Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trậm Điểu

Tay tỷ phú lừa đảo Charles Merick đang ngồi tù. Hắn lấp lửng công khai bí mật về một tài sản vẫn còn đang được giấu đâu đó. Điều này đã kích thích lòng tham của một bầy “cá mập” bủa vây chờ ngày hắn được ra tù và cả những nạn nhân của trò lừa đảo tài chính của hắn. Thẩm phán Hammond Birk, người đã cứu vớt cuộc đời Gibson Vaughn khi anh còn là một thanh niên gặp rắc rối trong cuộc sống cũng là một trong số những nạn nhân đó. Để trả món nợ ân tình, Gibson quyết định sẽ cướp lấy số tiền của Merrick. Đối đầu với những đối thủ sừng sỏ, khát máu, Gibson sẽ làm gì? Những đồng tiền chưa bao giờ lên tiếng, nhưng âm thanh leng keng đến chói tai của chúng khiến người ta phải điên loạn mà nổ súng, giết người không ghê tay, mọi giá trị đạo đức hay pháp luật đều trở nên vô nghĩa khi đồng tiền lên ngôi. Trậm Điểu là những cuộc đào tẩu và âm mưu đen tối kinh hoàng. *** "Chiến đấu cho ra trò, nhưng đừng bao giờ để họ chọn sân đấu." ________________ Nếu như Sợi dây thừng nghiệt ngã là câu chuyện móc nối quá khứ để mở ra hiện thực thì Trậm Điểu là chính là kết quả của hiện thực mà Gibson đã lún chân vào. Trậm Điểu là một cuộc chơi khác, nơi mà những câu chuyện ở quá khứ vẫn bám lấy anh, vẫn tác động lên cảm xúc và trực giác của Gibson nhưng lại ít ám ảnh hơn trong Sợi dây thừng nghiệt ngã. Lần này anh đòi hỏi bị thách đấu ở một phương diện khác, khi mà kẻ anh thách đấu lại có một vị trí đặc biệt: gã ở tù bị săn đón nhiều nhất. Cuộc đấu trí lần này là cái giá của hiện thực mà Gibson buộc phải chấp nhận. Nó cuốn người đọc không ở việc tìm ra bí ẩn hay những quá khứ đen tối mà là ở quá trình tranh đấu giữa hai bên, đã vậy kẻ còn lại không khác gì vô hình. Có một điều thú vị tớ nhận thấy là trong câu chuyện này, để nói rõ ai trắng ai đen trong truyện này rất khó, mà việc đó cũng không phải quan trọng. Chỉ riêng những tình tiết nảy sinh và diễn ra liên hồi cũng đủ để cuốn sách này là một cuốn trinh thám xuất sắc. Phần sau là hồi gay cấn nhất. Có hành động, có twist. Cái twist truyện không nhảy cái đùng một phát xuống dòng, nó chỉ thả nhẹ ở một tình tiết thôi, không hề gây sốc ngay lập tức nhưng lại đủ sức lật câu chuyện sang hướng mới. Đọc mà thực tâm cảm khái tác giả viết tốt quá, mọi thứ đều rất chặt chẽ và logic. Đoạn cuối cũng là một cú lật ngoạn mục, một cú nhử mà tới giờ tớ nghĩ lại vẫn cay, cuốn sách tiếp theo đâu. Chào thân ái từ tinh cầu nóng chảy! *** Review // Không spoil ~ TRẬM ĐIỂU ~ Tác giả: Matthew FitzSimmons. Dịch giả: Trần Trọng Hải Minh Thể loại: Trinh thám phương Tây. Mức độ ưa thích: 9.5/10 ————————- Sau vụ việc với phó tổng thống Benjamin Lombard trong quyển “Sợi dây thừng nghiệt ngã”, tưởng rằng có thể yên ổn sống tiếp nhưng rốt cuộc chàng thám tử Gibson Vaughn lại bị “nhờ vả” tham gia cuộc điều tra xoay quanh Charles Merrick – tù nhân kinh tế sắp mãn hạn tám năm tại nhà tù Niobe. Tuy ban đầu không muốn nhưng rồi Gibson Vaughn vẫn dấn thân vào vì một lý do khá cảm tính. Cuộc điều tra đòi hỏi khả năng tin tặc của anh, sự bền bỉ linh hoạt, lòng dũng cảm và cả bản tính hài hước gợi đòn. Mọi chuyện diễn biến càng lúc càng tệ khi Gibson phải đối mặt với nhiều phen nguy hiểm tính mạng và thậm chí bị bắt bởi CIA. Sau khi đọc “Sợi dây thừng nghiệt ngã”, Biển có ấn tượng tốt với truyện trinh thám của Matthew FitzSimmons nên rất hào hứng đọc tiếp Trậm Điểu. Đúng như mong đợi, Trậm Điểu có cốt truyện thật sự hấp dẫn ly kỳ. Tác giả không cố tình viết giựt gân kiểu như “bỗng một bóng đen xuất hiện bên cạnh tôi” nhưng câu chuyện vẫn cuốn hút ngay từ những trang đầu tiên, nhiều đoạn khiến Biển căng thẳng do quá hòa mình vào câu chuyện. Giọng văn rành rọt phân minh, tuy thường xuyên có những câu dài như cả đoạn nhưng đọc vẫn dễ hiểu. Những câu văn dài cũng cho thấy kỹ năng dịch thuật thượng thừa và nỗ lực của dịch giả. Biển không hiểu rõ những đoạn về kinh tế hay âm mưu chính trị trong truyện, nhưng điều đó không ngăn cản Biển thưởng thức chất trinh thám của Trậm Điểu. Nửa sau quyển sách sẽ khiến độc giả muốn đọc một mạch để nhanh biết kết cuộc. Tuy không có nhiều đoạn triết lý nhưng Matthew FitxSimmons đã khéo léo lồng ghép tâm lý nhân vật vào các đoạn văn, khiến người đọc cảm nhận và thấu hiểu được cách suy nghĩ, hành xử của các nhân vật trong truyện. “Thêm nữa, đàn ông ở tuổi anh ta có xu hướng không coi trọng phụ nữ ở tuổi cô và cô nhận ra rằng bị đánh giá thấp là điều hữu ích”. Trậm Điểu cũng có đề cập một chút đến khả năng mà tội phạm được chấp nhận hòa nhập với XH sau khi mãn hạn tù. Tuy biết phải khoan dung với đồng loại nhưng hầu hết người dân thường – những người không có tiền án tiền sự – sẽ rất khó cảm thấy an toàn và tin cậy để sống chung / làm việc chung với những người đã từng phạm tội. “Một người phạm tội hình sự như ông phải ghi rõ lịch sử phạm tội khi xin việc. Và bởi vì việc phân biệt đối xử đối với tội phạm hình sự đã bị kết án không phải là bất hợp pháp, có ít người chịu tuyển dụng họ. Kẻ tội phạm còn lại lựa chọn gì ngoài việc tiếp tục cuộc đời tội ác?” [Đoạn tiếp theo đây Biển không nghĩ là spoil, nhưng bạn nào sợ spoil thì xin đừng đọc ^_^]. Nhân vật chính Gibson Vaughn không được xây dựng hình tượng siêu anh hùng như Jack Reacher, đọc Trậm Điểu mà nhiều lần Biển tức tối nôn nóng khi thấy anh bị đánh, bị ép phải quy phục trước cường quyền. (Người có thể coi là nữ chính trong truyện này) là Lea Regan, một phụ nữ dũng cảm nhưng không kém phần cố chấp. Trong Trậm Điểu, số phận của cô bị bỏ ngỏ khiến Biển khá lo lắng. Cũng muốn nói một chút về kết cuộc của truyện, Biển không biết tiếng Anh nên không biết cách tìm hiểu xem loạt truyện “Điệp vụ Gibson Vaughn” có bao nhiêu cuốn, nhưng sau phần kết của Trậm Điểu thì Biển đoán tác giả phải viết tiếp ít nhất là một quyển khác, vì nếu số phận của Gibson Vaughn kết thúc như trong Trậm Điểu thì đúng là tác giả muốn khiến độc giả tức chết. Ngay khi nhìn thấy thông tin phát hành và bìa của cuốn Trậm Điểu thì Biển liên tưởng đến loài chim trẩm từng đọc được trong tác phẩm Trâm của tác giả Châu Văn Văn. Trong quyển “Trâm – Tình lang hờ” có đoạn Lý Thư Bạch nói như sau: “Trên đời làm gì có chim trẩm, chỉ là người chết vì trúng loại độc này, toàn thân đến cả thịt da lông tóc đều sẽ chứa chất độc, chim trúng độc chết thì đến lông vũ cũng có độc. Chỉ cần lấy tóc người hoặc hoặc lông chim trúng độc cũng đủ tái chế thành kịch độc, nên mới có truyền thuyết chấm lông chim trẩm vào rượu là thành rượu độc”. Còn trong Trậm Điểu, có phần chú thích của dịch giả rằng “trậm điểu” là loài chim độc trong truyền thuyết TQ. Sách “Sơn Hải Kinh” mô tả Trậm Điểu là loài chim bụng màu tía, cổ dài, mỏ màu hồng điều. Nó cực độc vì chuyên ăn rắn lục. Con trống gọi là Hồi Dương, con mái gọi là Âm Uân. Bìa sách thoạt nhìn hơi khó hiểu nhưng rất hợp với tựa đề Trậm Điểu. Chất giấy trong sách rất đẹp, vốn là một mọt sách giấy nhưng khi đọc sách Biển ít khi quá “tôn sùng nâng niu” sách, thậm chí còn hay gấp góc để đánh dấu những đoạn hay, nhưng đối với Trậm Điểu, sách đẹp đến nỗi Biển đọc kiểu 45 độ và chịu khó ghi chép lại tất cả chứ không nỡ gấp góc. Chữ in to rõ dễ đọc, còn vài lỗi chính tả và lỗi đánh máy không đáng kể. Số điểm 9.5/10 là Biển chấm cho toàn bộ các yếu tố từ ngoại hình đến nội dung, thiếu 0.5 là vì phần kết khiến Biển bứt rứt lo lắng! Cũng như các loạt truyện về Jack Reacher của Lee Child hay loạt truyện của David Baldacci, series về Gibson Vaughn của Matthew FitzSimmons chắc chắn là những quyển sách không thể bỏ qua đối với các mọt trinh thám. (Sea, 25-8-2019) Bookmark tự vẽ, lấy ý tưởng từ Internet. Camellia Phoenix *** Những ngọn đèn tỏa ra luồng ánh sáng huỳnh quang sâu thẳm. Khắp nơi quanh gã, Merrick nghe thấy âm thanh của những người đang bị ép phải thức giấc. Những tiếng cót két của lò xo nệm cũ kỹ. Những cuộc trò chuyện, đã ngưng lại vào tối hôm trước khi đèn tắt, lại tiếp nối như thể mới chỉ vài giây trôi qua. Những câu chuyện dễ nối lại vì chúng vẫn là những cuộc đối thoại tầm thường giống như buổi sáng hôm trước và trước đó nữa, kéo dài lê thê suốt tám năm trời mà Merrick lúc nào cũng thức giấc cùng với chúng. Nhà tù chỉ quanh quẩn bàn luận với mấy chủ đề - cuộc đời trước khi vào tù, cuộc sống trong tù và lời hứa hẹn về một cuộc đời tốt đẹp hơn sau đó. Kẻ thù và bạn hữu, đàn bà, người thăm nuôi, nhà ăn và đồ ăn dở tệ. Chẳng bao lâu đã hết chuyện và từ đó trở đi chỉ còn những biến thể của một chủ đề. Tù nhân đến rồi đi, nhưng những cuộc đối thoại đó vẫn cứ tiếp diễn mãi. Được truyền miệng cho nhiều thế hệ phạm nhân còn chưa tới, như thể những cuộc đối thoại ấy mới là những khách trú đích thực duy nhất của nhà tù, còn tù nhân đơn giản chỉ là tiếng nói chuyển tiếp những gì đã được nói ra từ rất lâu trước đó. Hay đó là điều mà Charles Merrick sẽ hạnh phúc khi tưởng tượng về việc gã vĩnh viễn bỏ lại nhà tù liên bang Niobe sau lưng trong 142 ngày nữa. Merrick tung chân khỏi giường và xỏ thẳng vào đôi tông để chân gã không bao giờ phải chạm vào mặt sàn của nơi đáng ghê tởm này. Chỉ trong bốn động tác nhanh gọn, thuần thục, gã đã dọn xong giường của mình. Chiếc chăn lông thô đến nỗi chó cũng không thèm đắp. Con Morgan thì chắc chắn là không rồi - con chó Tây Ban Nha dòng King Charles của gã, nó đã qua đời khi gã ở trong này. Gã nhớ con vật đó: con vật trung thành duy nhất mà gã từng biết. Mấy tay lính gác đi qua khu nhà giam, bắt đầu lượt điểm danh lúc bảy giờ sáng. Bọn chúng còn hai lượt điểm danh vào lúc ba và năm giờ sáng nữa. Đó là phần khó khăn nhất với gã khi ở trong tù - giấc ngủ của gã cứ bị cắt ngang bởi những tiếng rầm rì vô nghĩa cùng tiếng bấm từ chiếc máy đếm nhỏ chỉ vì ý nghĩ nực cười rằng bọn chúng đang đếm thầm trong đầu. Những kẻ với trình độ tốt nghiệp phổ thông thậm chí còn không đủ tiêu chuẩn làm việc trong phòng văn thư của Merrick Capital. “Sẵn sàng cho ngày trọng đại chưa, Lọ Lem?” Những tay lính gác đã dọa dẫm gã nhiều tuần liền. Kể từ khi giám đốc nhà tù chấp thuận cuộc phỏng vấn, Merrick không còn nghĩ được chuyện gì khác. Gã đã không có khách thăm nào ngoại trừ các luật sư của gã từ nhiều năm rồi, nên xin hãy tha thứ cho sự phấn khích về cuộc phỏng vấn của gã. Đám lính gác cùng lũ tù nhân đều không ngừng mỉa mai gã như những đứa trẻ ghen tức, nhưng gã hiện đang có tâm trạng quá tốt để mà bận lòng về chuyện đó. Ngay khi các lính gác ra hiệu là mọi việc đã sẵn sàng, Merrick lao nhanh về phía phòng tắm. Gã hẳn đã chạy nếu được phép. Bình thường, gã không bao giờ vội vã đi đâu; sau mỗi góc quanh vẫn là nhà tù, vậy thì việc gì phải vội? Nhưng hôm nay gã muốn là người đứng đầu hàng, gã không muốn đang tắm lại hết nước nóng. Tắm xong, Merrick cạo râu cẩn thận và chải mái tóc vàng dày của gã cho đúng nếp. Nó đã ngả bạc hơn so với hồi gã mới đến nhà tù liên bang Niobe, nhưng gã vẫn còn mái tóc đó và thế là đủ. Nếu có gì khác, thì hôm nay gã thấy mình khá hơn. Cường độ làm việc kinh khủng ở Merrick Capital đã tổn hại đến sức khỏe và vùng bụng của gã. Phải vào tù gã mới phát hiện ra tình yêu với việc tập thể dục. Đẩy tạ như một tù nhân đích thực. Chiếc dao cạo rẻ tiền làm gã bị xước ở dưới tai, gã đắp vào đó một miếng giấy vệ sinh. Gã nhớ da diết chiếc bệ đá cẩm thạch cũ với những đồ dùng vệ sinh đắt tiền được đặt lên. Gã nâng niu cả một lọ nước hoa bản mẫu ưa thích của mình - thứ đã khiến gã tốn bao nhiêu là công sức và mưu mẹo. Gã đã phải hy sinh cả một tháng lương thực của mình để đưa lậu nó vào đây dành cho hôm nay. Gã mở nắp và ngay lập tức biết rằng nó hoàn toàn xứng đáng. Một giọt vào gáy và ba, không, bốn giọt nơi cổ tay trái, cần xịt thêm để che đậy mùi hôi hám của nơi này. Gã chà xát hai cổ tay với nhau và tự ngưỡng mộ mình trong gương. Một lính gác đi ngang qua ngửi thấy mùi và dừng lại. “Mùi quái gì thế, thằng tù?” “Chanel’s Pour Monsieur,” Merrick nói. “Pour Monsieur?” Tay lính gác nói, nhại gã bằng thứ giọng Pháp tệ hại. “Chà, mày có mùi như trong phòng phá thai ấy. Nhanh lên, Lọ Lem, không thì lỡ bữa tiệc đấy.” Merrick mặc bộ áo liền quần tẻ nhạt của nhà tù và cố gắng làm cho nó thẳng thớm lại trong gương, không mấy tác dụng. Gã đã yêu cầu được mặc bộ vét ở tòa cho buổi phỏng vấn để rồi bị cười nhạo trong văn phòng giám đốc trại giam. Có lẽ đằng nào thì bộ đồ đó cũng không vừa với gã nữa, vì gã đã gọn gàng hơn nhiều so với khi tới đây. Gã sẽ cần những bộ vét mới, bắt đầu là mười lăm hay hai mươi bộ và hy vọng rằng tay thợ may quen của gã ở Savile Row chưa về hưu. Người ta không thể tùy tiện thay đổi thợ may được. Lúc ăn sáng, Merrick ngồi một mình và chọn đại món được tạm gọi là trứng bác. Gã không thích ý tưởng bước vào một cuộc phỏng vấn mà chưa được chuẩn bị, nhưng bên tạp chí đã bác bỏ yêu cầu gửi trước câu hỏi. Lúc còn là đối tác quản lý điều hành của Merrick Capital, gã có hai hay ba cuộc phỏng vấn mỗi tuần. Cánh nhà báo xếp hàng để gặp gã và nhóm quan hệ công chúng của gã xem trước câu hỏi, lên kịch bản cuộc gặp để phô bày thương hiệu Charles Merrick trong thứ ánh sáng lộng lẫy nhất có thể. Việc bước vào một cuộc phỏng vấn chưa được chuẩn bị trước sẽ là trải nghiệm mới, nhưng Finance là một tạp chí đàng hoàng, chuyên nghiệp ở đẳng cấp cao nhất. Họ chắc chắn sẽ cử tới một người giỏi. Gã không biết người phụ nữ Lydia Malkin này, nhưng cô ta sẽ chứng tỏ năng lực của mình. Gã đang cảm thấy muốn cởi mở và ý tưởng về cuộc trò chuyện hấp dẫn với gã. Trò chuyện thực sự. Đã lâu rồi không ai hỏi gã một câu khiến gã phải suy nghĩ. Khi đến giờ phỏng vấn, lính gác dẫn Merrick vào một trong những căn phòng tư vấn pháp lý chật hẹp. Căn phòng trơ trọi, không có gì ngoài một chiếc bàn dài và những chiếc ghế kim loại chẳng thoải mái chút nào. Gã từng ở trong phòng này, hay một căn phòng tương tự, không biết bao nhiêu lần. Một phụ nữ cỡ tuổi con gái gã đang ngồi ở bàn, khoảng chừng hai mươi lăm? Cô ta đang hí hoáy ghi chép trên một tập giấy ghi chú. Ngay cả khi gã chấm điểm rộng tay thì trông cô ta cũng không hấp dẫn lắm. Có lẽ là một phóng viên tập sự được cử tới cùng để có chút kinh nghiệm hiện trường. Được thôi, được thôi. Hai phụ nữ luôn tốt hơn là một. Cô ta đặt bút xuống và đứng lên chào gã. “Rất vui được gặp ông, ông Merrick.” “Bao lâu nữa cô ấy mới tới đây?” “Xin lỗi?” “Lydia Malkin. Bao lâu nữa cô ấy tới? Tôi không biết tay lính gác cho chúng ta bao nhiêu thời gian. Họ có thể… khó chịu,” gã nói như thể mô tả dịch vụ phòng ở một khách sạn. “Tôi chính là Lydia Malkin.” Cô đưa tay ra. Gã nhìn bàn tay và cảm thấy huyết áp tăng lên với suy nghĩ có người đã cử đứa nhóc tì này tới phỏng vấn gã. “Cô là phóng viên tờ Finance?” “Phải, là tôi.” “Cô bao nhiêu tuổi? Hai mươi hả? Cô học xong đại học chưa?” “Tôi hai mươi sáu. Tôi có bằng thạc sĩ báo chí của trường Northwestern.” “Thậm chí cô có biết tôi là ai không?” “Ông là Charles Merrick.” “Tốt cho cô. Nhưng tôi biết rất rõ là tờ Finance không cử một phóng viên hai mươi sáu tuổi đi thực hiện bài phỏng vấn trang bìa bao giờ.” Cô nhìn gã tỏ vẻ ngạc nhiên. “Tôi lấy làm tiếc nếu có trục trặc trong khâu liên lạc. Đây không phải bài trang bìa.” “Cô nói sao cơ?” “Đây chỉ là một phần hồ sơ nhân vật nhỏ: ‘Giờ ông ấy ở đâu?’ Đại loại thế. Bởi ông sẽ sớm ra khỏi đây.” “Một phần hồ sơ nhân vật? Peter vẫn còn là tổng biên tập chứ?” “Peter Moynihan là tổng biên tập,” cô nói với giọng mệt mỏi làm Merrick phát bực. “Và anh ta nghĩ rằng sẽ là ý hay nếu viết… Cô nói sao nhỉ? Một ‘phần hồ sơ nhân vật nhỏ’ về tôi?” “Thực ra Peter không mặn mà lắm với ý tưởng đó. Lúc đầu là vậy.” “Lúc đầu.” “Tôi đã thuyết phục ông ấy.” “À, cảm ơn cô nhiều,” Merrick nói. “Vì đã nói hộ tôi.” “Có lẽ tôi nên ra về.” Gã nhìn cô thu dọn những tài liệu đã bày ra trên bàn. Ngày xưa, gã sẽ cười lớn khi tiễn một phóng viên ra khỏi văn phòng của gã nếu người đó thử một chiến thuật rõ ràng như thế. Gã cực kỳ muốn để cô ta rời nhà tù Niobe trong thất vọng và trắng tay, nhưng gã ngăn cô lại vì điều đó sẽ còn làm gã tổn thất hơn nhiều. “Tại sao họ không quan tâm?” Cô dừng lại và nhìn thẳng vào mắt, đánh giá gã một cách tự tin. Gã không quan tâm nhưng buộc phải mỉm cười. Dù không muốn thừa nhận, nhưng gã cần Lydia Malkin hơn là cô cần gã. “Ông muốn biết thật sao? Không ai quan tâm cả,” cô nói. “Rất nhiều người ghét cay ghét đắng thỏa thuận nhận tội của ông với Bộ Tư pháp. Tám năm tù cho những hậu quả mà Merrick Capital gây ra cho các nhà đầu tư của nó là điều thật lố bịch. Và tổng tài sản tịch thu không bõ bèn gì để đền bù cho các nạn nhân của ông - những cuộc đời đã bị hủy hoại.” Merrick bác bỏ ý kiến rằng thỏa thuận của Bộ Tư pháp với gã là hết sức độ lượng. Giá mà cô Lydia Malkin bé bỏng này biết được dù chỉ là một nửa câu chuyện. Món quà gã đã trao cho đất nước vĩ đại này để đổi lấy cái được gọi là sự khoan hồng. CIA lẽ ra phải tổ chức một cuộc diễu hành để vinh danh gã thay vì nhốt gã ở đây. “Đó là chưa nói tới thực tế là ông được đưa vào đây thay vì một nhà tù thực sự.” “Một nhà tù thực sự sao? Chà, thay vì ‘câu lạc bộ đồng quê’ này hả?” “Phải.” “Cô có biết là chúng tôi thực ra không có sân quần vợt không? Chúng tôi từng có, nhưng họ đã san phẳng nó rồi. Biết tại sao không? Vì ý tưởng cho rằng đây là một ‘câu lạc bộ đồng quê.’ Như thế là phân biệt đối xử.” “Phân biệt đối xử sao?” “Chính xác là thế. Tôi đã bị từ chối một hình thức tập thể dục chính đáng. Vì sao? Vì đó là một môn thể thao mà những người như tôi rất thích, như thế là phân biệt đối xử. Xong rồi để bọn họ chơi bóng rổ, một trò chơi bọn họ cũng thích thú như thế. Vậy thì công bằng ở đâu?” “Bọn họ?” Cô hỏi, tìm cách khiến gã mắc câu. Gã không mắc vào trò đó. “Vậy… Nếu chẳng ai bận tâm, thì tại sao cô lại ở đây?” “Để xem nhà tù có làm thay đổi một người được biết đến với tên gọi là Madoff Đệ nhị hay không.” “Madoff Đệ nhị?” “Người ta gọi ông thế. Ông chưa bao giờ nghe hả?” “Tất nhiên tôi nghe rồi. Tôi chỉ không tin nổi là cái tên đó lại hợp lý.” “Tại sao không?” “Vì Merrick Capital không phải là tài chính đa cấp, vậy đó. Đây là một sự sỉ nhục. Hoạt động kiểu Madoff là kiểu nghiệp dư. Ai cũng biết hắn ta làm gì. Rõ rành rành. Hãy lưu ý là không hề có công ty lớn nào ở Phố Wall đầu tư dù chỉ một xu với Madoff. Điều này chẳng phải hơi lạ lùng khi mà Madoff chỉ báo lỗ có bốn tháng trong hai mươi năm hoạt động sao? Điều đó như thể một cầu thủ bóng chày có tỉ lệ đánh trúng bóng .900 một mùa mà vẫn không được một đội lớn ký hợp đồng. Lý do duy nhất Madoff không bị bắt sớm hơn là vì SEC mắc kẹt với đám nhân viên bất tài, thiếu ngân sách. Họ đã điều tra hắn sáu lần. Sáu! Họ lẽ ra phải tóm hắn từ năm ’99 khi Harry Markopolos cảnh báo về hắn, nhưng SEC không bao giờ bận tâm xác nhận những cáo buộc về hắn với DTC. Vì vậy, phải, tôi khó chịu vì bị đánh đồng với gã cặn bã đó.” Cô bắt đầu bật máy ghi âm đặt ở giữa bàn. “Merrick Capital thì khác gì chứ?” “Merrick Capital là công trình nghệ thuật của chúng tôi. Các chiến lược đầu tư của chúng tôi hoàn toàn hợp pháp và lợi nhuận cho nhà đầu tư của chúng tôi là không có tiền lệ.” “Merrick Capital bắt đầu làm giả số liệu lợi nhuận từ năm 1998.” Gã có thể cảm thấy máu dồn lên tai. “Những khách hàng của tôi vẫn trở nên giàu có.” “Không phải vào năm 2008, năm đó thì không. Ông mất cả gia tài vì đặt cược vào mỏ niken ở Tây Úc.” “À phải, vụ sụp đổ lớn,” Merrick nói. “Giá mà người dân Mỹ biết cách trả tiền vay thế chấp đúng hạn.” “Ông bị bắt là lỗi của người dân Mỹ sao?” “Cô nói chuẩn đét đấy. Nếu vụ sụp đổ lớn không khiến giá niken lao dốc, thì vụ cá cược của tôi, như cô gọi nó, đã có lãi.” “À, đó chắc chắn là góc nhìn có một không hai,” cô nói, nghiêng người về phía trước. “Nhưng đó vẫn là một vụ được ăn cả ngã về không. Ông ít ra phải thừa nhận điều đó. Các kinh tế gia gọi đó là một trong những màn đánh cược vô trách nhiệm nhất trong ngành tài chính hiện đại, dù có hay không có cuộc khủng hoảng tài chính. Vậy mà giờ ông ngồi đây, tự tin về một kết quả khác. Làm sao ông biện minh được cho sự đoán chắc đó?” Trong thâm tâm Merrick biết, thậm chí là khi đó, rằng gã lẽ ra nên suy nghĩ cẩn trọng hơn. Thay vì thế, gã đã trả lời câu hỏi của cô. Mời bạn mượn đọc Trậm Điểu của tác giả Matthew Fitzsimmons & Trần Trọng Hải Minh (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Kẻ Bị Truy Nã
Hiếu Tân (dịch)   Ly kỳ, thương tâm, với những nhân vật mang tính cách mà bạn đọc không thể nào bỏ qua, Kẻ bị truy nã là tác phẩm trinh thám xuất sắc vế thế giới hậu 11 tháng Chín của John Le Carré, một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20, người góp mặt trong danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất sau năm 1945” do tờ Times bình chọn. *** Một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20. Giữa đêm tối mịt mùng, một thanh niên Nga gần chết đói được chở lậu đến Hamburg, trong chiếc ví đeo trên cổ hắn là  một số tiền mặt đáng ngờ. Gã là một người Hồi giáo mộ đạo. Hay là không? Gã xưng tên là Issa. Một cuộc điện thoại bất ngờ gọi tới văn phòng Tommy Brue, chủ ngân hàng tư nhân Anh sắp phá sản trên đất Đức. Cuộc chuyện trò ngắn ngủi giữa chủ ngân hàng dạn dày với nữ luật sư trẻ xinh đẹp đã khởi đầu cho một cú lật nhào cuộc sống của tất cả những người liên quan. Cùng lúc, Issa và chiếc chìa khóa mở tài khoản Lippizzaner bí mật trở thành mục tiêu săn đuổi và giành giật của cả ba cơ quan tình báo khét tiếng phương Tây, nhân danh “Cuộc chiến chống khủng bố”. Ly kỳ, thương tâm, với những nhân vật mang tính cách mà bạn đọc không thể nào bỏ qua, Kẻ bị truy nã là tác phẩm trinh thám xuất sắc vế thế giới hậu 11 tháng Chín của John Le Carré, một trong những tác giả hay nhất trong thể loại tiểu thuyết tình báo thế kỷ 20, người góp mặt trong danh sách “50 nhà văn Anh vĩ đại nhất sau năm 1945” do tờ Times bình chọn. *** Lời khen tặng dành cho Kẻ bị truy nã “Tăm tối, xuất sắc, mê hoặc” - Independent on Sunday “Đầy sức mạnh” - Guardian “Một trong những lời đáp hư cấu phức tạp nhất trước cuộc chiến chống khủng bố từng được xuất bản” - Guardian, Anh “Kẻ bị truy nã mang trong nó mọi yếu tố có thể khiến tác giả của nó trở  thành một trong những người quan sát quan trọng nhất trong giai đoạn lịch sử này của chúng ta.” - Telegraph, Ấn Độ “Nếu ngày nay tiểu thuyết ly kỳ trở thành một thể loại mang tính thời sự nhất thì đó hẳn là nhờ công của ngài le Carré.” - Il Sole, Ý “Vừa lôi cuốn vừa đáng tin đến khủng khiếp.” - La Repubblica, Ý “John le Carré vẫn có tài năng và sinh lực bền bỉ mà nhiều nhà văn trẻ phải ghen tị… Cùng với Kẻ bị truy nã, ông đã cống hiến cho chúng ta một trong những tiểu thuyết hay nhất của mình, đậm đặc những đặc điểm đã làm nên thương hiệu của ông: những đoạn đối thoại được chạm khắc tinh xảo, phân tích tâm lý sâu sắc và sự lộn xộn của hoạt động tình báo quốc tế.” - Libre Belgique, Bỉ “Một trong những cuốn tiểu thuyết hay nhất mà ông đã viết. Có lẽ là quyển hay nhất, có thể lắm... Đây là cuốn sách mạnh mẽ nhất, đầy khí lực nhất của Le Carré. Nó liên quan rất nhiều đến nhịp điệu kể chuyện hầu như hoàn hảo và chất văn xuôi thú vị của nó, nhưng còn liên quan nhiều hơn đến những xúc cảm của độc giả của nó... Một cuốn tiểu thuyết phi thường.” - New York Times Book Review “Giống như Graham Green trước ông, Le Carré sành sỏi thu lượm thông tin trong khi dẫn dụ người đọc vào chính cái cơn mê cuồng vì tò mò đã lôi cuốn các nhân vật của ông...Một câu chuyện được xử lý tốc độ một cách tuyệt khéo, được chế tác một cách dị thường.” - San Francisco Chronicle “Chắc chắn là một trong những quyển hay nhất của ông - có cốt truyện phức tạp, hành văn đẹp, có sức đẩy, đầy tinh thần trách nhiệm đạo đức, nhưng có tính thời sự như những tít báo hàng ngày.”- Los Angeles Times “Le Carré vẫn cứ là đẳng cấp trên so với những hàng xóm của ông trong danh sách các sách bán chạy nhất. Con sư tử đáng nể của tiểu thuyết trinh thám và chính trị ly kỳ tiếp tục khẳng định rằng thể loại này không rời bỏ một giọng điệu đạo đức, cũng như không nên từ bỏ ngôn ngữ thuyết phục.” - Chicago Sun-Times “Le Carré [viết] với một độ kiềm chế tao nhã và một thính giác tuyệt vời. Những đoạn đối thoại của ông căng và sắc nhọn... Le Carré tinh tế trong phân tích những đấu đá tranh giành tệ hại trong nội bộ làng tình báo.” - Boston Globe “Một tập hợp tính cách tuyệt vời, phức tạp, mà chỉ Le Carré mới làm ra nổi.” - Washington Times “Một tiểu thuyết tình báo cực hay... Trong bản cáo trạng về cuộc chiến chống khủng bố, Le Carré đã vẽ nên chân dung chung của những người vô tội bị kẹt trong cái mạng lưới bủa vây bừa bãi của nó.” - GQ “Căng thẳng trong diễn biến, linh hoạt đầy màu sắc khi mô tả khung cảnh Đức và đầy tinh thần truy cầu sự thật khi trình bày Cuộc chiến chống khủng bố.” - Seattle Times “Văn xuôi [của Le Carré] là vô song.” - Newsweek “Một cuốn sách đẹp - cuốn hay nhất của ông... Không nhà tiểu thuyết Anh nào - và rất ít nhà văn kiệt xuất trên thế giới - viết về những sự kiện chính trị hiện thời một cách sắc bén và đầy tưởng tượng như Le Carré.” - Sunday Times (London) “Một cốt truyện phức tạp, thỏa mãn... Văn của Le Carré giữ được vẻ trong sáng và không hào nhoáng; nó trần trụi như những gián điệp của ông, những kẻ đội lốt hơn là chơi dao găm.” - Telegraph “Le Carré xử lý các chất liệu của ông bằng những nét nhẹ nhõm mong manh hiếm hoi, thường thiếu vắng trong những chân dung hiện thời về chống khủng bố: nó là một thứ thôi miên đen, lung linh.” - Independent on Sunday “Vị trưởng lão trong làng tiểu thuyết gián điệp ly kỳ... Ông không bao giờ để lọt khỏi tầm mắt những chiều kích con người trong các nhân vật của ông. Hấp dẫn và đầy những pha hồi hộp.” - Mail on Sunday “Đối thoại của Le Carré đột ngột, nhịp nhàng và hóm hỉnh.” - Sidney Morning Herald “Một nhà tiểu thuyết được ban tặng tài năng gần như một sự kết hợp kỳ lạ giữa những điểm ưu việt nhất của Graham Green và Joseph Conrad.” - Weekend Australian “Một trong những quyển sách hay nhất của ông.” - L’Express “Một kiệt tác văn chương quyến rũ.” - Die Zeit *** Một nhà vô địch quyền Anh hạng nặng người Thổ đang thơ thẩn khoác tay mẹ đi dạo dọc một đường phố Hamburg thì không thể trách anh ta không nhận ra mình đang bị một gã trai gầy nhom mặc áo choàng đen theo dõi. Melik Lớn, như anh được biết đến và ngưỡng mộ trong vùng này, là một chàng trai thân hình đồ sộ, râu ria tua tủa, trông nhếch nhác và tốt bụng, với nụ cười tự nhiên toác đến mang tai và mớ tóc đen buộc lại sau gáy như cái đuôi ngựa, dáng đi lắc lư, nghênh ngang, không có mẹ đi bên thì anh cũng đã choán hết nửa vỉa hè. Ở tuổi hai mươi anh đã là một người nổi tiếng trong cái thế giới nhỏ bé của mình, mà không chỉ về tài nghệ trên võ đài: anh còn là đại biểu trẻ được câu lạc bộ thể thao Hồi giáo bầu lên, ba lần chiếm ngôi á quân trong Giải Vô địch Bắc Đức môn bơi bướm 100 mét, và như thể thế vẫn còn chưa đủ, anh còn là thủ môn xuất sắc trong đội bóng đá ngày thứ Bảy. Giống như phần lớn những người to con khác, anh quen được người ta nhìn hơn là nhìn người khác, đó là một lý do nữa vì sao gã trai còm nhom theo dõi anh đã ba ngày đêm liền mà chưa bị phát hiện. Hai người lần đần tiên chạm mắt nhau khi Melik và mẹ anh, Leyla, từ văn phòng du lịch al-Umma bước ra, vừa mua vé máy bay để về dự đám cưới em gái của Melik ở làng quê họ bên ngoài Ankara. Melik cảm thấy có ai đang nhìn mình chằm chằm, anh đảo mắt nhìn quanh thì đối mặt với một gã trai cao bằng anh, gầy đét, với bộ râu lởm chởm, đôi mắt sâu hoắm đỏ ngầu và một chiếc áo choàng đen dài đủ trùm đến ba lão phù thủy. Gã có chiếc khăn trùm đầu hai màu đen trắng quấn quanh cổ và một chiếc túi yên lữ hành bằng da lạc đà đeo trên vai. Gã trân trân nhìn hết Melik rồi qua Leyla mẹ anh. Rồi gã lại nhìn sang Melik, không chớp mắt, nhưng khẩn cầu anh bằng đôi mắt trũng sâu, tha thiết. Tuy nhiên cái vẻ khốn quẫn tuyệt vọng của gã trai chẳng có gì để Melik phải bận tâm cho lắm, vì văn phòng du lịch nằm ở bìa một phòng đợi nhà ga xe lửa chính, nơi đủ loại linh hồn tội lỗi - những người Đức lang thang, người châu Á, người Ả-rập, người Phi và người Thổ Nhĩ Kỳ như anh, nhưng kém may mắn hơn - suốt ngày lảng vảng, chưa kể đến những người cụt chân ngồi xe lăn chạy điện, những tay buôn ma túy và khách hàng của chúng, những kẻ ăn mày và chó của họ, và một chàng cao bồi bảy mươi tuổi đội mũ rộng vành mặc quần cưỡi ngựa bằng da đính bạc. Vài người có công việc, còn một số ít chẳng có chuyện quái gì để đứng trên đất Đức này mà may mắn lắm là được dung túng theo một chính sách bần cùng có chủ ý, trong khi chờ lệnh trục xuất tức khắc, thường đến với họ vào lúc rạng sáng. Chỉ những kẻ mới đến hoặc những kẻ ngang ngạnh điên rồ mới dám liều mạng. Những kẻ sống chui bất hợp pháp khôn ngoan hơn bao giờ cũng tránh xa các nhà ga. Một lý do chính đáng nữa để bỏ qua gã trai kia là bản nhạc cổ điển mà ban quản lý nhà ga cho mở oang oang hết cỡ trong khu vục này của phòng đợi, phát ra từ những bộ loa nhắm kỹ. Mục đích của nó còn lâu mới là để lan tỏa ra cảm giác bình yên và hạnh phúc tới các thính giả, mà là để tống cổ họ đi. Bất chấp những trở ngại ấy, khuôn mặt của gã trai gầy nhom vẫn in hằn lên ý thức của Melik và trong một khoảnh khắc thoáng qua anh cảm thấy ngượng vì hạnh phúc của mình. Tại sao anh lại phải ngượng nhỉ? Một điều tuyệt diệu vừa xảy ra, và anh nóng lòng gọi điện cho em gái để báo rằng mẹ của họ, Leyla, sau sáu tháng săn sóc người chồng ốm nằm chờ chết, và sau một năm khóc thương ông đến tan nát cả cõi lòng, đang mừng quýnh lên vì sắp được về dự đám cưới con gái, và đang cuống lên về đủ chuyện, nào không biết nên mặc gì, nào của hồi môn có đủ lớn không, nào chàng rể mới thật bảnh trai khiến ai cũng tấm tắc khen, cả em gái của Melik cũng khen. Vậy thì tại sao Melik lại không được huyên thuyên với mẹ? Anh đang làm thế, thật say sưa, suốt quãng đường về nhà. Là do sự im lặng của gã trai gầy guộc kia, lúc sau anh xác định thế. Những nếp nhăn trên một gương mặt còn trẻ như mặt mình, vẻ mặt mùa đông của hắn vào một ngày xuân đẹp đẽ. • • • Hôm ấy là thứ Năm. Và vào tối thứ Sáu, khi Melik cùng Leyla vừa ra khỏi nhà thờ thì gã lại xuất hiện, vẫn gã trai đó, vẫn chiếc khăn và áo choàng rộng quá khổ đó, núp mình trong bóng tối một khung cửa đầy bụi bẩn. Lần này Melik nhận thấy cái thân hình gầy trơ xương đó có dáng đứng nghiêng nghiêng, như thể gã vừa bị đấm bật ra và giữ nguyên góc nghiêng lệch ấy cho đến khi có ai bảo gã đứng thẳng lên được rồi. Và cái nhìn rực lửa thậm chí còn mãnh liệt hơn hôm trước. Melik nhìn thẳng vào đôi mắt trân trối ấy, anh ước giá mình chưa nhìn, và anh nhìn lảng đi. Và cuộc chạm trán lần thứ hai này càng ít có khả năng xảy ra bởi vì Leyla và Melik rất hiếm khi đi nhà thờ, ngay cả một nhà thờ ôn hòa dùng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Từ 11/9, các nhà thờ Hồi giáo ở Hamburg đã trở thành chốn nguy hiểm. Vào nhà thờ không nên vào, hay vào đúng nhà thờ nhưng gặp thầy tế không nên gặp, thế là ta có thể thấy mình và gia đình nằm trong danh sách theo dõi của cảnh sát đến hết đời. Không ai nghi ngờ rằng gần như trong mỗi hàng tín đồ cầu nguyện đều có những kẻ mật báo đi đêm với chính quyền. Không một ai, dù là người Hồi giáo hay chỉ điểm cho cảnh sát, hay cả hai, có thể quên rằng thành Hamburg đã từng là nơi vô tình chứa chấp ba tên không tặc ngày 11/9, chưa nói đến những đồng bọn của chúng, thành viên của nhóm khủng bố, những kẻ âm mưu, hoặc quên rằng Mohammed Atta*, kẻ lái chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa Tháp Đôi, đã thờ vị thần đầy thịnh nộ của hắn trong một đền thờ bình thường ở Hamburg. Mohammed Atta (1968-2001) là sinh viên Ai Cập học ở Đức cuối những năm 1990. Cùng với Ziad Jarrah, Marwan al-Shehhi và Ramzi Binalshibh lập thành cái gọi là Chỉ bộ Hamburg. Nhóm này sau đó liên kết với al-Qaeda, và Atta là tên không tặc khống chế chiếc máy bay đầu tiên đâm vào tòa Tháp Đôi, 11/9/2001. Mời các bạn đón đọc Kẻ Bị Truy Nã của tác giả John Le Carré.
Gai Hướng Dương
Là một câu chuyện giản dị mà giàu tính nhân văn về cuộc đời hai người phụ nữ: Kotani Natsuko và Ishida Tetsuko. Kotani Natsuko có một sở thích, đó là xoay đám đàn ông trong bàn tay nhỏ của mình. Mặc dù cô ta không có ngoại hình đẹp, chẳng giàu có, thậm chí còn không có một công việc ổn định, thế nhưng bằng cách nào đó, đàn ông luôn cảm thấy vui vẻ khi ở cạnh cô ta và tình nguyện mở ví rút tiền cho cô ta. Và mỗi khi gặp rắc rối, Natsuko lại nhờ một người họ hàng xa giúp đỡ. Đó là luật sư Ishida Tetsuko. Lần đầu tiên là khi Tetsuko hai mươi tư tuổi và bắt đầu làm luật sư, sau đó, với tần suất năm, bảy năm một lần, mối quan hệ khách hàng – luật sư giữa hai người kéo dài suốt gần năm thập kỷ. Rốt cuộc thì Kotani Natsuko là loại phụ nữ như thế nào? Trong đầu người đàn bà được đàn ông nhận xét là “xinh đẹp rực rỡ như mặt trời mùa hè” nhưng lại bị phụ nữ đánh giá là “lẳng lơ, tham lam” ấy chứa đựng những suy nghĩ gì? Đây là những thắc mắc mà không chỉ luật sư Tetsuko, ngay chính người đọc tiểu thuyết cũng sẽ đặt ra một cách rất tự nhiên. Rồi từng chút, từng chút một, hình tượng một Kotani Natsuko mạnh mẽ, đầy sức hút nhưng cũng không kém phần ranh mãnh, ích kỷ sẽ hiện ra chân thực và sống động trước mắt người đọc. *** Dẫu kể Gai hướng dương kể về cuộc đời của hai người phụ nữ, một Natsuko rực rỡ đầy sức sống như mặt trời nhưng lại ích kỷ dối trá, còn Testsuko lại cứng cỏi nghiêm nghị như một samurai cô độc, thì tôi vẫn luôn tìm thấy niềm vui khi khám phá về những nhân vật phụ bên cạnh hai con người ấy. Tôi vô cùng yêu thích cặp đôi văn thư Miyuki và luật sư Ogiwara. Cả hai người đều đã có gia đình nhưng họ quan tâm đến nhau theo một cách rất riêng. Miyuki lớn hơn Tetsuko 8 tuổi nhưng rất để ý đến các thay đổi nhỏ xíu. Cô không thích sự cẩu thả bừa bộn, cô để ý đến từng vết nhăn trên áo của Ogiwara. Chỉ nhìn qua cách gấp khăn của Ogiwara là Miyuki đã biết vợ chồng anh ly thân. Sau này Miyuki còn ghét cô gái mà Ogiwara đang hẹn hò, bởi việc đó khiến anh thay đổi quần áo đang mặc, không đặt lịch làm việc trước,… nói chung là vô tổ chức. Những tưởng Miyuki có tình cảm với Ogiwara nhưng có vẻ không như vậy, mối quan hệ giữa họ cao cả hơn cả tình yêu. Đó là tình giữa những con người đã gắn bó với nhau suốt nhiều năm liền. Review sách gai hướng dương Ngược lại, Ogiwara rất tin tưởng vào con mắt nhìn người của Miyuki, luôn hỏi ý kiến của cô trước khi nhận một vụ nào đó. Phong cách của Miyuki là luôn tiếp đón những người xa lạ như người thân, chứa trong đó bao nhiêu tình cảm. Mỗi câu nói của cô đều kéo tâm trạng người ta tốt hơn, cảm thấy gần gũi và sẵn sàng chia sẻ thông tin. Có lần cô ấy đã nói với theo một đứa trẻ, người đến văn phòng luật sư yêu cầu văn phòng đừng để cha mẹ ly hôn, rằng “Cháu có muốn mình hạnh phúc không?.. Cháu phải học cách chấp nhận những điều không thích cũng như nỗi buồn. Như thế mới dễ sống hơn được.” Cái câu nói ấy đã khiến cả Tetsuko và tôi phải suy nghĩ. Liệu cố gắng sửa chữa hoặc thay thế một cái gì đó mình không thích có phải là điều khiến mình hạnh phúc? Dù luôn liên kết với nhau theo một cách nào đó, nhưng cả Miyuki và Ogiwara đều vẫn rất quan tâm đến gia đình nhỏ của riêng mình. Ogiwara đã nhờ Tetsuko mua hoa để tặng cho con gái trong một buổi hẹn riêng với cô bé. Theo lời Ogiwara thì cô bé dù còn nhỏ mà đã cư xử như một bà cụ non và muốn được đối xử như một phụ nữ chân chính. Còn Miyuki dù rất yêu thích công việc tại văn phòng luật sư nhưng cũng quyết định rằng mình đã đến tuổi nghỉ ngơi. Bởi cô nhìn thấy bóng lưng người chồng khi về già sao mà nhỏ bé đến đáng thương, đó là khoảnh khắc Miyuki mong muốn được ở bên chồng cho đến cuối đời. Câu chuyện giữa người với người trong Gai hướng dương kéo dài hơn 40 năm, không chỉ là giữa mối oan gia giữa Natsuko và Tetsuko mà còn là tình bạn đẹp đẽ của Miyuki và Ogiwara. Đó mới thực sự là tri kỷ. Trương Thu Hoài Review *** Hay quá! Để viết lời bình của cuốn tiểu thuyết này, tôi đã đọc lại cuốn sách. Tuy đã đọc rồi nhưng cũng có nhiều đoạn khiến mắt tôi cay cay. Ví như đoạn nhân vật chính và đối tượng ngồi xem lại cuốn băng ghi âm lời nhắn nhủ của người đã khuất. Hoặc lúc chiếu lại bằng máy DVD cầm tay lời xin lỗi của người chồng đối với vợ cũ. Đó là đoạn Iso-kun đi cùng Ishida Tetsuko, và cậu ta đã khóc sướt mướt. Trong lòng tôi cứ nhủ thầm, Iso-kun, không được khóc đâu đấy, thế mà ngay cả tôi cũng khóc theo. Và cảnh cuối cùng khiến tôi cay mắt là lúc cao trào của truyện. Ôi, tôi thật muốn kể ngay với các bạn tại đây, nhưng thế thì mất hết cái hay, nên phải nhịn thôi. Phải giới thiệu về nội dung trước chứ nhỉ! Giờ chúng ta đi theo trình tự nhé! Đây là câu chuyện về một bậc thầy lừa đảo. Cuốn sách kể về cuộc đời chìm nổi của Kotani Natsuko, một kẻ lừa dối bẩm sinh, vô cùng ích kỷ và chuyên dựng chuyện. Cách nhanh nhất để hình dung về nhân vật này là qua lời nhận xét: “Nat-chan ấy mà, có tài năng thiên bẩm đấy, tài năng khiến cho đàn ông nhận ra được ước mơ của mình.” Thủ pháp này của tác giả cũng thật tài tình. Cô ta đến ngồi cạnh một người đàn ông bên quầy bar, hỏi anh ta nếu trúng số một triệu yên thì sẽ làm gì. Anh chàng kia liền bảo sẽ đi du lịch nước ngoài, thế là câu chuyện tiếp tục theo kiểu đi đâu rồi lúc nào, vân vân. Thực tế là anh ta chẳng trúng số, thậm chí chắc chả bao giờ mua xổ số, thế mà lại trái qua hai tiếng đồng hồ vui vẻ bên nhau. Khi ra về, cứ thử bảo là tháng sau mình không có tiền để trả tiền nhà xem, thế nào anh chàng chẳng lẳng lặng đem hết tiền trong túi ra đưa cho. Ngày hôm sau, cô ta lại ngồi cạnh một anh chàng khác bên quầy bar, rồi cũng chuyện trò rằng nếu trúng số một triệu yên, anh ta sẽ làm gì. Ngoài ra, xếp hạng mười điều vui vẻ trong cuộc đời cũng là phong cách của Natsuko. Cho dù cuộc đời có khổ đau thế nào thì cũng có một, hai việc vui, thế rồi cố gắng phân loại cái nào hơn, cái nào kém. Nhớ đến những lúc vui vẻ, con người ta sẽ trở nên dễ chịu. Bằng cách này, Natsuko đã giúp thay đổi tâm trạng cho một bệnh nhân mà cũng chẳng phải là con mồi của cô ta. Thật là một kẻ lừa đảo thú vị! Người chồng trước của Natsuko, Yoshiaki, đã nói như thế này: “Như cô biết đấy, cô ấy là người chỉ biết đuổi theo giấc mơ. Thấy tôi từ bỏ ước mơ, cô ấy khích lệ rằng không sao đâu, ai rồi cũng sẽ gặp phải chướng ngại, nhưng trên chướng ngại đó cũng sẽ có bao nhiêu là đường thông. Mắt con người chỉ để ý đến chiều cao của chướng ngại mà không biết nếu nhìn cẩn thận sẽ có đường vượt qua. Cô ấy đã đánh giá nhầm về tôi như thế đó. Lúc cô ấy ở bên, tôi như được ban cho phép màu.” Cô ta chẳng phải xinh đẹp tuyệt trần, nhưng lại khiến người khác bị hấp dẫn. Ở cùng Natsuko, chẳng hiểu sao mọi người lại thấy vui vẻ, cười nói liên tục. Tuy cô ta nói dối, tuy cô ta ích kỷ, tuy cô ta phiền phức, nhưng đó là người phụ nữ đầy sức hút. Việc tạo nên một nhân vật Natsuko như thế là điều tuyệt vời nhất của cuốn sách này, làm nên một nửa thành công cho câu chuyện. Vậy nửa còn lại là gì? Nếu nhìn vào cấu tứ của cuốn sách, chúng ta sẽ hiểu. Có nghĩa là, cách kể chuyện thông qua nhân vật luật sư Ishida Tetsuko. Đối với Tetsuko, Natsuko là cháu của em gái bà ngoại, là họ hàng xa. Lúc còn là một luật sư mới vào nghề, Tetsuko ở độ tuổi hai mươi tư cảm thấy không mấy thân thiết với người họ hàng mười bảy năm không gặp này. Hơn nữa, người này còn để lại ấn tượng xấu trong cô. Năm bảy tuổi, đến thăm nhà bà ngoại, cô gặp cô bé Natsuko cùng tuổi. Bà ngoại yêu thích may và nên đã may cho hai cô bé hai bộ váy giống nhau, và cho hai cô mặc thử luôn. Ngày hôm sau, chiếc: váy của Tetsuko bị xé tan tành, vứt trong máy giặt. Thủ phạm chính là Natsuko nhưng cô ta không hề nhận lỗi. Với một người như thế, làm sao thấy thân thiết được? Rồi mười bảy năm sau, cô ta gọi điện đến bảo là đang gặp rắc rối nên muốn gặp mặt trao đổi. Từ đó về sau, cứ vài năm, Natsuko lại liên lạc bảo là bị đòi tiền bồi thường, đang gặp rắc rối. Mối quan hệ giữa họ bắt đầu như thế. Lần thứ hai gặp mặt là năm năm sau, lần tiếp theo là bảy năm sau. Sau đó là bốn năm, bảy năm, chín năm, chín năm, sáu năm. Trong khoảng thời gian đó, Natsuko kết hôn rồi ly hôn, yêu trai trẻ, lừa người già, làm công nhân vệ sinh ở bệnh viên, làm nakai ở ryokan. Mỗi lần gặp là một lần nghề nghiệp thay đổi. Nơi ở cũng chuyển hết nơi này sang nơi khác, Hirosaki, N agoya, Wakayama, Yamaguchi, mỗi lần Tetsuko đều đến tận nơi. Mối quan hệ có thể gọi là nghiệt duyên giữa họ cứ thể duy trì. Dĩ nhiên trong quá trình này, Tetsuko cũng dần già đi. Ở chương một, cô ấy là một luật sư tập sự ở Văn phòng luật Ogiwara, hai mươi bốn tuổi, đến chương cuối, cô ấ đã nghỉ huu, là một bà lão bảy mươi mốt tuổi. Đây là một câu chuyện trải dài qua bao năm tháng như vậy, nhưng xin lưu ý rằng chưa một lần nào Natsuko xuất hiện độc lập, toàn bộ đều là qua lời kể của người khác. Đó là những đối tượng tố cáo Natsuko, hoặc là người quen ở nơi đó, là chủ quán nơi Natsuko thường đến. Thủ pháp này được sử dụng xuyên suốt cuốn sách. Không hề có câu thoại nào từ Natsuko cả. Xin chủ ý rằng, cảnh Tetsuko gặp Natsuko thường được miêu tả dưới dạng hồi tưởng, ví dụ: “Bốn tiếng trước lúc gặp Natsuko, bên khóe miệng bà ấy đã xuất hiện nếp nhăn tuổi tác.” Natsuko chưa từng xuất hiện ở bề nổi của câu chuyện. Triệt để đến mức như vậy, có thể thấy đây chính là ý đồ của tác giả. Dĩ nhiên, nội tâm của nhân vật Natsuko cũng không hề được miêu tả. Đây chính là đặc điểm lớn nhất của cuốn sách. Vì lý do đó, hình ảnh của thiên tài lừa đảo này mang sắc thái phong phú và có chiều sâu, càng ngày càng phát triển. Một điểm quan trọng nữa, đó là song song với việc miêu tả cuộc đời của thiên tài lừa đảo Kotani Natsuko, cuốn sách còn dành phần lớn đất để miêu tả cuộc đời của luật sư Ishida Tetsuko. Từ lúc còn là luật sư tập sự, không biết làm thế nào để thu xếp công việc, rồi dần dần biết việc hơn, tích lũy kinh nghiệm, cho đến khi nghỉ hưu. Cuộc đời của nhân vật được miêu tả rất sống động và chân thực. Khác với một Natsuko luôn rực rỡ và giỏi xã giao, Ishida Tetsuko không cởi mở, bạn bè cũng chẳng có, chỉ biết đến công việc. May mắn thay, cô được vào làm luật sư tập sự ở Văn phòng luật Ogiwara. Cô không nghĩ đến việc ra riêng, có lẽ là vì tôn trọng nhân cách của luật sư Ogiwara. Một lý do nữa là Miyuki đã hỗ trợ rất tốt cho cô, cũng như rất giỏi trong việc quyết toán. Luật sư tập sự mới của văn phòng Isozaki cũng là một thanh niên tốt. Tetsuko còn có người bạn thân là chồng cũ Sakaguchi, một người chị cá tính, và một người anh tuy vô dụng nhưng không thể nào ghét được. Tuy có lúc này lúc khác, nhưng có thể nói rằng Tetsuko đã may mắn gặp được họ. Nhưng cô có người bạn thực sự nào không? Cô có thực sự hạnh phúc không? Vụng về, cô đơn, dường như lúc nào cũng có thể bị sự trống rỗng nhấn chìm, chúng ta có thể thấy mình trong một Tetsuko như thế. Chúng ta không thể sống như Natsuko, nếu được vậy thì không biết sẽ tuyệt đến mức nào. Nhưng cuộc đời là thế, rất nhiều chuyện có muốn cũng chẳng được. Đúng vậy, cho nên tôi mới bị cuốn sách này thu hút. Lúc nhận ra điều này, tôi nhớ đến đoạn cuối. Cho dù không có bạn bè, mỗi ngày đều làm bạn với nỗi cô đơn thì cũng đừng chán nản với cuộc đời. Những lời trong bức thư cuối khiến tôi xúc động. Đây là cuốn tiểu thuyết hay, một kiệt tác của Katsura Nozomi. Nhà phê bình văn nghệ Kitagami Jiro Mời các bạn đón đọc Gai Hướng Dương của tác giả Nozomi Katsura.
Vụ Án Mạng Thứ Sáu
Thám tử Kỳ Phát là bộ truyện đã làm nên danh tiếng của "Vua trinh thám Việt" - nhà văn Phạm Cao Củng. Giống như Sherlock Holmes, Kỳ Phát luôn đề cao lí trí, lấy suy luận làm phương cách phá án. Vụ án mạng thứ sáu là tác phẩm tiếp theo trong Series truyện Thám tử Kỳ Phát, đánh dấu sự trở lại của Kỳ Phát sau một thời gian ở ẩn. Đón chờ chàng thám tử tài ba của chúng ta là một vụ án khá hóc búa. Hai cụ già, có thân phận và hoàn cảnh không liên quan gì đến nhau nhưng lại lần lượt bỏ mạng bởi một sợi dây thừng siết chặt quanh cổ. Thủ phạm sau khi ra tay đã để lại những lời cảnh báo đầy ngạo mạn, tự xem mình là "sứ giả" được Trời sai xuống để "hóa kiếp" cho các cụ già tới số. Bí mật ẩn sau những vụ án mạng này là gì? Thân phận thật sự của kẻ giết người là ai? Liệu Kỳ Phát có thể tìm ra thủ phạm trước khi có thêm những nạn nhân mới. *** Thám tử Kỳ Phát là bộ truyện đã làm nên danh tiếng của “Vua truyện trinh thám Việt Nam” - Phạm Cao Củng. Giống như Sherlock Holmes, Kỳ Phát luôn đề cao lý trí, lấy suy luận làm phương cách phá án. Series Thám tử Kỳ Phát gồm 5 cuốn: Đám cưới Kỳ Phát; Nhà sư thọt; Chiếc tất nhuộm bùn; Vết tay trên trần; Kỳ Phát giết người. Vụ Án Mạng Thứ Sáu Mặc dù học tập và ảnh hưởng từ truyện trinh thám phương Tây, nhưng Phạm Cao Củng đã sáng tạo nên những câu chuyện thấm đẫm đời sống Việt Nam, tính cách Việt Nam. Phá án theo phương pháp suy luận diễn dịch kiểu Sherlock Holmes, song nhân vật của Phạm Cao Củng mang đậm những phẩm chất được ưa chuộng ở phương Đông: trọng nghĩa khí, coi thường tiền bạc, không hành động vì thù lao, luôn tôn trọng tình cảm, đạo đức. Kỳ Phát giết người: Một hôm, nhận được thư của Cúc, Kỳ Phát vội vàng tới gặp tình cũ. Chồng Cúc mới qua đời, đứa con trai tên Hoàn lại bị bắt cóc, khiến cho nàng vô cùng hoang mang, đau đớn. Cùng lúc đó, một cậu bé tên Hoàn khác cũng mất tích. Kỳ lạ là trong cả hai vụ, hai gia đình đều bị trộm đột nhập nhưng chỉ mất mấy đôi đũa. Ai là kẻ chủ mưu đứng sau tất cả mọi chuyện? Kỳ Phát phải làm gì để tìm được con trai Cúc? Bí mật nào ẩn giấu đằng sau hai vụ bắt cóc và những đôi đũa bị đánh cắp? *** Qua con đường Sông Máng ngoằn ngoèo khúc khuỷu, tới gốc đa cụt, rẽ theo con đường điện thoại lối hai trăm thước thì đến đầu làng Văn Bối. Người ta có cảm tưởng như vừa bước vào một ngôi đền rộng lớn, vì ở đây, cổng làng dựng theo kiểu tam quan, và từ đó trở đi, đường lát toàn bằng đá phiến màu xanh biếc, bên lề lại có hàng thông, tiếng reo theo gió vi vu... Ngay cổng làng có hai dãy hàng quán: mấy lều bán nước, một hiệu thợ giày, một nhà chữa xe đạp, còn thì toàn hàng thịt chó. Ở đây, hình như có mấy tay chuyên môn làm thịt chó đã nổi tiếng từ xưa ở Hà Nội, vẫn thường được triệu đến khi các nhà quyền quý muốn thiết khách phương xa một bữa tiệc thịt chó cầu kỳ. Tới đây, chàng thiếu niên chợt dừng bước, ngơ ngác nhìn quanh, vì như thoáng nghe tiếng gọi: - Ông Kỳ! Ông Kỳ! Không thấy ai là người quen thuộc, chàng lại toan cất bước, ngờ rằng cặp tai mình bị huyễn hoặc theo dư âm của tư tưởng vừa thoáng qua. Nhưng không, quả có tiếng người gọi: - Ông Kỳ! Tiếp đó là tiếng người vừa hỏi, vừa cười ha hả: - Ông Kỳ Phát, ông đã chóng quên anh em thế? Kỳ Phát nhận ra người gọi mình là một người vào trạc tứ tuần, nhỏ bé, vận một bộ com-lê màu rêu rộng thùng thình, dáng chừng mua lại của một hàng quần áo cũ nào đó, đầu đội một chiếc mũ cát-két bằng da báo. Người ấy rướn cổ nhòm ra, trước một cửa hàng thịt chó, những toan chạy theo ra hẳn nếu Kỳ Phát không dừng bước. Sự thực, tuy ngờ ngợ quen quen, Kỳ Phát cũng chưa nhận ra là ai cả. - Ông Kỳ, thì ông hãy vào đây đã nào, ông hàng đây không lấy tiền chỗ ngồi của ông đâu mà sợ. Ông hàng thịt chó cũng đon đả tiếp: - Nhà cháu vừa pha ấm nước ngon lắm! Người đội mũ cát-két vênh mặt lên bảo ông chủ hàng: - Uống nước là thế nào? Hôm nay thì ông Kỳ phải ở lại đây xơi rượu đã! Và thấy Kỳ Phát có vẻ lúng túng, chưa biết trả lời ra sao thì người ấy lại phá lên cười: - Lòng người chóng thay đổi thực, ông quên tôi chứ tôi quên ông thế nào được? Vậy ông không phải họ Kỳ tên Phát, là chàng trinh thám muôn đời vẫn còn trẻ mãi trong lòng người ư? Ông quên thiên hạ, đã bao năm nay kín tiếng bặt hơi, nhưng thiên hạ quên ông sao được, người ta vẫn nhớ ông mãi, nhớ ông là người anh hùng trong bao vụ án rắc rối ly kỳ như vụ “Nhà sư thọt”, “Ba viên ngọc bích”... Người ấy nói nhiều quá, làm cho Kỳ Phát ngượng và không còn cách nào hơn là bước vào hàng: - Tôi gần đây không được khỏe lắm nên trí nhớ kém đi nhiều... Người ấy vỗ vào vai chàng, gật gù đỡ lời: - Nào tôi có dám trách gì ông đâu! Năm, sáu năm rồi còn gì nữa! Nhưng để tôi nói ông nghe... Thế này thì ông sẽ nhớ ra ngay tức khắc: tôi chính là bác Ba “thợ cạo” vẫn ngồi làm ở cửa nhà ông... gì này này, bạn ông ấy mà... Kỳ Phát reo lên mừng rỡ: - Bác Ba Hùy! Người đội mũ cát-két cũng reo lên nhắc lại: - Ba Hùy, đúng rồi, chắc ông không bao giờ lại ngờ “tha hương ngộ cố nhân” đấy nhỉ? Kỳ Phát không ngờ, vì chàng không bao giờ tưởng tới lại có thể gặp ở chỗ hẻo lánh này người thợ cạo mà chàng vẫn gọi đùa là Ba Hùy, người mà bạn chàng, hoặc chàng, mỗi khi đi vắng lại khóa cửa dặn: - Này, bác Ba Hùy, hễ có ai gọi hỏi gì thì bác nói giùm rằng chúng tôi đi hai hôm nữa mới về nhé! Bác Ba Hùy, vì hàng ngày vẫn bắc chiếc ghế vải ngồi cắt tóc cho khách ngay ngoài cửa nhà này, nên đã thành một “nhân viên thường trực” không lương cho hai chàng thanh niên ưa hoạt động. Kỳ Phát ngắm nghía Ba Hùy lại một lần nữa, rồi cười bảo: - Trông bác sang thế này, khác hẳn trước, thì tôi nhận ra sao được! Ba Hùy vỗ vào túi áo rồi đặt chiếc mũ cát-két xuống, trả lời: - Nghĩa là cũng “hình thức” cả thôi, ông ạ. Được cái tản cư thế này com-lê com liếc hay quần nâu áo vải, ăn vận thế nào cũng được, láo nháo chẳng ai để ý đến ai cả. Quay lại ngắm nghía Kỳ Phát, giây lâu, Ba Hùy tiếp: - Trông ông thì vẫn thế, chẳng thay đổi chút nào cả. Vẫn cặp mắt sáng nhanh, vẫn cái cười nửa miệng, còn cách ăn vận đối với ông thì chẳng kể được, ngay thời bình cũng vậy, ông luôn luôn thay hình đổi dạng đố ai nhận ra được nữa là... Ngừng lại một phút để suy nghĩ bác lại tiếp: - Đã hai lần tôi gặp ông đi qua đây, song không dám gọi vì thấy ông đi vội, và lại tôi cũng ngại sợ ông bận việc gì. Kỳ Phát mỉm cười, lắc đầu bảo: - Tôi có bận gì đâu, ít lâu nay chẳng làm gì, chỉ nằm một chỗ xem sách nên sinh ra lười, không giống như ngày xưa luôn luôn ưa hoạt động... Ba Hùy nhìn Kỳ Phát chăm chú giây lát, bỗng thở dài nói: - Nếu thế thì tiếc lắm nhỉ, tôi cứ tưởng rằng óc trinh thám của ông vẫn còn ưa tìm tòi hoạt động nên muốn hiến ông một vụ... Bỗng Ba Hùy dừng bặt, bước sấn lại bên Kỳ Phát, nắm chặt lấy hai vai chàng, nhìn sát lại gần thật kỹ, rồi ha hả cười lớn: - Có thể chứ, Kỳ Phát bao giờ cũng là Kỳ Phát của thời xưa. Tôi thấy mắt ông sáng quắc hẳn lên khi thoáng nghe có chuyện ly kỳ bí mật, tôi biết chắc rằng ngọn lửa thiêng trong lòng chàng thanh niên trinh thám số một của nước Việt Nam vẫn cháy bất diệt suốt ngàn đời... Kỳ Phát mỉm cười, kéo Ba Hùy ngồi xuống rồi bảo: - Điều này tôi nhận xét thì chắc không sai được, đó là ông Ba Hùy của tôi dạo này nói nhiều lắm, thao thao bất tuyệt, tôi không tài nào theo kịp được. Quay lại phía ông hàng thịt chó, Kỳ Phát vui vẻ tiếp: - Mà rượu của ông hàng chắc hẳn phải ngon lắm, nên ông bạn tôi đây càng uống càng ngọt giọng nói nhiều... Ba Hùy gật gù cười khi, ngắt lời Kỳ Phát: - Chết chửa, mải chuyện lôi thôi quên ngay mất điều cốt tử. Rượu hàng đây là của lò ngon nhất Đồng Văn, uống ngọt giọng mà say phải biết. Ông hàng cho thêm đũa chén ra đây, ông Kỳ phải uống với tôi một bữa thực là say túy lúy! Kỳ Phát lắc đầu từ chối: - Thôi, ông để cho khi khác. Ông cũng chẳng còn lạ gì, tôi có uống được rượu đâu, góc chén hạt mít thì đã gọi là say túy lúy, mặt bấy giờ sẽ hệt như Quan Công hiển thánh... Ba Hùy vẫn không lưu ý đến lời Kỳ Phát, vẫn ung dung lấy giấy bản lau đũa chén cho chàng rồi rót rượu: - Điều ấy không can hệ gì mấy, ông Kỳ ạ! Tôi chỉ muốn biết: ông thích tôi kể cho ông nghe vụ án ly kỳ hiện đương làm cho nhà chuyên trách vùng này rối như tơ vò không? Kỳ Phát gật đầu: - Điều ấy thì đã hẳn rồi, ông còn hỏi tôi thì khí thừa một chút! Ba Hùy gật gù đắc ý: - Vậy thì ông Kỳ ạ, ông không nên từ chối gì hết, hãy uống rượu và nhắm món rựa mận đi đã, ông sẽ thấy rằng ông hàng đây quả đã xứng danh là vô địch trong khoa nấu nướng thịt cầy... Kỳ Phát lắc đầu: - Ngồi chơi với ông thôi, chứ uống rượu thì chịu, tôi có uống được đâu... Ba Hùy ngắt lời: - Không nói lôi thôi gì hết, tôi chỉ biết có một điều kiện: ông có thích nghe chuyện thì đánh chén thịt chó với tôi, bằng không thì tôi nhất định nửa lời cũng không nói nữa... Kỳ Phát biết rằng Ba Hùy đã nắm được nhược điểm của mình, đành đấu dịu: - Vâng, thì tôi xin uống rượu thôi, chứ còn thịt chó thì chịu... - Sao lại chịu? “Sống ở trên đời chén miếng dồi chó” mà lại! - Không, tôi không biết ăn thịt chó thực! - Lại không biết! Cái gì mà đầu tiên người ta chẳng không biết, vậy rồi mà cũng biết tất. Ông Kỳ Phát ạ, ông không nên thoái thác, ông xơi một hớp rượu, rồi nhắm một miếng chả chó xem nó có “thú lý tình” không? - Tôi không biết ăn thực! - Tôi đã bảo không sao mà lại, rồi biết tất. Vả lại, ông chớ có quên, tôi chỉ có một điều kiện, ông phải đánh chén thịt chó với tôi, nếu không... Ngừng lại một phút, Ba Hùy nheo cặp mắt tinh nghịch nhìn Kỳ Phát: - Mà vụ án ly kỳ đặc biệt ông ạ, một án mạng, hai ba án mạng, rồi không chừng năm sáu án mạng nữa tiếp theo... Kỳ Phát gợi chuyện: - Ông nói đúng đấy, đã có hai ba thì sẽ tiếp theo năm sáu là thường, nhưng phải biết rõ người bị giết đầu tiên đã. Ông có thấy gì đáng để ý... Ba Hùy cười ha hả, gắp một miếng chả chó đặt vào bát Kỳ Phát rồi tủm tỉm cười: - Tôi tuy vô phép ông mà uống trước mất non một cút rượu rồi, nhưng tôi vẫn chưa đến nỗi say đâu, ông ạ, và không say, lẽ tất nhiên tôi không dại gì mà ông chưa đánh chén với tôi, tôi đã khờ khạo đi nói chuyện cho ông nghe về vụ án, dù là một đoạn mở đầu! Nào, xin rước ông, ta hãy đưa cay đi đã, rồi chúng ta sẽ nói chuyện sau. Kỳ Phát biết Ba Hùy đã nhất định đưa mình vào con đường cụt, khó thoát lối nào được nữa. Chàng gắp miếng chả chó lên rồi lại ngần ngại đặt xuống bát. Ba Hùy khuyến khích: - Ông cứ xơi thử mà xem, ngọt hơn thịt bò mà đậm hơn thịt gà, ông ạ, ăn một miếng thịt chó làm đúng cách thì dư vị còn ngon đến ba ngày sau không ít... Người ta vẫn nói, sức mạnh của tuyên truyền lợi hại thực, có nói thành không, không thành có là thường. Kể ra thì Ba Hùy tuyên truyền cho cái sự ngon lành của món ăn hoàn toàn Việt Nam ấy cũng đã mạnh, nhưng Kỳ Phát lúc nhắm miếng thịt chó đầu tiên trong đời vẫn thấy rùng mình ghê rợn, và chàng vội vàng tợp ngay một hớp rượu đưa cay... Ba Hùy ha hả cười lớn: - Khá lắm, có thể chứ, biết mùi rồi, chỉ sợ từ nay ông lại chẳng ngày nào cũng lại đây đánh chén thịt chó tì tì! ... Mời các bạn đón đọc Vụ Án Mạng Thứ Sáu của tác giả Phạm Cao Củng.
Đứa Con Xa Lạ
Đứa con xa lạ là tiểu thuyết của nhà văn Anh - Rachel Abbott. Tác phẩm vừa được Nguyễn Xuân Hồng dịch, Nhà xuất bản Văn học và Văn Việt Books phát hành. Câu chuyện mở đầu bằng một vụ tai nạn khó hiểu trong một đêm không trăng. Caroline Joseph lái xe đưa con gái sáu tuổi Natasha về nhà sau bữa tối cùng họ hàng thì nhận một cuộc điện thoại bí ẩn. Sau cuộc điện thoại, chiếc xe của cô bị trượt trên đường và lật ngửa. Caroline qua đời còn con gái cô - Natasha - biến mất không dấu vết. Sáu năm sau, Natasha đột ngột xuất hiện trong nhà như một bóng ma bí ẩn. Bố cô là David lúc này đã đi bước nữa với Emma và có cậu con trai nhỏ tên Olive. Natasha đối xử với bố và dì như những kẻ thù với sự lạnh lùng, tàn nhẫn mà khó ai ngờ một đứa trẻ 12 tuổi có thể làm được. Cô bé cũng không hé một lời về sáu năm qua của mình và vì sao cô có thể quay trở về. Cuộc điều tra của cảnh sát dần hé lộ thân phận của Natasha. Ngoài sự căm hận với bố, Natasha còn phải đứng trước lựa chọn hoặc làm theo hoặc bị những kẻ điều hành giết. Trong thời gian đó, chính Natasha bị cảm hóa bởi sự kết nối lạ lùng với người mẹ kế và đứa em cùng cha khác mẹ.Trong khi David cố tìm cách để kết nối lại với con gái, vợ anh là Emma cảm thấy bất an trước sự xuất hiện lạ lùng của Natasha. Khi Emma ra ngoài để tránh sự ngột ngạt trong gia đình, con trai cô Olive đã bị Natasha giao cho những kẻ bí ẩn. Tác phẩm cũng dần hé lộ người liên quan tới vụ tai nạn của Caroline Joseph năm nào. Sâu xa của vụ việc là những mối quan hệ làm ăn bí hiểm, những lựa chọn, đấu tranh để giữ gìn hạnh phúc... *** Tác giả Rachel Abbott sinh ra và lớn lên ở Manchester, Anh. Bà được đào tạo làm chuyên gia phân tích hệ thống nhưng lại mở công ty truyền thông đầu thập niên 1980. Sau khi bán công ty năm 2000, bà chuyển tới vùng Le Marche, Italy và bắt đầu viết lách. Rachel từng xuất bản các tiểu thuyết Only the Innocent (Chỉ là  kẻ vô tội), The Back Road (Lối sau) và Sleep Tight (Say ngủ). *** Thêm mười phút nữa, và cô sẽ an toàn ở nhà. Caroline Joseph rùng mình khoan khoái vì chuyến đi dài đằng đẵng sắp kết thúc. Chưa bao giờ cô thích việc lái xe ban đêm và cô luôn cảm thấy hơi mất kiểm soát. Từng cặp đèn pha tiến đến gần dường như đều hút cô về phía chúng, thứ ánh sáng màu trắng của chúng soi tỏ không gian trong xe, trong khi cô nắm chặt vô lăng, cố hướng chiếc xe thẳng về phía trước. Nhưng giờ thì không còn lâu nữa. Cô mong được đem Natasha đi tắm nước ấm, uống một cốc sô cô la nóng, và ủ con bé trên giường. Sau đó cô có thể dành nốt thời gian còn lại của buổi tối cho David. Anh đang gặp chuyện gì đó bực bội, và Caroline nghĩ rằng nếu họ có thể ngồi trước đống lửa cùng với một ly rượu vang khi Natasha đã say ngủ thì cô có thể thuyết phục được anh nói ra mọi chuyện. Chắc chắn phải là chuyện gì đó liên quan đến công việc. Cô liếc nhìn cô con gái quý báu của mình qua gương chiếu hậu. Tasha đã sáu tuổi - hay sáu ba phần tư, như cách cô vẫn thích đem khoe - mặc dù thân hình mảnh khảnh của con bé khiến nó trông nhỏ tuổi hơn. Mái tóc vàng nhạt của nó buông thành những lọn quăn mềm mại trên vai, và những đường nét thanh tú của nó thỉnh thoảng lại sáng bừng lên trong thứ ánh sáng vàng khi họ đi qua những ngọn đèn đường. Mắt con bé nhắm chặt, và Caroline mỉm cười trước vẻ bình an của con bé. Hôm nay Tasha thể hiện tính cách dịu dàng như thường lệ, chơi rất vui vẻ với anh chị em họ trong khi đám người lớn bận rộn làm theo lệnh bố của Caroline. Ông cụ đã đưa ra một “chỉ dụ” - lần này tuyên bố rằng Caroline, cùng với các anh chị em và gia đình của họ, phải đến dự một bữa tối trước dịp Giáng sinh. Bình thường, tất cả mọi người đều vâng lời. Tất cả mọi người có nghĩa là trừ David ra. Đường rẽ vào những con hẻm dẫn tới nhà họ vùn vụt tiến lại gần, Caroline liếc nhìn Natasha lần chót. Khi họ rời khỏi đường chính và xa dần những khung cửa sổ của các cửa hiệu đèn đuốc sáng choang, quầng sáng màu hổ phách của những ngọn đèn đường cao vút, khoang sau xe chìm vào bóng tối. Con bé ngủ suốt cả chuyến đi, nhưng lúc này bắt đầu cựa quậy. “Con ổn chứ, Tasha?” Caroline hỏi. Đứa bé chỉ làu bàu đáp lại, vẫn chưa tỉnh ngủ hẳn để trả lời trong lúc đưa mu bàn tay dụi dụi mắt. Caroline mỉm cười. Cô đạp nhẹ phanh và chuyển số để rẽ. Tất cả những gì cô phải làm là chạy nốt vài dặm đường cuối cùng của chuyến đi này, dọc theo những ngõ phố hẹp có hàng giậu hai bên, chìm sâu trong bóng tối, và rồi cô có thể nghỉ ngơi. Cô chợt thấy lo lắng về David. Anh biết cô rất ghét lái xe buổi tối, và lẽ ra anh có thể cố gắng - vì Natasha, nếu không phải vì cô. Hôm nay cả hai người đều nhớ anh. Có một chuyển động đột ngột bên trái thu hút ánh mắt của Caroline, và cô xoay đầu về phía đó, tim cô đập nhanh trong lồng ngực. Một con cú xà thấp xuống hàng giậu, phần ngực trắng xóa của nó bắt trọn quầng ánh sáng từ đèn pha của cô, sáng rỡ trên nền trời đen. Cô thở phào. Trời không có trăng, và mặt đường đen kịt trên các ngõ phố dẫn tới ngôi nhà của họ lấp loáng những hạt sương. Mọi thứ xung quanh cô dường như yên tĩnh hoàn toàn, như thể cả thế giới vừa dừng lại, và giờ nếu con cú bay đi thì cô là vật duy nhất vẫn còn chuyển động. Caroline biết, nếu cô mở cửa sổ, sẽ chẳng có tiếng động gì ngoài tiếng động cơ xe ầm ì khe khẽ. Phía trước hay đằng sau đều chẳng có ánh sáng, và trong phút chốc, nỗi sợ bóng tối rất tự nhiên của cô nhăm nhe ụp xuống. Cô rướn người về phía trước, bật radio với âm lượng nhỏ, cảm thấy bình tâm nhờ sự vui tươi của những ca khúc dịp lễ. Chẳng mấy cô sẽ phát ngán với những âm thanh này nhưng ngay lúc này, sắc thái vui vẻ thường lệ của chúng khiến cô thấy thư thái. Cô mỉm cười khi điện thoại trên ghế ngồi cạnh mình bắt đầu reo. Chắc chắn rằng đó là David muốn hỏi khi nào cô về, cô chỉ hơi liếc nhìn màn hình, nhưng đúng khoảnh khắc cuối cùng cô nhận ra, cuộc gọi đến từ một số đã được ẩn. Cô chạm vào màn hình và hủy cuộc gọi. Dù là ai thì cũng cứ đợi tới lúc cô về đến nhà đã. Cô đánh lái bằng một tay để cua nhanh trong lúc đặt điện thoại trở lại ghế ngồi, khiến chiếc xe hơi trượt đi trên mặt đường lạnh lẽo. Cô cảm thấy hơi hoảng. Nhưng chiếc xe vẫn vững, và cô lại thở bình thường. Caroline ngoặt thật cẩn thận ở những chỗ tiếp theo, nhưng đôi vai căng cứng của cô trùng xuống khi cô chạy đến một đoạn đường thẳng có bờ giậu cao che chắn, cùng những đường rãnh sâu dọc hai bên. Caroline rướn sát vào kính chắn gió, đăm đăm nhìn sâu vào màn đêm. Đèn pha xe cô đang rọi vào một khoảng tối thẫm hơn - có gì đó trong ngõ phố phía trước. Cô hơi đạp phanh và ve một số, chạy chậm lại vẻ phòng xa. Cô chuyển tiếp về số hai để tiến gần vật cản, hãi hùng nhận ra đó là một chiếc xe hơi, xoay nghiêng chắn ngang đường, hai bánh trước của nó vùi xuống rãnh bên mé phải đường. Cô nghĩ mình nhìn thấy một bóng đen trong xe, như thể có ai đó đổ gục trên vô lăng. Khi Caroline chầm chậm tiến về phía chiếc xe, tim cô bỗng đập rộn, cô nhấn nút để hạ kính cửa sổ. Trông như có người cần được giúp đỡ. Điện thoại lại reo vang. Ý nghĩ đầu tiên của cô là mặc kệ, nhưng nếu đã xảy ra một vụ tai nạn thì cô có thể cần gọi thêm hỗ trợ. Cô vớ lấy điện thoại trên ghế và trả lời cuộc gọi, nhận ra tay mình đang run bắn. “A lô?” “Caroline, em về nhà chưa?” Đó là một giọng nói cô mơ hồ nhận ra, nhưng không sao xác định rõ được. Mắt cô không rời vật cản phía trước trong lúc cô dừng lại và mở dây an toàn. “Vẫn chưa. Nhưng sao? Ai đấy?” “Nghe anh này. Cho dù em làm gì, em cũng đừng dừng xe lại. Cho dù có chuyện gì xảy ra, trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng đừng dừng xe lại.” Người đàn ông nói nhỏ và nhanh. “Về nhà. Về thẳng nhà. Em nghe anh nói không?” Vẻ hoảng hốt của giọng nói trong điện thoại tương ứng với tâm trạng lo lắng dần tăng của chính Caroline. Cô ngập ngừng. “Nhưng có một chiếc xe nằm ngang đường, và trông như có người bên trong. Có thể họ bị bệnh, hoặc họ vừa gặp tai nạn. Tại sao tôi không thể dừng lại? Có chuyện gì vậy?” “Cứ làm như lời anh đang bảo, Caroline. Đừng ra khỏi xe. Đạp chân xuống ngay và chạy qua chiếc xe đó, đừng có dừng lại vì bất kỳ ai hay bất kỳ cái gì. Cứ làm đi.” Giọng nói khẩn trương, gấp gáp. Caroline cảm thấy nỗi sợ dâng lên trong cổ họng. Chuyện này là sao? Cô liếc nhìn gương chiếu hậu, và quyết định. Cô ném điện thoại di động lên ghế cạnh mình, nắm lấy vô lăng bằng cả hai tay. Chiếc xe nằm bẹp kia dài và thấp, choán hầu hết bề rộng mặt đường với hai bánh sau hơi hẫng khỏi mặt đất vì ca-pô chếch xuống rãnh. Không có nhiều chỗ để vòng qua phần thùng sau của chiếc xe, nhưng cô có thể làm được. Cô phải làm được. Cô đạp mạnh chân xuống sàn. Lốp xe trượt trên mặt đường lạnh lẽo, nhưng vẫn bám được, và cô đánh xe sang trái. Bánh xe bên trái cô leo lên bờ đường bên dưới hàng giậu và chiếc xe lượn một góc khá nguy hiểm. Cô xoay vô lăng trở lại bên phải và chiếc xe của cô nện mạnh xuống, hướng thẳng mé bên kia đường. Caroline lại đánh lái sang trái để chỉnh thẳng hướng, động cơ rồ lên khi cô tăng tốc. Đột nhiên cô cảm thấy mình bắt đầu trượt đi. Cô cuống cuồng xoáy vô lăng hết hướng này lại hướng khác, nhưng cho dù cô làm gì, chiếc xe vẫn chẳng nghe lời. Băng phủ mặt đường, và cô đang đi quá nhanh. Cô nhớ đã được dặn cách lái xe ở chế độ trượt, nhưng cách đó cũng không ổn. Trong đầu cô vụt lóe lến một cái tên. Cô đột nhiên nhận ra ai vừa gọi cho mình. Nhưng tại sao lại là anh ta? Cô gọi to tên anh ta, nhưng cô biết rằng lúc này anh ta chẳng thể làm được gì. Mắt cô bị hút về phía gương, về phía khoang sau tối om của chiếc xe, nơi tất cả những gì cô nhìn thấy là màu trắng trong đôi mắt mở to, hãi hùng của Natasha. Cô đạp mạnh chân phanh, nhưng chẳng ăn thua. Chiếc xe trượt nghiêng, va vào bờ đường lần nữa, chồm lên một góc và bật tung, lăn lông lốc, va mạnh qua hàng giậu và đâm sầm xuống rãnh, cơ thể gãy rời của Caroline văng đi rồi nằm yên nửa trong nửa ngoài ô cửa sổ để ngỏ. Viên cảnh sát lái xe dọc theo những ngõ phố hẹp, tận hưởng khoảnh khắc bình yên hiếm hoi trong thời khắc sắp đến Giáng sinh. Một người giấu tên gọi đến báo có một chiếc xe hơi văng khỏi đường ở đâu đó quanh đây, nhưng theo nhân viên điều phối, người gọi đến không cung cấp thêm được chi tiết nào nữa. Viên cảnh sát hy vọng vụ này chỉ là một gã đần nào đó phá xe vì bị cạn xăng hoặc trục trặc. Anh đã phải xử lý quá đủ đám say xỉn vào cái mùa tiệc tùng này rồi, và một chiếc xe xinh xắn bị bỏ lại sẽ lại khiến anh phải rời khỏi đường một lúc - thậm chí có khi đến hết ca trực luôn. Dần dần anh nhận ra rằng không thể tìm được sự lạc quan ấy của mình. Những ánh đèn khiến anh phải tin. Không ai vứt bỏ xe của mình mà đèn vẫn sáng cả, và đằng trước anh còn nhìn thấy một ngọn đèn trắng đứng yên, chiếu sáng quắc, soi tỏ những hàng cây trơ trụi bên đường. Lúc anh lại gần hơn, quầng ánh sáng chói chang từ cặp đèn pha khiến anh lóa mắt. Anh dùng mu bàn tay che bớt mắt, hết sức thận trọng tiến lại gần phòng trường hợp có người nằm trên đường mà anh không thể nhìn thấy. Anh tiến đến cách chiếc xe khoảng hai mươi mét và tắt động cơ. Ngay lập tức anh thấy rằng tình hình rất tệ. Chiếc xe bị lật ngửa, phần trước ghếch lên một bên bờ hẻm. Nhưng chính tiếng động mới khiến anh rùng mình sởn tóc gáy. Xen lẫn với tiếng nổ đều đều êm ả của động cơ xe đắt tiền vang lên trong không gian thôn dã tĩnh mịch xung quanh, chính là nhạc nền rất huyền ảo không lẫn đi đâu được của bài White Christmas của Bing Crosby. Tiếng nhạc thư thái tuôn vào không khí buổi đêm lạnh lẽo qua một ô cửa để ngỏ, nơi đầu của một người phụ nữ thò ra ở một góc rất khó tin khiến viên cảnh sát không cần đến gần chiếc xe cũng biết cô ấy đã chết. Anh chầm chậm tiến lại phía chiếc xe dựng ngược để tắt động cơ, và cả tiếng nhạc. Anh đã có thể hít thở trở lại. Giờ thì đây chỉ là một vụ tai nạn giao thông trên đường với duy nhất một chiếc xe gặp nạn, mặc dù rất thảm khốc. Anh với lấy bộ đàm. Trong lúc đợi nhân viên cấp cứu đến, biết rõ rằng họ chẳng thể làm gì hơn là xác nhận những gì anh đã biết, viên cảnh sát tiến hành chặn đường, gọi nhóm chuyên gia đến điều tra vụ tai nạn và đề nghị kiểm tra trên hệ thống máy tính cảnh sát toàn quốc về chiếc xe để xác định chủ sở hữu. Anh vớ lấy một chiếc đèn pin cực mạnh trong ngăn hành lý của mình và rọi quanh ngõ phố, rọi xuống hào, dọc theo bờ đường, cố tìm kiếm xem có ai từng tìm cách bò ra khỏi chiếc xe, có thể bị thương, hoặc thứ gì đó trên đường có thể là nguyên nhân khiến chiếc xe bị mất lái không. Chẳng có gì cả. Con đường trống trơn. Viên cảnh sát thấy nhẹ người khi không khí yên ắng bị phá vỡ bởi những tiếng còi rúc càng lúc càng gần, và chỉ vài phút sau xe cứu thương vụt đến, ánh đèn của xe làm hiện ra một người đi xe đạp một mình đang ngập ngừng tiến lại hiện trường. Người đàn ông nhảy xuống xe và đứng cách một quãng. Viên cảnh sát tiến lại phía anh ta. “Xin lỗi, thưa ông - ông cần lùi lại.” “Vâng, thưa ngài sĩ quan. Tôi chỉ đang trên đường về nhà thôi.” “Tôi hiểu, nhưng tôi không thể để ông đi qua đoạn đường này vào lúc này, thưa ông. Tôi tin chắc ông thông cảm chuyện đó.” “Có người bị thương à? Trông như xe của Caroline Joseph. Tôi nói có đúng không?” Người đi xe đạp hỏi. “Lúc này tôi chưa khẳng định được, thưa ông.” Người đàn ông ngó qua viên cảnh sát để nhìn chiếc xe rõ hơn. “Tôi nhìn thấy kia là cô ấy thì phải? Ôi lạy Chúa. Cô ấy chết rồi, phải không?” Anh ta nhìn viên cảnh sát, miệng há ra vì sốc. “David tội nghiệp. Đó là chồng cô ấy. Anh ấy sẽ suy sụp mất.” Viên cảnh sát không nói gì. Tất cả những gì anh có thể làm là giữ người đàn ông cách hiện trường vụ tai nạn càng xa càng tốt cho tới khi lực lượng hỗ trợ đến, nhưng ngay cả từ khoảng cách này, vẫn nhìn thấy rất rõ phần đầu của người phụ nữ. “Không có Natasha đi cùng cô ấy sao?” Người đi xe đạp hỏi, giọng anh ta run lên. “Cô gái bé bỏng của cô ấy? Đứa bé đáng yêu nhất.” Viên cảnh sát lắc đầu, có phần nhẹ người. “Không, thưa ông. Ghế cho trẻ con có ở phía sau nhưng thật may là trống không. Không có ai khác ở trong xe.” Mời các bạn đón đọc Đứa Con Xa Lạ của tác giả Rachel Abbott.