Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Câu Chuyện Nghĩa Địa - Neil Gaiman

Bod Owens là một cậu bé bình thường! Bod Owens lẽ ra là một cậu bé tuyệt đối bình thường nếu cậu không sống trong một nghĩa địa cổ, không được nuôi dạy bởi những hồn ma và không có một người bảo trợ chẳng thuộc thế giới của người sống hay người chết. Trong nghĩa địa, có vô vàn hiểm nguy và những cuộc phiêu lưu dành cho Bod – một Người Da Chàm và các Sát thủ bảo vệ báu vật dưới lòng đồi, một cánh cổng dẫn ra sa mạc nơi có Thành Quỷ, bầy dạ điểu và những con quỷ nhập tràng… Nhưng nếu rời khỏi nghĩa địa, Bod sẽ phải đương đầu với một mối đe dọa khác – Hội Jack Đủ Nghề, những kẻ đã từng giết cả gia đình cậu…   Vừa kinh hoàng bí hiểm lại vừa trong sáng nên thơ, vừa đầy rẫy những cuộc phiêu lưu nghẹt thở lại vừa thấm đẫm những câu chuyện xúc động về tình yêu thương, Câu chuyện nghĩa địa chắc chắn sẽ mê hoặc độc giả đủ mọi lứa tuổi.  *** Nhận định   Sự sáng tạo vô tận, nghệ thuật kể chuyện bậc thầy và – như chính bản thân Bod – quá xuất sắc để có thể chỉ phù hợp với một nơi duy  nhất. Câu chuyện nghĩa địa là cuốn sách dành cho mọi người. Bạn sẽ yêu nó đến chết. - Holly Black, đồng tác giả Biên niên sử gia đình  Spiderwick   Khi đọc xong Câu chuyện nghĩa địa, trong đầu tôi chỉ có một suy nghĩ – hy vọng nó kéo dài hơn nữa. -Laurell K. Hamilton, tác giả của Anita Blake: Kẻ săn ma cà rồng   Bâng  khuâng, hài hước, khôn ngoan và sởn cả tóc gáy… Cuốn sách dành cho tất cả những ai đang là trẻ con hay đã từng có thời là trẻ con. - Kirkus Reviews   Giống như một miếng sô cô la đắng trong ngày Halloween, cuốn tiểu thuyết này mang đến một hương vị đậm đà, đắng nhưng vẫn ngọt ngào, và không thể nào chê được. - Washington Post *** TRONG BÓNG TỐI HIỆN RA một bàn tay, và bàn tay đó cầm một con dao. Con dao ấy có cán bằng xương đen bóng, với lưỡi dao sắc hơn bất kỳ lưỡi dao cạo nào. Nếu nó cắt vào da thịt, ta có thể thậm chí không biết là mình bị cắt, không biết ngay. Con dao đã thực hiện gần xong tất cả những việc nó được đem đến căn nhà này để thực hiện, và cả cán lẫn lưỡi dao dều ướt đẫm. Cánh cửa dẫn ra phố vẫn để ngỏ, hơi hé mở, qua lối này con dao cùng gã đàn ông đang cầm nó đã lách qua, và những dải sương đêm cũng theo đó luồn lách len lỏi vào trong nhà. Gã đàn ông tên Jack dừng lại trên chiếu nghỉ ở cầu thang. Bằng tay trái, hắn rút một chiếc khăn tay to trắng tinh từ trong túi áo choàng màu đen của mình, lau sạch sẽ cả lưỡi dao lẫn bàn tay phải xỏ găng đang nắm chặt con dao, rồi lại cất chiếc khăn tay đi. Cuộc săn lùng đã gần kết thúc. Hắn đã để người đàn bà nằm trên giường, người đàn ông trên sàn phòng ngủ, đứa bé lớn trong căn buồng màu sắc rực rỡ của nó, xung quanh đầy đồ chơi và những mô hình đang xây dở. Hắn chỉ còn phải lo liệu nốt đứa bé con, một đứa nhỏ mới lẫm chẫm biết đi. Chỉ một mạng nữa thôi, và nhiệm vụ của hắn sẽ được hoàn thành. Hắn co duỗi mấy ngón tay. Gã đàn ông tên Jack, trên hết, là tay chuyên nghiệp, hay ít ra thì hắn cũng tự nhủ như vậy, và hắn không cho phép mình được mỉm cười cho đến khi công việc đã xong xuôi. Hắn có mái tóc đen, cặp mắt đen, và hắn mang găng tay den làm bằng thứ da cừu mỏng nhất. Phòng của đứa bé nằm ở tầng trên cùng. Gã đàn ông tên Jack đi lên cầu thang, chân bước không một tiếng động trên sàn trải thảm. Rồi hắn đẩy cửa bước vào căn phòng áp mái. Hắn đi giày da đen, và chúng bóng lộn đến nỗi nom như hai chiếc gương tối sẫm: ta có thể thấy mặt trăng phản chiếu trên đó, một vầng trăng lưỡi liềm nhỏ xíu. Mặt trăng thật thì đang chiếu qua ô cửa sổ có hai cánh. Ánh trăng không sáng, lại bị màn sương che mờ, nhưng gã đàn ông tên Jack không cần nhiều ánh sáng. Ánh trăng là đủ rồi. Hắn chỉ cần có thế. Hắn có thể trông thấy hình dáng của đứa bé nằm trong nôi, đầu, chân tay, thân mình. Cái nôi có hai bên thành cao làm bằng các thanh gỗ mỏng, để ngăn đứa bé trèo ra ngoài. Jack cúi xuống, giơ cao bàn tay phải, bàn tay đang cầm con dao, và hắn nhằm vào vùng ngực... ... rồi hắn buông tay xuống. Hình thù trong cái nôi chỉ là một con gấu nhồi bông. Không thấy đứa bé đâu. Mắt gã đàn ông đã quen với ánh trăng mờ ảo nên hắn không muốn bật đèn. Và dù sao thì ánh sáng cũng chẳng quan trọng. Hắn có những kỹ năng khác. Gã đàn ông tên Jack hít ngửi không khí. Hắn phớt lờ những mùi đã theo hắn bay vào phòng, loại bỏ những mùi hắn có thể bỏ qua, chỉ tập trung vào mùi của thứ hắn đang tìm kiếm. Hắn có thể ngửi thấy mùi đứa trẻ: một thứ mùi như mùi sữa, giống như mùi bánh quy rắc sô cô la, cùng với mùi chua chua của cái tã ban đêm đã bị ướt. Hắn có thể ngửi thấy mùi đầu gội đầu trẻ em trên tóc đứa bé, và một thứ gì đó nho nhỏ, làm bằng cao su - một món đồ chơi, hắn tự nhủ, rồi sau đó nghĩ lại, không, một cái gì đó để ngậm - mà đứa bé đang cầm. Đứa bé đã ở đây. Nó không còn ở đây nữa. Gã đàn ông đánh hơi lần theo dấu vết xuống tầng dưới của căn nhà cao, hẹp. Hắn kiểm tra phòng tắm, bếp, tủ đựng khăn, và cuối cùng là gian sảnh ở tầng trệt, ở đó chẳng có gì ngoài mấy chiếc xe đạp của gia đình, một đống túi đi chợ trống không, một cái tã rơi, và những dải sương lạc đã lặng lẽ cuộn xoáy chui vào nhà qua cánh cửa mở ra phố. Gã đàn ông tên Jack liền thốt lên một âm thanh khe khẽ, một tiếng gầm gừ vừa bực tức vừa đắc thắng. Hắn tra dao vào cái vỏ ở túi trong chiếc áo choàng dài, rồi bước ra phố. Trời sáng trăng lại thêm cả ánh đèn đường, nhưng màn sương đã bao trùm tất cả, làm mờ ánh sáng, che lấp mọi âm thanh khiến cho màn đêm trở nên mờ ảo đầy nguy hiểm. Hắn nhìn xuôi xuống đồi về phía ánh đèn của những cửa hàng đã đóng cửa, rồi nhìn ngược lên phố nơi những ngôi nhà cao tầng cuối cùng chạy vòng quanh đồi và chìm dần vào bóng tối của khu nghĩa địa cũ. Gã đàn ông tên Jack hít hít không khí. Rồi, không chút vội vã, hắn bước lên đồi. º º º Ngay từ lúc mới biết đi, thằng bé đã trở thành niềm vui và nỗi tuyệt vọng của bố mẹ, vì chưa từng có thằng bé nào lại hay đi vơ vẩn, hay trèo lên các thứ, hay chui ra chui vào mọi chỗ như thế. Đêm đó, nó bị đánh thức bởi tiếng một vật gì đó ở tầng dưới đổ xuống đánh rầm. Khi đã thức giấc, chẳng mấy chốc nó đâm chán, và bắt đầu tìm cách chui ra khỏi nôi. Cái nôi có thành cao, giống như thành cái cũi của nó ở dưới nhà, nhưng nó dám chắc mình có thể trèo qua được. Nó chỉ cần một cái bậc... Nó liền lôi con gấu bông lớn màu vàng ra đặt ở góc nôi, rồi, nắm lấy thành nôi bằng hai bàn tay bé xíu, giẫm một chân lên bụng, một chân lên đầu con gấu, thằng bé đu mình đứng dậy, rồi nửa trèo, nửa rơi qua thành nôi ra ngoài. Nó ngã xuống đánh thịch một cái trên đống thú nhồi bông, có con là quà tặng sinh nhật của họ hàng nhân dịp nó đầy năm, cách đây chưa đầy sáu tháng, có con được thừa hưởng từ chị nó. Nó hơi ngạc nhiên khi bị ngã xuống sàn, nhưng nó không khóc: ta mà khóc thì sẽ có người đến đặt lại vào trong nôi liền. Nó bò ra khỏi phòng. Các bậc thang đi lên khá rắc rối, và thằng bé chưa nắm vững được cách trèo lên. Nhưng nó đã phát hiện ra rằng các bậc thang đi xuống lại rất đơn giản. Nó chỉ việc ngồi xuống và trượt từ bậc này xuống bậc kia trên cái mông đã được đệm bằng chiếc tã. Nó mút mút cái ti, chiếc núm vú giả bằng cao su mà dạo gần đây mẹ bảo nó đã lớn rồi, không cần đến nữa. Chiếc tã tuột ra trong quãng đường xuống cầu thang, và khi thằng bé đến được bậc cuôì cùng, trượt vào gian sảnh ở tầng dưới rồi đứng dậy, thì cái tã rơi mất. Nó bước ra khỏi cái tã. Nó chỉ mặc một chiếc áo ngủ trẻ em. Những bậc thang dẫn về phòng nó, phòng bố mẹ và chị nó dốc quá, nhưng cánh cửa dẫn ra phố lại đang mở và nom thật hấp dẫn... Thằng bé bước ra khỏi nhà, hơi ngập ngừng một chút. Màn sương cuộn quanh nó như một người bạn lâu ngày gặp lại. Và rồi, mới đầu còn loạng choạng, sau rồi với bước chân mỗi lúc một nhanh và vững vàng hơn, thằng bé chập chững đi lên đồi. º º º Càng gần đến đỉnh đồi, màn sương càng mỏng, vầng trăng lưỡi liềm tỏa sáng, tuy không thể so với ánh sáng ban ngày, nhưng ít ra cũng đủ để thấy được khu nghĩa địa, ít ra thì cũng đủ cho việc đó. Nhìn mà xem. Bạn có thể nhìn thấy ngôi nhà nguyện tang lễ bỏ hoang, hai cánh cổng sắt khóa chặt, dây trường xuân bám quanh cái mái hình chóp nhọn, một cây con mọc trên máng xối ngang mái nhà. Bạn có thể nhìn thấy những bia mộ, những cái huyệt, nhà mồ và những tấm biển tưởng niệm. Bạn có thể thỉnh thoảng trông thấy một con thỏ, chuột đồng hay chồn lủi đi rất nhanh khi nó chui ra khỏi bụi rậm và chạy ngang lối đi. Dưới ánh trăng, bạn sẽ nhìn thấy tất cả những thứ đó, nếu bạn có mặt ở nơi này vào cái đêm ấy. Nhưng có lẽ bạn sẽ không trông thấy người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt, đang bước trên lối mòn gần cổng chính, và nếu bạn có nhìn thấy bà thì khi nhìn lại một lần nữa, kỹ càng hơn, bạn sẽ thấy rằng bà chỉ là ánh trăng, là màn sương, là một cái bóng. Nhưng người phụ nữ phốp pháp, nhợt nhạt ấy đang có mặt ở đó. Bà bước trên con đường dẫn đến cổng chính, đi qua một đống bia mộ đổ nát. Cổng đã khóa. Chúng luôn được khóa lúc bốn giờ chiều vào mùa đông, và tám giờ tối vào mùa hè. Những thanh rào sắt nhọn đầu bao quanh một phần nghĩa địa, và một bức tường gạch cao chắn phần còn lại. Chấn song ở cánh cổng được gắn sát nhau: người lớn không thể chui qua đó được, thậm chí một đứa trẻ mười tuổi cũng không... "Ông Owens!" người đàn bà da nhợt nhạt cất tiếng gọi, bằng một giọng có thể chỉ là tiếng gió xào xạc qua đám cỏ cao. "Ông Owens! Lại xem này!" Bà cúi xuống, chăm chú nhìn vật gì đó trên mặt đất, trong khi một mảng bóng tối hiện ra dưới ánh trăng và hiện rõ hình một người đàn ông tóc hoa râm, độ bốn mươi lăm tuổi. Ông nhìn bà vợ, nhìn vật mà bà đang ngắm nghía, và đưa tay lên gãi đầu. "Bà Owens này?" ông hỏi, bởi vì ông đến từ một thời kỳ trọng nghi thức hơn thời của chúng ta. "Đó có phải là cái mà tôi nghĩ không đấy?" Đúng lúc đó, cái vật mà ông đang nhìn hình như đã trông thấy bà Owens, vì nó mở miệng ra, để rơi cái núm vú giả đang ngậm xuống đất, và nó vươn nắm tay nhỏ xíu, mũm mĩm của mình ra, như thể đang cố hết sức nắm lấy ngón tay nhợt nhạt của bà Owens. "Nếu đó không phải một đứa bé," ông Owens nói, “thì tôi đúng là thằng ngốc rồi!” "Tất nhiên nó là một đứa bé," vợ ông đáp. "Và vấn đề là, chúng ta phải làm gì với nó đây?" "Đó đúng là vấn đề đấy, bà Owens à," ông chồng trả lời. "Thế nhưng nó không phải vấn đề của chúng ta. Vì đứa bé này rõ ràng là đang còn sống, và vì vậy nó chẳng liên quan gì đến chúng ta, nó không thuộc về thế giới của chúng ta." "Ông nhìn nó cười kìa!" bà Owens nói. "Nó có nụ cười mới đáng yêu làm sao," và bà đưa bàn tay trong suốt ra vuốt mái tóc vàng lơ thơ của đứa bé. Thằng bé cười khúc khích vẻ thích thú. Một cơn gió lạnh buốt thổi qua nghĩa địa, làm tan tác màn sương ở dưới những sườn đồi thấp hơn (vì nghĩa địa chiếm hết toàn bộ đỉnh đồi, và đường đi trong nghĩa địa uốn lượn lên xuống đỉnh đồi thành một vòng tròn). Có tiếng lách cách: ai đó ở cổng chính nghĩa địa đang nắm lấy cánh cổng, kéo, giật và lắc mạnh hai cánh cổng cũ cùng cái khóa và sợi xích nặng khóa hai cánh cổng lại với nhau. "Đấy," ông Owens nói, "gia đình thằng bé đến để đón nó vào vòng tay yêu thương của họ đây. Bà để cho nó yên đi," ông nói thêm, vì bà Owens đang vòng hai cánh tay trong suốt quanh đứa bé, âu yếm vỗ về nó. Bà Owens bảo, "Trông hắn chẳng có vẻ là gia đình của ai hết." Gã đàn ông mặc chiếc áo choàng đen đã thôi lắc cánh cổng chính, chuyển sang săm soi cánh cổng phụ nhỏ hơn. Cánh cổng này cũng khóa chặt. Năm ngoái ở nghĩa địa xảy ra mấy vụ phá hoại, và hội đồng thành phố đã có Biện pháp Giải quyết. "Thôi nào, bà Owens thân yêu. Để cho nó yên”, ông Owen nói khi trông thấy một con ma, và ông há hốc miệng, không nghĩ được câu gì để nói nữa. Bạn có thể cho rằng - và nếu bạn nghĩ như thế này thì bạn đã đúng - ông Owens lẽ ra chẳng nên kinh ngạc đến thế khi trông thấy một con ma, vì chính ông và bà Owens cũng là người chết, đã chết từ hàng trăm năm nay rồi; hơn nữa, toàn bộ, hoặc gần như toàn bộ sinh hoạt xã hội của họ đều là với những người cũng đã chết. Nhưng có sự khác biệt rõ ràng giữa đám dân cư của nghĩa địa với cái này: một hình thù kỳ lạ, chập chờn, thô sơ, có màu xam xám như màn hình ti vi lúc không có sóng, chỉ tuyền một nỗi kinh hoàng và những tình cảm trần trụi xuyên thẳng qua hai vợ chồng nhà Owens như thể đó là cảm xúc của chính họ vậy. Có ba hình thù tất cả, hai lớn, một nhỏ, nhưng chỉ có một hình là rõ nét, trông rõ hơn một đường viền mờ nhạt. Và hình thù đó đang kêu lên, Con tôi! Hắn đang muốn hại con tôi! Có tiếng rầm rầm. Gã đàn ông ở ngoài kia đang vần một cái thùng rác nặng bằng sắt ngang qua con hẻm đến bên bức tường gạch cao bao quanh một phần nghĩa địa. "Xin hãy bảo vệ con tôi!" con ma nói, và bà Owens đoán đó là một phụ nữ. Tất nhiên rồi, mẹ của đứa bé. "Hắn đã làm gì các vị thế?" bà Owens hỏi, nhưng bà không dám chắc con ma nghe được giọng bà. Mới chết, tội nghiệp, bà thầm nhủ. Bao giờ cũng dễ dàng hơn rất nhiều nếu được chết một cách nhẹ nhàng, để rồi đến đúng lúc thì sẽ thức dậy ở nơi mình được chôn, chấp nhận cái chết của mình và làm quen với những cư dân khác trong nghĩa địa. Nhưng con ma này chỉ toàn nỗi hoảng hốt và sợ hãi lo cho đứa con của mình, và nỗi hốt hoảng ấy, mà hai vợ chồng nhà Owens cảm thấy như một tiếng kêu lầm rầm, đã bắt đầu gây sự chú ý, vì những hình dáng nhợt nhạt khác đang từ khắp mọi nơi trong nghĩa địa kéo đến. "Ngươi là ai?" Caius Pompeius hỏi hình thù nọ. Tấm bia mộ của cụ giờ chỉ còn là một tảng đá dầm mưa đãi nắng, nhưng hai nghìn năm trước, cụ đã yêu cầu được chôn cất trên đỉnh đồi bên cạnh ngôi đền bằng cẩm thạch chứ không muốn thi thể mình được đưa về La Mã, và cụ là một trong những công dân lâu năm nhất của nghĩa địa. Cụ rất coi trọng các trách nhiệm của mình. "Ngươi có được chôn ở đây không?" "Tất nhiên là không rồi! Nhìn cũng biết chị ấy mới chết thôi." Bà Owens vòng tay ôm lấy hình người phụ nữ kia và khẽ nói với người ấy mấy lời, bằng giọng trầm trầm, bình tĩnh, an ủi. Có một tiếng thịch, rồi tiếng rầm rầm ở bức tường cao cạnh con hẻm. Cái thùng rác đã đổ xuống. Một gã đàn ông trèo lên nóc tường, hình dáng tối sẫm của hắn nổi bật hẳn lên dưới ánh đèn đường mờ sương. Hắn đứng yên một lát, rồi trèo xuống phía bên kia, tay bám nóc tường, chân đong đưa, rồi hắn buông tay để mình rơi tự do nốt vài mét xuống khu nghĩa địa. "Nhưng chị thân mến," bà Owens nói với hình người kia, trong số ba hình người đã hiện ra trong nghĩa địa, giờ chỉ còn một hình duy nhất ấy. "Hắn là người sống. Chúng tôi thì không. Làm sao chị lại cho rằng..." Đứa bé đang ngước nhìn họ vẻ tò mò. Nó với tay về phía một người, rồi người kia, nhưng chẳng quờ được gì ngoài không khí. Hình người phụ nữ đang mờ đi rất nhanh. "Được thôi," bà Owens nói, đáp lại một câu hỏi mà không ai khác nghe thấy. "Nếu làm được thì chúng tôi sẽ làm”. Rồi bà quay sang ông chồng đang đứng cạnh. "Thế còn ông thì sao, ông Owens? Ông có chịu làm bố thằng bé này không?" "Tôi có chịu làm cái gì cơ?" ông Owens hỏi, trán nhăn lại. "Chúng ta chưa bao giờ có con," vợ ông nói. "Và mẹ nó nhờ chúng ta bảo vệ nó. Ông có đồng ý không?" Gã đàn ông mặc áo choàng đen đã bị vấp ngã giữa đám dây trường xuân cùng đống bia mộ đổ vỡ. Giờ thì hắn đứng dậy, rồi đi về phía trước một cách thận trọng hơn, làm một con cú giật mình lặng lẽ bay lên. Hắn đã nhìn thấy đứa bé, và mắt hắn lóe lên vẻ đắc thắng. Ông Owens biết rõ vợ mình đang nghĩ gì khi bà nói bằng cái giọng như thế. Họ đã ở với nhau kể cả lúc sống lẫn lúc chết là hai trăm năm mươi năm rồi chứ có ít đâu. "Bà có chắc không?" ông hỏi. "Bà chắc chắn đấy chứ?" "Tôi chưa bao giờ cảm thấy chắc chắn hơn," bà Owens trả lời. "Thế thì được. Nếu bà làm mẹ nó thì tôi sẽ làm bố nó. "Chị đã nghe thấy chưa?" bà Owens hỏi hình người trong nghĩa địa, giờ chỉ rõ hơn chút xíu so với một đường viền mờ nhạt, giống như một tia chớp mùa hạ xa xăm, có hình dáng một phụ nữ. Hình người ấy nói gì đó với bà Owens mà không ai khác nghe được, rồi biến mất. "Chị ấy sẽ không quay lại đây đâu”, bà Owens nói. "Khi thức dậy thì chị ấy sẽ ở nghĩa địa của chính mình, hoặc là ở bất cứ nơi đâu mà chị ấy đang đến." Bà Owens cúi xuống bên đứa bé và chìa tay ra. "Lại đây nào”, bà âu yếm nói. "Lại đây với mẹ nào”. Khi gã đàn ông tên Jack bước trên lối đi cắt ngang nghĩa địa đến chỗ họ, dao lăm lăm trong tay, hắn thấy dường như dưới ánh trăng, một dải sương đã cuộn quanh đứa bé, rồi đứa bé biến mất: chỉ còn lại màn sương ẩm ướt, ánh trăng và lớp cỏ đang ngả nghiêng trong gió. Hắn chớp chớp mắt đánh hơi không khí. Có điều gì đó vừa xảy ra, nhưng hắn không biết là điều gì. Hắn gầm ghè trong họng như một con thú săn mồi, bực dọc và giận dữ. "Có ai ở đây không?" gã đàn ông tên Jack cất tiếng gọi, băn khoăn không biết có phải đứa bé đã trốn đằng sau một cái gì đó không. Giọng hắn khàn khàn, trầm dục, với một thoáng the thé kỳ lạ, như thể ngạc nhiên hay bối rối khi nghe thấy chính mình lên tiếng. Khu nghĩa địa vẫn giữ kín bí mật của mình. "Có ai ở đây không?" hắn lại gọi. Hắn hy vọng sẽ nghe thấy đứa bé khóc hoặc bi bô, hoặc nghe thấy tiếng nó cử động. Hắn không ngờ lại nghe thấy một giọng nói êm như nhung, hỏi lại. "Tôi giúp gì được ông không?" Gã đàn ông tên Jack vốn là người cao. Người đàn ông này còn cao hơn. Gã đàn ông tên Jack mặc quần áo sẫm màu. Quần áo của người đàn ông này còn sẫm màu hơn. Người nào để ý đến gã đàn ông tên Jack lúc hắn đang thực hiện công việc của mình - mà hắn không thích bị để ý - đều thường cảm thấy lo ngại, không yên, hoặc bỗng thấy sợ hãi không sao hiểu nổi. Gã đàn ông tên Jack ngước nhìn người lạ mặt nọ, và chính gã lại là kẻ cảm thấy lo ngại. "Tôi đang tìm một người," gã đàn ông tên Jack đáp, luồn tay phải vào túi áo khoác để giấu kín con dao, nhưng vẫn nắm nó trong tay phòng khi cần đến. "Trong một khu nghĩa địa bị khóa kín, giữa lúc đêm hôm ư?" người lạ mặt hỏi. "Chỉ là một đứa bé thôi," Jack nói. "Tôi đang đi qua đây thì nghe thấy tiếng trẻ con khóc, và khi nhìn qua cổng tôi đã trông thấy nó. Nếu là người khác thì họ cũng làm thế thôi, phải không?" "Tôi xin hoan nghênh tinh thần cộng đồng của ông”, người lạ mặt nói. "Nhưng nếu tìm được đứa bé này thì ông định đưa nó ra khỏi đây bằng cách nào? Ông không thể bế đứa bé trèo qua tường được”. "Tôi sẽ gọi cho đến khi có người đến giúp tôi ra," gã đàn ông tên Jack trả lời. Có tiếng chùm chìa khóa lách cách. "Vậy đấy, thế thì đó sẽ là tôi rồi," người lạ mặt nói. "Tôi sẽ phải mở cổng cho ông ra thôi." Người đó chọn một chiếc chìa lớn từ trong chùm rồi nói, "Đi theo tôi." Gã đàn ông tên Jack theo sau người lạ mặt. Hắn lôi con dao từ trong túi ra. "Hẳn ông là bảo vệ ở đây?" "Tôi ấy à? Nói theo một cách nào đó thì đúng thế”, người lạ mặt đáp. Họ đang đi về phía cánh cổng, và gã Jack dám chắc họ đang đi khỏi chỗ có đứa bé. Nhưng lão bảo vệ có chìa khóa. Hắn chỉ việc tặng cho lão một nhát dao trong bóng tối, rồi sẽ được tự do tìm kiếm đứa bé suốt đêm, nếu cần. Hắn giơ dao lên. "Nếu có một đứa bé thật," người lạ mặt nói, không hề ngoảnh lại, "thì nó sẽ không có trong nghĩa địa này. Chắn hẳn ông đã nhầm. Dù sao thì chuyện một đứa bé mò đến đây cũng khó có thể xảy ra. Có lẽ ông đã nghe thấy tiếng một con chim đêm, và nhìn thấy một con mèo hoặc con cáo. Ông biết đấy, ba mươi năm trước, khi lễ tang cuối cùng được tổ chức ở đây, họ đã chính thức tuyên bố nơi này là khu bảo tồn tự nhiên. Giờ thì hãy nghĩ cho kỹ, và cho tôi biết ông có chắc chắn là ông đã nhìn thấy một đứa bé không?” Gã đàn ông tên Jack ngẫm nghĩ. Người lạ mặt mở cánh cổng phụ. "Có lẽ là một con cáo," người ấy nói. "Chúng thường phát ra những tiếng kêu rất lạ, không phải là không có phần giống tiếng người khóc. Ông đã nhầm khi đến khu nghĩa địa này, thưa ông. Đứa bé ông tìm kiếm đang đợi ông ở đâu đó, nhưng nó không có ở đây”. Và người ấy để cho ý nghĩ đó bắt rễ trong đầu gã đàn ông tên Jack một hồi lâu, trước khi đẩy cánh cổng phụ mở ra bằng một điệu bộ hoa mỹ. "Rất vui đã được làm quen với ông” người đó nói. "Và tôi tin rằng ông sẽ tìm được tất cả những gì ông cần ở ngoài kia” Gã đàn ông tên Jack đứng ngoài cánh cổng nghĩa địa. Người lạ mặt đứng bên trong cổng, rồi người ấy khóa cổng lại và cất chiếc chìa đi. "Ông đi đâu vậy?" gã đàn ông tên Jack hỏi. "Còn có những cánh cổng khác” người lạ mặt đáp. "Ô tô của tôi đậu ở phía bên kia đồi. Đừng bận tâm đến tôi. Thậm chí ông còn không cần phải nhớ cuộc trò chuyện này nữa kia." "Không," gã đàn ông tên Jack thân thiện đáp lại. "Tôi không nhớ." Hắn chỉ nhớ rằng mình đã lang thang lên đồi, rằng cái mà hắn ngỡ là đứa bé hóa ra chỉ là một con cáo, rằng một người bảo vệ đầy thiện chí đã đưa hắn ra ngoài phố. Hắn đút con dao vào cái vỏ trong túi áo. "Thôi” hắn nói. "Xin chào ông." "Chúc ông buổi tối tốt lành," người lạ mặt mà Jack ngỡ là người bảo vệ đáp lại. Gã đàn ông tên Jack đi xuống đồi để đuổi theo đứa bé. º º º Từ trong bóng tối, người lạ mặt nhìn theo Jack cho đến khi hắn đã ra khỏi tầm mắt. Rồi người ấy đi xuyên qua bóng đêm, trèo lên cao hơn, đến tận khoảng đất bằng bên dưới đỉnh đồi, nơi có một đài tưởng niệm cùng một tảng đá phẳng đặt nằm trên mặt đất để tưởng nhớ hương hồn ngài Josiah Worthington, người nấu rượu của thành phố, chính trị gia, và sau này là nam tước, người mà ba trăm năm trước đã mua khu nghĩa địa cũ cùng khoảng đất xung quanh rồi đem tặng vĩnh viễn cho thành phố. Ngài Josiah đã tự dành cho mình vị trí tốt nhất trên đồi - một giảng đường thiên tạo, nơi người ta có thể nhìn thấy được toàn bộ thành phố và xa hơn thế - và đảm bảo chắc chắn rằng khu nghĩa địa luôn được duy trì làm nghĩa địa, mà chính vì điều đó các cư dân của nghĩa dịa hết sức biết ơn ngài, nhưng Nam tước Josiah Worthington luôn cảm thấy họ chưa bao giờ tỏ ra biết ơn cho đầy đủ. Tính cả thảy thì trong nghĩa địa có chừng mười ngàn linh hồn, nhưng phần lớn đều đang say giấc ngàn thu, không quan tâm gì đến những việc xảy ra hàng đêm ở đây, và trên giảng đường lúc này, dưới ánh trăng, chỉ có chưa đầy ba trăm người. Người lạ mặt đi đến chỗ họ một cách lặng lẽ chẳng khác nào màn sương, đứng quan sát cuộc họp từ trong bóng tối và không nói gì. Josiah Worthington đang phát biểu. Ngài nói, "Thưa bà thân mến. Sự ngoan cố của bà thật là... ờ, bà không thấy chuyện này nực cười đến thế nào ư?" "Không," bà Owens đáp. 'Tôi không thấy thế." Bà đang ngồi xếp bằng trên nền đất, đứa bé còn sống nằm ngủ trong lòng. Bà nâng niu đầu nó bằng hai bàn tay trong veo. "Thưa ngài, xin phép ngài, ý bà nhà tôi định nói là bà ấy không nhìn nhận chuyện này theo cách đó," ông Owens đang đứng cạnh bà nói. "Bà ấy chỉ coi đó là bổn phận của mình." Ông Owens đã từng gặp Josiah Worthington bằng xương bằng thịt khi họ đều còn sống, chính ông đã đóng mấy món đồ gỗ tinh xảo trong dinh thự của dòng họ Worthington ở gần Inglesham, và giờ ông vẫn còn thấy sợ ngài Nam tước. “Bổn phận của bà ấy?" Nam tước Josiah Worthington lắc đầu như muốn rũ một dải mạng nhện bám trên tóc. "Bổn phận của bà, thưa bà, là đối với nghĩa địa này, đối với cộng đồng này, cộng đồng những linh hồn, ma quỷ và các thứ khác đại loại thế, và bổn phận của bà là đem đứa bé này trả về nhà của nó càng sớm càng tốt - và nhà của nó không phải là ở đây." "Mẹ thằng bé đã trao nó cho tôi," bà Owens nói như thể đó là tất cả những gì cần được thốt ra. "Thưa bà thân mến..." "Tôi không phải là bà thân mến của ông," bà Owens nói và dứng dậy. "Thật tình tôi thậm chí còn không hiểu sao tôi lại phải ở đây, nói chuyện với mấy ông già xuẩn ngốc như các ông, trong khi thằng bé này sắp sửa tỉnh dậy, rồi nó sẽ thấy đói bụng và tôi biết tìm đâu ra thức ăn cho nó trong cái nghĩa địa này bây giờ?" "Đó chính là điều chúng tôi định nói đấy," Caius Pompeius nghiêm nghị nói. "Bà sẽ cho nó ăn gì đây? Bà sẽ làm cách nào chăm lo cho nó đây?" Mắt bà Owens lóe sáng. "Tôi có thể chăm sóc cho nó tốt không kém gì mẹ đẻ của nó," bà nói. "Mẹ nó đã trao nó cho tôi. Nhìn này: tôi đang ôm nó trong tay, phải không nào? Tôi đang chạm vào nó đấy thôi” "Nào, hãy tỏ ra biết điều một chút, Betsy," Má Slaughter, một bà già nhỏ bé với cái mũ to tướng và chiếc áo choàng mà má thường mặc khi còn sống và đã mặc khi được an táng. "Nó sẽ ở đâu bây giờ?" "Ở ngay đây” bà Owens đáp. "Chúng ta sẽ cho nó Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa” Miệng Má Slaughter biến thành một chữ o nhỏ xíu. "Nhưng mà," má lên tiếng. Rồi má nói, "Thật là chuyện chưa từng thấy bao giờ”. "Thế thì sao nào? Đây đâu phải lần đầu chúng ta cho một người ngoài Quyền Tự do Đi lại Trong Nghĩa địa." "Đúng thế," Caius Pompeius nói. "Nhưng anh ta có phải người sống đâu." Khi nghe thấy vậy, người lạ mặt nhận ra dù muốn hay không mình đã bị kéo vào cuộc trò chuyện. Người ấy miễn cưỡng bước ra khỏi màn đêm, đứng tách xa khỏi những người khác như một mảng bóng tôi. "Không," người đó đồng tình. "Tôi không phải người sống. Nhưng tôi đồng ý với bà Owens." Josiah Worthington hỏi, "Thật thế sao, Silas?" "Đúng vậy. Dù vì điều tốt hay xấu - mà tôi tin chắc là vì lòng tốt - thì ông bà Owens cũng đã nhận bảo trợ đứa bé. Nhưng để nuôi dưỡng đứa bé này thì sẽ phải cần nhiều hơn hai linh hồn nhân hậu. Sẽ phải cần đến toàn thể nghĩa địa” Silas nói. "Thế còn thức ăn và những thứ khác thì sao?" "Tôi có thể ra khỏi nghĩa địa và quay lại. Tôi sẽ đem thức ăn về cho nó," Silas đáp. "Anh nói nghe hay lắm” Má Slaughter nói. "Nhưng anh đi đi về về, có ai biết được anh đi những đâu. Nếu anh bỏ đi cả tuần trời thì thằng bé chết đói mất." "Má quả là người khôn ngoan” Silas nói. "Tôi đã hiểu tại sao mọi người tôn trọng má đến thế." Anh ta không thể điều khiển trí não của người chết như từng làm với người sống, nhưng có thể dùng tất cả những lời tâng bốc và thuyết phục mà mình có được, bởi vì con người dù đã chết thì vẫn không miễn dịch được với hai thứ đó. Rồi anh đi đến một quyết định. "Được thôi. Nếu ông bà Owens nhận làm bố mẹ đứa bé thì tôi sẽ là người bảo trợ cho nó. Tôi sẽ ở lại đây, và nếu phải đi xa thì tôi sẽ đảm bảo có người thế chỗ tôi, đem thức ăn về và chăm sóc nó. Chúng ta có thể cho nó ở trong hầm mộ nhà thờ” "Nhưng mà," Josiah Worthington lớn tiếng. "Nhưng mà. Một đứa trẻ. Một đứa trẻ còn sống. Ý tôi là, ý tôi là, ý tôi là. Chết tiệt, đây là nghĩa địa chứ có phải nhà trẻ đâu." "Chính thế," Silas gật đầu. "Ngài nói rất đúng, thưa Nam tước Josiah. Chính tôi cũng không thể nói đúng hơn. Và nếu không vì lý do nào khác, thì chính vì lý do đó, điều tối quan trọng là đứa bé phải được nuôi nấng với sự hạn chế tối đa ảnh hưởng của nó đối với, xin nói mạn phép các vị, đối với cuộc sống của nghĩa địa." Nói đoạn Silas bước đến bên cạnh bà Owens, cúi nhìn đứa bé đang nằm ngủ trong vòng tay bà và nhướn mày. "Nó có tên chứ, bà Owens?" "Mẹ nó không cho tôi biết," bà đáp lại. "Cũng chẳng sao," Silas nói. "Dù gì thì bây giờ cái tên cũ của nó cũng chẳng có ích gì lắm. Có những kẻ ngoài kia đang muốn hại nó. Có lẽ chúng ta nên đặt cho nó một cái tên mới chăng?" Caius Pompeius bước đến ngắm nghía đứa bé. "Trông nó hơi giống ngài thống đốc Marctis của tôi. Hãy gọi nó là Marcus." Josiah Worthington nói, "Trông nó giống lão làm vườn Stebbins của tôi hơn. Nhưng tôi không gợi ý đặt tên nó là Stebbins đâu. Lão ta uống rượu như hũ chìm ấy." "Trông nó giống cậu cháu Harry của tôi” Má Slaughter nói, và đến lúc có vẻ như toàn thể nghĩa địa sắp sửa chêm vào, mỗi người góp một ý so sánh đứa bé với một người quen nào đó từ xa xưa lắm rồi, thì bà Owens lên tiếng. 'Trông nó chẳng giống ai cả, ngoại trừ chính nó” bà Owens nói. "Nó không giống ai cả." "Thế thì hãy gọi nó là Không Ai Cả, Nobody," Silas nói. "Nobody Owens." Đúng lúc ấy, như thể đáp lại cái tên mới, thằng bé mở to mắt thức giấc. Nó nhìn xung quanh, ngắm khuôn mặt những người chết, ngắm màn sương và vầng trăng. Rồi nó đưa mắt nhìn Silas. Cái nhìn của nó không hề dao động. Nó có vẻ hết sức nghiêm trang. "Nhưng ai lại đặt tên là Không Ai Cả!" Má Slaughter phẫn nộ kêu lên. "Đó là tên nó. Một cái tên hay” Silas nói với má. "Cái tên ấy sẽ giúp bảo vệ thằng bé." "Tôi không muốn gặp chuyện rắc rối đâu," Josiah Worthington nói. Đứa bé ngước lên nhìn ngài Nam tước, và rồi, vì đói, vì mệt, hay chỉ vì nhớ nhà, nhớ gia đình, nhớ thế giới cũ của mình, bộ mặt nhỏ xíu của nó co rúm lại và nó òa khóc. "Bà hãy để chúng tôi nói chuyện riêng," Caius Pompeius bảo bà Owens. "Chúng tôi sẽ bàn bạc việc này." Bà Owens đứng đợi ngoài nhà thờ. Bốn mươi năm trước, tòa nhà vốn là một nhà thờ nhỏ có mái nhọn này đã được tuyên bố là một công trình lịch sử được xếp hạng. Hội đồng thành phố quyết định rằng để tu sửa lại nhà thờ là quá tốn kém, vì nó chỉ là một nhà thờ nhỏ xíu trong một khu nghĩa địa đầy cỏ dại đã không còn hợp thời nữa, vậy là họ khóa cửa lại đợi cho nó sụp xuống. Dây trường xuân leo khắp tòa nhà, nhưng nó được xây dựng rất chắc chắn, và trong thế kỷ này thì vẫn chưa chịu đổ xuống. Thằng bé đã thiếp ngủ trong vòng tay bà Owens. Bà nhẹ nhàng đu đưa, hát cho nó nghe bài ru cổ mà mẹ bà đã hát ru bà khi bà còn bé, vào cái thời đàn ông mới bắt đầu đội tóc giả rắc phấn. Bài hát ấy như thế này: Hãy ngủ đi bé yêu của mẹ Ngủ cho đến khi con thức dậy Lớn lên con sẽ đuợc thấy thế gian Nếu mẹ không nhầm Hôn một người thương Nhảy một điệu vui Tìm thấy tên mình Cùng một kho báu đã bị chôn vùi... Bà Owens hát đến đó thì chợt nhận ra bà không còn nhớ bài hát kết thúc như thế nào nữa. Bà mang máng nhớ là câu cuối cùng có gì đó liên quan đến "mấy miếng thịt xông khói đầy lông” nhưng có lẽ đó lại là một bài hát khác hẳn, vì thế bà thôi không hát bài ấy nữa mà chuyển sang một bài về Chú Cuội ngồi trên Cung Trăng, rồi sau đó bà hát, bằng cái giọng nông thôn ấm áp của mình, một bài mới được sáng tác gần đây, về một chú bé mút ngón tay cái rồi rút ra một quả mận, và bà vừa bắt đầu bài balad dài dằng dặc về một chàng trai nông thôn không hiểu vì sao lại bị người yêu đầu độc bằng món lươn đốm, thì Silas đi từ cửa bên nhà thờ ra, mang theo một cál hộp các tông. "Đây, bà Owens," anh nói. “Cả đống thứ cần cho một chú bé đang lớn nhé. Chúng ta có thể để nó dưới hầm mộ, được đấy chứ?" Cái khóa móc bật mở trong tay Silas và anh đẩy cánh cửa sắt ra. Bà Owens bước vào trong, nghi ngại liếc nhìn những cái giá và những chiếc ghế gỗ dài cũ kỹ xếp đống dựa vào một bức tường. Ở góc nhà thờ có một đám hộp mốc meo chất đầy sổ sách cũ của giáo xứ, và ở góc khác, một cánh cửa mở ra cho thấy một bồn cầu giật nước thời Victoria, một cái chậu rửa chỉ có độc vòi nước lạnh. Đứa bé mở mắt nhìn quanh. "Chúng ta có thể cất thức ăn ở đây” Silas nói. "Dưới này mát, thức ăn sẽ để được lâu hơn” Anh thò tay vào trong hộp lôi ra một quả chuối. "Cái gì vậy?" bà Owens hỏi, liếc nhìn cái vật màu vàng đốm nâu vẻ nghi ngờ. "Đây là quả chuối. Một thứ quả miền nhiệt đới. Tôi nghĩ để ăn thì phải bóc vỏ ra," Silas nói, "như thế này này." Thằng bé - Không Ai Cả - cựa quậy trong tay bà Owens, vậy là bà đặt nó xuống sàn nhà lát đá. Nó lẫm chẫm bước nhanh đến bên Silas, túm ống quần anh và giữ chặt lấy. Silas đưa cho nó quả chuối. Bà Owens ngắm thằng bé ăn chuối. "Ch-u-ối," bà nói vẻ hồ nghi. "Chưa nghe bao giờ. Chưa bao giờ. Mùi vị của nó ra sao?" "Tôi có biết gì đâu” Silas đáp, anh chỉ dùng một thứ thức ăn duy nhất, và thứ ấy không phải là chuối. "Bà biết không, bà có thể dọn cho thằng bé một cái giường ở đây được đấy” "Tôi sẽ không làm thế trong khi ông Owens và tôi có một ngôi mộ nhỏ xinh ở ngay bên luống thủy tiên vàng. Ở đấy có khối chỗ cho thằng bé. Hơn nữa” bà nói thêm, sợ Silas sẽ nghĩ là bà đang từ chối lòng hiếu khách của anh, "tôi không muốn thằng bé làm phiền anh” "Có phiền gì đâu” Đứa bé đã ăn xong quả chuối. Những gì nó không ăn thì giờ nhoe nhoét khắp cả người. Nó toét miệng cười, má dính đầy chuối, ửng hồng như hai quả táo. "Chúi” nó vui sướng kêu lên. "Thằng bé mới tinh khôn làm sao” bà Owens nói. "Và bôi bẩn ra khắp nơi rồi! Nào, yên nào, thằng nhóc hay cựa quậy này..." và bà nhặt hết những mẩu chuối dính trên quần áo, tóc tai nó. Bà hỏi, "Anh nghĩ họ quyết định thế nào?" "Tôi không biết." "Tôi không thể bỏ nó được. Nhất là sau khi tôi đã hứa với mẹ nó." "Tuy đã từng làm rất nhiều việc trong đời," Silas nói, "nhưng tôi chưa bao giờ làm mẹ cả. Và tôi cũng không định bắt đầu làm mẹ vào lúc này đâu. Nhưng tôi có thể rời khỏi nơi này..” Bà Owens nói đơn giản, "Tôi thì không. Thân xác của tôi nằm ở đây. Cả ông nhà tôi cũng vậy. Tôi chẳng bao giờ rời đi đâu cả." "Có một nơi nào đó mà ta thuộc về kể cũng tốt" Silas nói. "Một nơi ta có thể gọi là nhà." Trong lời nói của anh không có vẻ khao khát. Giọng anh còn khô hơn cả sa mạc, và anh thốt ra những lời ấy như thể chỉ là đang nói lên một điều không thể tranh cãi. Và bà Owens cũng không tranh cãi. "Anh nghĩ chúng ta còn phải đợi lâu nữa không?" "Không lâu nữa đâu," Silas nói, nhưng anh đã nhầm. Ở giảng đường bên sườn đồi, cuộc tranh cãi vẫn tiếp tục. Việc hai vợ chồng nhà Owens, chứ không phải một con ma mới càn quấy nông nổi nào đó, lại vướng vào chuyện vớ vẩn này khiến mọi người rất chú ý, vì nhà Owens là những người đáng kính và được tôn trọng. Việc Silas tình nguyện làm người bảo trợ cho thằng bé cũng có một ảnh hưởng lớn - người dân trong nghĩa địa luôn có một nỗi kính sợ thận trọng đối với Silas, người có thể tồn tại ở vùng ranh giới giữa thế giới của họ và cái thế giới họ đã để lại phía sau. Thế nhưng, thế nhưng... Một khu nghĩa địa thường không theo chế độ dân chủ, nhưng cái chết lại là một nền dân chủ vĩ đại, và mỗi người chết đều có tiếng nói cùng ý kiến của riêng mình về việc đứa bé còn sống kia có được phép ở lại đây không, và đêm đó thì ai ai cũng muốn được phát biểu. Vào tiết thu muộn, trời thường lâu sáng. Dù trời vẫn còn tối, nhưng giờ đã có tiếng xe cộ đi từ dưới đồi lên, và khi người sống bắt đầu lái xe đi làm trong buổi bình minh tối đen mờ sương, thì những người chết lại bàn bạc về đứa bé đã lạc đến chỗ họ và họ nên làm gì với nó. Ba trăm giọng nói. Ba trăm ý kiến. Nehemiah Trot, thi sĩ, đến từ phía Tây Bắc đổ nát của nghĩa địa, bắt đầu hùng hồn trình bày suy nghĩ của mình, nhưng không ai có thể nói được những suy nghĩ ấy là gì vì một việc đã xảy ra; một việc khiến cho mọi cái miệng đang hùng hồn lên tiếng phải câm lặng, một việc chưa từng xảy ra trong lịch sử khu nghĩa địa này. Một con ngựa trắng khổng lồ, loại mà những người sành ngựa thường gọi là "ngựa xám” đi nước kiệu lên sườn đồi. Trước khi nhìn thấy, người ta đã nghe thấy tiếng vó nện cùng những tiếng rầm rầm khi con ngựa xông qua các bụi rậm nhỏ, xuyên qua đám mâm xôi, trường xuân và kim tước mọc trên sườn đồi. Nó to bằng một con ngựa thồ, ít nhất phải cao mười chín gang tay. Đó là con ngựa có thể chở trên lưng một hiệp sĩ giáp trụ đầy đủ xông vào giữa trận chiến, nhưng trên cái lưng không đóng yên của nó chỉ là một người phụ nữ mặc đồ xám từ đầu đến chân. Chiếc váy dài và khăn choàng của bà nom như được dệt bằng tơ cổ. Bà có gương mặt hế

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Vùng Trời
Hảo ra bến xe vừa kịp chuyến đầu tiên chạy Hải Phòng. Hai hàng ghế trên đã có người ngồi chật. Thấy cô gái ló đầu ở cửa sổ, một anh đeo kính nhỏm dậy, muốn nói gì. Có lẽ anh định nhường chỗ. Nhưng Hảo đã chạy vội về phía sau. Cô lên xe đặt chiếc túi du lịch vào gầm ghế, rồi vui vẻ ngồi xuống một chỗ còn trống Đệm xe ngồi khá êm ái. Có lẽ không phải là chiếc xe đã đưa Hảo từ Hải Phòng ra đây một tuần trước. Nhưng rồi Hảo nhận ra chiếc bọc đệm bằng ni lông màu đỏ và nhất là cái cửa kính vỡ được thay bằng một tấm tôn sơn xanh, vẫn chính là nó. Sao hôm nay nhìn nó lại có vẻ sang trọng, cô gái tự hỏi mình. Một buổi sáng đầu mùa thu trong trẻo và yên tĩnh. Những dãy nhà của thị xã nhỏ ở miền biển này còn ngái ngủ. Một vài cánh cửa vừa hé ra đã vội khép lại. Hàng cây bên đường được sương đêm rửa đi lớp bụi hồng của những chiếc xe hơi chạy suốt ngày, bám trên những chùm lá. Mặt trời không biết còn chìm dưới biển hay khuất ở chân mây màu xám đục giống như tấm kính mờ. Gió sớm lành lạnh từ sông Bạch Đằng thổi về từng đợt. Cô gái vẫn còn cảm thấy ngây ngất với mỗi làn gió ở đây. Nó mang theo mùi hương ngan ngát, vị đậm đà và hơi thở mãnh liệt của biển. Nó không chịu đi qua mà không để lại dấu vết. Nó làm xanh thêm màu xanh của lá, xám thêm màu xám của con đường nhựa, sẫm thêm màu rêu trên những mái nhà... Và nhất là nó để lại dấu vết ở những con người. Đó là cái chất men rạo rực, kích thích làm cho người ta cảm thấy cơ thể mình cũng căng lên như một cánh buồm lộng gió. Cô bạn ở phòng phân tích mẫu vật ban nãy tỏ ra băn khoăn vì không tiễn được Hảo ra xe. Sáng nay, Loan phải lên ty họp sớm. Kể ra nó và cả cái phòng của nó đã thừa chu đáo đối với mình. Sự chu đáo đó làm cho Hảo phải ân hận khi nhớ lại những lần bạn về Hà Nội đến thăm mình. Hảo vừa tốt nghiệp khoa sinh vật tại trường Đại học Tổng hợp và đang ở thời kỳ chờ đợi sắp xếp công tác. Cô xuống Quảng Yên chơi với một người bạn học cũ và cũng là để thăm hỏi tình hình. Hảo đã nhận thấy không khí làm việc khá dễ chịu. Cô bạn ra trường trước Hảo một năm, ngày hai buổi ngồi ở phòng phân tích, trông ra dáng một nhà nghiên cứu. Không có những khó khăn và thay đổi lớn so với lúc ở trường. Mọi người hay nhắc tới những chuyến đi biển. Đó là những chuyến đi tới những hòn đảo mang những cái tên tuyệt đẹp: Minh Châu, Cô Tô, Ngọc Vừng... Nghe anh chị em kể chuyện các đảo, Hảo phát ghen lên với những người đã được đặt chân tới đó. Chỉ mới ở có ít ngày, Hảo đã thấy rất mê sông biển và phong cảnh vùng này. Những khu rừng xanh mướt quanh năm. Những cây thông thơm ngát có những chùm lá vươn lên cao như những bàn tay đẹp của cô gái múa. Những con sông cuồn cuộn đổ ra biển, đem phù sa từ đất liền tạo thêm bờ bãi mới. Cô gái đã ngồi hàng giờ nhìn những cây sú hoang dại đứng dầm chân trên bùn đỏ và những con cáy, con còng chạy ngang, chạy dọc say sưa nghĩ đến công việc mình sẽ làm sau này. Một chân trời xán lạn, xanh rờn sóng nước đang mở ra trước mắt. Trong khi mọi người kể cho Hảo nghe về cái hay của biển và đảo, có những người đã để lộ ra một điều: đó là sự ngại ngùng đối với sóng gió. Họ đã coi những chuyến đi biển như vậy là không thể tránh được vì nghề nghiệp của mình. Chính cái thái độ ấy đã kích thích Hảo. Mình sẽ không sợ những khó khăn, không tìm cách né tránh nó, không coi nó là cái gì mà mình chịu đựng. Mình sẽ không ở trong buồng kính như cái Loan và các bạn cùng phòng nó đâu. Mình sẽ xin đi... Tốt nhất là về một trong những đoàn điều tra mà Hảo nghe nói đang được tổ chức. Ở phòng thí nghiệm cũng hay nhưng ít nhất, trước khi vào phòng thí nghiệm, mình phải đi đã. Mình sẽ tự tìm đến với những khó khăn. Và chính ý nghĩ ấy đã đem niềm vui cho Hảo sớm nay khi cô gái lên đường trở về. Anh thanh niên đeo kính ngồi ở hàng ghế phía trước quay lại bà có bồ na ngồi bên Hảo, hỏi mua ít quả đã mở mắt. Bà bán na đang chọn, thì một anh mặc quần áo xanh công nhân nói chen vào: - Mua na mở mắt của bà ấy để bà ấy bóp mắt cho à? Hảo quay lại nhìn anh áo xanh, lo câu nói của anh dẫn đến chỗ to tiếng. Nhưng bà bán na có bộ mặt ngắn ngủn và cái lưng rất dài, không hề tỏ vẻ tức giận. - Chú em đừng nói càn. Ngoan rồi chị làm mối cho cô khí tượng ở Hà Nội mới về ở ngay nhà chị, đẹp như huê. - Người Hà Nội mà về cái đất nhà bà ngày mấy lần gánh nước leo dốc sỏi thì cũng mất "phom" Hà Nội đi rồi. Nhiều tiếng cười, trong đó nổi bật lên những tiếng hơ hơ hơ hơ... của anh chàng đội mũ cát, mặc áo sơ mi trứng sáo. Anh bắt đầu gom chuyện bằng giọng nói hiền lành: - Tôi sợ nhất đi xe đạp ở thị xã này. Đường chẳng có ma nào. Mình một bên đường, cô ấy một bên đường. Thế mà trông thấy mình là cô ấy lao sang đâm thẳng vào mình, quẹo cả ghi đông. Từ khi Hảo bước lên xe, nhiều người bỗng nhiên hoạt bát hẳn lên. Mấy anh thanh niên đều như muốn giới thiệu mình là người Hà Nội hoặc Hải Phòng. Hảo không khó chịu chút nào, cô cười theo họ rất hồn nhiên. Xe bắt đầu chuyển bánh. Những chùm lá tre lòa xòa hai bên đường cọ vào mấy chiếc xe đạp xếp trên mui. Những tiếng lạo xạo khô ráp như tiếng thóc đổ vào bổ. Anh áo xanh công nhân đã ngồi vào vị trí của mình ở cuối xe với cặp vé trong tay. Anh là người phụ lái. Những câu chuyện ngổ ngộ vẫn không dứt. Chốc chốc lại rộ lên những chuỗi cười trong đó vẫn bay lên những tiếng hơ hơ hơ hơ... của cái anh chàng chắc là tính nết phổi bò. Bác lái xe già sùm sụp chiếc mũ cát-két trên đầu, mặt mũi cau có. Bác đưa mắt nhìn vào gương phía trước xem anh chàng vô duyên đang nói là ai. Chỉ có một cô gái mà cánh thanh niên này đã bốc đồng cả lên. Đường ra sông Rừng vắng vẻ mà bác bỗng ấn những hồi còi. *** Nhà văn Hữu Mai, tên thật là Trần Hữu Mai (1926 – 2007), được sinh ra ở Thanh Hóa trong một gia đình viên chức nhỏ. Là nhà văn mặc áo lính, các sáng tác của Hữu Mai luôn viết về đề tài lực lượng vũ trang, chiến tranh cách mạng. Khoảng 60 năm cầm bút, Hữu Mai để lại hơn 60 đầu sách đã xuất bản, trong đó hầu hết viết về đề tài lực lượng vũ trang và chiến tranh cách mạng. Sinh ra trong giai đoạn chiến tranh, Hữu Mai trước hết là một chiến sĩ, chiến đấu vì độc lập, tự do, thống nhất đất nước. Là chiến sĩ cầm bút, các trang văn của Hữu Mai đã ghi lại một thời đại lịch sử của dân tộc. Viết tiểu thuyết lịch sử, hồi ký, kịch bản phim, hay về nhân vật có thật trong lịch sử nhưng ngòi bút của ông không dừng lại ở việc phản ánh, ghi chép, kể lại. Tác phẩm của ông vừa có sức hấp dẫn của văn chương, vừa nói lên cái cao hơn sự thật khắc nghiệt, ấy là con người, dân tộc trong chiến tranh. Tiểu thuyết "Vùng trời" (ba tập) là bộ tiểu thuyết dày dặn nhất, công phu nhất về đề tài bộ đội không quân trong chiến tranh phá hoại của nhà văn Hữu Mai. Mời các bạn đón đọc Vùng Trời của tác giả Hữu Mai.
Cầu Sương, Điếm Cỏ
Thiên truyện Cầu Sương Điếm Cỏ dưới đây của Lưu Trọng Lư, viết từ trên 70 năm trước, đọc lại vẫn nghe như chuyện mới đây, kể về tình cảnh những người nghèo, khi mưa lũ chà đi sát lại suốt một dải đất miền Trung. Nhân giới thiệu truyện này, xin lưu ý rằng trước 1945, Lưu Trọng Lư đã viết ra in ra trên 30 cuốn truyện, tức là gấp hàng chục lần số lượng trang thơ ông đã viết. Tôi đoan chắc những tác phẩm ấy không hề non kém, chỉ có điều chúng xuất hiện ở thời mà bên cạnh Lưu Trọng Lư lại có khá nhiều những tài năng nổi bật hơn, cỡ như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, v.v… Nhưng điều đáng nói hơn lại là sự tắc trách của nền nghiên cứu và nền xuất bản của ta. Đối với tên tuổi Lưu Trọng Lư, mọi quan tâm của chúng ta chỉ dừng lại ở sáng tác thơ, thậm chí chỉ dừng lại ở một bài Tiếng Thu!  Chính sự lười nhác, tắc tránh của các giới nghiên cứu và xuất bản đã khiến nhiều tác phẩm bị rơi vào quên lãng một cách oan uổng. Trong di sản văn chương người Việt trước 1945, tôi tin còn có khá nhiều tác phẩm khá nhưng lại bị quên lãng, như thiên truyện này của Lưu Trọng Lư. LẠI NGUYÊN ÂN *** Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000. Lưu Trọng Lư (19/6/1912 – 10/8/1991) là một nhà thơ, nhà văn, nhà soạn kịch Việt Nam, quê làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất thân nho học. Ông học đến năm thứ ba tại trường Quốc học Huế thì ra Hà Nội làm văn, làm báo để kiếm sống. Ông là một trong những nhà thơ khởi xướng Phong trào Thơ mới và rất tích cực diễn thuyết bênh vực “Thơ mới” đả kích các nhà thơ “cũ”. Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hoá cứu quốc ở Huế. Trong kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động tuyên truyền, văn nghệ ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV. Sau năm 1954, ông tiếp tục hoạt động văn học, nghệ thuật: hội viên Hội nhà văn Việt Nam từ năm 1957, đã từng làm Tổng thư ký Hội nghệ sỹ sân khấu Việt Nam. Ông mất tại Hà Nội. Con trai thứ chín của ông, Lưu Trọng Ninh cũng là một đạo diễn phim khá nổi tiếng của Việt Nam. Ông đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học nghệ thuật năm 2000. Mời các bạn đón đọc Cầu Sương, Điếm Cỏ của tác giả Lưu Trọng Lư.
Nội Tình Của Ngoại Tình
Nội tình của ngoại tình không hẳn là một quyển sách chỉ nói về sự phản bội trong tình cảm. Một mối quan hệ bất chính dạy chúng ta rất nhiều thứ về hôn nhân - những gì chúng ta kỳ vọng, những gì chúng ta mong muốn, những gì chúng cảm thấy mình xứng đáng phải có. Các mối quan hệ bất chính đưa ra một khung cửa độc nhất để nhìn vào thái độ cá nhân lẫn thái độ văn hóa mà chúng ta có về tình yêu, dục vọng và cam kết tình cảm. Thông qua việc xem xét và đánh giá tình yêu vụng trộm dưới nhiều góc độ khác nhau, tôi mong các bạn độc giả cùng tham gia khám phá về các mối quan hệ hiện đại trong rất nhiều biến thể khác nhau của nó với sự chân thành, sáng suốt và cả tranh cãi. Ngày nay một cuộc đối thoại về các mối quan hệ bất chính dễ mang tính chia cắt, phán xét, và có lối suy nghĩ thiển cận. Xét dưới góc một nền văn hóa, chúng ta chưa khi nào cởi mở về tình dục hơn ngày nay, nhưng sự bội bạc vẫn còn chìm khuất đằng sau một đám mây của sự hổ thẹn và giấu giếm. Tôi hy vọng quyển sách này sẽ giúp xua đi sự im lặng ấy và mở ra một lối suy nghĩ và diễn đạt mới mẻ cho một trong những điều xưa cổ nhất trong cuộc sống của con người. Rất nhiều người đã viết ra cách ngăn ngừa và chữa lành sau khi sự đã xảy ra; nhưng ít ai viết về ý nghĩa và động cơ của các mối quan hệ bất chính. Càng ít hơn nữa những người nói về những điều mà chúng ta có thể học được từ các mối quan hệ và làm thế nào để kiến thức ấy có thể biến đổi và hoàn thiện các mối quan hệ của chúng ta. Trong quá trình hành nghề tâm lý trị liệu của mình, suốt sáu năm qua tôi vẫn luôn tập trung vào những cặp đang giải quyết việc bị phản bội. Thông qua họ, tôi đã đo lường những tầng sâu của chủ đề này. Vì đã gặp mặt họ khi đi cùng với nhau hoặc khi đi một mình, tôi đã thu được một cái nhìn khác lạ về trải nghiệm của người lầm lạc, chứ không chỉ niềm đau của người bị phản bội. Các mối quan hệ ngoài luồng thì luôn bí mật, và quyển sách này chứa nhiều bí mật. - Esther Perel *** 1 Nếu bạn có chút hứng thú về tâm lý học thì bạn sẽ thấy những điều mà tác giả cực kỳ sâu sắc và đáng suy ngẫm. Cuốn sách khá khó đọc nhưng rất thú vị, mình cảm thấy nó hay hơn các cuốn sách “Học Yêu” khác. Tác giả không nói bạn phải làm gì để tránh ngoại tình hay có được tình yêu đáng mơ ước. Nhưng cuốn sách sẽ bóc lớp từng sự thật của hành động ngoại tình và những tác động của nó đến mối quan hệ. 2 Đây là cuốn sách thứ 2 của cô Esther Perel sau cuốn đầu nổi tiếng là hẹn hò giữa cùm gông.Cuốn trước cô chỉ có 1 chương dành cho ngoại tình.Nhưng sang cuốn này cô dành cả cuốn viết cho ngoại tình.Ngoại tình thường được xã hội đòi tẩy chay là vi phạm đạo đức hay thậm chí đôi khi nó cũng phải chịu chế tài của luật.Nhưng chúng ta nên có cái nhìn bao quát hơn về thực trạng này qua tình trạng kết hôn suốt mấy nghìn năm nay.Đôi khi ngoại tình chứa những câu chuyện ba vòng,bốn khúc mà khi nào chúng ta thực sự có cái nhìn khách quan chúng ta mới thấu hiểu được “Nội tình của ngoại tình” – tác phẩm “best-seller” của tác giả Esther Perel sẽ cho chị em cái nhìn khách quan và tích cực hơn về những chuyện ngoài luồng trong đời sống tình cảm. Câu trả là lời là: HOÀN TOÀN CÓ THỂ Điều tưởng chừng có vẻ phi thực tế này lại trở nên vô cùng thuyết phục dưới ngòi bút và những phân tích của Chuyên gia tâm lý Esther Perel – Tác giả cuốn sách “NỘI TÌNH CỦA NGOẠI TÌNH”. Thông thường, chúng ta đánh giá, mổ xẻ chuyện ngoại tình bằng những cảm xúc mang tính cá nhân. Sự thật này vô tình tạo ra một quan điểm phiến diện nhưng luôn được ủng hộ, rằng: “Người đi ngoại tình” và “người thứ 3” luôn là những nhân vật “đáng tội chết”. Trong khi đó, “người bị phản bội” luôn là nạn nhân đáng thương. Nhưng trong cuốn sách “NỘI TÌNH CỦA NGOẠI TÌNH”, tác giả Esther Perel lại chỉ ra rằng: Không có ai là “kẻ hoàn toàn có tội” và cũng không có ai là “kẻ hoàn toàn vô tội” trong một mối quan hệ tay ba. Nói cách khác, mọi chuyện xảy ra trong một mối quan hệ tình cảm đều có ngọn nguồn từ tất cả những đối tượng có liên kết trong mối quan hệ đó. Bằng những phân tích dựa trên cơ sở khoa học – tâm lý từ góc nhìn của: Người đi ngoại tình, Người thứ 3, và Người bị phản bội, Esther Perel đã thuyết phục người đọc từ bỏ những quan điểm cũ rích và phiến diện về vấn đề ngoại tình, để họ có cái nhìn đúng đắn, và tích cực hơn. Từ đó, biến “ngoại tình” trở thành đòn bẩy hoặc chất xúc tác giúp hâm nóng đời sống tình cảm đang nguội lạnh. Esther Perel viết: “Khi điều trị cho những cặp đôi gặp tổn thương vì ngoại tình, tôi thường cùng lúc quan tâm hai vấn đề: hậu quả của ngoại tình và ý nghĩa của ngoại tình. Nếu hậu quả là điều các cặp đôi luôn quan tâm khi chuyện ngoại tình xảy ra, thì ý nghĩa của việc ngoại tình lại là điều luôn bị lãng quên. Bạn biết đấy, chẳng điều gì trên đời này là vô nghĩa cả. Ngoại tình cũng vậy. Việc quá tập trung vào hậu quả chính là nguyên nhân chủ yếu khiến các cặp đôi tan vỡ, thay vì hàn gắn. Trong tâm lý học, có một hiệu ứng mang tên “hiệu ứng đèn đường”: Một người say rượu đánh rơi chiếc chìa khóa trong đêm. Anh ta không tìm cái chìa ở nơi đã đánh rơi, mà lại tìm ở nơi có ánh đèn. Con người có xu hướng tìm kiếm điều mình muốn ở những nơi dễ tìm thấy, hơn là ở những nơi có thể thực sự tìm thấy. Theo cách lý giải này, khi chuyện ngoại tình xảy ra, những người trong cuộc chỉ tập trung “tấn công” vào bề mặt mối quan hệ bằng sự tranh cãi và phủ nhận trách nhiệm, thay vì tìm hiểu về lỗ hỏng ẩn sâu bên trong nó. Đổ lỗi cho một cuộc hôn nhân thất bại luôn dễ dàng hơn là phải vật lộn, đối mặt với những tham vọng/khát khao/nỗi chán nản của bản thân hoặc của đối phương – đây mới chính là nguyên nhân sâu xa, hàm chứa ý nghĩa và cách xử lý khủng hoảng hậu ngoại tình.” Không chỉ phân tích hậu quả – ý nghĩa của việc ngoại tình, tác giả Esther Perel còn chỉ ra một thực tế rằng: Ở nước các nước phát triển, các cặp đôi hoặc các cặp vợ chồng có thể tìm đến dịch vụ Tham vấn Tâm lý cho Cặp đôi (Couple Therapy) như một sự trợ giúp trong lúc mối quan hệ của họ gặp sóng gió. Nhưng điều này hầu như còn chưa phổ biến ở các nước đang phát triển. Hiểu được điều này qua nhiều năm tham vấn/trị liệu đa quốc gia, tác giả Esther Perel cũng chỉ ra một vài “cách sơ cứu cảm xúc” và đối mặt với chuyện ngoại tình cho Người ngoại tình, và Người bị phản bội. “Nhiều người khi biết mình bị phản bội đã rất nôn nóng muốn biết tường tận vụ ngoại tình, không để sót một chi tiết nào. Họ liên tục hỏi đối phương những câu như: “Cô ta có gì hơn tôi?, Anh đã ngủ với cô ta bao nhiêu lần?, Anh có làm chuyên đó trên giường của chúng ta không?, Cô ta có hét lên khi lên đỉnh không? Những câu hỏi này chỉ khiến bạn tự khắc thêm sẹo vào vết thương lòng của mình. Điều đó là không cần thiết. Đúng là bạn cần biết họ có quan hệ tình dục an toàn hay không vì điều đó ảnh hưởng tới sức khỏe của chính bạn. Nhưng có lẽ bạn không cần biết cô nhân tình đó có tóc màu gì, có bơm ngực hoặc phẫu thuật thẩm mỹ hay không. Vậy nên, lời khuyên của tôi chính là hãy chỉ quan tâm và hỏi những điều liên quan tới bạn và đối phương, thay vì tập trung tâm trí vào chuyện của đối phương và nhân tình.” Đành rằng, ngoại tình là việc không ai mong muốn, và không phải cặp đôi nào cũng có thể phục hồi sau một cuộc ngoại tình. Nhưng ít nhất, những kiến thức về tâm lý trong “NỘI TÌNH CỦA NGOẠI TÌNH” cũng xứng đáng để các cặp đôi tham khảo và đón đọc. Bởi chẳng ai có thể nói trước rằng tương lai mình sẽ không ngoại tình, không bị phản bội, hoặc không trở thành “một người thứ 3”. *** Sẽ mất rất nhiều thời gian để có thể giải thích được mối liên hệ mật thiết giữa những mâu thuẫn trong bản chất con người - điêu khiến cho chính tình yêu đôi khi phải mang dáng hình khốn đốn của sự phản bội. Có lẽ sẽ chẳng có một lời giải thích nào khả dĩ. - Trích Some Reminicences1, Joseph Conrad 1. Tạm dịch: Đôi ba hồi ức, bài luận xuất bản năm 1912. (Tất cả các chú thích trong cuốn sách đều là của người dịch). Ngay lúc bạn đang đọc cuốn sách này, ở mọi nơi trên thế giới, có ai đó đang bị phản bội hoặc đang phản bội tình cảm của ai đó, có ai đó đang nghĩ đến chuyện ngoại tình hoặc đang khuyên nhủ ai đó đang vật vã đau khổ vì bị phản bội, có ai đó đang đóng vai người tình bí mật. Không có chủ đề nào trong đời sống đôi lứa lại khiến người ta vừa sợ hãi vừa thích thú vừa khoái bàn tán bằng chuyện ngoại tình. Ngoại tình hình thành từ khi có hôn nhân và những điều luật cấm ngoại tình. Ngoại tình đã bị đưa vào luật pháp, bị tranh biện, bị chính trị hóa và bị xem như quỷ dữ trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại. Ngoại tình chính là tội lỗi duy nhất nhận đến hai điều răn trong Kinh Thánh, một cấm ngăn trong hành động và một cấm ngăn trong suy nghĩ. Ấy vậy mà bất chấp sự phản đối rộng khắp đó, ngoại tình vẫn cứ “sống khỏe”, vẫn cứ phổ biến tràn lan đến mức hôn nhân phải ghen tị. Ngoại tình xảy ra mọi lúc, mọi nơi trên thế giới, bất chấp bao luật lệ, hình phạt. Hầu như ở tất cả những nơi hôn nhân được thừa nhận thì ngoại tình bị xem là hành động bất chính. Vậy chúng ta nên làm gì với hiện tượng bị cấm khắp toàn cầu nhưng vẫn cứ phổ biến khắp toàn cầu này? Tôi đã liên tục nghiên cứu, tư vấn, diễn thuyết, thảo luận,... về ngoại tình suốt sáu năm qua, không chỉ trong phòng tư vấn trị liệu của tôi mà trên cả máy bay, tại các dạ tiệc, hội thảo, tiệm làm móng, không chỉ với các đồng nghiệp mà còn với bất kỳ ai, không chỉ ngoài đời thực mà cả trên mạng xã hội, không chỉ tại Pittsburgh (Mỹ) mà còn ở Buenos Aires (Argentina), Delhi (Ấn Độ), Paris (Pháp).... Ở mọi nơi trên thế giới, mỗi khi hỏi mọi người quan điểm của họ về “ngoại tình”, tôi nhận được đủ kiểu trả lời, từ cay đắng kết tội, miễn cưỡng chấp nhận, bao dung một cách cẩn trọng đến hoàn toàn cảm thông. Tại Bulgary, một nhóm phụ nữ xem chuyện chồng trăng hoa là chuyện xui xẻo chẳng thể nào tránh khỏi. Ở Paris, chủ đề ngoại tình khiến nhiều người đang ăn tối tức khắc rùng mình, điều này giúp tôi có thể xác định được bao nhiêu người ủng hộ ngoại tình và bao nhiêu người phản đối. Tại Mexico, phụ nữ tự hào khi thấy ngày càng nhiều phụ nữ ngoại tình, và coi đó như một sự nổi loạn chống lại nền văn hóa trọng nam khinh nữ vốn vĩnh viễn tạo điều kiện cho nam giới có “hai mái nhà” - la casa grande y la casa chica (tạm dịch: nhà lớn và nhà nhỏ, tiếng Tây Ban Nha) - một dành cho vợ, một dành cho bổ nhí. Chuyện ngoại tình nhan nhản khắp nơi, thế nhưng cách chúng ta định nghĩa ngoại tình, chịu đựng nó, nói về nó - hoàn toàn liên quan đến thời điểm và nơi chốn xảy ra chuyện ngoại tình. Xin hỏi bạn: “Khi nghĩ đến ngoại tình, những từ ngữ, những liên tưởng và hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu bạn là gì?”. Cái nhìn của bạn về ngoại tình liệu có thay đổi không khi tôi gọi ngoại tình là “cuộc phiêu lưu tình ái”, “chuyện tình lãng mạn”? Còn nếu tôi dùng những từ như “bổ nhí”, “người quen qua đường”, “hẹn hò”, “bạn tình” thì sao? Bạn sẽ thấu hiểu, cảm thông hay kịch liệt phản đối chuyện ngoại tình? Bạn sẽ cảm thông với ai, người bị phụ bạc, người ngoại tình, người thứ ba hay lũ trẻ? Và liệu các câu trả lời của bạn về ngoại tình có thay đổi không nếu chính bạn phải đối diện với cơn bão ngoại tình? Các cáo buộc về các mối quan hệ ngoài giá thú đã ăn sâu vào văn hóa của chúng ta. Tại Mỹ, những quan điểm về ngoại tình dường như thiên về bản năng, nặng nề và phân cực, ví dụ: “Ngoại tình à? Nó sẽ làm đi tong tất cả.” “Kẻ nào đã ngoại tình một lần thì thế nào cũng ngoại tình lần nữa.” “Chung thủy một vợ một chồng thì đúng là quý hiếm.” “Ngoại tình là chuyện hoàn toàn vó vấn! Chúng ta là người trưởng thành rồi chứ có phải lũ mèo động đực đâu. Làm ơn trưởng thành dùm!” Chúng ta không thể ngăn cản nạn ngoại tình dù có thể đều đồng tình rằng chuyện ấy hoàn toàn không nên làm. Khi biết đến những vụ ngoại tình đình đám, công chúng thường kêu gào “thủ phạm” phải xin lỗi công khai. Người nào ngoại tình, bất kể đang ở địa vị xã hội nào, cũng đều cho thấy sự ái kỷ, sự hai lòng, sự vô đạo đức và gian trá. Theo quan điểm này thì ngoại tình không bao giờ là một hành vi phạm pháp đơn giản, một mối quan hệ thoáng qua vô nghĩa hay là một tình yêu đích thực. Những tranh cãi hiện nay về ngoại tình có thể tóm tắt như sau: Ngoại tình hẳn là triệu chứng của một mối quan hệ thất bại, nếu ta đã có tất cả mọi thứ mình cần ngay tại nhà thì không có lý do gì để ra ngoài tìm “món lạ”. Đàn ông ngoại tình vì chán ngán và sợ gần gũi vợ, đàn bà ngoại tình vì cô đơn và khát khao gần gũi ai đó. Người bạn đời chung thủy là người trưởng thành, có cam kết và thực tế; người sa ngã là kẻ ích kỷ, kém trưởng thành và thiếu kiểm soát bản thân. Mọi quan hệ bất chính đều nguy hại, không bao giờ mang lại ích lợi gì cho hôn nhân, và cũng không bao giờ được người ta chấp nhận. Mời các bạn đón đọc Nội Tình Của Ngoại Tình của tác giả Esther Perel.
Người Tuyết
“Vô cùng phức tạp và cực kì giải trí.” - The New York Times Book Review “Một tập trinh thám siêu hạng – thông minh, phong cách, tính toán tỉ mỉ và giữ nhịp hài hòa.” – Newsday “Nếu bạn còn chưa biết Jo Nesbø là ai, giờ đã đến lúc rồi.” - USA Today Với Người Tuyết, Jo Nesbø không dừng lại ở việc vạch ra một bản đồ tội ác hoàn hảo, mà còn đặt ra một hành trình cá nhân đầy thách thức cho nhân vật được ưu ái nhất của ông: Harry Hole. Giữa những sáng-tối, thiện-ác đối lập xuyên suốt quyển sách, khi thanh tra Hole lần theo những dấu chân trên tuyết để tìm kẻ thủ ác cũng chính là lần theo quá khứ và những mảnh vỡ của chính bản thân mình. TÓM TẮT: Năm 1980, một người phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi cô và tình nhân ân ái với nhau, họ cảm giác như ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi. Hai mươi bốn năm sau, thanh tra Harry Hole phải lần theo dấu vết của một kẻ sát nhân hàng loạt với những thủ đoạn anh chưa từng gặp. Khả năng suy luận nhạy bén, sự cứng đầu cộng với những kĩ năng học được từ khóa nghiệp vụ FBI thúc đẩy Harry tìm ra kết nối giữa các vụ án, anh nhận ra hai điểm chung: tất cả nạn nhân đều là những phụ nữ đã có gia đình và ở mỗi hiện trường vụ án đều có một người tuyết. *** JO NESBØ là nhà văn Na Uy, nhạc sĩ và cựu chuyên gia kinh tế. Tác phẩm của ông đã được dịch sang hơn 50 ngôn ngữ, bán 45 triệu bản. NESBØ chủ yếu được biết đến qua xê ri tiểu thuyết tội phạm về thanh tra Harry Hole, nhưng ông cũng là ca sĩ chính và nhà soạn nhạc cho ban nhạc rock Di Derre của Na Uy. Là một người thích vận động, JO NESBØ còn có sở thích leo núi. Các tác phẩm khác của JO NESBØ đã được Nhã Nam xuất bản: Chim Cổ Đỏ - Jo Nesbo Người Con Trai - Jo Nesbo Kẻ Báo Thù - Jo Nesbo Người tuyết Ngôi Sao Của Quỷ *** [Review Sách] “Người Tuyết”: Tuyết Rơi Lạnh Lẽo Hay Lòng Người Giá Băng? Năm 1980, một phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi đang yêu nhau, họ cảm giác có ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi... Những tinh thể tuyết rơi, trắng xóa. Những con đường phủ màu trắng toát bởi lớp tuyết dày, trơn trượt. Những căn nhà đóng kín cửa mờ ảo trong cơn bão tuyết ùa về, rét buốt. Vậy mà nào ai ngờ được rằng, đó chính là điểm khởi đầu của một chuỗi án mạng gây rúng động toàn Na Uy với kẻ sát nhân máu lạnh mang tên Người Tuyết. Kẻ thủ ác là ai? Động cơ nào khiến hắn ta gây án một cách liên tục xuyên suốt hơn hai chục năm? Tại sao trong ngần ấy năm không một ai nhận ra sợi dây xích móc nối giữa các vụ án mạng xảy ra rải rác vào mỗi mùa tuyết rơi? Tất cả chỉ được Jo Nesbø hé mở dần dần thông qua hơn 500 trang sách của Người Tuyết. Và với cuốn sách này, bạn chắc chắn sẽ phải giật thột cho tới trang sách cuối cùng. Được coi là cuốn trinh thám hay và thành công nhất của tác giả Jo Nesbø, cũng như rất nhiều các trang truyện trinh thám khác, Người Tuyết tái hiện lại hành trình phá án của vị thanh tra tài ba mang tên Harry Hole thông qua cả quá trình dài suy luận và lần theo từng dấu vết. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại tại đó, Người Tuyết sẽ còn gây ấn tượng và để lại dư vị nơi người đọc bằng cách tác giả hé mở bức màn đen tối nơi góc khuất con người. Khi ấy, cuốn sách sẽ như tia sáng le lói giữa làn tuyết lạnh dày đặc, bóc tách từng tầng lớp của sự thật bị ẩn giấu để đưa độc giả tới tận cùng của chuyến hành trình tìm ra công lý. “Càng nhiều tuổi, tôi càng nghiêng về quan điểm cái ác dù thế nào đi nữa vẫn cứ là cái ác, bất kể anh có mất trí hay không. Phàm là con người, hầu như ai cũng có thể bị cái ác chi phối, nhưng không thể lấy lý do đó ra để biện minh cho hành động của mình. Thực sự mà nói, những bệnh rối loạn nhân cách đang ẩn náu trong mỗi chúng ta, và chính những việc ta làm sẽ nói lên mức độ nặng nhẹ của bệnh. Ai chẳng biết trước pháp luật mọi người đều bình đẳng, nhưng điều đó nào có nghĩa lý gì khi mà trong cuộc sống vốn dĩ không tồn tại sự bình đẳng. Vào thời Cái chết Đen hoành hành, thủy thủ chỉ cần ho vài tiếng là lập tức bị ném xuống biển. Cũng phải thôi, vì công lý là con dao cùn, xét theo cả khía cạnh triết học lẫn khía cạnh pháp luật. Những gì chúng ta có chỉ là viễn cảnh bệnh tình tươi sáng hay đen tối mà thôi, các bạn thân mến ạ.” Người Tuyết và hành trình 24 năm một tội ác âm ỉ Như một mạch máu lặng lẽ chảy sâu bên trong các tế bào, Người Tuyết là dòng chảy của một chuỗi án mạng kéo dài 24 năm với tổng cộng 6 người chết với các khoảng thời gian và tại các khoảng không gian khác nhau. Xuyên suốt hơn hai mươi năm, chẳng ai nhận ra sự tương đồng giữa các vụ án ấy cho tới khi thanh tra Harry Hole, người được gửi một bức thư nặc danh có bóng hình Người Tuyết, vào cuộc.  Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài thì có lẽ khó ai nghĩ rằng toàn bộ cuốn sách dày tới hơn 500 trang này chỉ diễn ra vỏn vẹn trong hơn hai mươi ngày. Hai mươi hai ngày với hai điểm nhìn lại quá khứ nơi mọi sự bắt đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 và hiện tại, tháng Mười hai năm 2004. Lật giở từng trang của Người Tuyết, người đọc như đang được chứng kiến một bộ phim trinh thám xen lẫn hành động và kinh dị xuất sắc được đạo diễn bởi một người nghệ sĩ tài ba.  500 trang sách với tổng cộng 5 phần và 38 chương này sẽ là một hành trình theo vòng tròn khép kín nơi độc giả sẽ xuất phát tại điểm khởi đầu và sau một hành trình dài lại quay về lại chính điểm đó. Cái hay của Người Tuyết là ở chỗ nghệ thuật ngắt cảnh của tác giả Jo Nesbø. Tương tự như một bộ phim với các cảnh quay luân phiên một cách linh hoạt giữa vai chính diện và phản diện thì ở Người Tuyết, bạn đọc sẽ được trải nghiệm cảm giác sự thật như gần ngay trước mắt và tưởng rằng chỉ cần vươn tay là ta có thể chạm tới ngưỡng cửa của sự thật thì đột nhiên PHỤT..., ánh đèn sân khấu chợt tắt và nhường sàn diễn cho các cảnh quay khác.  Mình thực sự ấn tượng bởi cách ngắt cảnh của Jo Nesbø vì nó không những không khiến độc giả cụt hứng mà trái ngược lại còn thôi thúc người ta phải lật giở từng trang sách nhanh hơn nữa, đọc truyện và theo dõi câu chuyện với một nhịp điệu hồi hộp và dồn dập hơn nữa.  Khởi đầu bằng một mớ bòng bong và rời rạc Với cách chuyển cảnh và đan xen thời gian mà Jo Nesbø sử dụng trong Người Tuyết thì có lẽ phần đầu tiên của cuốn sách sẽ gây không ít bối rối cho độc giả.  Là phần mở màn của câu chuyện nhưng phần một lại là phần có dòng thời gian và tuyến nhân vật phức tạp nhất. Từ điểm khởi đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 nơi vụ án đầu tiên với người phụ nữ đầu tiên mất mạng, độc giả sẽ trở về với đất nước Na Uy thực tại với bối cảnh năm 2004, đến với sở cảnh sát nơi thanh tra Harry Hole quay trở lại làm việc sau chuỗi ngày chìm đắm trong bia rượu và lụy tình. Nhưng Jo Nesbø chẳng để độc giả có thời gian suy ngẫm và làm quen với bối cảnh, ngay lập tức ông đưa độc giả về 12 năm sau thời điểm bắt đầu, nơi những scandal và sự mất tích bắt đầu. Cột totem, điện thoại di động, số liệu ẩn, vực thẳm,... một chuỗi sự kiện và nhân vật rời rạc. Thế nhưng quả thực là sai lầm nếu như chỉ vì thế mà bạn gấp lại Người Tuyết tại đây.  Tên sát nhân và quá tam ba bận mừng hụt  Với Người Tuyết, Jo Nesbø chỉ thực sự làm khó độc giả ở phần đầu tiên vì với các phần còn lại ông tập trung vào quá trình điều tra tên tội phạm. Và bạn hãy yên tâm rằng từ phần hai trở đi dòng thời gian sẽ quay về đúng trật tự. Tuy nhiên, đây lại có thể coi như phần kinh dị nhất vì là đoạn tập trung nhiều thi thể và là nơi lật tẩy mánh khóe nhiều nhất.  Có hơn nửa số vụ án xảy ra với xác chết được tìm thấy khi hình hài không còn vẹn nguyên và sừng sững một nhân chứng duy nhất - một Người Tuyết -  gần hiện trường. Người Tuyết có máu, có thi thể thậm chí chỉ tìm thấy phần đầu, có hung khí gây án hoặc nằm lại hiện trường hoặc biến mất không dấu vết vào hư không. Nhưng còn hay hơn nữa khi ở Người Tuyết còn xuất hiện cả những đoạn đối thoại và hình dung giữa nạn nhân và hung thủ. Sẽ có lúc bạn cảm tưởng như bạn đang đứng nói chuyện trực tiếp với kẻ sát nhân. Cảm giác bị rình rập, thâu tóm, cảm giác có bóng đen phía sau đang rón rén bước tới gần bạn, cảm giác một giọng nói không rõ thực hay mơ đang vọng vào tai bạn,... Chắc chắn Người Tuyết sẽ khiến bạn phải nín thở.  Có thể nói đây là cuốn trinh thám mang tới cho mình nhiều “cú lừa” nhất trong số các cuốn sách cùng thể loại mình từng đọc vì có tới ba lần bạn tưởng chừng như đã tìm ra hung thủ. Các tình tiết, sự kiện và dấu vết trùng khớp tới mức dù bạn có tự mình suy luận hay lựa chọn dõi theo hành trình vị thám tử truy tìm kẻ thủ ác thì rất có thể bạn vẫn sẽ bị lừa.  Lần thứ nhất, tất cả chứng cứ và dòng suy luận đổ dồn vào một gã bác sĩ mang tên Idar Vetlesen. Khi ấy, kể cả tên sát nhân vẫn còn ẩn giấu cũng như tác giả Jo Nesbø, người đứng đằng sau tất cả đã thực sự thành công khi dẫn dắt được Harry Hole đi vào lối cụt đầu tiên của mê cung. Và lẽ dĩ nhiên, như một trò chơi tàu lượn siêu tốc, độc giả cũng bị cuốn theo guồng quay của câu chuyện mà không mảy may nghi ngờ.  Lần thứ hai, sự việc trở nên rối rắm và phức tạp hơn bởi đối tượng tình nghi có sự liên quan hết sức mật thiết và tương đồng với các nạn nhân, một tên chủ tòa soạn mang tên Arve Støp. Lối đi thứ hai này thuyết phục người đọc hơn ở chỗ tác giả đã lồng ghép các yếu tố tâm lý và sự đan xen giữa kí ức và thực tại. Tại đó, thay vì cuốn vào guồng quay của suy luận và chứng cứ thì độc giả lại được tiếp cận với những bức màn bí mật được ẩn giấu, nơi quá khứ của con người và những bí mật chưa hề (và có lẽ sẽ chẳng bao giờ) được bật mí. Thế nhưng, một lần nữa chúng ta lại bị tác giả xoay mòng mòng.  Lần thứ ba, khi cả độc giả và nhân vật chính đều trải qua hai lần mừng hụt vì tưởng như đã thâu tóm được kẻ thủ ác thì với các chứng cứ thu được kết hợp với kẽ hở từ hai lần trước, chúng ta đã có đối tượng lọt vào tầm ngắm mang tên Người Tuyết. Và đó không ai khác chính là nữ thanh tra Katrine Bratt, người cùng đội điều tra với thanh tra Harry Hole và bấy lâu vẫn luôn theo sát quá trình tìm ra kẻ thủ ác.  Đúng là con người thường vô tình phơi bày lời nói dối của chính mình thông qua những biểu hiện bề ngoài; thế nhưng đừng bao giờ hy vọng lật tẩy được một kẻ thấu cáy lão luyện trừ phi anh ta giữ được cái đầu lạnh và tính toán thật kỹ để sàng lọc ra tất cả những biểu hiện đó của từng người chơi.  Thế nhưng, tất cả mới chỉ như ba mảnh ghép còn thiếu của tấm bản đồ. Và thứ thực sự ẩn giấu đằng sau, để tìm ra kẻ sát nhân thực sự, chúng ta cần phải xâu chuỗi lại sự việc và nhìn nhận bức tranh ở góc nhìn tổng thể. Có lẽ chúng ta sẽ phải đồng tình thừa nhận rằng cả tên sát nhân và Jo Nesbø đều thực sự vô cùng tài tình với câu chuyện lần này. Có tới ba lần người ta phải bị thuyết phục và sau ba lần mừng hụt ấy, khi chân tướng cuối cùng lộ diện thì các chuỗi sự kiện, manh mối và câu chuyện vẫn trùng khớp nhau tới lạ lùng. Ba lần chúng ta bị đánh lạc hướng và đi chệch khỏi quỹ đạo nhưng sau cùng thì đường ray vẫn về lại tuyến đường chính, trơn tru và hết sức khéo léo, như chưa hề có chuyện gì xảy ra.  Dòng chảy của góc khuất con người Nếu ví Người Tuyết như một dòng sông thì có lẽ dòng chảy của nó sẽ là sự hòa lẫn của nhiều nguồn nước khác nhau, trong có và đục cũng có, hạ nguồn đổ về mà thượng nguồn cũng góp phần chảy vào.  Tại sao mình lại ví như vậy? Bởi lẽ nếu bỏ qua mạch truyện chính và các yếu tố trinh thám thì Người Tuyết như tập hợp của một loạt những góc khuất trong cuộc đời của mỗi người.  Với kẻ thủ ác, lẽ dĩ nhiên, những bí mật và tổn thương tâm hồn luôn đóng một vai trò lớn tác động tới hành động và nhận thức của hắn. Sẽ có lúc thay vì thù hằn, biết đâu bạn sẽ thương cảm cho hắn. Bạn kinh hoàng và hãi hùng tột độ về cách hắn nhớ lại hành vi tội lỗi của mình, nhưng khi bạn chứng kiến lý do ẩn giấu đằng sau, có khi bạn lại thương hại nhiều hơn.  Với thanh tra Harry Hole, thứ ám ảnh và giết chết tâm hồn anh hơn cả là tình yêu. Có thể nói, các yếu tố hồi tưởng và suy ngẫm về tình cảm của Harry Hole như một điểm sáng xoa dịu tâm hồn người đọc giữa bối cảnh đầy tàn bạo và chết chóc, mặc dù câu chuyện tình ấy, dẫu vấn vương và mãnh liệt thật đấy nhưng lại chẳng phải đẹp đẽ và màu hường như người ta vẫn tưởng.  “Vậy nguồn cơn nỗi bất hạnh của anh là gì hả Harry?” Câu trả lời thốt ra khi anh còn chưa kịp nghĩ kỹ. “Yêu một người yêu tôi.” Katrine bật cười. “Tội chưa. Thuở mới vào đời anh cũng ngây thơ yêu đời phơi phới nhưng sau này vỡ mộng à? Hay là ngay từ đầu anh đã thế rồi?” Harry đăm đăm nhìn chất lỏng màu nâu vàng trong ly của mình. “Đôi lúc tôi cũng tự hỏi như vậy. Nhưng không thường xuyên lắm. Tôi cố gắng nghĩ đến những điều khác.” Đối với các nhân vật khác cũng vậy, họ tưởng như những con người xa lạ, vì dòng đời xô đẩy mà câu chuyện và bí mật của họ giao nhau. Để sau cùng nếu gạt bỏ màu sắc đỏ thẫm của máu thì ai cũng là những con người đa cảm và thật đáng thương. Xã hội hào nhoáng và mặt trái của lương tâm Phía sau những câu chuyện kia, phía sau bóng đêm của tội ác và góc khuất của lương tâm, dưới góc nhìn tổng thể, Người Tuyết còn phản ánh một bức màn hào nhoáng của xã hội Na Uy lúc bấy giờ.  Một xã hội có tới “hơn 20 phần trăm đứa trẻ không phải con ruột của cha nó”, những gia đình mà cả vợ và chồng đều ngoài mặt hòa thuận nhưng sâu trong thâm tâm, mỗi người đều có những thù hằn, ghét bỏ và ham muốn vụ lợi ở đối phương. Một hệ thống nhà cầm quyền sẵn sàng kiếm tìm và biến một thanh tra tài năng thành một con tốt thí mạng để che mắt giới báo chí và dư luận vì hành vi của mình. Một thế giới hào nhoáng nơi báo chí và màn ảnh dần dần thâu tóm và dẫn dắt dư luận một cách quá đỗi dễ dàng.  Với Người Tuyết, người ta có thể thấy những cánh “diều hâu” săn tin khi trời rạng và đêm về thì rầu rĩ với guồng quay của deadline và công việc, người ta được nhập tâm vào một tên MC để trải cái cảm giác thâu tóm công chúng, người ta lụi dần trong nỗi khổ sở vì danh tiếng đã mất… Hơn cả một tiểu thuyết gia, Jo Nesbø thuyết phục người đọc bởi nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật mang chiều sâu tới lạ lùng. Cùng một cuốn sách nhưng độc giả được chứng kiến từ tên nhà báo cho tới vị thanh tra, từ chủ tòa soạn cho tới suy nghĩ vẩn vơ của một cậu bé lên 10. Tất cả đều được miêu tả rất chân thực và rất chậm. Mạch văn chậm như trêu ngươi nỗi lo sợ của kẻ ác khi bệnh tật diễn biến ngày càng nhanh, chậm để người đọc kịp ngẫm nhưng vẫn khiến người ta phải quay cuồng vì chính cái mớ hỗn loạn do tên tội phạm, hay nói đúng hơn là Jo Nesbø gây ra. Idar Vetlesen đã phải vật lộn với thứ ma quỷ gì? Anh ta mang theo chúng đến đây, hay căn phòng này là nơi trú ẩn, là thiên đường bình yên? Có lẽ anh đã tìm ra cho mình một vài câu trả lời, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Không bao giờ là đủ. Chẳng hạn như sự điên rồ và cái các có phải hai phạm trù khác nhau, hay cứ khi nào không hiểu nổi mục đích của việc giết chóc thì ta mặc nhiên quy kết nó là điên rồ. Ta có thể hiểu lý do một người muốn ném bom nguyên tử xuống thành phố toàn những người dân vô tội, nhưng lại không hiểu vì sao kẻ khác muốn phanh thây những gái điếm reo rắc bệnh dịch và sự suy đồi trong những khu ổ chuột ở London. Bởi vậy ta mới gọi trường hợp thứ nhất là chủ nghĩa hiện thực còn trường hợp thứ hai là sự điên rồ. Thay lời kết Người Tuyết, thực chất, không phải một cuốn sách khó đọc nhưng cũng không nằm trong thể loại bạn có thể nuốt trọn từng chi tiết. Có quá nhiều thứ để người ta phải ngẫm thay vì chỉ đơn giản nhìn vào hay mong đợi về một câu chuyện trinh thám giật gân. Nếu ngoài trời đang có tuyết thì lời khuyên cho bạn là hãy đóng thật kín cửa lại, bởi chỉ mình Người Tuyết là quá đủ rồi. Tuyết rơi lạnh lẽo hay lòng người giá băng, câu hỏi này có lẽ bạn sẽ phải tự mình giải đáp. Người Tuyết của Jo Nesbø không phải là một cuốn sách để bạn có thể đọc ngấu nghiến trong ngày một ngày hai nhưng nếu bạn đọc và nhập tâm được cùng nhân vật thì xin chúc mừng bạn, thế giới này vốn không như bạn tưởng và chuyến hành trình lột bỏ lớp vỏ bọc hào nhoáng kia, từ giờ phút này, chính thức bắt đầu… “Không lâu nữa tuyết đầu mùa sẽ đến. Và lúc ấy hắn sẽ lại hiện ra. Người tuyết. Khi tuyết tan là lúc hắn bắt đi một kẻ khác. Hãy tự hỏi bản thân điều này: “Ai đã tạo ra người tuyết? Ai đã đắp nên những người tuyết? Ai đã sinh ra Murri?” Bởi điều ấy người tuyết nào có hay.” Tác giả: Annie - Bookademy Mời các bạn đón đọc Người Tuyết của tác giả Jo Nesbo & Matryoshka (dịch).