Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Lẵng Quả Thông - K. G. Paustovsky

Paustovsky ra đời ngày 31 tháng 5 năm 1892 trong một ngõ hẻm thành Mátxcơva. Dòng họ ông gốc kazak1 miền Zaporozhe, sau mới chuyển tới cư ngụ ở vùng ven sông Roshi gần tỉnh lỵ Belaya Serkov. Cha ông làm nhân viên thống kê ngành đường sắt. Ông nội là một cựu chiến binh kadak dưới thời Nga hoàng Nikolaev.   Cụ thân sinh ra Paustovsky là người mơ mộng và là người ở không yên chỗ. Sau thời gian tòng sự tại Mátxcơva, ông đổi đi Vino, rồi Pskov, sau cùng mới đậu lại Kiev. Mẹ Paustovsky lớn lên trong một gia đình tư chức ở một nhà máy đường. Tính khắc khổ, bà nắm mọi quyền hành trong nhà. Gia đình Paustovsky đông người, đủ tính đủ nết, nhưng hết thẩy đều yêu nghệ thuật. Cậu bé Paustovsky lớn lên trong tiếng đàn dương cầm, những giọng ca, những cuộc cãi vã nghệ thuật và những rạp hát.   Cậu bé bắt đầu cuộc đời học trò ở trường trung học số 1 thành phố Kiev. Khi cậu học tới lớp 6 thì gia đình khánh kiệt, cậu phải tự nuôi thân bằng một nghề bất đắc dĩ không xứng với tuổi học trò là nghề “gia sư”.   Đó là tóm tắt mấy dòng về con người về sau này trở thành nhà văn. Tôi chép lại tiểu sử ông ở đây theo thói thường phải viết tiểu sử nhà văn mà mình giới thiệu, chứ tôi biết tiểu sử chẳng giải thích được bao nhiêu vì sao Paustovsky chọn nghề văn chứ không phải nghề nào khác.   Truyện ngắn đầu tiên của Paustovsky được in khi Paustovsky còn là học sinh năm chót của trường trung học. Nó xuất hiện trong tạp chí “Những Ngọn Lửa”, là tạp chí văn học duy nhất của Kiev hồi bấy giờ, vào khoảng năm 1911. Sau khi tốt nghiệp trung học, Paustovsky thi vào đại học Tổng hợp Kiev. Hai năm sau, Paustovsky chuyển qua một trường đại học khác ở Mátxcơva và ở hẳn thành phố này từ đấy.   Chiến tranh Thế giới lần thứ Nhất bùng nổ. Paustovsky làm nghề bán vé xe điện, rồi lái xe điện, rồi y tá trong các đoàn tàu quân y con thoi chạy đi chạy lại giữa hậu phương và tiền tuyến. Mùa thu năm 1915 ông bỏ công việc dân sự để đi theo một đơn vị quân y dã chiến và làm một chuyến đi dài suốt từ thành phố Lublin (Ba Lan) đến tỉnh lỵ Nesvizh ở Belorussya. Trên đường, tình cờ nhặt được một mẩu báo, ông mới biết hai anh ông đã tử trận trong cùng một ngày trên hai mặt trận khác nhau. Paustovsky vội vã trở về với mẹ. Bà cụ lúc đó đang ở Mátxcơva.   Nhưng Paustovsky không thể ngồi lâu một chỗ. Bệnh xê dịch giày vò ông và ông lại lên đường, tiếp tục cuộc sống nay đây mai đó. Ông đi Ekaterinoslav để làm việc trong nhà máy luyện kim của công ty Briansky. Rồi bỏ đấy mà đi Yuzovka, từ đó đến Taranrog, làm trong các nhà máy. Ở Taranrog, Paustovsky khởi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình – “Những Kẻ Lãng Mạn”. Mùa thu năm 1916, Paustovsky lại một lần nữa bỏ Taranrog để đến nhận công tác tại Công ty liên hiệp hải sản Azovskoye.   Cách mạng Tháng Hai bùng nổ khi Paustovsky đang ở Mátxcơva. Lúc đó ông đã bước vào nghề báo. Ông viết: “Sự hình thành con người và nhà văn trong tôi bắt đầu từ những năm ấy, nó xảy ra dưới chính quyền Xô-viết và quyết định toàn bộ cuộc đời tôi từ đấy về sau”.   Sau thời gian ở Mátxcơva, ông lại quay về với mẹ, bà cụ lúc ấy đã sống ở Ukraina. Từ Kiev, nơi ông chỉ cư ngụ một thời gian ngắn, Paustovsky đi Ôđessa. Ở thành phố cửa biển này ông được sống trong môi trường các nhà văn trẻ và tài năng: Ilf, Bagritzky, Babel, Shenghel, Lev Slavin… Nhưng rồi ông lại giã từ những người bạn tuyệt vời của mình để trở về để tiếp tục cuộc hành trình vô định. Ông đi Sukhum, Batum, Tifflis. Từ Tifflis, Paustovsky đến Armenya, rồi lang bạt sang tận Ba Tư.   Năm 1923, Paustovsky trở về Mátxcơva trong một chuyến dừng chân, xin làm biên tập viên cho một tờ báo. Cũng từ đó tên tuổi của ông bắt đầu trở thành quen thuộc với độc giả qua những tác phẩm nối tiếp nhau ra đời.   Cuốn sách đầu tiên được Paustovsky coi là tác phẩm thực sự của ông là tuyển tập truyện ngắn “Những Con Tàu Đi Ngược Chiều Nhau”.   Mùa hè năm 1932 Paustovsky bắt đầu cuốn “Kara-Bugaz” và một số truyện ngắn khác mà về sau này ông đã kể lại khá tỉ mỉ trong “Bông Hồng Vàng”.   Sau khi “Kara-Bugaz” ra đời, Paustovsky xin ra ngoài biên chế, tức là thôi không làm cho nhà nước và ăn lương nhà nước nữa, để chuyên viết văn, “cái công việc duy nhất, choán hết mọi việc khác, có lúc thực cay cực, nhưng là cái bao giờ tôi cũng yêu mến”. Ở chế độ Xã hội Chủ nghĩa, việc xin ra ngoài biên chế để sống tự do được coi như một việc làm không bình thường, một hành động rồ dại, hoặc một hành động dũng cảm, tuỳ theo cách nhìn của mỗi người.   Trong cuộc sống tự do khỏi công việc nhà nước Paustovsky còn đi nhiều hơn nữa. Dấu chân ông in khắp mọi miền đất nước Xô-viết, từ bán đảo Konsky đến những sa mạc vùng Trung Á, từ các thành phố băng tuyết ở Cực Bắc đến những bờ biển ấm áp vùng Krưm tới những miền rừng rậm rạp của Sibir. Ngoài ra, ông còn đến Tiệp Khắc, đi tàu biển vòng quanh châu Âu, qua các thành phố Istanbul, Athena, Napoli, Roma, Paris, Rotterdam, Stockholm…   Trong Đại chiến Thế giới lần thứ Hai, ông làm phóng viên chiến tranh của Mặt trận phía Nam và ở đó ông cũng đi rất nhiều. Đời ông, từ lúc còn nhỏ cho đến năm 1921, được ghi lại khá đầy đủ trong các cuốn truyện mang tính hồi ký “Những Năm Xa Xôi”, “Tuổi Trẻ Không Yên”, “Sự Bắt Đầu Của Thế Kỷ Ta Chưa Biết”.   Paustovsky nói rằng nhà văn cần phải biết tạo ra tiểu sử cho mình. Tức là, ông muốn nói, nhà văn cần phải chủ động ném mình vào trong những xoáy lốc của cuộc đời, để được sống nhiều, sống thật trong nó, tự mình tạo ra nguồn nguyên liệu dồi dào cho công việc viết văn sau này. Ông nhìn những nhà văn cạo giấy, những viên chức văn chương bằng cái nhìn khinh bỉ.   Ông không chỉ viết nhiều, mà còn viết hay. Hiếm có nhà văn nào ở nước Nga được in toàn tập trong khi còn sống.2   Paustovsky là nhà văn không biết hài lòng về mình. Ông luôn nói rằng những gì ông đã viết chỉ là bước đầu, chứ toàn bộ công việc thực sự thì bao giờ cũng vậy, còn ở phía trước. *** Tập truyện ngắn Lẵng Quả Thông này gồm có: Âm nhạc verdi Chiếc nhẫn bằng thép Người đầu bếp già Chuyến xe đêm Bình minh mưa Bụi quý Hạt cát Tuyết Lẵng quả thông Cầu vồng trắng Cây tường vi *** Có một cái gì đó thật là đẹp đẽ trong sự giao tiếp của những con người dũng cảm trong phút hiểm nguy, trong cơn hoạn nạn. Trên boong tàu bọc thép của chiếc tuần dương hạm, đoàn kịch từ Matxcơva tới trình diễn vở Traviata ở ngoài trời. Những bác lái đò râu bạc tụ lại ở bến thuyền lát gỗ trên những chiếc xuồng cũ kỹ rao lên, giọng khàn khàn thúc giục:   - Ai muốn lên tàu đây? Ai muốn nghe nhạc nào? Chúng tôi sẽ đứng sát mạn tàu cho tới khi diễn xong nhé! Không chòng chành gì hết – xin cam đoan! Thế này mà chòng chành à, bà con! Những chiếc xuồng va vào nhau lủng củng gật gù hối hả chào bờ biển – sóng nhẹ đung đưa chúng. Những con ngựa thồ già yếu thường có cái lối gật đầu lia lịa như vậy.   Trên vũng biển trời lặng gió, sương chiều tỏa mờ. Những ngọn đèn tín hiệu đung đưa nhịp nhàng trên nước cạnh những mỏm đá bên bờ. Đêm mùa thu đến rất chậm. Mỗi bước đi nó lại dừng lại và mãi không sao dồn hết được những tia nắng cuối cùng của buổi chiều tà ra khỏi vũng biển sâu. Nhưng khi ánh sáng trên tuần dương hạm vừa lóe lên, bóng tối ồn ào đã ập xuống ngay. Nó chứa đầy âm thanh của mặt nước xáo động: tiếng sóng vỗ, tiếng nước róc rách, réo sôi. Người ta bắt đầu nghe thấy cái tất bật của hải cảng: tiếng mái chèo vội vã, tiếng máy nổ, tiếng gọi xa xa của những người lái tàu, tiếng còi rú giận dữ, tiếng sóng vỗ lớp lớp chạy trên mặt biển về khắp các ngả. Những âm thanh ấy từ bờ bến đổ về phía tuần dương hạm, nơi tiếng sáo phagốt bất ngờ vang lên trong dàn nhạc. Những chiếc canô cũng phóng ngay tới đó, bóng cờ hiệu đằng đuôi phấp phới trong nước. Tachiana Xônxeva được phân công đóng vai Viôleta. Cô đang hóa trang trong phòng của hạm trưởng, nơi các chiến sĩ thợ điện hải quân đỏ đã mắc những bóng đèn một trăm nến. Cô cài lên ngực bông hoa sơn trà và thoa phấn lên khuôn mặt gầy sút đi. Biểu diễn lúc này thật khó khăn – cô để lại ở Matxcơva một chú em bé bỏng bị ốm nặng. Chú đang nằm viện chờ một ca mổ. Xônxeva đang lo lắng nên không thấy gì cả: mặc thành phố xôn xao tiếng lá khô và gió thổi, mặc vô vàn đốm lửa như đàn ong vàng, vo ve lượn đi lượn lại trên vũng tàu, mặc cái không khí kỳ lạ tỏa khắp đường phố, mùi đá ẩm ướt và mùi cỏ đắng.   Cuộc phẫu thuật ấn định tiến hành sáng hôm nay, nhưng đến giờ phút này vẫn chưa có điện báo từ Matxcơva tới.   Xônxeva bước ra boong tàu hai bên chăng vải bạt. Những chiếc cần viôlôngxen gác trên tháp pháo màu gio. Âm nhạc Verđi rung lên trong sự yên tĩnh của con tàu bọc thép. Hàng trăm thủy thủ trẻ nín thở lắng nghe tiếng hát buồn thảm của Viôleta. Tiếng nhạc vang xa đến các bờ biển lân cận.   Những chiếc xuồng nhấp nhô bên mạn tàu. Người xem ngẩng đầu nhìn lên boong. Những bác lái thuyền cố gắng không làm mái chèo phát ra tiếng động và khi thuyền va vào nhau, họ chỉ lặng lẽ giơ nắm đấm lên, thay cho những trận đấu khẩu thường ngày.   Người trợ lý đạo diễn đứng đằng sau tháp súng như ở sau cánh gà có vẻ lo lắng. Trong túi anh ta có bức điện gửi cho Xônxeva. Anh cũng không biết nên bóc ra xem hay cứ để vậy đưa cho Xônxeva sau buổi diễn. Anh thì thầm trao đổi với người quản lý nhà hát.   Ông này giằng bức điện khỏi tay anh và bóc ra: - Không có gì đặc biệt, - ông ta vừa nhai nhai cái tẩu vừa nói, - cuộc phẫu thuật phải đình lại vì bệnh nhân mệt nặng. Giờ nghỉ anh có thể nói với cô ấy.   Người trợ lý đạo diễn nhăn nét mặt rồi gật đầu. Anh thợ lò Vaxia Tsukhốp mang cái biệt hiệu như mọi anh thợ đốt lò khác là “đồ quỷ sứ” được giao việc kéo chiếc màn làm bằng những cờ hiệu khâu lại. Vaxia nhỏ bé, chắc nịch, mặt đỏ gay vì gắng sức, không rời mắt nhìn người trợ lý đạo diễn. Cái anh chàng nhanh nhẩu nôn nóng này phải giơ tay ra hiệu cho Vaxia khi cần kéo màn.   Vaxia đã nghe hết câu chuyện ở bên tháp pháo. Nụ cười rạng rỡ từ từ tắt trên môi anh. Sang màn hai Xônxeva bước ra sân khấu rất luống cuống. Cô vừa đọc bức điện lúc giải lao. Cô thấy choáng váng chóng mặt. Khi Anfrết quỳ phục dưới chân cô, cô cúi xuống hôn vào thái dương non trẻ của anh. Một đường ven xanh mảnh nổi lên chỗ thái dương giống hệt như ở đứa em cô.   Xônxeva nuốt ực không khí rồi khóc. Nước mắt trào ra, nhưng cô vẫn hát. Giọng cô run run. Cô nhìn thấy những đốm sáng mờ ướt át và không nhận ra đó là ánh đèn sân khấu, ánh sao dưới nước, hay gương mặt xanh xao của các chiến sĩ hải quân. Lúc đó Vaxia Tsukhốp hạ màn, bất chấp tiếng kêu giận dữ ở phía sau tháp pháo. Anh đã không nghe lời. Mặt anh đanh lại. Đáp lại tiếng thì thào phẫn nộ của người trợ lý đạo diễn, anh trả lời hằn học và cộc lốc: - Anh sẽ phải tiếp chuyện vị chỉ huy con tàu đấy, tôi sẽ báo cáo mọi việc với đồng chí ấy. Boong tàu vang lên tiếng vỗ tay. Những khán giả chất phác cho vở kịch dừng lại là hoàn toàn hợp lý, sau cái cảnh căng thẳng đầy đau khổ như lúc Viôleta đầm đìa nước mắt. Không ai biết là vở kịch bị “đồ quỷ sứ” cắt ngang lúc mới bắt đầu.   Tsukhốp lại gần vị chỉ huy con tàu ngồi ở hàng đầu và báo cáo với ông về sự việc xảy ra. Chỉ huy trưởng đứng dậy. Đó là một người tóc bạc, ít nói. Trong đời mình, ông đã nhiều lần nhìn thấy cái chết trong những trận chiến cách mạng, nhiều phong ba và sự hy sinh của bao đồng đội. Ông đã từng biết sự tàn khốc trong chiến đấu, sự nghiêm ngặt của mệnh lệnh. Ông cô đơn. Tất cả những gì ông có trước cách mạng đều đã tan biến trong màn sương ảm đạm - cả xóm thợ mỏ Đô-nhét, cái trường làng bẩn thỉu, cả những con người của thời ấy mà chỉ để lại cái ấn tượng của một đám đông hoang mang mệt mỏi. Cách mạng đã xóa bỏ quá khứ bằng bàn tay cứng rắn, gieo vào ý thức sự giản dị và rõ ràng. Ông trung thành với cách mạng như một người lính, một thợ mỏ và một người có trí tuệ trong sáng và chính xác. Vị chỉ huy đứng dậy đi lên sân khấu. Boong tàu vẫn vang dậy tiếng gót giày và vỗ tay của các thủy thủ. Ở hậu trường, người phụ trách nhà hát, mặt tái đi vì tức giận, đón chỉ huy trưởng.   - Xin đồng chí yên tâm, - ông ta nói vội vã, - chúng tôi sẽ thu xếp ổn thỏa ngay bây giờ. Chuyện vớ vẩn, sự yếu đuối thường tình của phụ nữ đó thôi. Cô ấy sẽ hát.   - Cô ấy sẽ không hát nữa, - chỉ huy trưởng khoan thai nói. – Các đồng chí cho ngừng buổi diễn lại! Người phụ trách nhà hát nhún vai, cười khẩy: - Không thể được. Nhà hát chúng tôi làm việc theo kiểu tiên tiến, không thể vì tâm trạng diễn viên mà đình vở diễn được. Hơn nữa, có gì cần phải nói? Cô ấy đã trấn tĩnh và hoàn toàn có thể diễn tiếp.   Vị chỉ huy quay sang Xônxeva. Cô không nhìn ông, gật đầu.   - Đồng chí thấy là cô ấy đồng ý đấy, - người phụ trách nhà hát nói và vứt mẩu thuốc xuống boong tàu.   Câu chuyện này bắt đầu làm ông khó chịu. Vừa khó xử, vừa xấu hổ. Vị chỉ huy thoáng nhìn mẩu thuốc, và Vaxia Tsukhốp tức khắc gạt khẽ nó xuống biển.   - Các đồng chí đang ở trên hạm đội của hải quân đỏ. - Chỉ huy trưởng nói, bên má có vết sẹo của ông khẽ giật giật. – Xin lỗi đồng chí, nhưng ở đây tôi là người thừa hành quyền lực nên tôi cho phép mình can thiệp vào việc quản lý của đồng chí. Về công việc theo kiểu tiên tiến đồng chí quan niệm hoàn toàn sai lầm. Sự đồng ý của diễn viên không có ý nghĩa. Tôi ra lệnh hoãn buổi diễn này lại. Thế thôi. Không bàn cãi gì nữa.   Vị chỉ huy giơ tay và Vaxia Tsukhốp kéo màn. Khán giả im bặt.   - Các chiến sĩ hải quân đỏ! - Vị chỉ huy điềm đạm nói, - nữ diễn viên Xônxeva có chuyện không may trong gia đình, khó mà diễn tiếp được…   Tiếng xì xào truyền lan trong hàng thủy thủ. Mọi người đứng cả dậy. Vị chỉ huy không kịp nói vở kịch hoãn lại đến một ngày tốt đẹp hơn. Điều đó thì không cần lời giải thích của chỉ huy các chiến sĩ cũng hiểu.   - Cho ca nô lại gần tàu! - Chỉ huy khẽ ra lệnh.   - Rõ, cho ca nô lại gần tàu! Ca nô lại gần tàu! - Mệnh lệnh được truyền dần cho đến khi tắt ở boong dưới. Mấy phút sau vị chỉ huy cùng Xônxeva xuống thang tàu. Anh thượng sĩ cao lớn vạm vỡ trân trọng đặt lên cạnh chỗ Xônxeva ngồi một bó hoa, mặt đỏ lựng và khẽ hô lên:   - Hết tốc lực, tiến!   Ca nô đẩy lùi về phía sau thác nước đầy ánh lửa và bọt trắng, phóng về bến tàu. Vị chỉ huy ngồi trên ca nô nói:   - Tôi đã liên lạc với tư lệnh hạm đội. Cô được dành một chỗ trong chuyến tàu tốc hành đi Matxcơva. Chưa muộn đâu. Còn bốn mươi phút nữa.   Xônxeva cúi đầu. Cô lần lần những bông hoa mà không nói lên lời.   - Thưa đồng chí chỉ huy, - anh thượng sĩ cao lớn nói khẽ nhưng đủ cho Xônxeva nghe thấy, - báo chí viết là ở Matxcơva có một giáo sư mổ tim dễ như mổ gà ấy. Giá mà được ông ta…   - Im đi, Kuzmenkô! - Vị chỉ huy nói. Khoảng một giờ sau tàu tốc hành nhả khói ầm ầm lao ra khỏi đoạn đường hầm cuối cùng. Ánh lửa thành phố và bến tàu lùi lại sau những mỏm đá dựng đứng     * * *   Xônxeva ngồi trong phòng toa xe, không bỏ áo rét và khăn quàng. Cô loáng thoáng nhớ lại ánh đèn nhà ga, tuyết trên các nóc toa chở hàng, Maxcơva chìm trong bóng đêm cực đới, chiếc xe tắcxi cọc cạch, ánh sáng trắng đục trong hành lang bệnh viện.   Cô cũng nhớ loáng thoáng khuôn mặt của cậu em mỉm cười với cô trên giường bệnh.   - Mọi sự đã hoàn tất trót lọt. - Vị giáo sư có bộ râu nhọn dữ tướng nói với Xônxeva. – Trót lọt hiếm có đấy.   Xônxeva khẽ hôn lên thái dương non trẻ ươn ướt của em, nơi có một đường ven xanh mảnh nổi lên lờ mờ.   Và mấy giờ sau lại là đêm, nhà ga, người khuân vác mặt rỗ khó nhọc mới lấy hộ được chiếc vé, tiếng cầu sắt rầm rầm, tuyết, hoàng hôn u ám trên thảo nguyên ngoại thành Kharcôp và cuối cùng là màn sương lam trên vũng biển sâu, mặt trời cao và không khí dịu dàng của mùa thu ven biển.   Xônxeva nhảy lại gần cửa sổ - kia, tuần dương hạm vẫn đậu đó, chưa rời bến! Xônxeva luống cuống dứt dây chằng cửa sổ. Cô muốn thò đầu ra ngoài, vươn tay tới con tàu, vẫy nó rối rít bằng chiếc khăn tay trắng. Nhưng cửa sổ không mở ra và Xônxeva nhớ ra rằng đang là mùa đông và mặt trời chiếu sáng ở đây, trên các vĩ độ miền cực nam tuyệt đẹp này, là kỷ niệm cuối cùng của mùa hè. “Mong sao đoàn chưa đi nơi khác, chỉ mong đến kịp với họ”. – Xônxeva nghĩ thầm. Cô gặp lại các bạn bè trong thành phố bên bờ biển.   Một ngày sau trên chiến hạm lại trình diễn vở kịch bị bỏ dở. Khi “đồ quỷ sứ” kéo màn và Xônxeva bước ra sấn khấu, các chiến sĩ hải quân đứng cả dậy và tiếng vang của những tràng pháo tay chưa từng thấy trên vùng biển dội đến vùng bờ lân cận. Những bông hoa đồng nội giản dị rơi tới tấp xuống chân Xônxeva và hòa lẫn với đám nhung lụa trang phục cổ thành Vơnidơ. Vị chỉ huy đứng ở hàng đầu và thân ái mỉm cười. Xônxeva cúi đầu. Cô cảm thấy mi mắt nặng trĩu những giọt lệ như lần trước, nhưng đây là những giọt lệ ân tình hữu ái. Cô dằn lòng, ngẩng đầu lên mỉm cười. Ngay lúc đó dàn nhạc nổi lên và âm nhạc da diết của Verđi át cả tiếng sóng vỗ. Xônxeva rút bông sơn trà cài trên ngực ném xuống sàn. Thay vào đó cô cài bông hoa màu tím nhạt bám đầy bụi và khô héo. Đó là bông hoa vùng đất ngoại thành mà Vaxia Tsukhốp đã ném lên tặng cô. Cô hát tuyệt vời - giọng hát lanh lảnh ai oán trên vùng biển. Những ông già đánh cá ngồi trên bờ sát mạn nước, lắng nghe và kinh ngạc trước sức mạnh của tuổi trẻ con người. Chỉ huy trưởng lắng nghe và thầm nghĩ là không có gì làm cho tài năng nảy nở bằng tình bạn và sự quan tâm bình dị của đồng đội. Tưởng chừng Viôleta đang hát trên quê hương Vơnidơ. Ánh sao tỏa mờ trên những mỏm đá ven bờ. Ánh đèn xuyên tới tận đáy vịnh - nước trong đến như vậy. Không khí rung rinh vì những luồng khí nóng vô hình. Chân trời trên biển cả tuy đã về đêm, vẫn sáng lên hàng chục hải lý như đang lúc hoàng hôn. Sau buổi diễn các chiến sĩ hải quân vây xung quanh Xônxeva, nhưng họ nhanh chóng kính cẩn giãn ra. Bước lại gần Xônxeva, là một người thủy thủ cao lớn tay áo có những vòng viền vàng rộng - vị tư lệnh hạm đội. - Tôi muốn thay mặt toàn hạm đội cảm ơn đồng chí. – ông nói - Đồng chí đã đem lại niềm vui cao quý cho chúng tôi. Thế còn cậu em, đã khỏi rồi chứ? Xônxeva muốn nói rằng: không phải cô, mà chính những chiến sĩ trẻ sạm nắng này – khi thì đùa cợt, khi thì nghiêm trang, nhưng bao giờ cũng bình tĩnh và đầy thiện ý – đã cho cô được huởng một niềm hạnh phúc thực sự. Cô nghĩ rằng, với những khán giả như thế, thì cả Môda lẫn Betôven cũng phải ghen tỵ, nhưng cô không nói gì, chỉ ráng sức siết chặt tay vị tư lệnh. Gió mát thổi vào từ biển, nơi những ngọn hải đăng xa nhấp nháy trong bóng tối, trong tiếng rì rầm của làn sóng bạc đầu.   1935 MỘNG QUỲNH dịch Mời các bạn đón đọc Lẵng Quả Thông của tác giả K. G. Paustovsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Em Luôn Đúng, Em Yêu
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Em Luôn Đúng, Em Yêu của tác giả Dung Quang & Tuyết Mai (dịch). “Em luôn đúng, em yêu !” xoay quay tình yêu của hai nhân vật là Trần Thước và Dư Điền Điền. Trần Thước là bác sĩ khoa Ngoại, đẹp trai, giỏi giang nhưng độc mồm độc miệng. Anh mạnh mẽ gai góc bên ngoài nhưng thực sự lại cô đơn và tổn thương bên trong. Dư Điền Điền là y tá khoa Nhi, một cô gái tự lập, miệng lưỡi sắc bén và vô cùng lương thiện. Hai con người cứ hễ gặp nhau là đấu khẩu, nhưng cũng chính từ những lần đấu khẩu ấy, họ phát hiện và hiểu ra con người thật của đối phương, cứ thế tình cảm của họ chuyển từ ghét, hận sang thương, yêu. *** Review: Trần Thước là bác sĩ khoa Ngoại, đẹp trai, giỏi giang nhưng độc mồm độc miệng. Anh mạnh mẽ gai góc bên ngoài nhưng thực sự lại cô đơn và tổn thương bên trong. Dư Điền Điền là y tá khoa Nhi, một cô gái tự lập, miệng lưỡi sắc bén và vô cùng lương thiện.​ Hai con người cứ hễ gặp nhau là đấu khẩu, nhưng cũng chính từ những lần đấu khẩu ấy, họ phát hiện và hiểu ra con người thật của đối phương, cứ thế tình cảm của họ chuyển từ ghét, hận sang thương yêu… Một câu chuyện ngôn tình trong bối cảnh hiện đại, khá hấp dẫn với giọng văn trẻ trung và nhiều tình tiết thú vị, đáng để đọc. Hoàng Triệu *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Em Luôn Đúng, Em Yêu của tác giả Dung Quang kể về câu chuyện tình yêu của hai nhân vật là Trần Thước và Dư Điền Điền. Trần Thước là một bác sĩ khoa Ngoại, đẹp trai, giỏi giang nhưng độc mồm độc miệng. Anh mạnh mẽ gai góc bên ngoài nhưng thực sự lại cô đơn và tổn thương bên trong. Dư Điền Điền là một y tá khoa Nhi, một cô gái tự lập, miệng lưỡi sắc bén và vô cùng lương thiện. Hai người gặp nhau lần đầu tiên trong một ca phẫu thuật. Trần Thước là bác sĩ chính, còn Dư Điền Điền là y tá phụ tá. Ngay từ lần đầu gặp mặt, họ đã không ưa nhau và liên tục đấu khẩu với nhau. Tuy nhiên, càng ngày họ càng hiểu nhau hơn và dần dần nảy sinh tình cảm. Trần Thước bắt đầu nhận ra rằng Dư Điền Điền không hề giống như những gì anh nghĩ về cô. Cô ấy không chỉ xinh đẹp, thông minh mà còn vô cùng tốt bụng và đáng yêu. Dư Điền Điền cũng bắt đầu nhận ra rằng Trần Thước không phải là một người xấu xa như cô nghĩ. Anh ấy là một người đàn ông ấm áp, yêu thương và luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Cuối cùng, họ đã vượt qua những hiểu lầm và trở thành một đôi. Tình yêu của họ đã giúp họ chữa lành những tổn thương trong quá khứ và trở thành những người tốt hơn. Đánh giá Em Luôn Đúng, Em Yêu là một cuốn tiểu thuyết ngôn tình hiện đại, khá hấp dẫn với giọng văn trẻ trung và nhiều tình tiết thú vị. Cuốn sách kể về một câu chuyện tình yêu khá quen thuộc, nhưng được tác giả kể lại một cách mới mẻ và hấp dẫn. Hai nhân vật chính Trần Thước và Dư Điền Điền đều là những nhân vật có tính cách đặc biệt, khiến người đọc không thể rời mắt. Trần Thước là một bác sĩ tài giỏi nhưng lại có tính cách độc mồm độc miệng. Anh ấy luôn tỏ ra lạnh lùng và xa cách với mọi người, nhưng thực sự bên trong anh ấy là một người ấm áp và yêu thương. Dư Điền Điền là một y tá xinh đẹp và tài năng. Cô ấy luôn mạnh mẽ và độc lập, nhưng bên trong cô ấy lại là một người vô cùng yếu đuối và dễ bị tổn thương. Hai người gặp nhau và dần dần yêu nhau. Tình yêu của họ đã giúp họ chữa lành những tổn thương trong quá khứ và trở thành những người tốt hơn. Một số ý kiến bổ sung Cuốn sách có giọng văn trẻ trung và hóm hỉnh, khiến người đọc cảm thấy dễ chịu và thoải mái. Các tình tiết trong truyện khá hấp dẫn và lôi cuốn, khiến người đọc không thể rời mắt. Truyện có kết thúc có hậu, khiến người đọc cảm thấy hài lòng. Kết luận Em Luôn Đúng, Em Yêu là một cuốn tiểu thuyết ngôn tình đáng đọc. Cuốn sách có thể mang lại cho bạn những giây phút thư giãn và vui vẻ. Mời các bạn mượn đọc sách Em Luôn Đúng, Em Yêu của tác giả Dung Quang & Tuyết Mai (dịch).
Bảy Ngày Phiêu Lãng
Minerva Highwood, một cô nàng không màng đến yêu đương của Vịnh Spindle, cần đến Scotland. Colin Sandhurt – Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất, đếm từng ngày để rời khỏi Vịnh Spindle. Họ trở thành đối tác một cách thần kì và bất đắc dĩ. Trong vòng một tuần, họ giả vờ bỏ trốn cùng nhau để thuyết phục họ gia đình và bạn bè tin rằng họ đang ‘’yêu’’. Họ thoát khỏi những hiểm nguy vào ban ngày và vượt qua cơn ác mộng vào ban đêm, cứ thế du hành bốn trăm dặm mà không giết chết nhau. Họ không có thời gian để ý rằng sự thu hút lẫn nhau đang ngày càng lớn dần, từ lúc nào đã trở thành đam mê. Bất ngờ, một tuần dường như vừa đủ cho cuộc phiêu lưu đầy phiền phức và đủ cho tình yêu của chính họ. Một tác phẩm đầy kịch tính nhưng không kém phần ngọt ngào, sâu lắng của nhà văn Tessa Dare dành tặng các cô gái vừa tản bộ vừa đọc sách. *** A WEEK TO BE WICKED   Khi một quý ngài ranh mãnh và một nữ học giả bắt đầu lên đường đến chỗ hủy hoại… Thời gian không đứng về phía họ. Minerva Highwood, một trong những cô gái ế chồng thâm căn cố đế của Vịnh Spindle, cần đến Scotland. Colin Sandhurst, Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất, cần ở… bất cứ nơi đâu ngoài Vịnh Spindle. Hai đối tác kì lạ này có một tuần để giả vờ bỏ trốn cùng nhau để thuyết phục gia đình và bạn bè tin rằng họ đang “yêu” để qua mặt những tên cướp có vũ trang để sống sót qua những cơn ác mộng tồi tệ nhất để du hành suốt bốn trăm dặm mà không giết chết nhau Họ làm tất cả những việc đó trong lúc đi chung một xe ngựa rất nhỏ vào ban ngày và ngủ chung một giường còn nhỏ hơn nữa vào ban đêm. Họ không có thời gian dành cho sự thu hút lẫn nhau đang ngày càng lớn dần. Huống chi là niềm đam mê mãnh liệt. Và hy vọng là họ không có khoảng thời gian quý báu nào để thổ lộ tâm tư và tình cảm. Bất ngờ, một tuần dường như là vừa đủ để tìm thấy nhiều điều phiền phức. Và có lẽ… chỉ có lẽ thôi… tình yêu nữa. Lời đề tặng Dành tặng các cô gái vừa tản bộ vừa đọc sách. *** Tóm tắt Cuốn tiểu thuyết Bảy Ngày Phiêu Lãng của tác giả Tessa Dare kể về câu chuyện tình yêu giữa Minerva Highwood, một cô nàng không màng đến yêu đương của Vịnh Spindle, và Colin Sandhurst – Huân tước Payne, một kẻ phóng đãng bậc nhất. Minerva cần đến Scotland để gặp gỡ một người bạn, nhưng cô không thể đi một mình vì sẽ bị gia đình và bạn bè ngăn cản. Colin cũng cần rời khỏi Vịnh Spindle để thoát khỏi những rắc rối do quá khứ của mình gây ra. Họ trở thành đối tác bất đắc dĩ và cùng nhau thực hiện một chuyến đi giả vờ bỏ trốn trong vòng một tuần. Trên đường đi, họ gặp phải nhiều khó khăn và nguy hiểm, nhưng cũng dần dần bị thu hút bởi nhau. Bất chấp những khác biệt về tính cách và hoàn cảnh, họ đã tìm thấy tình yêu đích thực. Đánh giá Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hài hước, với những tình tiết hấp dẫn và nhân vật thú vị. Câu chuyện xoay quanh hai nhân vật chính với tính cách trái ngược nhau, nhưng cuối cùng lại tìm thấy tình yêu đích thực. Tessa Dare đã xây dựng hai nhân vật Minerva và Colin một cách rất thành công. Minerva là một cô gái thông minh, mạnh mẽ và độc lập, còn Colin là một chàng trai quyến rũ, đào hoa nhưng cũng rất chân thành. Sự tương tác giữa họ vô cùng hài hước và đáng yêu. Cuốn tiểu thuyết cũng có những tình tiết phiêu lưu hấp dẫn, khiến người đọc không thể rời mắt. Những khó khăn và nguy hiểm mà họ gặp phải đã giúp họ hiểu nhau hơn và gắn kết với nhau chặt chẽ hơn. Nhìn chung, Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết đáng đọc dành cho những ai yêu thích thể loại lãng mạn hài hước. Một số ý kiến bổ sung Cuốn tiểu thuyết có những tình tiết hài hước, nhưng cũng không kém phần sâu lắng. Các nhân vật được xây dựng một cách chân thực và đáng yêu. Cốt truyện hấp dẫn, với những tình tiết bất ngờ. Kết luận Bảy Ngày Phiêu Lãng là một cuốn tiểu thuyết lãng mạn hài hước, với những tình tiết hấp dẫn và nhân vật thú vị. Cuốn tiểu thuyết là một lựa chọn tuyệt vời dành cho những ai yêu thích thể loại này. Mời các bạn mượn đọc sách Bảy Ngày Phiêu Lãng của tác giả Tessa Dare.
Tiểu Thuyết Đàn Bà
Tóm tắt & Review (Đánh Giá) sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan. Đàn bà! Rõ ràng không phải một con báo. Không phải một con cọp. Cũng không phải một con vượn, mà là một con đàn bà. Người đàn ông đứng sững lại sau đám dây mây chằng chịt. Con đàn bà trần trụi. Tóc nó đen, dợn sóng, dài tới thắt lưng, xoã loà xoà quanh thân thể săn chắc ngăm ngăm nâu. Nó đang nhón gót vói tay hái một trái chuối chín bói trên cái quày chuối mà người đàn ông đã tìm thấy mấy hôm trước, và hôm nay trở lại với mục đích mà con đàn bà đó đang làm. Nó rướn mình giơ cả hai tay vói lên quày chuối, một tay bợ đít quày, một tay cầm trái chuối chín vàng xoay nhè nhẹ. Cuốn trái chuối còn xanh không chịu lìa nãi. Con đàn bà cứ rướn mình lên, day day trái chuối cho đến khi hái được. Nó xoay mình lại, nhìn thẳng về phía đám dây mây bao bọc người đàn ông. Phản ứng tức thì của ông ta là giật mình, co lại trong thế thủ. Tim ông đập loạn lên, vừa sợ vừa xấu hổ. Con đàn bà bình thản lột vỏ trái chuối và thong thả ăn. Nó hất tóc ra sau lưng, hơi uỡn ngực lên, hai vú căng và đứng. Từ thắt lưng cho đến quá đầu gối của con đàn bà được quấn một tấm vải thô màu lam, phần bắp chân lộ ra và bàn chân trần đứng vững chãi trên nền đất pha cát do con sông bồi những khi triều cường. Ánh sáng còn loáng thoáng trên mặt sông ẩn hiện sau cây cỏ ven bờ. Con đàn bà đang đứng nơi khá trống, nên người đàn ông nhìn rõ từng đường nét thân thể nó... “Chiến tranh nghĩa là phân ly, thù hận, chết chóc… Nghĩa là người ta đánh mất mình, bị giết hoặc không được sống để thương yêu. Người ta thất lạc nhau trong cuộc đời rộng lớn, hận thù rộng lớn. Người ta cũng có thể thất lạc nhau dưới cùng một mái nhà. Và thất lạc chính mình ngay trong cuộc đời của riêng mình. Đi tìm nhau và đi tìm chính mình, đó là những người đàn bà của Lý Lan trong Tiểu thuyết đàn bà”. *** Tôi đọc “Tiểu thuyết đàn bà” của Lý Lan vào một ngày nào đó của tuổi 20 trôi qua tựa một đám mây nhẹ xốp, không âu lo, không vướng bận. Rồi đọc lại “Tiểu thuyết đàn bà” vào sinh nhật tuổi 25, khi bạn đem cuốn sách gói trong những lớp giấy màu xanh đỏ và viết nắn nót mấy lời đề tặng. Bạn bảo: “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Tôi cười bạn sao mà… sến. 30 tuổi, lại đọc “Tiểu thuyết đàn bà” trong một lần dọn dẹp tủ sách cũ. Chợt nhớ ngày 20 tuổi, lần nào ngồi chải mái tóc dài cho con gái, mẹ cũng thở dài: “Làm thân đàn bà khổ lắm con ơi…”. Chợt nhớ ngày 25 tuổi vẫn kiêu kì trước những chàng trai trồng cây si trước cửa, bố lại lắc đầu nhắc khéo: “Già kén kẹn hom”. Và 30 tuổi, như một chớp mi dài. 10 năm và 3 lần tái ngộ, vậy mà có lẽ ta vẫn chưa hiểu hết “Tiểu thuyết đàn bà”…   “Tiểu thuyết đàn bà” - ngay cái tên sách đã là một thành công. Khó có thể kiếm cho tác phẩm này một cái tên nào hay hơn thế, ngắn gọn hơn thế và bao trọn nội dung câu chuyện hơn thế. Đây là một cuốn tiểu thuyết, và không gì khác, nó viết về đàn bà, bằng một ngòi bút “rất đàn bà”. Một cuốn tiểu thuyết có thể khiến cô gái 20 tuổi dửng dưng, cô gái 25 tuổi đau đầu, cô nàng 27 tuổi lướt qua một chút rồi quên bẵng, nhưng một người đàn bà 30 tuổi sẽ rất nhớ và rất “thấm”. Cuốn tiểu thuyết như một cây phả hệ đầy phức tạp và rối rắm, về 4 thế hệ đàn bà trong một gia đình. Băt đầu từ “bà ngoại” – một người đàn bà không tên đã sống non một thế kỷ cuộc đời nhưng chưa từng có ngày vui vì phải lo lắng cho 10 người con. Rồi đến những cô con gái, mỗi người một số phận, nhưng tựu trung lại đều không thoát khỏi chữ “bạc” của kiếp người. Đến đời những cô cháu gái, người ta lại gặp lại những “vết xe đổ”: Đen theo các cậu đi làm cách mạng rồi mất tích, Thoa bị tù Côn Đảo sau khi thất bại trong nhiệm vụ cách mạng, Liễu lấy phải một người chồng nhu nhược, mẹ chồng đối xử hà khắc và bị buộc phải xa đứa con trai, chỉ được ôm theo đứa con gái chưa đầy 8 tháng tuổi rời khỏi nhà chồng với hai bàn tay trắng...   Thế hệ phụ nữ thứ tư trong gia đình tưởng rằng sẽ “sáng sủa” hơn khi Không Bé xuất ngoại, lấy chồng Tây, nhưng dường như cái mệnh đề “làm đàn bà thì khổ” vẫn không ngừng đeo bám. Cô sống trong nỗi cô đơn nơi đất khách quê người, lạ lẫm với những khác biệt văn hóa và lạc lõng trong chính ngôi nhà của mình. "Tiểu thuyết đàn bà" đã nằm im lìm suốt 16 năm trong chồng bản thảo của nhà văn Lý Lan. Mãi đến năm 2001, khi sang Mỹ học, trong nỗi khắc khoải của người xa xứ, chị viết lại cuốn sách. Lý Lan đã từng nói về tác phẩm của mình: “Đây là một cuốn tiểu thuyết nói về chiến tranh, ở một mặt trận không có tiếng súng, đó là thành phố, nhưng thực chất là chiến tranh vẫn diễn ra hết sức khắc nghiệt…Trong cuộc chiến tranh đó, những nhân vật của tôi chỉ là những con người hết sức bình thường. Họ là đàn bà con gái nhưng không than thân trách phận, cũng không so bì, than vãn, biện bạch… Họ cứ sống giữa cuộc đời như vậy thật bình thường…”.   Và quả là một cuộc chiến đúng nghĩa. Cuộc chiến của Thoa chống lại những ám ảnh về một quá khứ đã lùi xa. Cuộc chiến của Liễu chống lại những hà khắc của người đời để bảo vệ con mình. Cuộc chiến của Không Bé chống lại thói gia trưởng và cục cằn của người đàn ông mang tên “chồng”… Và còn biết bao những thân phận phụ nữ khác nữa không được nhắc tên. Những người đàn bà đau khổ và bất hạnh, nhưng là những người đàn bà không cam chịu. Như lời của Thoa khuyên cô cháu gái Không Bé: “Mình phải tự quyết định cho dù số phận hay thế lực này nọ luôn áp đặt hay xô lệch con đường đời mình chọn”. Không phải những cô gái tuổi teen vẽ cuộc sống màu hồng, Lý Lan viết “Tiểu thuyết đàn bà” bằng cái “đằm” của một người phụ nữ từng trải, một người đàn bà có chồng. Bởi thế, người đọc không chỉ tìm thấy trong cuốn sách những thân phận đàn bà, những cuộc đời đầy sống động, mà còn thấy cả những triết lý sống, những đúc kết mà chỉ một ngòi bút “thuần đàn bà” mới có thể viết ra: “Giáo dục chỉ cho chúng ta những lớp áo quần để mặc trong xã hội. Ai cũng mặc quần áo trước mặt người khác, dù là cha mẹ, anh em, bè bạn thân thiết. Chỉ có vợ chồng mới trần truồng với nhau. Chỉ có vợ chồng mới biết bản chất của nhau!” - Quả rất đúng và rất “thấm”!   30 tuổi, đọc “Tiểu thuyết đàn bà”, có lẽ ta mới nghiệm hết lời chúc năm nao của bạn ngày sinh nhật - “Hãy đưa tay nắm lấy số phận của chính mình”. Và ta tin, dù 20 hay 30, dù là một cô gái phơi phới tuổi xuân hay một người đàn bà đã ủ những nếp nhăn nơi khóe mắt, chẳng bao giờ là muộn cho một cái nắm tay. Mời các bạn mượn đọc sách Tiểu Thuyết Đàn Bà của tác giả Lý Lan.
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại
Những Cuộc Hôn Thú Man Dại là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thuơng tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử. Con người có thể lưa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cánh nào di nữa, chú bé Ludôvic củng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không đuợc nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mồm trong bụng mẹ và suốt đòi chú bị dây vào cô đơn, biệt lập. *** "Con người có thể lựa chọn được mọi thứ, nhưng không ai lựa chọn được dòng giống để sinh ra. Đầu thai vào cõi người, dù trong hoàn cảnh nào đi nữa, chú bé Ludôvic cũng phải được đối xử bình đẳng như mọi thành viên khác của xã hội. Phẩm chất người của Ludôvic quả có phần hoang dã mông muội vì nó không được nền văn minh của xã hội khai thác phát triển, nó là chất người uyên nguyên sơ khởi mà tính trội là yêu thương và ham muốn hòa đồng. Vậy mà tâm hồn chú bé đã bị đánh rất đau vào chính hai mối người cơ bản đó: chú bị ghét bỏ ngay lúc còn là cái mầm trong bụng mẹ và suốt đời chú bị đẩy vào cô đơn, biệt lập. Đây là câu chuyện một đứa trẻ vô tội bị nguyền rủa vì kẻ đáng nguyền rủa đã thành vô tội. Đây là câu chuyện thương tâm của lòng con yêu mẹ, một nỗi niềm mẫu tử." Vũ Quần Phương giới thiệu​ *** Tóm tắt Câu chuyện bắt đầu khi Ludovic, một cậu bé sinh ra với hình dạng kỳ lạ, bị chính mẹ ruột của mình ruồng bỏ. Ludovic bị coi là một đứa trẻ con lai giữa người và thú, và bị mọi người trong làng xa lánh, ghẻ lạnh. Mẹ Ludovic, bà Marie, là một người phụ nữ xinh đẹp và sang trọng. Bà đã kết hôn với một người đàn ông giàu có và quyền lực, nhưng cuộc hôn nhân của họ không hạnh phúc. Bà Marie đã ngoại tình với một người đàn ông nghèo khổ, và Ludovic là kết quả của mối quan hệ này. Bà Marie đã cố gắng che giấu sự tồn tại của Ludovic khỏi chồng và gia đình mình. Nhưng khi Ludovic được sinh ra, bà Marie đã không thể chịu đựng được sự xấu hổ và đã bỏ rơi cậu bé. Ludovic được một người đàn ông nghèo khổ tên là Jean nhận nuôi. Jean yêu thương Ludovic và coi cậu như con đẻ của mình. Nhưng Ludovic vẫn phải chịu đựng sự kỳ thị và phân biệt đối xử của mọi người xung quanh. Ludovic lớn lên trong cô đơn và đau khổ. Cậu bé luôn khao khát được yêu thương và được chấp nhận. Nhưng cậu bé biết rằng điều đó là không thể. Một ngày nọ, Ludovic gặp gỡ một cô gái tên là Marie-Christine. Marie-Christine là một người con gái xinh đẹp và tốt bụng. Cô bé không quan tâm đến ngoại hình của Ludovic, và cô bé yêu cậu bé vì chính con người của cậu. Ludovic và Marie-Christine đã yêu nhau và họ quyết định kết hôn. Cuộc hôn nhân của họ đã gây ra một cuộc tranh cãi lớn trong làng. Nhưng Ludovic và Marie-Christine không quan tâm đến những lời chỉ trích của người khác. Họ chỉ muốn được ở bên nhau. Cuối cùng, Ludovic và Marie-Christine đã tìm thấy hạnh phúc. Họ đã sinh ra một đứa con gái, và họ sống hạnh phúc bên nhau. Review "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một câu chuyện cảm động về tình yêu, lòng dũng cảm và sự chấp nhận. Cuốn sách đã lên án sự kỳ thị và phân biệt đối xử, và ca ngợi sức mạnh của tình yêu. Cuốn sách được viết theo lối kể chuyện tự sự, với giọng văn nhẹ nhàng và sâu lắng. Tác giả Yann Queffélec đã khắc họa thành công hình ảnh của những nhân vật trong truyện, đặc biệt là Ludovic và Marie-Christine. Cuốn sách mang đến cho người đọc những bài học ý nghĩa về cuộc sống. Chúng ta cần học cách chấp nhận sự khác biệt của người khác, và chúng ta cần yêu thương và trân trọng những người xung quanh. Đánh giá "Những Cuộc Hôn Thú Man Dại" là một cuốn sách đáng đọc. Cuốn sách sẽ mang đến cho bạn những giây phút lắng đọng và suy ngẫm về cuộc sống. Một số nhận xét của độc giả: "Cuốn sách rất cảm động và ý nghĩa. Tôi đã khóc khi đọc đến đoạn Ludovic và Marie-Christine gặp nhau." "Cuốn sách đã mang đến cho tôi một cái nhìn mới về sự khác biệt. Chúng ta cần học cách chấp nhận những người khác, bất kể họ là ai." "Cuốn sách được viết rất hay. Tôi đã bị cuốn hút bởi câu chuyện và các nhân vật." Mời các bạn mượn đọc sách Những Cuộc Hôn Thú Man Dại của tác giả Yann Queffélec.