súng, nỗi hoang mang không biết mình sẽ còn sống được bao ngày nữa, liệu mình có còn toàn mạng và toàn vẹn thân thể để trở về với gia đình, với những người thân yêu. Chiến tranh là thế đấy, nó khắc nghiệt, xấu xí và đau đớn vô cùng, nhưng nó là viễn cảnh mà Jolene đã chọn, sự lựa chọn đã thay đổi không chỉ chị mà còn Michael. Kristin Hannah một lần nữa đã thể hiện cái nhìn sâu sắc và thấu suốt của mình về những vấn đề của gia đình, đặc biệt là những gì mà các gia đình quân nhân phải trải qua khi một thành viên của họ phải đi làm nhiệm vụ, thông qua cái cách bà miêu tả tình cảnh “gà trống nuôi con” của Michael, quá trình chật vật thích ứng với trách nhiệm chăm sóc con cái - điều mà anh luôn lãng quên trong suốt bao năm. Và nếu như Jolene đang đối mặt với cuộc chiến tranh khốc liệt ở ngoài phương xa, không biết liệu có thể trở về, thì Michael cũng có một trận chiến của riêng mình để chiến đấu: trận chiến để đảm bảo các con mình vẫn duy trì một cuộc sống bình thường với sự giúp đỡ hết sức mình của mẹ anh - bà Mila - một người phụ nữ vô cùng tâm lý, và là người duy nhất từng thấu hiểu, ủng hộ quyết định ra trận của Jolene. Trận chiến ấy song hành cùng việc anh theo đuổi vụ xét xử một anh chàng cựu quân nhân bị khép tội giết vợ, giúp Michael nhận ra một sự thực mà anh đã quá ngu ngốc, quá ích kỷ để mà nhìn thấy trước đây: anh yêu Jolene, anh vẫn còn yêu chị, làm sao mà anh có thể hết yêu chị, người phụ nữ can đảm vô cùng, xinh đẹp vô cùng, người đã cùng anh xây dựng gia đình trong suốt 12 năm qua. Ấy vậy mà anh lại để chị ra trận với cái lời nói “Anh không còn yêu em nữa” in dấu trong đầu chị, đẩy chị đi xa khỏi anh, làm tổn thương chị, phí hoài những ngày quý giá trước khi chị đi chiến đấu cho nước Mỹ với muôn vàn khó khăn và nguy hiểm trong nỗ lực vô vọng để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng của Jolene, trong nỗi khổ đau không nói thành lời của một người vợ luôn yêu anh nhưng anh thì lại luôn lạnh nhạt. Để rồi cái điều Michael sợ hãi cuối cùng cũng đến, khi anh hay tin vợ mình bị thương nặng sau khi máy bay của chị bị bắn rơi và phát nổ. Cảm xúc của câu chuyện dâng cao với sự kiện ấy, khi trận chiến tiếp theo mà Michael phải đối mặt chính là trận chiến của ý chí và tình yêu, của một người chồng muốn sửa sai và hàn gắn lại mối quan hệ tưởng chừng đã nát tan của hai người, một trận chiến đi vào cốt lõi của gia đình mà họ đã xây dựng, cùng nền móng tình yêu đã giúp họ xây dựng nên gia đình mình. Và trận chiến ấy hoàn toàn không hề dễ dàng để chiến thắng, khi mà Jolene không còn là người phụ nữ trước khi chị ra trận: chị vụn vỡ thành trăm mảnh bởi những gì chị đã trải qua ngoài chiến trường, bởi cái chết của những đồng đội, bởi vụ rơi máy bay kinh hoàng, bởi khói, máu và mất mát. Chị mang theo về nhà một cơ thể không còn toàn vẹn và một tâm hồn còn nứt toác, vụn vỡ hơn. Đó là một trận chiến với đầy những nước mắt, đớn đau, sự sợ hãi đến từ hai cô con gái của Jolene, khi chúng không biết chuyện gì đã xảy ra với tính tình và tâm lý của mẹ chúng, khi chúng chỉ biết rằng mẹ không còn như trước kia, luôn nóng tính, la mắng chúng và dường như không còn yêu chúng nữa. Và Michael, anh bền bỉ với tình yêu dành cho Jolene, cho người vợ luôn xinh đẹp và can đảm trong mắt anh, mặc dù giờ đây chị không còn là người phụ nữ như trước đây anh đã biết. Những nỗ lực để hàn gắn, để Jolene trở lại là mình, là cô chuẩn úy mạnh mẽ, tràn đầy tự tin đã khiến tôi khóc không biết bao nhiêu lần. Tôi khóc cho cái số phận và những gì Jolene đã trải qua, cho những mất mát mà chị đã phải gánh chịu, cho nỗi sợ cùng sự tức giận mà chị cảm thấy về những gì chị tưởng là lòng thương hại dành cho người vợ tật nguyền của Michael, cho những gì chị tưởng là ý thức trách nhiệm của một người chồng khi Michael không rời bỏ chị mà lại quyết định ở bên chị, luôn luôn, cầu xin chị tha thứ cho anh và muốn câu chuyện của họ bắt đầu lại từ đầu. Tôi khóc khi Jolene, với nỗi thương cảm dành cho chính bản thân mình cùng sự mạnh mẽ, không muốn dựa dẫm và ai luôn sẵn có trong con người chị - người phụ nữ làm bằng thép và được trui rèn trong lửa - đã gạt phăng những nỗ lực của Michael nhằm hàn gắn vết thương lòng anh đã gây ra cho chị và cuộc hôn nhân của họ. Để rồi sau đó, chị đã mất rất nhiều thời gian để lại có thể tin tưởng anh và mở lòng với anh. Và tôi đã khóc khi chứng kiến Jolene chiến đấu trong cuộc chiến của riêng chị, cuộc chiến với PTSD (viết tắt của Post Traumatic Stress Disorder, là chứng trầm cảm sau sang chấn, rất phổ biến ở các cựu chiến binh), với mặc cảm tội lỗi về vụ rơi máy bay khi chị đã không thể bảo toàn tính mạng cho các đồng đội, với việc chấp nhận tình trạng cơ thể không toàn vẹn hiện tại của mình, với những khó khăn mà chị phải trải qua trong quá trình làm quen với cơ thể mới và hòa nhập với cuộc sống sau chiến tranh, với tương lai được bay trở lại vô cùng mờ mịt, với việc xác nhận lại định nghĩa về bản thân chị: chị còn là chuẩn úy Zarkades nữa hay không, hay chỉ là một khối thịt vô dụng và tật nguyền; chị có còn là mẹ của lũ trẻ hay không, hay là một mụ phù thủy luôn khiến chúng sợ hãi mỗi khi tiếp xúc với chị. Tương lai mờ mịt nhưng không phải là không có hy vọng, và hy vọng ấy được thắp lên bởi chính Michael, người chồng đã hoàn toàn lột xác khỏi cái mác ích kỷ để trở lại là người đàn ông Jolene luôn yêu và mãi yêu, người chồng giờ đây vô cùng tự hào về chị, về những gì chị đã trải qua vì tổ quốc và nhân dân Mỹ. Jolene, cùng với cô bạn thân Tami, người cũng là phi công lái máy bay và cùng chị tham chiến ở Iraq, là đại diện cho những người nam nữ quân dân anh dũng và đáng được tôn vinh của Hoa Kỳ, những con người đã sống cuộc đời mình để hoàn thành trọn vẹn lời hứa với quân đội, với đất nước, cho dù điều đó có nghĩa là họ đang đặt bản thân mình, cơ thể mình, tính mạng của mình vào vòng hiểm nguy. Đã có những hy sinh quá lớn, những mất mát đớn đau phải cần thật nhiều thời gian mới có thể nguôi ngoai, những gia đình mất đi một thành viên, những đứa trẻ phải lớn lên mà không có cha hay mẹ. Nhưng cuối cùng thì, sứ mệnh giữ gìn bình yên cho tổ quốc, cho nhân dân vẫn là một sứ mệnh cao cả và phải luôn được đặt lên hàng đầu. Chính điều đó đã biến những người quân nhân trở thành những người anh hùng của đời thực, những người cũng như chúng ta, cũng dễ bị tổn thương, cũng có những phút giây yếu đuối, những lo lắng, hãi sợ và bất ổn trong tâm hồn. Cái họ cần là sự quan tâm, là gia đình ngập tràn tình yêu, là những sự giúp đỡ về vật chất và tâm lý, để họ có thể tiếp tục tỏa sáng và đóng góp cho xã hội, cho bình yên của đất nước và cuộc sống của người dân. *** #Review #Nữ_phi_công “Có những điều bạn học được tốt nhất trong bình yên. Có những điều chỉ học được trong dông bão ...” Thật sự không hiểu sao một quyển sách hay, nhiều cảm xúc như thế lại ít được nhắc tới. Nếu không tình cờ biết Nữ Phi Công được viết bởi tác giả của Sơn Ca Vẫn Hót thì Boog đã bỏ qua nó. Thật mừng vì Boog đã đọc và không bỏ lỡ một tác phẩm hay. Bằng những câu chữ đầy cảm xúc, tác giả đưa bạn tới cuộc sống hôn nhân đầy dông bão, những mất mát đau thương của chiến tranh mà Boog đọc thấy có một sự đồng cảm ghê gớm. Jolene Larsen là một quân nhân, một phi công trong quân ngũ. Mà phụ nữ trong quân ngũ thường ít, ít nhiều có khó khăn hơn nam giới. Thật sự Boog có chút ngưỡng mộ đối với những phụ nữ trong quân đội mà lại là phi công ( rất ngầu đấy chứ). Tuổi thơ của cô chịu tổn thương vì chứng kiến những cuộc cãi vã, đập phá khi say rượu của ba mẹ. Họ cũng sớm ra đi do tai nạn trong một lần say rượu. Những tưởng cuộc hôn nhân của cô với Michael - một luật sư tài năng sẽ phần nào bù đắp cho tuổi thơ không trọn vẹn của cô. Nhưng, sau 12 năm chung sống, nảy sinh những vấn đề mâu thuẫn, những bất đồng quan điểm, sự không hiểu nhau trong gia đình. Những vấn đề phát sinh trong việc chăm một cô bé 4 tuổi ngây thơ, có chút nhõng nhẽo, một cô bé 12 tuổi đang bước vào ngưỡng cửa trưởng thành, gặp nhiều vấn đề rắc rối trong các mối quan hệ trong trường trung học đã dẫn tới hôn nhân của họ có nguy cơ bị đổ vỡ. Trước thềm hôn nhân đổ vỡ, là một quân nhân, Jolene nhận được lệnh điều động tới vùng chiến sự Iraq. Đối mặt với nguy hiểm, chứng kiến sự ra đi của những người đồng đội, những người bạn, bản thân bị thương, bỏ lại một phần thân thể nơi chiến trường cô bị tổn thương ghê gớm. Làm sao có thể có một cuộc sống bình thường khi đã trải qua những mất mát, tổn thương đau đớn ấy. Không chỉ mất mát về thân thể, sự ám ảnh của cuộc chiến trong mỗi giấc mơ, trong mỗi đau đớn hàng ngày còn khủng khiếp hơn. Nữ Phi Công miêu tả khắc hoạ rất sâu sắc, rất hay về những đấu tranh nội tâm, những đau đớn, tâm lý các nhân vật. Bên cạnh những mối quan hệ về hôn nhân, gia đình, con cái, cha mẹ, tình đồng chí, đồng đội Boog rất thích tình bạn giữ Jolene và Tami. Tình bạn có thể nói là tri âm tri kỷ, chia sẻ giúp đỡ nhau trong cuộc sống, hiểu nhau tới từng chân tơ kẽ tóc. Nữ Phi Công là một bài ca về nghị lực, về tình thương yêu xoa dịu nỗi đau. Mất mát, đau thương và hàn gắn, đừng để khi mất đi mới hiểu được giá trị của tình yêu, tình cảm gia đình quý giá. Hãy nói yêu thương, đừng nói yêu thương quá muộn. Mời các bạn đón đọc Nữ Phi Công của tác giả Kristin Hannah & Đinh Thanh Vân (dịch).
Không Khóc
Tiểu thuyết Không khóc của Lydie Salvayre, nữ văn sĩ Pháp gốc Tây Ban Nha, giải Goncourt 2014, là một kiệt tác văn học về nội dung cũng như về nghệ thuật viết văn. Lấy bối cảnh cuộc nội chiến Tây Ban Nha vào năm 1936, Lydie Salvayre đã khéo đặt cuộc sống và tình yêu của một cô gái trẻ trong lịch sử chung của đất nước Tây Ban Nha để nói về lịch sử đất nước và đồng thời lịch sử của Châu Âu và thế giới trong những năm 1930 thông qua một phận người. *** Tác giả Lydie Salvayre đặt cuộc sống và tình yêu của một cô gái trẻ để nói về lịch sử, đất nước Tây Ban Nha, đồng thời là lịch sử châu Âu trong những năm 1930. Không khóc là tiểu thuyết đoạt giải Goncourt năm 2014 của tác giả Lydie Salvare. Tác phẩm mới được dịch sang tiếng Việt bởi Tiến sĩ Nguyễn Duy Bình. Nhân dịp ra mắt tại Việt Nam, một buổi tọa đàm về tác phẩm đã được tổ chức tại Trung tâm Văn hóa Pháp Hà Nội. Chương trình có sự tham gia của nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên, nhà nghiên cứu Nguyễn Trí Dũng và dịch giả Nguyễn Duy Bình. Đây là cuốn đoạt giải Goncourt thứ ba mà Tiến sĩ Nguyễn Duy Bình dịch. Anh lấy bằng Tiến sĩ văn học tại Pháp. Tác giả sinh năm 1948, tại Tây Ban Nha, gốc Pháp. Tác phẩm nói về cuộc nội chiến Tây Ban Nha, thông qua hai giọng điệu chính: bà mẹ với những hồi ức, một tuyến nữa là của một nhà văn, nhà báo. Trong Không khóc, tác giả Lydie Salvayre thuật lại câu chuyện của mẹ mình – bà Montse - một người phụ nữ 90 tuổi đã mất trí nhớ. Bà chỉ nhớ giai đoạn những năm 1930, khi mình là thiếu nữ. Cô Montse đến xin làm con ở trong một nhà địa chủ nhưng bị chê là “trông nó xoàng quá”. Nội chiến xảy ra đã cứu cô thoát khỏi thân phận con ở. Để thoát khỏi ngôi làng với những hủ tục, định kiến, lạc hậu, cô cùng anh trai tới thành phố với khao khát về thế giới tốt đẹp cho mọi người. Họ đến Catalonia nơi phe tự do vô chính phủ đã cướp chính quyền, bao trùm một niềm hân hoan, vui sướng. Tại đây Montse xinh đẹp có một cuộc tình, nhưng người yêu cô theo lý tưởng mới mà bỏ đi theo chiến tranh. Thất tình, Montse trở về làng với cái thai trong bụng. Cô gặp và kết hôn với con trai một nhà địa chủ. Sự xung khắc tư tưởng, quan điểm chính trị tiếp tục tạo ra nhiều biến cố trong đời Montse. Nhằm giúp độc giả hiểu hơn về tiểu thuyết, nhà nghiên cứu Nguyễn Trí Dũng nói về bối cảnh lịch sử mà tác phẩm phản ánh. Ông cho rằng Không khóc là sự nối dài ký ức cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Năm 1936, chế độ chính trị Tây Ban Nha rối ren. Tháng 7/1936, cuộc nội chiến chính thức nổ ra. Phe Cộng hòa có chính sách không phù hợp với “cánh hữu” với các viên tướng của quốc gia. Cánh tả được những người có tư tưởng xã hội chủ nghĩa ủng hộ, trong khi cánh hữu lại được các cường quốc phát xít hậu thuẫn. Rất nhiều nhà văn, nhà báo tới Tây Ban Nha đưa tin, sáng tác nghệ thuật về cuộc nội chiến kinh khủng này. Một thảm sát đẫm máu đã diễn ra. Có khoảng 50.000 người bị ám sát, giết hại trong cuộc chiến. Đây không chỉ là một nội chiến ở Tây Ban Nha, mà trở thành cuộc chiến tư tưởng ở khắp châu Âu, ngay trong từng làng mạc, từng gia đình, tạo ra một hiện thực đau thương. Tiến sĩ Duy Bình chia sẻ khi dịch, điều khiến anh gặp khó nhất là tác phẩm có hai giọng điệu khác nhau. Giọng kể của tác giả thuật lại câu chuyện của mẹ mình thì trau chuốt, trong khi giọng kể của bà mẹ - một người mất trí nhớ - lại mộc mạc, chân phương, sai ngữ pháp, đôi khi không rõ ràng, rành mạch. Hiện tại và quá khứ trong sách cũng chen lẫn với nhau, nên chọn đại từ nhân xưng cho các ngôi kể trong sách cũng là một lựa chọn khó. Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên đánh giá dịch giả Duy Bình đã dịch sát với một tác phẩm khó. Bởi tiểu thuyết Không khóc được viết bởi hai giọng văn, ngôn ngữ. Nhà phê bình cho rằng ở Không khóc, Lydie Salvayre đã tạ nên hai giọng nói, hai cái nhìn về bạo lực và thanh thoát, giữa tàn nhẫn và tinh tế. Giọng văn khi thì hoàn hảo, lúc thì vụng về, tươi vui. Không khóc được độc giả Pháp đón nhận tích cực, với 22 nghìn bản đã bán hết và một Nhà xuất bản Seuil in gần 450 nghìn bản. Nói về giá trị tác phẩm, nhà nghiên cứu Nguyễn Trí Dũng cho rằng chính tình yêu làm nên vẻ đẹp cho tiểu thuyết. Ông nói: “Nếu không có tình yêu, thì con người vẫn sẽ tàn sát lẫn nhau bởi chiến tranh, cuộc đấu tranh tư tưởng. Chỉ có tình yêu bao phủ mới chấm dứt được cuộc nội chiến ở ngôi làng nhỏ Catalan, cuộc nội chiến Tây Ban Nha. Có lẽ, nếu không có tình yêu thì thế giới cũng tuyệt diệt”.  *** Một tác phẩm viết về chiến tranh và tình yêu vô cùng sâu sắc. Một cuốn tiểu thuyết mà ở đó là sự phân biệt giai cấp giàu nghèo vẫn vô cùng nhức nhối, những hủ tục lạc hậu, định kến cổ hủ vẫn quanh quẩn trong tác phẩm. Tác phẩm xứng đáng được trao tặng giải Goncourt danh giá. Cụ bà Montse, bà bị rối loạn trí nhớ và bà sẽ mãi mãi quên đi những ký ức của quá khứ và hiện tại thế nhưng trong ký ức bà chỉ dai dẳng nhớ đến mùa hè năm 36, mùa hè mà cuộc dống và tình yêu quấn quýt với bà, mùa hè mà bà cảm giác như đang sống hoà quyệt với thế giới, một mùa hè tuổi xuân viên mãn, núp bóng mùa hè đó bà đã có thể sống những tháng ngày còn lại của đời mình. Bà đã giữ lại kỷ niệm đẹp nhất, sống động nhất như là một vết thương, một vết sẹo trên người mãi mãi không phai mờ. Mùa hè ấy cuộc đời bà đã bước sang một trang mới, bà đã gặp được tình yêu của đời mình, nhưng nó lại vội vụt mất khỏi tầm tay của cô gái ngây thơ ngốc nghếch, mùa hè ấy mà từ giai cấp thấp hèn chở thành giai cấp tư sản trong cuộc hôn nhân không tình yêu. Mùa hè người anh yêu quý nông nổi của bà ra đi mãi mãi. Mùa hè ấy mọi thứ đã thay đổi hoàn toàn. Tác phẩm còn vẽ lên cho người đọc thấy được những sự kiện lịch sự của cuộc nội chiến Tây Ban Nha năm 1936. Và cả sự cuồng nhiệt bồng bột của tuổi trẻ. Họ luôn sống hết mình với ước mơ, ý trí, niềm tin và tình yêu của họ. Ai cũng có duy nhất chỉ một cuộc đời vì vậy hãy cứ là chính mình và sống hết mình. Thế thôi!!!! *** Không Khóc của Lydie Salvayre như một bản giao hưởng của ngôn từ. Tác giả quả là một “nhà soạn nhạc” tài ba khi chỉ với 300 trang mà có thể viết nên một bản trường ca với “ngồn ngộn” thông tin và sựkiện lịch sử, được lồng vào câu chuyện đời với biết bao đau thương và mất mát, đắng cay và tủi nhục, nhưng không bi luỵ, mà vô cùng mạnh mẽ và vẫn rất trữ tình. Điểm đặc sắc nhất trong Không Khóc là Lydie Salvayre đã viết nên những đoạn văn đầy tính nhạc, đó chính là việc sử dụng rất nhiều câu phức, câu ghép, với những điệp từ, điệp ngữ, cứ trùng trùng, điệp điệp trong từng câu, từng đoạn như những đợt sóng cuộn trào của ngôn từ. Nhưng tài năng trong bút pháp của tác giả chính là kỹ thuật “phân bè” trong tác phẩm của mình, từng câu, từng đoạn, từng nhân vận, từng sự kiện, như được viết trên những khuông nhạc, với những nốt đen, nốt lặng, móc đơn, móc kép, khi lại 2/4, khi lại 4/4, khi thì mạnh mẽ, lúc lại trữ tình… Tất cả thật sự tạo nên một bản giao hưởng của ngôn từ, mà ở đó có thể người đọc không thể hiểu hết được, nhưng giai điệu của nó vẫn có sức lay động tâm hồn. Nửa đầu cuốn sách tưởng là sẽ chỉ thấy hay, tuy nhiên sẽ không thích vì nội dung chính trị mình không có am hiểu, nhưng đọc nửa sau thì thấy quá hay quá thích, đặc biệt là chương cuối cùng, một màn “coda” tuyệt hảo, kết thúc cho một bản nhạc xuất sắc. So sánh ví von vậy nhưng có khi mình cũng không hiểu chi về giao hưởng với trường ca đâu. Chỉ là cảm giác đọc Không Khóc đúng như là nghe nhạc giao hưởng, đôi khi không hiểu gì, nhưng mà vẫn thấy rất hay, rất cảm xúc. Mời các bạn đón đọc Không Khóc của tác giả Lydie Salvayre & Nguyễn Duy Bình (dịch).
Căn Phòng Của Jacob
Dù tác phẩm nói về một thanh niên người Anh tên là Jacob Flanders, con người và tính cách của anh rất mơ hồ, phụ thuộc vào cảm nhận của những người từng tiếp xúc với anh. Một điểm đáng lưu ý: tên của tác phẩm là “Căn phòng của Jacob” chứ không phải là “Jacob Flanders”. Căn phòng của anh, một biểu tượng cũng rất mơ hồ, được mô tả ba lần: “Căn phòng của Jacob có một cái bàn tròn và hai cái ghế thấp… Không sinh khí, bầu không khí trong một căn phòng trống rỗng chỉ khiến những bức màn phồng lên; những đóa hoa trong lọ lay động. Một thớ sợi trong cái ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Ba) “Con đường chạy qua bên dưới. Chắc chắn phòng ngủ nằm ở phía sau. Đồ nội thất – ba cái ghế đan bằng cành liễu gai và một cái bàn xếp – đến từ Cambridge. Những ngôi nhà này (con gái của bà Garfit, bà Whitehorn, là chủ của ngôi nhà này) được xây dựng khoảng một trăm năm mươi năm trước. Những căn phòng rộng rãi, những trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có khắc hình một bông hồng hoặc đầu cừu đực. Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt.” (Chương Năm) “Thế kỷ mười tám có sự khác biệt của nó. Những ngôi nhà này đã được xây dựng cách đây chừng một trăm năm mươi năm. Căn phòng rộng rãi, trần nhà cao; trên khung cửa gỗ có chạm hình một bông hồng hoặc một cái đầu cừu. Ngay cả những tấm ván cửa, sơn màu tím quả mâm xôi, cũng có sự khác biệt của chú Không khí trong một căn phòng trống rỗng rất uể oải, chỉ làm tấm màn cửa phồng lên; những bông hoa trong lọ hơi lay động. Một thớ sợi trong chiếc ghế bành đan bằng cành liễu gai kêu cọt kẹt, dù không có ai ngồi ở đó.” (Chương Mười bốn) Trong một đoạn nhật ký ngay sau ngày sinh nhật của mình, ngày Thứ hai, 26/1/1920, khi Virginia Woolf tròn 28 tuổi và bắt đầu khởi thảo Căn phòng của Jacob, bà viết: “Tôi… đã có một ý tưởng về một hình thức mới cho một cuốn tiểu thuyết mới. Tôi nhận ra rằng cách tiếp cận lần này sẽ hoàn toàn khác hẳn: không một sườn giàn giáo nào; hầu như không viên gạch nào ló dạng; tất cả đều mờ ảo mơ hồ, nhưng con tim, sự mê đắm, tâm trạng, mọi thứ đều sáng tỏ như ánh lửa giữa màn sương.” (“I arrived at some idea of a new form for a new novel. I figure that the approach will be entirely different this time: no scaffolding; scarcely a brick to be seen; all crepuscular, but the heart, the passion, humour, everything as bright as fire in the mist.” – Writer’s Diary, biên tập Leonard Woolf, NXB Hogarth Press, 1953) Không phải là tác phẩm hàng đầu của Virginia Woolf, nhưng với ý nghĩa và giá trị của nó, Căn phòng của Jacob là bước chuyển biến đột phá cực kỳ quan trọng để sau đó hình thành nên Bà Dalloway và Tới ngọn hải đăng. Nó cũng là đối tượng của hàng ngàn luận văn cao học và tiến sĩ, nhiều gấp bội so với hai tác phẩm nói sau. Sài Gòn, 19/4/2018 Nguyễn Thành Nhân (Lời người dịch) *** Nữ tiểu thuyết gia, tiểu luận gia, nhà phê bình văn học người Anh Virginia Woolf sinh ngày 25-1-1882 tại London. Nhũ danh của bà là Adeline Virginia Stephen. Trong suốt đời mình, Virginia Woolf luôn bị quấy rầy bởi những cơn trầm cảm và những chứng bệnh liên quan. Dù các cơn đau này thường gây ảnh hưởng tới hoạt động xã hội của mình, bà vẫn tiếp tục sáng tác với một vài thời kỳ gián đoạn cho tới khi qua đời do tự tử. Đêm 28-3-1941, Virginia Woolf nhét đầy đá vào những túi áo khoác rồi đi bộ tới con sông Ouse gần nhà và tự trầm mình. Hiện nay bà được đánh giá là một trong các tác giả vĩ đại nhất của thế kỷ 20, đồng thời cũng là một nhân vật trọng yếu trong lịch sử văn chương Anh ngữ với tư cách một người bênh vực nữ quyền và là một trong những người sáng lập nên trào lưu Chủ nghĩa Hiện đại bao gồm T.S. Eliot, Ezra Pound, James Joice và Gertrude Stein. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của bà bao gồm: Đêm và ngày (Night and Day, 1919) Căn phòng của Jacob (Jacob’s Room, 1922) Bà Dalloway (Mrs.Dalloway, 1925) Đến ngọn hải đăng (To the Lighthouse, 1927) Orlando (1928) Căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) Những đợt sóng (The Waves, 1931) Ba đồng tiền vàng (Three Guineas, 1938)  Trong các sáng tác của bà, tác phẩm luận văn  Một căn phòng riêng (A Room of One’s Own, 1929) có một câu châm ngôn rất nổi tiếng:"a woman must have money and a room of her own if she is to write fiction." ("một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng riêng nếu cô ta viết tiểu thuyết.") Woolf xem Shakespeare (và ở chừng mực nào đó, Jane Austen) là đỉnh cao của nghệ thuật sáng tạo bằng chữ nghĩa. Theo bà, muốn như thế, đòi hỏi nơi người viết một tinh thần vô ngã như vị thánh. Bà chê Charlotte Bronte viết không bằng Jane Austen mặc dù tài năng vượt trội hơn, chỉ vì Bronte đã để cảm xúc cá nhân (cái tôi) chen lấn vào tác phẩm. Nhưng nhìn từ góc độ bình thường, quả tình tôi không rõ đã có nhà văn nào, nam cũng như nữ, viết được tác phẩm tầm vóc như của Shakespeare hay chưa. Có thể đã có nhưng tôi không đủ trình độ để thẩm định điều đó. Tuy vậy, theo tôi, chuyện đó không quan hệ lắm. Cái đáng nói là ở thời đại chúng ta, không còn ai phân biệt hoặc quan tâm đến giới tính của nhà văn nữa. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ cầm bút và không ai nghi ngờ tài năng cũng như giá trị tác phẩm của họ. Mời các bạn đón đọc Căn Phòng Của Jacob của tác giả Virginia Woolf & Nguyễn Thành Nhân (dịch).
Chiến Trường Vinh Quang
Bản dịch khác của Phạm Văn Ba:  Chiến Trận Chiến trận là tác phẩm mở đầu cho một loạt tiểu thuyết tiếp theo: Danh nhân (chân dung người cha), Thế giới rất gần (về đám tang người cha) và Quà tặng (chân dung người mẹ), kết thúc bằng Như ở trên trời (về cảnh chia li), tất cả hợp thành một bộ sách về gốc gác con người. Khi viết về chiến tranh người ta thường nhắc nhiều tới máu, súng đạn và nước mắt. Tác giả người Pháp nhìn chiến tranh từ một góc khác, không trực diện nhưng xuyên thấu nỗi đau. Giải Goncourt năm 1990 đã vinh danh tiểu thuyết Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) của Jean Rouaud để cổ vũ cho nỗ lực làm mới một đề tài tưởng như đã sáo mòn. Tác phẩm như một làn gió mới trong các sáng tác về đề tài chiến tranh của văn đàn Pháp lúc bấy giờ. Nỗi đau của cả nhân loại được cảm nhận từ khung cửa sổ của một gia đình trung lưu ở vùng ngoại ô theo cách riêng. Khi cuộc Đại chiến Thế giới lần thứ nhất đang trong giai đoạn khốc liệt cho đến cuối những năm 80 của thế kỉ 20 đã có rất nhiều tác phẩm viết về cuộc binh lửa tàn khốc này. Với những tác giả là người lính từ chiến trường trở về, họ mang cái nhìn trực diện về chiến tranh vào trong tác phẩm. Đôi khi hiện thực được lột tả sát tới mức chúng ta tưởng chừng có thể ngửi thấy mùi thuốc súng trên trang giấy. Là một nhà văn sinh ra khi cả hai cuộc Đại chiến Thế giới đã trở thành quá khứ, Jean Rouaud không cố tình đóng vai là “người trong cuộc” để viết về cuộc chiến như cách mà một số nhà văn ở thế hệ ông đã làm. Tác giả viết về chiến tranh bằng tâm thế và góc nhìn của một con người sinh ra sau chiến trận. Những trang văn không nồng nặc mùi thuốc súng nhưng vẫn khiến người ta day dứt. Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) là cuốn tiểu thuyết viết về chiến tranh, mang âm hưởng của một cuốn hồi ký gia đình. Từ chính câu chuyện của gia đình mình, tác giả đã khắc họa sâu sắc nỗi đau dai dẳng của chiến tranh. Hơn nửa thế kỷ trước, dưới mái nhà mà ông đang sống, đã diễn ra những cuộc tiễn đưa khiến người ta hoảng sợ. Những người đàn ông và có cả những chàng trai trẻ khoác lên mình bộ quân phục và đi về phía bom đạn. Sự khốc liệt của chiến tranh đã vĩnh viễn cướp họ khỏi vòng tay người thân. Nhưng những người lính ấy không bao giờ chết. Họ vẫn sống trong ký ức của người thân. Một thứ ký ức buồn và dai dẳng như màn mưa dai dẳng của vùng Loire-Inferieure. Đọc những trang đầu của Chiến Trận (Chiến trường vinh quang), nhiều độc giả đặt ra câu hỏi: “Liệu đây có phải là một cuốn tiểu thuyết chiến tranh hay chỉ đơn thuần là một cuốn hồi ký về gia đình?”. Trong những chương đầu, tác giả tập trung miêu tả các thành viên trong gia đình với một bút pháp tỉ mỉ và tinh tế đến lạ lùng, làm cho người đọc có cảm giác như đang xem một cuốn phim tư liệu. Nhà văn dành một tình cảm đặc biệt cho bà cô Marie, một con người sùng đạo, cả đời không kết hôn và nguyện phụng sự cho Chúa. Đây cũng chính là nhân vật mở nút cho cuốn tiểu thuyết tưởng chừng không có kịch tính này. Trước lúc lâm chung, bà Marie liên tục nhắc đến cái tên Joseph. Cái tên gợi cho tác giả nhớ đến người cha tội nghiệp của mình, người ra đi vì bệnh tật khi chỉ mới 40 tuổi. Nhưng không, ông đã nhầm, trong đại gia đình còn một thành viên khác cũng mang tên Joseph. Đó là người anh trai tội nghiệp của bà Marie, người đã tử trận năm 1914, khi mới 26 tuổi. Một chàng trai chưa nếm vị ngọt của hôn nhân và còn nhiều hoài bão.  Vì đau lòng, vì không muốn những người lính thoát chết trong trận can qua cảm thấy tội lỗi, mọi người tránh không nhắc tới ông. Nhưng ông vẫn tồn tại theo cách của riêng mình. Cả đại gia đình đã thực hiện một cuộc hành trình về lại chiến trường xưa để tìm di cốt những người đã ngã xuống. Những người chiến đấu vì đất nước nhưng giờ đây không còn một nắm xương tàn. Với Chiến Trận (Chiến trường vinh quang) Jean Rouaud đã chọn một lối kể chậm rãi, chi tiết và tinh tế, tạo nên một văn phong không lẫn lộn. Nhà văn giống như một nhà điêu khắc đang tỉ mẩn đục đẽo từng con chữ. Càng về cuối tác phẩm, sự khốc liệt và tàn nhẫn của chiến tranh mới lộ rõ. Ở đó, không chỉ có súng đạn, máu và nước mắt. Bom hóa học và những quyết sách lạnh lùng của nhà cầm quyền còn khiến chúng ta ghê sợ hơn nhiều. Bằng một cách dẫn dắt rất riêng, nhà văn người Pháp không phơi bày tất cả hiện thực ra trước mắt người đọc. Ông kín đáo giấu nó vào sâu trong những câu chuyện tưởng chừng chẳng liên quan. Đó là cách Jean Rouaud định vị bản thân và làm mới những đề tài tưởng chừng đã cũ. Lịch sử của một quốc gia là một thứ rất vĩ đại, nhưng đôi khi nó được xây nên từ chính hồi ức của từng gia đình. *** Jean Rouaud sinh ngày 12/12/1952, ông nghiên cứu văn học hiện đại tại trường Đại học Nantes. Sau khi lấy bằng thạc sĩ, Jean Rouaud làm nhiều công việc khác nhau như bơm khí hay bán bách khoa thư y tế. Năm 1978, ông cộng tác với tòa soạn Presse – Océan. Sau khi chuyển đến Paris ông làm việc trong một hiệu sách rồi bán báo. Năm 1988, Jean Rouaud gặp Jérôme Lindon, giám đốc cũng là tổng biên tập của NXB Minuit, người đã phát hiện ra tài năng văn chương của ông. Mời các bạn đón đọc Chiến Trường Vinh Quang của tác giả Jean Rouaud & Phạm Duy Thiện (dịch).