Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Làm Lẽ

Tiểu thuyết ngắn đầu tay của Mạnh Phú Tư, đoạt giải Tự lực văn đoàn năm 1939. Mạnh Phú Tư (1913-1959), tên thật là Phạm Văn Thứ, cùng chi với chi của tuyển thủ bóng đá nam quốc gia Phạm Như Thuần, quê ở xã Thanh Lang, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Ông là một tác giả văn xuôi nổi tiếng trước năm 1945, trong đó tác phẩm tiêu biểu là tiểu thuyết "Làm lẽ" được giải thưởng của Tự lực văn đoàn năm 1939. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Phó chủ tịch Uỷ ban hành chính huyện Thanh Hà. Ông tiếp tục viết văn, làm báo. Năm 1959, ông mất ở Hà Nội khi đang làm biên tập viên báo "Văn học". Tác phẩm chính: Làm lẽ (1939), Gây dựng (1941), Nhạt tình (1942), Sống nhờ (1942), Một thiếu niên (1942), Người vợ già (1942), ... *** Giải thưởng Tự Lực Văn Ðoàn năm 1939   PHẦN THỨ NHẤT Một buổi trưa nắng gắt, cuối hè. Hình như có bao nhiêu sức nóng, ngày giờ cố hút hết, để sắp sửa sang thu. Trong làng không một tiếng động; mọi vật bị nắng đốt, im lìm trong không khí khó thở. Không một hơi gió. Trên chiếc sân đất nẻ, gồ ghề và rắn cứng, Trác đội chiếc nón chóp rách, khom lưng quét thóc. Nàng phải dển hai bàn chân để tránh bớt sức nóng của sân đất nện. Thỉnh thoảng, nàng đứng ngay người cho đỡ mỏi lưng, rồi đưa tay áo lên lau mồ hôi ròng ròng chảy trên mặt. Chiếc áo cánh nhuộm nâu đã bạc màu và vá nhiều chỗ bị ướt đẫm, dán chặt vào lưng nàng. Cái yếm trắng bé nhỏ quá, thẳng căng trên hai vú đến thì và để hở hai sườn trắng mịn. Mỗi lần Trác cúi hẳn xuống để miết chiếc chổi cùn nạy những hạt thóc trong các khe, cái váy cộc, hớt lên quá đầu gối, để lộ một phần đùi trắng trẻo, trái hẳn với chân nàng đen đủi vì dầm bùn phơi nắng suốt ngày. Dưới mái hiên, ngay gần chái nhà bếp, bà Thân, mẹ nàng, ngồi trên mảnh chiếu rách, chăm chú nhặt rau muống. Bà cầm trong tay từng nắm rau con, vảy mạnh cho sạch những cánh bèo tấm, rồi cẩn thận ngắt lá sâu, lá úa; vạch từng khe, từng cuống tìm sâu. Bà cẩn thận như thế là vì đã hai bữa cơm liền, bữa nào trong bát rau luộc cũng có sâu, và Khải, con giai bà, đã phải phàn nàn làm bà đến khó chịu. Chốc chốc, bà với chiếc khăn mặt đỏ rách vắt trên vai, lau mắt như để nhìn cho rõ thêm. Hết mớ rau, bà mệt nhọc, ngồi ngay hẳn lên, thở hắt ra một hơi dài, đưa mắt nhìn ra sân. Thấy Trác làm lụng có vẻ mệt nhọc, bà động lòng thương, dịu dàng, âu yếm bảo: - Nắng quá thì để đến chiều mát hãy quét con ạ. Tội gì mà phơi người ra thế. Rồi bằng một giọng buồn buồn như nói một mình: - Khốn nạn! Con tôi! Nắng thế này! Trác thấy mẹ ngọt ngào, tỏ vẻ thương mình, trong lòng lâng lâng vui sướng. Nàng cũng dịu dàng đáp lại: - Chả còn mấy, mẹ để con quét nốt. Nói xong nàng lại cúi xuống thong thả quét. Nàng vui vẻ thấy đống thóc gần gọn gàng: nhưng nàng vẫn không quên rằng hót xong thóc lại còn bao nhiêu việc khác nữa: tưới một vườn rau mới gieo, gánh đầy hai chum nước, thổi cơm chiều, rồi đến lúc gà lên chuồng, lại còn phải xay thóc để lấy gạo ăn ngày hôm sau. Song nàng không hề phàn nàn, vì phải vất vả suốt ngày. Những việc ấy, không ai bắt buộc nàng phải làm, nhưng nàng hiểu rằng không có thể nhường cho ai được, và nếu nàng không dúng tay vào tất trong nhà sẽ không được êm thấm, vui vẻ. Quét vòng quanh mấy lần, từng thóc đã dần dần dày thêm, và nhát chổi đã thấy nặng, Trác lấy cào vuôn thóc vào đống. Bà Thân đã nhặt xong ba mớ rau. Bà biết rằng bà đã xem xét cẩn thận lắm, nên bà vừa bới những ngọn rau trong rổ, vừa thì thầm: "Lần này thì đào cũng chẳng có lấy nửa con!" Bà đứng lên mang rổ rau đi rửa. Vì ngồi lâu, nên hai chân tê hẳn, mấy bước đầu bà phải khập khiễng, như đứa bé mới tập đi. Bà cầm chiếc nón rách cạp, đội lên đầu, rồi bước xuống sân. Thấy Trác đặt chiếc cào mạnh quá, bà khẽ nói: - Đưa cào nhẹ chứ con ạ, kẻo nó trật gạo ra. Trác im lặng, không trả lời; nhưng từ nhát cào sau nàng làm theo lời ngay. Tính nàng vẫn thế. Không bao giờ nàng muốn trái ý mẹ, ngay những lúc mẹ bắt làm những việc mà riêng nàng, nàng không ưng thuận. Trác còn nhớ một lần, mây kéo đen nghịt trời, trận mưa to như sắp tới. Rơm rạ, phơi khắp mọi nơi, ngoài sân sau nhà, và cả ở những góc vườn không trồng rau. Nàng vội lấy nạng để đánh đống, mẹ nàng cứ nhất định bắt làm tua để hứng nước ở các gốc cau. Nàng bảo dọn rơm, rạ vào trước, rồi làm tua sau, nhỡ có mưa ngay thì rơm, rạ cũng không bị ướt. Nàng lại nói thêm: "Thưa mẹ, nước thì không cần cho lắm, không hứng cũng được, con đi gánh. Chứ ngần này rơm, rạ ướt thì phơi phóng đến bao giờ cho nỏ". Nhưng mẹ nàng nhất định không thuận: - Cứ nghe mẹ làm tua hứng nước đi đã rồi hãy dọn cũng vừa. Trời này có mưa cũng còn lâu. Kiếm ngụm nước mưa mà uống cho mát ruột. Tội gì ngày nào cũng đi gánh cho u vai lên ấy! Thế rồi bà bắt nàng lấy hai cái thùng sắt tây, hai cái nồi đất và cả chiếc nồi mười để hứng nước. Trác không cưỡng được ý mẹ, cặm cụi làm năm cái tua buộc vào năm gốc cau mang nồi ra đặt. Công việc ấy vừa xong, trận mưa đổ xuống. Bao nhiêu rơm, rạ ướt hết. Trận mưa chỉ độ một lúc, rồi tạnh hẳn. Mẹ nàng đội nón giời râm ra thăm nước mưa. Nhưng mỗi tua chỉ được chừng một bát nước. Bà thở dài: "Rõ chán! Nước mưa chẳng thông tráng nồi, lại ướt mất mẻ rơm". Nghe mẹ nói, Trác chỉ buồn cười, không dám nói gì, e mẹ phật ý. Nàng mang chuyện ấy kể cho mấy bạn gái hàng xóm. Họ ngặt nghẹo cười, nàng như muốn chữa thẹn: "ấy, bây giờ bà cụ già nên đâm ra lẩm cẩm thế đấy! Chúng mình ngày sau biết đâu rồi lại không quá!". Bà Thân đã rửa rau ở cầu ao về. Bà tì cạp rổ vào cạnh sườn, một tay dang ra giữ lấy. Rổ rau chưa ráo nước, hãy còn luôn luôn rỏ xuống gần chân bà, và làm thành một vệt ướt trên bờ hè. Thấy Trác đang khệ nệ bưng thóc đổ vào cót, bà mỉm cười bảo, tựa như nàng hãy còn bé bỏng lắm: - Con tôi! Rõ tham lam quá. Xúc ít một chứ mà bưng cho dễ. Người bé lại cứ mang những thùng nặng như cùm. Nàng thong thả đáp lại: - Không nặng đâu mẹ ạ. Cái thùng bé tý ấy mà. Nàng như quên cả nắng, bức; hốt một lúc đã hết đống thóc. Nàng sung sướng ngồi nghỉ ở đầu hè, cầm chiếc nón lá phe phẩy. áo nàng ướt, lại thêm gió quạt, nên nàng thấy một thứ mát dịu dàng thấm thía cả thân thể, làm da thịt nàng đê mê, như khi ta lẹ làng đưa tay trên tấm nhung. Mấy chiếc tóc mai cứ theo chiều gió quạt bay đi bay lại. Hai má nàng vì có hơi nóng, nổi bật màu hồng, và nét mặt nàng càng thêm xinh tươi. Trác thấy bớt nóng, đứng dậy lồng hai chiếc nồi đất vào quang gánh nước. Chẳng bao giờ nàng phải suy nghĩ mới nhớ ra việc; nàng đã quen rồi. Việc gì phải làm trước, việc gì phải làm sau, nàng biết ngay từ sáng sớm. Và ngày nào cũng hình như chỉ có ngần ấy việc, nên buổi tối, khi nàng đặt mình vào giường, là bao nhiêu công việc đã gọn gàng cả, không một việc gì bỏ sót. Tới sáng hôm sau, lúc gà bắt đầu gáy, nàng thức dậy, những công việc phải làm đã như xếp sẵn trong óc. Trác vừa gánh đôi nồi ra khỏi nhà được một lúc, có tiếng chó sủa. Bà Thân vội chạy ra. Bà Tuân tay cầm một cành rào để xua chó, vừa thấy bà Thân đã cười cười nói nói: - Nào, hôm nay lại ăn rình một bữa đây! Cụ có cho không hay là lại lấy nạng nạng ra. Bà Thân cũng cười một tràng dài: - Chỉ sợ lại chê cơm khê rồi làm khách thôi. Rồi bà vừa mắng con chó cứ dai dẳng sủa mãi, vừa lấy giọng đứng đắn. - Sao lâu nay không thấy cụ lại chơi? Bà Thân đưa tay cầm cái bã trầu đã lia ra tới mép, vứt đi; lấy mùi soa lau mồm cẩn thận, rồi ghé vào tai bà bạn như sắp nói một câu chuyện kín đáo can hệ: - Úi chà! Bận lắm cụ ạ. Cụ cứ xét nhà cụ thì đủ rõ. Công việc là cứ ngập lên tận mắt. Bà vừa nói vừa hoa tay, như để nhời nói thêm dễ hiểu. Bà Thân chưa kịp trả lời, bà ta đã sang sảng: - Hôm nay là đánh liều, sống chết mặc bay, nên mới lại hầu cụ được đấy. Thôi chỗ bạn già cả, mình còn gần gụi nhau lúc nào được lúc ấy. Đến lúc trời bắt tội, nhắm mắt buông xuôi xuống âm ty liệu có gặp nhau nữa không? Bà Thân cảm động vì những câu nói thân mật đó, thỉnh thoảng điểm một câu cười giòn và len thêm những tiếng: "Vâng!... vâng!..." như để chấm đoạn chấm câu cho bà bạn. Bà rủ khách vào nhà. Nhưng khách không nhận lời, nói giải chiếu ngồi ngoài hè cho mát. Bà đi tìm cơi trầu, chìa vôi, rồi ngồi đối diện với khách têm trầu. Bà Tuân hình như có câu nào đã nói ra hết; bà Thân khơi chuyện bằng câu hỏi: - Cụ đã ngả được mấy mẫu rồi? - Chưa được lấy một góc. Năm nay mượn phải anh lực điền làm vụng mà chậm quá. Làm với ăn chán như cơm nếp nát. Mời các bạn đón đọc Làm Lẽ của tác giả Mạnh Phú Tư.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bia Mộ Đen - Erich Maria Remarque
Chơi vơi giữa dòng xoáy cuộc đời khi mà những điều khủng khiếp của chiến tranh vẫn còn ám ảnh, Ludwig Bodmer lựa chọn cách đối mặt bằng thái độ hài hước và bất cần. Tuy nhiên, bên trong anh lại là trái tim của một nhà thơ, với tâm hồn nồng nàn và lãng mạn, đang đấu tranh với thời cuộc và với chính mình để tìm ra ý nghĩa thật sự của cuộc sống mà anh đang và muốn sống. Lấy bối cảnh thành phố quê nhà của Remarque giữa hai cuộc thế chiến, Bia mộ đên mang nhiều tính chất tự truyện và đậm màu sắc triết lý trào phúng. Như chính tác giả từng viết, đây là “câu chuyện về tuổi trẻ trễ tràng”, về một thế hệ vỡ mộng, miệt mài đi tìm lời đáp cho những câu hỏi quan trọng mà nhân loại đã dần dần quên lãng. Remarque (1898 – 1970) là nhà văn lừng danh người Đức. Ông nổi tiếng với Phía Tây không có gì lạ, một trong những tác phẩm hay nhất về Thế chiến I. Các tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Ba người bạn, Khải hoàn môn, Đêm Lisbon…cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định tài năng và danh tiếng của ông khắp năm châu. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương và Hòa bình. Bia mộ đen (Der schwarze Obelisk – 1956) một lần nữa cho thấy thiên bẩm của Remarque trong việc nhìn ra được niềm vui, lạc quan và những điều tốt đẹp giữa khổ đau, tuyệt vọng và xấu xí. Nhận xét về tác phẩm này, cây bút F.T. Marsh của tờ New York Herald Tribune từng viết: “Dí dỏm nhưng đượm buồn, vừa nghiêm túc lại có chút giang hồ, tuyệt diệu trong từng câu chữ nhưng vẫn khó nắm bắt vô vùng”. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết *** Tôi không hề gặp lại một người nào nữa hết. Nhiều lần, tôi có ý định trở về nhưng lần nào cũng bị ngăn chận. Tôi nghĩ là sẽ có một thời gian nào đó thuận tiện hơn nhưng bây giờ thì đã hết rồi. Bóng tối đã phủ trùm lên nước Đức, tôi đã mất quê hương và lúc trở về, tôi chỉ còn thấy những điêu tàn. Georges đã chết. Mụ Konersmann sau bao nhiêu công trình dọ dẫm đã khám phá ra được cuộc tình vụng trộm của Lisa và Georges. Năm 1933, mười năm sau, mụ ta tố cáo với Watzek lúc bấy giờ là chỉ huy trưởng đội S.A. Mặc dầu đã ly dị Lisa tới năm năm, Watzek vẫn cứ nhốt tình địch vào trại tập trung của hắn. Vài tháng sau, Georges chết. Hans Hungermann, ủy viên văn hóa và là Đảng viên cao cấp đã ca tụng Đảng Quốc xã bằng một loạt thơ nóng bỏng. Năm 1945, hắn mất chỗ hiệu trưởng. Tuy nhiên, cũng như một số đảng viên khác, hắn sống một cách khá đầy đủ tiện nghi khỏi phải đi làm, nhờ có tiền hồi hưu. Nhà điêu khắc Kurt Bach sống luôn sáu năm trong một trại tập trung và trở về què quặt. Hiện nay, mười năm sau cuộc thảm bại, hắn vẫn phải vất vả để nuôi miệng cũng như bao nhiêu nạn nhân khác của chiến tranh. Hắn chỉ mong kiếm được mỗi tháng bảy chục ngàn Đức kim, khoảng một phần mười tiền trợ cấp cho Hungermann, khoảng một phần mười số tiền mà nhà nước cấp dưỡng cho viên chúa trùm mật vụ Gestapo, người ta có sáng kiến lập các trại tập trung mà Kurt bị nhốt và trở về què quặt... Đó là chưa kể các khoản trợ cấp cao hơn cho các tướng lãnh, tội nhân chiến tranh, và các đảng viên Quốc Xã khác. Henri Kroll, vượt thoát mọi biến cố, nhận thấy mọi quyền hạn và công lý vẫn còn đứng về phía quê hương yêu dấu của chúng tôi. Viên trung đội trưởng thiết kỵ Wolkeinstein rất lên hương. Người của Đảng và kỳ thị chủng tộc hết mình, sau chiến tranh, im hơi lặng tiếng luôn vài năm và bây giờ, cũng như bao nhiêu đồng chí khác, được làm nhân viên Bộ Ngoại giao. Bodendick và Wernicke cố giấu được một số người Do Thái trong trại điên bất trị. Họ cho những người trốn tránh cạo đầu và học cách giả điên. Sau đó ít lâu, Bodendick bị thuyên chuyển về một làng hẻo lánh vì đã lỡ nói một vài lời bất ý khi đức Giám mục của ông ta chấp nhận làm cố vấn cho một chính phủ chỉ lấy chuyện tàn sát làm bổn phận thiêng liêng. Wernicke cũng bị đổi đi vì không chịu chích thuốc độc cho những người điên. Trước khi ra đi, ông ta đã tập hộp được một số dân Do Thái và tổ chức một cuộc chạy trốn, ông ta bị gởi ra mặt trận và chết ở đó năm 1944. Willy ngã gục năm 1942. Otto Bambuss năm 1945. Charles Kroll năm 1944. Lisa chết trong một cuộc ném bom. Bà Kroll cũng cùng chung số phận. Edouard Knoblock thì vượt qua tất cả. Hắn phục vụ tất cả các quyền lực, tốt cũng như xấu, với tất cả nhiệt tâm. Nhà hàng của hắn bị phá hủy nhưng đã được xây cất lại. Hắn không cưới Gerda và không ai biết cô ta hiện ra sao. Tôi cũng chằng được một tin tức nào về Geneviève Terhoven. Oscar “mắt treo cờ tang” dựng nghiệp một cách huy hoàng. Lúc chiến tranh xảy ra hắn bị gởi sang Nga làm lính trơn và kế đó được chỉ định làm Thanh Tra nghĩa địa. Năm 1945, hắn làm thông dịch viên cho quân đội chiếm đóng và chỉ vài tháng sau được làm Thị trưởng. Thị trưởng Werdenbruck. Kế đó hắn hùn với Henri Kroll, cả hai tạo dựng một xưởng mới và rất phát tài. Vào thời đó mộ bia cũng khan hiếm như bánh mì. ... Mời các bạn đón đọc Bia Mộ Đen của tác giả Erich Maria Remarque.
Bây Giờ và Mãi Mãi - Danielle Steel
Sau một lần gặp gỡ với Margaret Burton, Ian Clarke bị đưa ra tòa vì tội hiếp dâm và bạo hành. Cuộc sống bình yên và hạnh phúc của vợ chồng Ian bỗng nhiên bị đảo lộn vì họ không thể đưa ra những bằng chứng phản bác lại những lời cáo buộc của Margaret Burton. Jessie đã đem tất cả tài sản cầm cố để lo liệu cho chồng. Ian vào tù và Jessie rơi vào một tình trạng khủng hoảng, buồn đau cùng cực. Trong tù, Ian vẫn tiếp tục viết sách và sau đó sách của anh bán rất chạy, một số nhà sản xuất phim cũng định hợp tác với anh. Nhưng lúc này họ đã quá mệt mỏi sau mọi chuyện. Jessie đề nghị ly dị. Những năm tháng sống thảnh thơi tại miền quê thôn dã đã giúp cô hiểu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu... *** Danielle Steel, tác giả "Bây giờ và mãi mãi" là tiểu thuyết gia của hơn 500 triệu bản sách được tiêu thụ trên toàn thế giới, đem lại cho bà gia tài trị giá hàng trăm triệu USD. Nhưng khi còn nhỏ, Danielle chỉ mong trở thành người dốc lòng phụng sự Chúa. Kế hoạch triển khai một cuộc sống thanh đạm và khổ hạnh của Danielle Steel sụp đổ hoàn toàn khi bà kết hôn vào năm 17 tuổi và bắt đầu viết lách sau đó hai năm. Đến nay, ở tuổi, ở tuổi 60, nhà văn sắp sửa xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 72 có tiêu đề Honor Thyself. Danielle Steel sinh năm 1947 tại New York. Bà là nhà văn có bút lực dồi dào và đặc biệt thành công về mặt thương mại. Tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên danh sách best-seller của The New York Times. Những tiểu thuyết của Steel đã được xuất bản và dịch tại Việt Nam, gồm có: Now And Forever (Bây giờ và mãi mãi), The Ring (Chiếc nhẫn tình yêu), Second Chance (Cơ hội thứ hai), Five Days In Paris (5 ngày ở Paris) Ánh Sao Chiều Bóng Hình Hẹn Yêu Lối Về Một Thời Say Đắm Ngôi Sao Lầm Lỗi Annabelle Người Phụ Nữ Tuyệt Vời Những Trái Tim Vàng Ba Chàng Độc Thân Tình Khúc Mùa Thu Tiền Chuộc Mạng Sự Huyền Diệu của Tình Yêu Bẫy Tình Muôn Nẻo Đường Tình Thỏa Niềm Nguyện Ước Sóng Tình Phương Nam Bến Cũ Chị Em Gái Tình Yêu Cuối Cùng Hơn Cả Ước Mơ Người Vợ Người Tình Đến Rồi Bến Đợi Một Chặng Đường Dài Bến Bờ Tình Yêu Tiếng Nói Của Con Tim Nối Lại Tình Xưa Những Cánh Hoa Lạc Loài Nỗi Buồn Số Phận Âm Vang Ngày Cũ Cánh Đại Bàng Đơn Độc Quỷ Ám Tình Hè Rực Lửa Căn Nhà Trên Phố Hi Vọng Người Đàn Ông Tuyệt Vời ... *** Rời San Francisco thật dễ dàng, Jessie cũng không dè. Chị không phải bận tâm suy nghĩ, cứ việc ra xa lộ, lái xe phom phom. Không có người tới vẫy khăn tay, mếu máo, và chị lấy thế làm vui thích. Sau khi thanh tra Houghton tới viếng, chị làm một ly cà phê, rửa chén bát, đi giày, soát lại nhà cửa, coi kỹ mấy cái cửa sổ, rồi ra đi. Chuyến xe xuôi Nam thật vui. Chị cảm thấy trẻ trung, ưa phiêu lưu mạo hiểm, lúc tới được ngôi nhà đổ nát trên Quốc lộ Bắc. Chị rất cảm động lúc bước vào bên trong, thấy những công việc dì Beth đã làm. Ngôi nhà sạch sẽ không một vết nhơ, và cái mùng chị để lại trước kia xem ra thật vô dụng. Trong phòng ngủ có kê một chiếc giường hẹp, chăn nệm sáng choang. Giường đó là chiếc giường chị đã sử dụng trong phòng ngủ của chị ở nhà dì Beth. Ở một góc phòng có kê chiếc bàn giấy, và có hai ngọn đèn khiến căn phòng sáng trưng. Nhà bếp đã được chất củi, và tại phòng khách có hai chiếc ghế xích đu, một cái bàn rộng, và một chiếc ghế rộng, thoải mái kê gần bên lò sưởi. Chỗ nào cũng có đặt sẵn đèn cầy, và bên lò sưởi có sẵn củi. Jessie có đủ thứ cần thiết. Ngày hôm sau, Jessie tới ăn tối với dì Beth rất vui. Đêm đầu tiên, chị ở một mình tại nhà mới. Chị thích làm vậy, và đã đi coi hết phòng này tới phòng kia như một đứa trẻ, không cảm thấy cô đơn, mà còn thấy hào hứng, tưởng chừng như mở đầu một cuộc phiêu lưu, và chị cảm thấy như sống lại. - Tốt, cháu thích chỗ đó chứ? Đã sắp sửa về nhà chưa? Dì Beth uống trà, cười nói với Jessie. - Cháu không muốn làm bận đến dì. Cháu sẵn sàng ở đây mãi mãi, và cảm ơn dì, nhờ dì mà căn nhà ấm cúng chưa từng thấy. - Phải thêm nhiều thứ nữa, mới gọi là ấm cúng được, cháu yêu quí ơi. Nhờ những đồ đạc Jessie mang tới, căn nhà đẹp hẳn lên: những bức hình chụp, những móc quần áo, một con cú bằng đá hoa, một bộ sưu tập sách quí, hai bức tranh, và bức chân dung của Ian. Có thêm cả những tấm rèm, những chân đèn bằng đồng và nhiều đồ linh tinh mà chị thích. Chị bầy chật nhà bằng những cây kiểng và bông hoa. Cuối tuần đó, chị còn tới nhà bán đấu giá mua thêm đồ đạc mới đem về bày chung với các báu vật cũ của chị. Chị đặt tại phòng khách, đứng lùi lại ngắm, tỏ vẻ hài lòng. Bây giờ trông đã ra nhà lắm rồi. Chị cất sách vào trong rương, đóng những họa phẩm của chị lên cao, ở góc nhà, nhưng chị chưa có thời giờ vẽ tranh mới, quá bận rộn với căn nhà. Ông quản trại của dì Beth đã cử con trai bỏ mấy ngày nghỉ cuối tuần tới làm cỏ, xén tỉa vườn cỏ cho Jessie. Hai người đã khám phá ra một viên đình đổ nát ở phía sau nhà. Chị muốn trồng hai cây đu; một treo ở dưới cây cổ thụ gần viên đình, để chị có thể đu và ngắm nhìn cảnh hoàng hôn trên ngọn đồi, và một cây đu khác chị có thể ngồi trước nhà, loại cây đu mà cặp vợ chồng trẻ thường ngồi thì thầm: anh yêu em, em yêu anh vào những tối mùa hè ấm áp, đu nhè nhẹ và tưởng trên đời chỉ có hai đứa mình. Sáng thứ bảy có lá thư của Ian gởi tới. Chị đã ở nhà mới được sáu ngày. [i]Vậy là em đã ở đó, cô bé tính tình kỳ quái của tôi, đầu óc bụi bám, cái mũi lem luốc, nhăn mặt mà tỏ ý kiêu hãnh đã đem lại trật tự cho chỗ đổ nát hoang tàn. Anh tưởng như thấy em lúc này đi chân đất tỏ vẻ sung sướng, răng cắn cọng rơm. Hay là em mang giày Gucci mà lại ghét giày? Căn nhà mới như thế nào nhỉ? Anh tưởng tượng ra được căn nhà, nhưng không nghĩ nỗi là em sung sướng nằm mùng mắc ngay trên sàn. Đừng nói với anh là em quên trải thảm nhé. Nhưng chuyện đó nghe chừng cũng vui đấy chứ, Jessie? Và có thể cũng tốt cho em đó. Nghe nói đến cửa tiệm, anh rất xúc động. Em không nhớ tiếc hay sao? Nhưng bán được giá đó thì cũng tốt. Em sẽ làm gì với món tiền lớn đó? Anh nghe tin người ta đang tính dựa vào cuốn sách của anh để chuyển thành phim truyện. Đừng nín thở, anh chẳng giật mình đâu. Những chuyện đó chẳng xảy ra đâu. Họ cũng mới bàn bạc thế thôi. Mặt khác, không bao giờ anh nghĩ nỗi tới chuyện em bán cửa tiệm. Em cảm thấy thế nào? Anh dám cá là em đau khổ đấy. Nhưng có lẽ cũng vì thế mà an dạ, phải không? Vì có thời giờ để làm chuyện khác: du lịch, vẽ tranh, và sửa sang lại tòa lâu đài mà em định ngự suốt mùa hè này. Hay tính ở lâu hơn? Trong lá thư cuối của em, anh thấy giọng là lạ. Hình như em rất yêu căn nhà, và miền quê chung quanh, và dì Beth. Chắc hẳn bà là người đàn bà đặc sắc. Còn mấy con kiến và thằn lằn, em đã tránh xa chưa? Hay vẫn cứ phải xài tới bình xịt tóc.[/i] Jessie cười khúc khích. Có lần ở phòng khách sạn tại Florida, chị đã tìm cách giết một con thằn lằn bằng bình xịt tóc. Ác một nỗi con thằn lằn khoái mùi dầu thơm, còn chính anh chị lại thấy ngạt thở, đành bỏ phòng chạy ra ngoài. Chị đã đọc xong lá thư, tới ngồi chỗ bàn rộng của dì Beth cung cấp. Chị muốn viết thư kể cho anh biết về đồ đạc dì Beth đã đặt trong căn nhà của chị, những vật dụng chị mới mua đấu giá. Để anh tưởng chị nằm ngủ trên sàn mà không hay. ... Mời các bạn đón đọc Bây Giờ và Mãi Mãi của tác giả Danielle Steel.
Bản Du Ca Cuối Cùng - Erich Maria Remarque
Chiến tranh đã đẩy biết bao người vào con đường tha hương khi mỗi bến đỗ đều chỉ là tạm bợ cho đến lúc họ bị dồn đuổi đến nơi khác. Kern, một chàng thanh niên Đức, chạy trốn chế độ Quốc xã bạo tàn, lưu lạc đến Áo, bị trục xuất sang Thụy Sĩ, rồi lại tìm đường trốn sang Pháp... Trong cuộc hành trình bất định ấy, anh có duyên gặp gỡ những con người tốt bụng như Steiner, Marill; họ đã cưu mang, giúp đỡ anh trong cuộc sống khó khăn nơi đất khách. Số phận cũng cho anh gặp Ruth – người con gái mang đến cho anh một tình yêu, một niềm an ủi, một hy vọng mới. Họ đến với nhau bằng sự cảm thông sâu sắc giữa hai con người cùng cảnh ngộ. Họ yêu nhau và làm mọi cách để được ở bên nhau bất chấp những lần bị bắt giam, bị trục xuất. Hành trình của họ tựa như bản du ca của những con người không còn đất sống, chỉ có thể bám víu vào con thuyền mang tên hy vọng và tình người. *** Remarque (1898 – 1970) là nhà văn lừng danh người Đức. Ông nổi tiếng với Phía Tây không có gì lạ, một trong những tác phẩm hay nhất về Thế chiến I. Các tác phẩm tiêu biểu khác của ông như Ba người bạn, Khải hoàn môn, Đêm Lisbon…cũng góp phần không nhỏ trong việc khẳng định tài năng và danh tiếng của ông khắp năm châu. Năm 1931, ông được đề cử cả giải Nobel Văn chương và Hòa bình. Ra đời năm 1939, Bản du ca cuối cùng (Liebe Deinen Nächsten) là thiên tiểu thuyết đầu tiên của Remarque viết về những thân phận người trôi nổi trong cuộc sống lưu vong. Tác phẩm đã tái hiện một châu Âu trong thời kỳ tối tăm ly loạn, nhưng đằng sau đó lại là bài ca về cái đẹp, cái thiện, về niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống và con người. Những tác phẩm tiêu biểu: Phía Tây không có gì lạ; Khải hoàn môn; Ba Người Bạn Đường về; Tia lửa sống; Bia mộ đen; Chiến Hữu Bản Du Ca Cuối Cùng Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù Một Thời Để Yêu Và Một Thời Để Chết … Hầu hết các tác phẩm đều mang khuynh hướng phê phán và tố cáo xã hội mãnh liệt đồng thời miêu tả sức hủy hoại kinh hoàng của cuộc chiến tranh đế quốc đối với thể chất và tinh thần của con người. *** Steiner tới nơi lúc mười một giờ trưa. Anh gởi vali tại nhà ga và đi thẳng tới bệnh viện. Anh không có thì giờ nhìn thành phố, anh chỉ thấy những đợt sóng người và xe cộ cùng những dãy nhà. Anh dừng lại trước một tòa nhà đồ sộ trắng, do dự một lúc. Anh nhìn cái cổng rộng lớn và những dãy cửa sổ ở các tầng lầu cao. Một chỗ nào trên đó… nhưng có chắc không... Anh mím môi bước vào. Hắn hỏi cô thư ký: - Xin cô vui lòng cho biết giờ thăm bệnh. - Hạng mấy... - Không rõ. Tối mới tới đây lần thứ nhứt. - Ông muốn thăm ai... - Bà Marie Steiner. Anh ngạc nhiên khi thấy cô thơ ký vẫn dửng dưng lật sổ. Anh đã tưởng tượng là trần nhà sẽ đổ xuống hoặc nữa người y tá ngồi ở bàn giấy sẽ nhảy dựng lên chạy ra ngoài hô hoán khi nói tới tên Steiner. Cô y tá vẫn tiếp tục lật sổ vừa dò tìm vừa nói: - Nếu nằm phòng hạng nhất thì được thăm suốt ngày. - Chắc không phải hạng nhất. Có thể là hạng ba. - Giờ thăm ở hạng ba là từ ba giờ đến năm giờ. Cô y tá tiếp tục tìm: - Lúc nãy ông nói tên gì... - Steiner, Marie Steiner. Steiner cảm thấy cổ họng như khô đắng. Anh nhìn chăm chăm vào khuôn mặt búp bê của người nữ y tá. Anh chờ cô ta nói tiếng “Đã chết”. - Đây, Marie Steiner, hạng nhì, phòng 505, lầu 5. Giờ thăm là từ ba tới sáu. Steiner mừng rỡ: - 505. cám ơn, cám ơn cô nhiều lắm. Tuy nhiên anh vẫn còn đứng đó. Chuông điện thoại reo, cô y tá vừa nhấc máy vừa hỏi: - Ông còn cần gì không... - Bà Steiner còn sống hay đã chết... Cô y tá đặt máy xuống. Chuông tiếp tục reo. Cô ta trả lời: - Dĩ nhiên là còn sống. Nếu không thì phải có lời phụ chú bên cạnh tên. - Cám ơn cô. Steiner phải cố gắng lắm mới không hỏi là có thể lên thăm được ngay bây giờ không. Anh đi lang thang qua nhiều con đường vòng khu bệnh viện. Thình lình, anh sợ bị nhận diện. Anh không sợ cho mình mà chỉ sợ bị bắt trước khi nhìn mặt vợ. Anh tìm một quán nhỏ trên con đường vắng nào đó ngồi chờ tới giờ thăm. Anh gọi thức ăn nhưng không nuốt nổi. Gã hầu bàn ngạc nhiên: - Ông ăn không vừa miệng... - Không. Ngon lắm. Cho tôi một ly Kirsh. Steiner cố nuốt trôi bữa ăn rồi hỏi mua một tờ báo và gói thuốc. Anh cố đọc báo để quên thì giờ nhưng rồi cũng không đọc nổi. Anh tưởng tượng là Marie đang lịm chết ngay trong lúc nầy, thấy mặt vợ ướt đẫm mồ hôi vì đau đớn trước khi chết. Anh phải hết sức tự chủ mới không đứng lên chạy thẳng tới bệnh viện. Kim đồng hồ từ từ xê dịch như cánh tay định mệnh muốn làm hắn nghẹt thở bằng sự chậm chạp, nặng nề. Anh ném tờ báo qua một bên rồi đứng lên. Gã hầu bàn đang đứng xỉa răng, thấy khách rời bàn gã tới gần hỏi: - Thưa, tính tiền... - Không, cho một ly bia nữa. Gã hầu bàn rót cho hắn một ly bia. Anh mời: - Bồ cũng uống một ly đi. - Cám ơn. Gã hầu bàn rót ngay cho mình một ly bia rồi nâng ly lên với hai ngón tay: - Kính ông. ... Mời các bạn đón đọc Bản Du Ca Cuối Cùng của tác giả Erich Maria Remarque.
Ánh Sao Chiều - Danielle Steel
Một thế giới mới với những khởi đầu, mọi việc đã dần dần tự nó giải quyết đúng theo ý muốn của họ. Tất cả như được định mệnh sắp đặt. Ông ôm hôn bà một lần nữa trước khi Valerie lặng lẽ đi vào nhà và suy nghĩ về Coop. Ông không đúng là người mà bà mong đợi, nhưng cũng cảm thấy hài lòng có một người như Coop trong quãng đời còn lại của mình. Bà không hề có cảm tưởng mình là cô bé Cinderelle đối với Coop, mà thấy mình là một phụ nữ đang yêu một người bạn tốt. Đó cũng là cảm nghĩ của Coop khi ông rảo bước về nhà. Điều mà ông đang mong đợi là những ngày sắp đến của ông ở Cape Cod *** Danielle Steel, tác giả "Bây giờ và mãi mãi" là tiểu thuyết gia của hơn 500 triệu bản sách được tiêu thụ trên toàn thế giới, đem lại cho bà gia tài trị giá hàng trăm triệu USD. Nhưng khi còn nhỏ, Danielle chỉ mong trở thành người dốc lòng phụng sự Chúa. Kế hoạch triển khai một cuộc sống thanh đạm và khổ hạnh của Danielle Steel sụp đổ hoàn toàn khi bà kết hôn vào năm 17 tuổi và bắt đầu viết lách sau đó hai năm. Đến nay, ở tuổi, ở tuổi 60, nhà văn sắp sửa xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 72 có tiêu đề Honor Thyself. Danielle Steel sinh năm 1947 tại New York. Bà là nhà văn có bút lực dồi dào và đặc biệt thành công về mặt thương mại. Tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên danh sách best-seller của The New York Times. Những tiểu thuyết của Steel đã được xuất bản và dịch tại Việt Nam, gồm có: Now And Forever (Bây giờ và mãi mãi), The Ring (Chiếc nhẫn tình yêu), Second Chance (Cơ hội thứ hai), Five Days In Paris (5 ngày ở Paris) Ánh Sao Chiều Bóng Hình Hẹn Yêu Lối Về Một Thời Say Đắm Ngôi Sao Lầm Lỗi Annabelle Người Phụ Nữ Tuyệt Vời Những Trái Tim Vàng Ba Chàng Độc Thân Tình Khúc Mùa Thu Tiền Chuộc Mạng Sự Huyền Diệu của Tình Yêu Bẫy Tình Muôn Nẻo Đường Tình Thỏa Niềm Nguyện Ước Sóng Tình Phương Nam Bến Cũ Chị Em Gái Tình Yêu Cuối Cùng Hơn Cả Ước Mơ Người Vợ Người Tình Đến Rồi Bến Đợi Một Chặng Đường Dài Bến Bờ Tình Yêu Tiếng Nói Của Con Tim Nối Lại Tình Xưa Những Cánh Hoa Lạc Loài Nỗi Buồn Số Phận Âm Vang Ngày Cũ Cánh Đại Bàng Đơn Độc Quỷ Ám Tình Hè Rực Lửa Căn Nhà Trên Phố Hi Vọng Người Đàn Ông Tuyệt Vời ... *** Ánh nắng lấp lánh trên mái ngói của toà biệt thự The Cottage, khi Abe Braunstein cho xe chạy quanh của con đường dài tưởng như vô hạn, dẫn đến khu dinh thự oai nghiêm cất theo kiểu Pháp này. Với một người nào khác Abe, cái quang cảnh nguy nga của khu dinh thự này chắc đã làm cho ông ta phải nín thở. Nhưng Abe thì đã từng đến khu nhà tráng lệ này cả chục lần rồi. Cottage là một trong những toà nhà rất nổi tiếng ở Hollywood, nhắc ta nhớ đến những dinh thự của các dòng họ Vanderbilts và Aston ở New Port, Rhode Island vào khoảng đầu thế kỷ. Nó được một trong những ngôi sao lớn của nền điện ảnh thời phim câm, Vera Harper cho xây cất năm 1918 theo kiểu một lâu đài Pháp của thế kỷ XVIII, mang vẻ giàu có, xinh đẹp, duyên dáng, thanh lịch trong mọi đường nét cấu trúc. Vera Harper là một trong số ít những ngôi sao màn ảnh của thủa ban sơ ấy, đã giữ được của cải làm nên, đã có những cuộc hôn nhân tốt đẹp, và đã sống ở đây cho đến khi qua đời vì tuổi tác già nua vào năm 1959. Bà ta không con cái, không người thừa kế và đã để lại mọi thứ cho giáo hội thiên chúa giáo. Cooper Winslow đã mua lại khu dinh thự này một năm sau đó với một số tiền rất lớn ngay cả vào thời đó, vì thuở ấy ông đã thành công rực rỡ trong ngành điện ảnh. Khi mua lại nó, Cooper Winslow đã làm dư luận xôn xao hẳn lên, vì đó là một toà nhà, một tài sản phi thường đối với một anh thanh niên mới 28 tổi, cho dù là một ngôi sao điện ảnh lớn. Nhưng Coop không hề thấu lúng túng sống trong một dinh thự lớn như thế, mà còn thấy thoải mái vì nó xứng đáng với con người ông ta. Bao quanh tòa nhà là một khu đất 14 mẫu, gồm một phần đất rộng có rào và những khu vườn được chăm sóc thật kỹ lượng ngay trung tâm của Bel Air, một sân quần vợt, một hồ tắm lớn khảm đá xanh và màu vàng kim, và nhiều hồ nước phun đặt rải rác nhiều nơi trong khu vườn. Lối sắp xếp trang trí của khu đất và vườn tược được cho là rập theo mẫu của điện Versailles bên trong biệt thự các trần nhà cao, phần lớn các vật trang trí được các nghệ sĩ mang từ Pháp qua. Tường của phòng ăn và phòng khách ốp gỗ, loại gỗ ốp tường và lát nền của phòng khách cũng được mang từ một lâu đài ở Pháp sang. Toàn thể khu dinh thự đã tạo cho Vera Harper một khung cảnh tuyệt vời và một toà nhà tuyệt đẹp cho Cooper Winslow kể từ khi mua nó. Có một điều làm Abe Braunstein an tâm, là Cooper đã mua dứt nó hoàn toàn vào năm 1960, dù đã hai lầm đem nó cầm thế. Chuyện này dù vậy cũng không làm giảm giá trị của nó. Đến bây giờ, ở Bel Air nó vẫn là một bất động sản quan trọng nhất, không xxác định được thời giá. Trong vùng Bel Air hay bất cứ nơi nào khác, chắc chắn không có toà biệt thự nào so sánh với nó được, ngoại trừ ở New Port, nhưng giá trị của khu bất động sản ày lại lớn hơn nhiều nếu nó ở bất cứ nơi nào khác, cho dù nó đang trong tình trang không được tu bổ. Bước ra khỏi xe, Abe đã nhìn thấy hai người làm vườn đang nhổ cỏ quanh bồn phun nước chính, và hai người khác đang chăm sóc một luống hoa cạnh đấy. Ông nhẩm tính tối thiểu cũng sửa cắt bớt phân nửa nhóm nhân viên làm vườn. Đưa mắt nhìn quanh, ông chỉ thấy toàn là những con số, những món tiền vung vít qua của sổ. ông biết rõ đến từng cắc bạc số tièn của Winslow phải chi tiêu cho khu dinh thự này. Đó là một số tiền lớn quá sức kỳ cục đối với bất kỳ tiêu chuẩn sống nào, và chắc chắn là với tiêu chuẩn của Abe. Ông từng làm kế toán cho ít nhất cũng đến phân nửa các minh tinh điện anh ở Hollywood, và từ lâu không hề kinh ngạc đến độ phải nhăn mặt khó chịu hay tỏ một cử chỉ bất bình khi nghe nói đến những khoản tiêu mà các ngôi sao này đã đổ vào những chiếc xe hơi, những ngôi nhà, những tấm khăn choàng lông thú và những chuỗi hạt kim cương cho các bạn gái của họ. Nhưng so với Cooper Winslow, những xa hoa phung phí này chẳng thấm vào đâu. Abe tin là Cooper Winslow tiêu xài còn hơn cả ông hoàng Farouk. Ông ta tiêu tiền như nước trong gần 50 năm trời, trong khi hơn 20 năm nay ông ta chẳng đóng một vai quan trọng nào trong một cuốn phim lớn. trong 10 năm gần đây, vai diễn của ông ta đã bị giảm xuống chủ yếu những vai phụ, những lần xuất hiện ngắn ngủi trong vài đoạn phim ngắn, và tất nhiên chẳng kiếm được bao nhiêu tiền. Cho dù trong bộ y phục nào, Cooper dường như bao giờ cũng làm cho mình thành một anh chàng Casanova duyên dáng, rất đẹp trai, và gần đây nhất là ông già chịu chơi đầy quyến rũ. Nhưng dù trên màn ảnh ông ta vẫn còn quyến rũ bao nhiêu càng ngày càng có ít vai diễn dành cho ông. Trong khi bâm chuông và chờ người ra mở cửa, Abe thấy là trong hai năm nay ông ta chẳng còn thủ một vai nào cả, vậy mà vẫn cứ bảo mình đã gặp các nhà đạo điễn, các nhà sản xuất phim, hàng ngày thảo luận về những cuốn phim mới của họ. Abe đến đây để nói thẳng cho ông ta biết điều đó, khuyên ông ta cắt giảm nhiều các chi tiêu trong những ngày sắp tới, cho ông ta biết là trong suốt năm năm nay ông ta đã sống trên đống nợ nần và trên những lời hứa. Abe không cần thiết liệu ông ta có làm quảng cáo cho người bán thịt láng giềng không, nhưng Coop sẽ phải ra làm công việc đó, và làm ngay. Ông ta sẽ phải thực hiện nhiều thay đổi, phải cắt giảm chi tiêu rất nhiều, giảm số nhân viên giúp việc, bán bớt một số xe, thôi không mua sắm áo quần nữa và không ngụ tại những khách sạn đắt tiền trên thế giới nữa. ông ta hoặc phải làm vậy hoặc phải bán biệt thự. ... Mời các bạn đón đọc Ánh Sao Chiều của tác giả Danielle Steel.