Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Quê Hương Tan Rã - Chinua Achebe

Được xuất bản lần đầu cách nay hơn nửa thế kỷ (1958), “Quê hương tan rã” được dịch ra nhiều thứ tiếng và được đánh giá là tiểu thuyết thể hiện sâu sắc sự lụi tàn của nền văn hóa truyền thống châu Phi trước sức công phá của những thế lực văn minh hiện đại - mà cụ thể là sự xâm lấn của thực dân phương Tây hồi cuối thế kỷ XIX. Tác giả đã chọn chương 13 - con số rủi ro theo quan niệm của người phương Tây - để kết thúc những mô tả về những bản sắc văn hóa của bộ tộc Ibo rồi sau đó bắt đầu kể về những mất mát khôn lường mà bộ tộc ấy phải gánh chịu kể từ khi người da trắng dùng phương tiện tôn giáo như là những bước dò dẫm đầu tiên trên hành trình đô hộ.   Nội dung chương 13 ấy kể: Do một lỗi không cố ý, Okonkwo, nhân vật chính được tác giả dựng lên như một biểu tượng cho tính cách con người ở lục địa đen, theo luật tục, đã phải rời bỏ quê nhà đi lánh nạn. Bảy năm sau, khi được trở về, Okonkwo đau đớn nhận ra hình ảnh quê hương bản quán mà từ lâu mình đau đáu đã không còn nguyên vẹn như xưa: người da trắng đã đem tín ngưỡng và luật pháp của họ áp đặt lên mảnh đất Ibo thiêng liêng và lôi cuốn những người đồng hương, trong đó có đứa con đầu của Okonkwo, báng bổ lại những điều mà bộ tộc ông hằng tin tưởng. Thiên truyện kết thúc bằng cái chết treo cổ của nhân vật chính sau khi giết một tên lính người Anh. Cái chết tất yếu bởi Okonkwo nhận ra không thể lôi cuốn được đồng bào mình cùng đứng lên cứu lấy quê hương đang trên đà tan rã. Bằng bút pháp giản dị mà sống động, Chinua Achebe đã dẫn dắt người đọc đến tận cội nguồn bản sắc văn hóa châu Phi qua những chi tiết về phong tục hết sức đặc trưng: chuyện đám cưới, đám tang; chuyện vợ chồng, chuyện sinh nở, bệnh tật; chuyện cầu cúng, kiêng kỵ…  Trong mỗi câu chuyện ấy, người đọc nhận ra một tính cách cộng đồng mạnh mẽ, một cách sống đậm nét nhân văn, một đời sống tín ngưỡng mà trong đó thế giới thần linh trở thành mối dây liên hệ thiêng liêng cố kết con người Ibo, giúp họ vượt qua bao khắc nghiệt của thiên nhiên để tồn tại và bảo vệ các giá trị tinh thần được cả cộng đồng công nhận. Không mô tả bằng định kiến và đầy cảm tính như nhiều tác giả viết về đề tài thực dân ở châu Phi, “Quê hương tan rã” đã thể hiện một cách lý giải khách quan và hết sức công bằng của Chinua Achebe về quá trình lụi tàn của những nền văn hóa các bộ tộc Phi châu trước sự thâm nhập vừa cưỡng bức vừa tinh vi của người phương Tây trên bước đường chinh phục thuộc địa. Qua những trang viết ấy của ông, bạn đọc của các nước từng sống trong hoàn cảnh thuộc địa như các xứ châu Phi càng thêm thấm thía. Đời sống người châu Phi hôm nay chắc chắn khác rất nhiều thời của nhân vật Okonkwo; nhưng, trên một vài phương diện nào đó, những bài học xung đột mà Chinua Achebe mô tả vẫn còn nguyên tính thời sự. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà những người dịch tác phẩm này (Nguyễn Hiến Lê và Hoài Khanh) đã giới thiệu như sau trong lời Tựa “… tác phẩm giúp ta hiểu về châu Phi hơn các bộ sách nghiên cứu về châu đó”. *** Cho tới cuối Thế chiến vừa rồi, nhờ những hình trong các sách giáo khoa về địa lý, nhờ các phim chiếu trên màn ảnh và nhờ ít cuốn du ký hay thám ký, chúng ta có được một số ấn tượng rõ rệt về châu Phi Da Đen: cảnh rừng già âm u, cảnh đồng cỏ mênh mông với sư tử, tê ngưu, cá sấu, với những cây baobab khổng lồ cả chục người ôm, những thổ dân đen bóng như than mỏ Hồng Gai bị chứng bụng ỏng hoặc da voi, những cuộc săn đầu người rùng rợn, những cuộc vũ ngoáy mông trong tiếng trống thùng thùng trước một dãy chòi như hình nón úp, những ông thực dân da trắng đội nón “cát” đi “ghệt”, nghễu nghện trên lưng lạc đà hoặc voi, phía sau là một đoàn dài nô lệ da đen khiêng các rương hành lý và các thùng quân nhu, đạn dược... Chúng ta thỏa mãn về những ấn tượng đó, tự cho là có ý niệm đúng về châu Phi Da Đen rồi, chẳng cần tìm hiểu tâm lý, phong tục thổ dân ra sao, tin chắc rằng họ không có một nền văn minh, chỉ là một giống người “ở ngoài lề”, không đáng cho mình quan tâm tới. Vì tình nhân loại, chúng ta coi họ là những con người, chứ không phải là người như chúng ta, mặc dầu ta với họ đều ở trong một hoàn cảnh như nhau: dưới ách thực dân da trắng. Lỗi đó không về ta, mà về thực dân: chính họ chiếm đất của người da đen, bóc lột dân da đen mà khinh bỉ người da đen, không tìm hiểu người da đen. Chúng ta học lại họ, nên cũng ngu xuẩn như họ. Nhưng hai chục năm nay, từ khi các dân tộc châu Phi lần lần được giải phóng - mới gần hết chứ chưa hết - thì tình cảnh đảo ngược lại. Không kể các chính khách hoạt động luôn luôn vị lợi, chúng ta đã thấy nhiều học giả Âu, Mỹ nghiên cứu về các dân tộc Da Đen như G. Balandier, G. Padmore, Mannoni, Jean-Paul Sartre, nhất là W. E. B. Du Bois, tác giả cuốn Âmes noires đã được tái bản lần thứ hai mươi lăm... Các nhà đó đều nhận rằng có một nền văn minh da đen độc đáo, một thời đã rực rỡ, thời đó cách đây bốn ngàn năm miền Sahara còn phì nhiêu, xanh tốt, chưa thành một sa mạc - mà trước kia người phương Tây không biết; và người da đen chỉ khác chúng ta ở màu da chứ tâm lý và trí tuệ cũng như chúng ta, không thể bảo họ là một giống người thấp kém được. Đồng thời, từ khi được độc lập, không bị thực dân áp chế, cấm đoán nữa, vô số học giả, văn nhân, thi sĩ da đen, viết về văn minh, phong tục, đời sống của họ, cất lên tiếng kêu ai oán để khóc những đau khổ, tủi nhục cùng hi vọng của họ như T. Olawale Elias, Engelbert, Mveng, Dominique Traoré, Amas Tutuola, Mongo Beti, Léopold Séder Sanghor, Aimé Cesaire (tác giả tập thơ Return to my Native land, rất nổi danh), C. A. Diop (tác giả các cuốn l Unite culturelle de l Afrique noire, Nations negrest et culture), và Chinua Achebe mà hôm nay chúng tôi xin giới thiệu với độc giả. Achebe sinh năm 1930 ở Ogidi, một làng lớn miền Tây Phi, xa biển và cách con sông Niger khoảng sáu bảy cây số. Tổ tiên ông thuộc bộ lạc Ibo sống trên vùng hạ lưu sông Niger. Khi những nhà truyền giáo Anh bắt đầu tới trong miền (khoảng 1870) thì ông nội ông niềm nở đón tiếp họ, cho một người con trai theo học họ, người con này năm 1904 thành một trong những nhà giáo Ibo đầu tiên, kết hôn với một thiếu nữ gia đình thợ rèn - nghề này rất được dân chúng trọng vì tin rằng có bùa phép - và sanh ra Chinua Achebe. Achebe học ở trường Trung học Umuahia, sau lên đại học Ibadan, là một trong những người đầu tiên lập thân từ đại học này. Năm 1924 ông làm ở đài Phát thanh Nigeria, tám năm sau lên chức Giám đốc. Vừa làm việc ông vừa viết tiểu thuyết, viết khá mạnh: cuốn đầu tay Things fall apart (Quê hương tan rã) xuất bản năm 1958, hai năm sau ra cuốn No longer at ease (Không còn được yên ổn nữa), tiếp theo là cuốn Arrow of God (Mũi tên của Thượng đế). Ông thành công ngay từ bước đầu: Quê hương tan rã được các nhà phê bình Phi, Âu, và Mỹ hoan nghênh nhiệt liệt, coi là tiểu thuyết phong phú nhất, chính xác nhất, bố cục khéo léo nhất, mà bình tĩnh nhất của một người Phi châu viết về Phi châu Da Đen từ sau thế chiến tới nay. Tác phẩm đã được dịch ra các tiếng Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức, bán được nửa triệu bản và hiện nay được dùng trong nhiều trường dạy Anh ngữ ở châu Phi, như một tác phẩm cổ điển vậy. Người ta khen ông nhất là mới hai mươi tám tuổi mà đã có một bút pháp già dặn, có tinh thần khách quan, công bình, tưởng tượng dồi dào mà vẫn trọng sự thực, chỉ vẽ lại đúng xã hội Ibo ở hậu bán thế kỷ trước, khi người da trắng chưa tới rồi bắt đầu tới, không vì óc bài ngoại, tự ái mà đề cao đồng bào mình, mạt sát người da trắng, nhờ vậy tác phẩm có giá trị rất lớn về phương diện nghệ thuật và tài liệu. Ông không giảng giải, thuyết phục cũng không mạt sát nữa mà chúng ta vẫn thấm thía cái bi kịch của một dân tộc chất phác bị một tụi thực dân quỷ quyệt lừa gạt, chà đạp, bóc lột, làm cho nòi giống chia rẽ, quê hương tan nát, bi kịch đó là bi kịch chung của người da đen, da vàng thế kỷ trước, và tuy nói là đã chấm dứt sau thế chiến vừa rồi mà sự thực hiện vẫn còn kéo dài dưới một hình thức mới mẻ hơn, và cũng thâm hiểm hơn. Cho nên đọc tác phẩm, người Việt chúng ta không thể nào không liên tưởng tới thời bọn truyền giáo, thương nhân và quân đội Pháp xâm nhập nước ta dưới triều Nguyễn. Truyện kể lại đời một anh hùng Obi tên là Okonkwo, vì thâm oán cảnh bần cùng do người cha vô tài, nhu nhược gây nên, mà can đảm, cương quyết tự lập thân, sau nhiều năm chiến đấu gay go, tạo được sự nghiệp và danh vọng trong thị tộc, rồi chẳng may vô ý phạm một tội nặng, phải bỏ cả nhà cửa, ruộng đất, dắt vợ con qua ở nhờ bên nhà ngoại bảy năm. Nhờ được một người bạn thân và bà con bên ngoại giúp, ông ta tính hết hạn bị lưu đày, sẽ trở về quê cha gây dựng lại dinh cơ đồ sộ hơn trước nữa, nhưng ông đã thất vọng chua chát vì trong bảy năm đó quê hương ông đã thay đổi hẳn: người da trắng đã tới. Mới đầu chỉ là một vài nhà truyền giáo. Dân trong làng cho đạo Ki Tô là kì cục, nhưng không kì thị màu da, cũng không kì thị tôn giáo, mà còn khoan dung và hiếu khách, cho họ cất giáo đường và thuyết giáo, không hề ngăn cấm con em theo đạo. Nhưng ngoài giáo đường ra, người Anh còn lập một chính phủ nữa, dựng một tòa án, đem lính tráng, súng ống lại để xử tội người da đen theo luật da trắng. Rồi họ mở các tiệm buôn, vơ vét các sản phẩm địa phương, sau cùng cất dưỡng đường và trường học để dụ dỗ dân làng. Dân Ibo theo mỗi ngày một đông, mới đầu là những kẻ nghèo nàn đê tiện, sau đó cả một số người khá giả, có chức vị trong làng. Đau đớn cho Okonkwo là đứa con trai lớn của ông Nwoye, là một trong những kẻ đầu tiên theo tôn giáo mới, từ bỏ cha mình. Thế là có sự chia rẽ trầm trọng trong gia đình và bộ lạc Ibo. Okonkwo vốn là một chiến sĩ, có tinh thần dân tộc, trọng cổ tục, thấy nguy cơ tan rã của quê hương, muốn hô hào mọi người chống lại người Anh, nhưng ngay người bạn thân nhất của ông, Obierika cũng thấy là vô vọng, thở dài bảo ông: “Anh nghĩ coi, làm sao chúng ta có thể chiến đấu được khi mà chính anh em chúng ta cũng chống lại chúng ta? Thằng da trắng quỷ quyệt lắm. Nó lặng lẽ, ôn hòa đem tôn giáo của nó lại đây. Chúng ta (...) cho phép nó ở. Bây giờ nó đã chinh phục được anh em của chúng ta và thị tộc không còn đoàn kết như một người để hành động nữa. Nó đã cắt những dây kết chặt chúng ta với nhau và chúng ta đã tan rã.” Sau vì có tinh thần hiệp sĩ mà chất phác, Okonkwo và năm hào mục khác trong làng bị tên Ủy viên Anh lừa gạt: trong khi hai bên thương thuyết, hắn dùng một tụi tay sai da đen đập bọn Okonkwo, nhốt khám, cạo trọc đầu, làm nhục, bắt phải nộp tiền chuộc mạng. Được thả ra, Okonkwo uất quá, nhất định tự mình trả thù: ông chặt đầu tên sếp Kotma (tức mã tà) Anh, thấy dân chúng, bà con, anh em của ông sợ sệt, không dám cùng ông nổi dậy đánh đuổi người da trắng, ông tự treo cổ lên cây, tự nhận một cái chết mà người Obi cho là ghê tởm, ai oán nhất. Truyệt kết thúc ở đó. Thế là một bộ lạc nổi tiếng là hào hùng chỉ vì bị ngoại nhân chia rẽ mà phải khuất phục; một nền văn minh vững bền hằng bao thế kỷ, có những cổ tục rất đẹp (tình cha con, tình vợ chồng, tình họ hàng, tình bạn bè rất thắm thiết) bị tiêu diệt; một xã hội tổ chức chặt chẽ, đoàn kết mà có trật tự, chỉ trong có mươi năm sụp đổ tan tành! Tác giả chép lại sự biến chuyển đó một cách trung thực, không hề thốt một lời phê bình hay than thở mà làm cho chúng ta lúc thì bùi ngùi, lúc thì căm phẫn. Ở Phi hay ở Á, thời xưa cũng như thời nay, chính sách thực dân bao giờ cũng vậy: đem lợi để nhử, dùng thuật chia rẽ để dễ trị, và chính vì có những kẻ bán nước nên nước mới mất. Truyện đọc rất hấp dẫn vì tác giả tả nhiều phong tục lạ châu Phi, có những tục chúng ta cho là quái đản mà chắc hiện nay cũng đã gần mất rồi. Vì vậy có nhà phê bình cho rằng tác phẩm giúp ta hiểu châu Phi hơn các bộ nghiên cứu về châu đó. Riêng chúng tôi thấy chương XXI tả một người vợ của Okonkwo suốt đêm lén theo một bà cốt đã bắt đứa con gái độc nhất của mình, đáng coi là bất hủ trong văn học châu Phi: sức tưởng tượng của tác giả thật phong phú: không khí tác giả gây nên thật lạnh lẽo, rùng rợn; mà phần nhân bản cũng rất đẹp: tình mẹ con, tình vợ chồng, cả tình của bà cốt đối với đứa bé thật cảm động. Để giữ mãi màu sắc địa phương, chúng tôi đã lựa chọn giải pháp là trực dịch, sát chừng nào hay chừng nấy, nhất là trong các đoạn đối thoại, vì hễ thay đổi lời nói thì phong tục, tín ngưỡng cũng thay đổi. Trong truyện dùng nhiều danh từ Ibo, in ngả, mà bản tiếng Anh và tiếng Pháp đều không chú thích. Chúng tôi đoán nghĩa - có thể nhiều nghĩa đoán không đúng lắm - rồi gom lại thành một bản ở cuối sách để giúp độc giả dễ tra mỗi khi thấy bỡ ngỡ. Sài Gòn, ngày 15 tháng Bảy năm 1970 Mời các bạn đón đọc Quê Hương Tan Rã của tác giả Chinua Achebe.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Năm Em Gặp Anh - Cecelia Ahern
Năm Em Gặp Anh nhẹ nhàng, lãng mạn, sâu sắc và tinh tế trong từng chi tiết nhỏ. Cecelia Ahern là một nhà văn nổi tiếng với các truyện dài: Cảm ơn ký ức, Món quà bí ẩn, Có một nời gọi là chốn này... viết sâu sắc và hư ảo, luôn biết cách khơi gợi để người đọc nhìn thấy những phần sâu thẳm nhất trong tâm hồn mình. Cô bị trầm cảm nặng nề, nhưng cũng chính nhờ một năm ở nhà theo chế độ "về vườn", cô khám phá ra những sở thích của chính mình lâu nay bị guồng quay công việc che lấp, tình cảm gia đình, xóm giềng, và tìm được một  tình yêu đích thực. *** Cecelia Ahern, sinh ngày 30-9-1981, là con gái của cựu Thủ tướng Bertie Ahern Ireland, bắt đầu viết tiểu thuyết từ năm 2004. Ngoài ra, cô còn có nhiều truyện ngắn in trong các tuyển tập, mà tất cả nhuận bút đều được dành để làm từ thiện. Năm 2000, cô từng tham gia một ban nhạc về thứ ba trong cuộc thi nhạc pop toàn quốc để chọn ứng viên tham dự cuộc thi Eurovision Song. Trước khi bắt đầu viết văn, cô đã tốt nghiệp đại học ngành báo chí và truyền thông đại chúng. Năm 2002, Cecelia Ahern viết tiểu thuyết đầu tay, PS, I Love You, được xuất bản năm 2004, và sau đó trở thành sách bán chạy số 1 ở Ireland, Vương quốc Anh, Mỹ, Đức và Hà Lan. Nó cũng được bán ở hơn 40 nước khác. Cuốn sách cũng đã được chuyển thể thành phim và ra rạp năm 2007. Tiểu thuyết thứ hai của cô, Where Rainbows End (Nơi cuối cầu vồng), cũng là sách bán chạy số 1 ở Ireland và Vương quốc Anh, và giành giải CORINE của Đức năm 2005. Tiểu thuyết mới nhất của cô là 'Flawed' và đã được xuất bản cuối năm 2017.   Trước khi bắt tay vào sự nghiệp viết lách, Cecelia Ahern đã có bằng Báo chí và Truyền thông đại chúng. Hai mươi mốt tuổi, cô viết tiểu thuyết đầu tiên, Tái bút Anh yêu em. Cuốn sách ngay lập tức trở thành tiểu thuyết bán chạy nhất trên thế giới và được chuyển thể thành phim với sự tham gia diễn xuất của Hilary Swank. Những tiểu thuyết tiếp theo của cô: Nơi cuối cầu vồng, Nếu em thấy anh bây giờ, Có một nơi gọi là chốn này, Cảm ơn ký ức, Món quà bí ẩn, Cuốn sách của ngày mai đều là những cuốn sách bán chạy nhất. Tiểu thuyết của cô được xuất bản ở bốn mươi sáu quốc gia và bán ra trên mười triệu bản. Cecelia cũng là nhà đồng sáng tạo seri hài kịch ăn khách trên kênh ABC Network Samantha Who? với sự tham gia diễn xuất của Christina Applegate. Năm 2008, Cecelia giành giải thưởng Nhà văn mới xuất sắc nhất tại lễ trao giải Người phụ nữ của năm của tạp chí Glamour. Cecelia hiện đang sống ở Dublin, Ireland. Để đăng ký nhận những bản tin độc quyền về Cecelia Ahern Harper-Collins và tìm hiểu thêm những cuốn sách, bài phỏng vấn, hình ảnh ... của Cecelia, hãy ghé vào trang www.cecelia-ahern.com. Các tác phẩm của Cecelia Ahern đã được xuất bản tại Việt nam: Sức Mạnh Tình Yêu - PS I Love You Nhật Ký Của Ngày Mai Năm Em Gặp Anh Nếu Em Thấy Anh Bây Giờ Nơi Cuối Cầu Vồng Cô Gái Trong Gương Mời các bạn đón đọc Năm Em Gặp Anh của tác giả Cecelia Ahern.
69 - Ryu Murakami
Ở tuổi 32, Murakami Ryu đã viết lại tuổi 17 của mình một cách chân thực nhất! 69 có thể nói là một tác phẩm tươi sáng nhất của Murakami Ryu. Trên cái nền nâu trầm bỗng vút qua một nét màu sáng tươi. Người đọc bất ngờ như khi đi qua rừng sâu bỗng thấy trước mình cánh đồng bạt ngàn hoa thơm cỏ lạ. Những đóa hoa của tình yêu thơ ngây và tuổi trẻ chưa bị đời làm cho gục ngã. Không những thế, 69 còn là tác phẩm hài hước và kích động vô cùng. Rất nhiều lần ta phải bật cười vì vui thích, hân hoan như tìm lại thấy người em thuở sơ đầu. Tác phẩm này gần như là tự truyện. Nhân vật Yazaki, mười bảy tuổi, đang học phổ thông dường như là hình bóng của chính Murakami Ryu.  *** "Cái tuổi trẻ mà mình muốn sống nó y như Ryu đã mô tả trong sách này. Cảm giác tâm đắc làm sao khi bạn nghe y chang cái thứ âm nhạc mà ông nội nhân vật chính đang nghe trong truyện, này thì Beatles, Rolling Stones, Led Zeppelin...???? Y như là bạn xem Deadpool và thấy vui quá chừng khi thằng ôn này nhắc tới Yoda, Liam Neeson, Ripley Alien hay Sinead O'Connor. Tuổi trẻ nó cần phải chất như vậy. Nó rất là ngầu như Jeff Buckley tuy đang chết đuối trên sông nhưng người ta vẫn nghe hắn rống điệp khúc Whole Lotta Love của Led vậy." (Độc giả Viet Hung) *** Nếu bạn đã nghe đến danh tiếng của Haruki Murakami và Banana Yoshimoto, hẳn bạn phải biết đến “Tổ hợp 2 Murakami và 1 Banana”, và người còn lại, chính là Ryu Murakami. Cùng chung một thể loại hiện thực huyền ảo, nhưng nếu Banana được biết đến với phong cách nhẹ nhàng mà sâu lắng, Haruki sáng tạo và đầy sức hút, thì Ryu lại nổi tiếng về chiều sâu và sức nặng của những chủ đề được phản ánh. Cuốn “69” mình review lần này lại có phần nhẹ nhàng hơn những tác phẩm bình thường của Ryu Murakami, vì nó là một cuốn dạng “bán hồi ký”, nên gần như loại bỏ yếu tố huyền ảo ra ngoài, và mang trong mình hơi thở rất rõ rệt của một quãng đời đã trôi qua. Và “69” chính là cách Ryu Murakami chọn tái hiện tuổi trẻ của mình, thứ thanh xuân không dịu dàng man mác như nhiều người, mà nổi loạn, phá cách, có phần “hư hỏng”, mà vẫn xanh tươi không kém. “69” là hồi tưởng về năm 1969, năm 17 tuổi hoa mộng của cậu thiếu niên Yazaki Kensuke (gọi tắt là Ken), một thanh niên nổi loạn. Dù không thuộc bất cứ nhóm nào, nhưng cậu lại quen biết với hầu hết các thành phần “bất hảo” trong trường, và từ đó, kiến tạo nên “năm tươi đẹp nhất cuộc đời” bằng việc thành lập một “đại nhạc hội”. Ken cố gắng mời “Lady Jane” Kazuko của đội Kịch làm vai nữ chính, và phá cả buổi luyện tập “Ngày hội thể thao quốc gia” để nàng đồng ý tham gia. Ken còn chủ mưu việc treo biểu ngữ giữa đêm khuya ở trường học, rồi sáng dậy gọi cả đài truyền hình đến đưa tin, để rồi hơn một trăm năm mươi ngày tiếp theo bị đình chỉ học và quản thúc tại gia. Trong khoảng thời gian đó, Ken vẫn lên kế hoạch cho buổi “đại nhạc hội”, và sau cùng, đã thực hiện thành công điều mình muốn dù gặp nhiều trắc trở. Giờ đây 32 tuổi, đã thành nhà văn nổi tiếng và ở ẩn để viết cuốn sách thứ hai sau thành công rực rỡ của cuốn đầu, Ken hồi tưởng lại những năm tháng nổi loạn huy hoàng ấy, và nhiều thứ khác đã xảy ra với những thanh niên ấy ngày nào. “69” là cuốn tiểu thuyết dạng bán hồi ký của Ryu Murakami, mang một âm hưởng tươi sáng và lạc quan hiếm hoi trong sự nghiệp văn chương của ông, vốn đào sâu vào tâm trí và sự bất hạnh của con người thông qua các yếu tố bạo lực và ma tuý. Cả cuốn tiểu thuyết chứa đựng thực tế về thập niên 60 của thế kỷ trước đầy biến động trong lòng đất nước Nhật Bản, khi giới trẻ hâm mộ cuồng nhiệt các ban nhạc rock, jazz, các diễn viên, nhà văn, triết gia nổi tiếng của phương Tây. Đó cũng là trái tim nồng cháy của tuổi trẻ, mơ ước những điều vĩ đại, và thực hiện những điều không tưởng, dẫu chỉ đơn giản là để chứng tỏ bản thân, hay sâu xa hơn, là để gây ấn tượng với một cô gái. Chương cuối của cuốn sách kể về chuyện tình ngắn ngủi trong sáng của Ken với Kazuko thật sự rất bất ngờ, với những tư tưởng và hành động của Ken, không ngờ cậu chàng lại… ngây thơ đến thế. Thật là tuổi trẻ! Mình nghĩ mình sẽ sớm đưa Ryu Murakami lên hàng những nhà văn mình thích nhất mọi thời đại sau khi đọc hết những gì ông viết. *** Ryu Murakami sinh năm 1952 tại Sasebo, Nagasaki) là một nhà văn và nhà làm phim người Nhật Bản. Năm 1976, khi còn là sinh viên đại học nghệ thuật Musashino, ông đã thắng giải thưởng danh giá Akutagawa và giải tác giả mới Gunzo với tác phẩm Màu xanh trong suốt miêu tả một nhóm người trẻ tuổi đắm chìm trong tình dục, ma túy và nhạc rock. Cùng với Nakagami Kenji, Murakami Haruki và Yoshimoto Banana, ông được xem là tác giả tiêu biểu đại diện cho thời đại mới [1]. Ở Nhật, các tác phẩm của Ryu Murakami có tầm ảnh hưởng lớn đến mức năm 1997, tạp chí Times nhận định rằng ông là “Một trong 11 người sẽ cách mạng hóa Nhật Bản”. Tác phẩm đầu tay của ông xuất bản năm 1976 đoạt ngay giải Gunzo, và một năm sau đó là giải văn học cao quý Akutagawa. Ngòi bút đầy tỉnh táo của Ryu Murakami xoáy vào những mặt gai góc của xã hội Nhật Bản, từ lối sống buông thả, trụy lạc của giới trẻ đến những ám ảnh khủng khiếp do thiếu niềm tin vào cuộc sống… Một số tác phẩm của tác giả Ryu Murakamiđã được dịch, xuất bản tại Việt Nam: Xuyên Thấu - Ryu Murakami Những đứa trẻ bị bỏ rơi trong tủ gửi đồ - Ryu Murakami Màu Xanh Trong Suốt - Ryu Murakami 3 Đêm Trước Giao Thừa - Ryu Murakami Thích Gì Làm Nấy 69 Thử vai     Mời các bạn đón đọc 69 của tác giả Ryu Murakami.
Ngõ Lỗ Thủng - Trung Trung Đỉnh
Ngõ lỗ thủng là cuốn tiểu thuyết được nhà văn Trung Trung Đỉnh viết vào những năm 80 (của thế kỷ 20). Câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết cũng là câu chuyện của chính cuộc đời ông. Đó là cuộc sống của những người dân trong giai đoạn chuyển tiếp từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường với ngổn ngang bao sự đổi thay. Chỉ là một cái ngõ thông thường như bao cái ngõ quanh co của thành phố Hà Nội, nhưng ở cái ngõ đó, cuộc sống của những người công nhân, trí thức, thợ thủ công, lao động tự do được bộc lộ một cách đặc trưng nhất.  Ngõ lỗ thủng viết về những con người của một thời chỉ tin vào những tình cảm trong sáng. Nhóm người này quan niệm rằng: Sống ở trên đời có khó khăn đến đâu chỉ cần có tình cảm với nhau là vượt qua hết. Mặc dù thực tế là khi họ mang niềm tin, tình cảm đó để đi xin việc, đi nhờ vả thì chẳng ai đón nhận cả. Sự sụp đổ niềm tin đến không chỉ với nhóm bạn này, mà ngay với cả bà Điếc, một nhân vật có tên mà đã thành không tên trong đời sống.  Trung Trung Đỉnh muốn đưa ra một thồng điệp về cuộc sống, về con người với những "lỗ thủng" - Đó không còn là cái lỗ đục tường làm nơi qua lại công viên, nó đã trở thành lỗ thủng của nhân cách, của tri thức, của văn hóa len lỏi trong từng con người". *** Tác giả Trung Trung Đỉnh tên thật là Phạm Trung Đỉnh, nhưng vào những ngày đầu mới viết văn, tập đánh máy, ông đã đánh nhầm thành Trung Trung Đỉnh. Sau này, thấy cái tên ấy nghe cũng giòn giã và cũng là một kỷ niệm nên ông lấy luôn làm bút danh”. Sở dĩ có những dòng giới thiệu như thế, vì từ khi nhà văn Trung Trung Đỉnh về làm Giám đốc NXB Hội Nhà văn, nhiều người thấy mục “Chịu trách nhiệm xuất bản” ghi tên Phạm Trung Đỉnh chứ không phải Trung Trung Đỉnh, trong khi “hai người là một”.  Trung Trung Đỉnh viết nhiều và đã giành nhiều giải thưởng lớn. Tác phẩm của anh được ghi nhận trong lòng bạn đọc. Từ tạp chí VNQĐ anh chuyển ngành ra làm phó tổng biên tập báo Văn Nghệ và sau cùng làm giám đốc nhà xuất bản Hội Nhà Văn trước khi nghỉ hưu. Trở lại với những ám ảnh về cái ngõ trong “Chuyện tình ngõ lỗ thủng” hơn chục năm sau khi cuốn sách ra đời, tôi đã xin phép tác giả gộp nó lại cùng tiểu thuyết “Tiễn biệt những ngày buồn” để chuyển thể thành một kịch bản phim truyền hình 24 tập lấy tên là “Ngõ lỗ thủng”. Có lẽ đó là một phim dài tương đối đầy đủ về một con ngõ phố Hà Nội của thời bao cấp. Phim thành công mức nào, tôi chả nói chỉ biết sau khi phát sóng, “Ngõ lỗ thủng” nhận được giải kịch bản hay nhất năm do khán giả bình chọn. Tôi đi nhận giải mang về chiếc phong bì đựng tiền thưởng trao ở trường quay, bảo với biên kịch Đặng Diệu Hương đồng tác giả ghi mấy chữ tặng lại cho nhà văn nguyên tác Trung Trung Đỉnh. Hương nắn nót ghi vào ngoài phong bì lời đề tặng đầy kính trọng và yêu quý. Tôi đưa phong bì cho Trung Trung Đỉnh trong mâm tiệc ở một hội nghị Văn học quốc tế tổ chức ở Hồ Tây. Anh vui vẻ nhận hẹn sẽ dành để nhậu vào lúc khác. Hôm sau gọi điện hỏi phong bì bao nhiêu tiền thưởng thấy Trung Trung Đỉnh ắng đi. Tiền nào. Tiền phong bì giải hôm qua em đưa anh ở Hồ Tây ấy. À, thôi bỏ mẹ mất rồi Tiến ạ. Anh về tìm mãi không thấy chắc nó rơi đâu đó. Mời các bạn đón đọc Ngõ Lỗ Thủng của tác giả Trung Trung Đỉnh.
Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim - Rafael Sabatini
“Người ta tự hỏi liệu còn người kể chuyện nào khác có thể khéo léo đến thế trong việc phủ kín các trang viết của mình với những âm mưu đối đầu với âm mưu, với hiểm nguy xen cài lãng mạn, trên một tấm phông nền đầy những màu sắc sống động, với lụa là và nhung phục, đao kiếm và trang sức.” Scaramouche - Kiếm sĩ không trái tim là câu chuyện về André-Louis Moreau. André-Louis Moreau chào đời mang theo khiếu hài hước cùng cảm giác thế giới thật điên rồ. Nhưng khi chứng kiến người bạn thân thiết bị Hầu tước de La Tour d’ Azyr sát hại, André-Louis cảm thấy mình buộc phải dấn thân vào sự điên rồ của thế giới để xác lập lại công lý và tạo cơ hội cho những tư tưởng của bạn mình tìm thấy tiếng nói của chúng trên đầu lưỡi anh. Từ một luật sư, anh trở thành một nhà diễn thuyết, một anh hề, một kiếm sĩ, rồi một chính trị gia. Ở mỗi ngã rẽ của đời mình, anh đều chạm mặt với Hầu tước một cách đầy bi kịch. Nhưng đợi anh ở cuối con đường gian truân ấy lại chẳng phải là công lý như anh hằng mong đợi mà là một sự thật tréo ngoe và buốt giá. Được viết bằng thứ văn chương phong phú, giàu hình ảnh, đầy những đối thoại sắc sảo, những quan sát tinh tế, cuốn tiểu thuyết ra đời từ năm 1921 này vẫn chưa bao giờ đánh mất đi sức hấp dẫn của nó. Ở nhiều nơi, nó đã được xếp vào hàng kinh điển. Một dấu son trong sự nghiệp chói sáng của Rafael Sabatini. *** Rafael Sabatini (1875 - 1950) là nhà văn chuyên viết truyện thám hiểm - lãng mạn và thu được nhiều thành công lớn. Ông đã nhận được giải Book Prize. Một số tác phẩm nổi tiếng của ông  là: Chim ó biển (1915), Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (1922)... Ông xuất hiện trên bầu trời văn học cùng thời với rất nhiều tên tuổi rực sáng khác như A. Dumas, W. Scott, và là một trong những tác giả được mến mộ nhất thời ấy, với dòng tiểu thuyết hiệp sĩ, lãng mạn. Một số tác phẩm nổi tiếng của Rafael Sabatini: - Này chiến trận, này cuồng si - Chim ó biển (The sea hawk, 1915), - Cuộc đời chìm nổi của thuyền trưởng Blood (Captain Blood, 1922); - Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim (1921); - Tình Yêu Ra Trận - Bellarion the Fortunate (1926)...  Mời các bạn đón đọc Scaramouche - Kiếm Sĩ Không Trái Tim của tác giả Rafael Sabatini.