Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Tình Yêu Trở Lại - Rachel Gibson

Một cuốn truyện tình yêu cảm động về những đấu tranh buông bỏ hay níu giữ tình yêu sau bao năm tưởng có thể quên lại dường như trở lại.... *** Anh ấy không yêu tôi Daisy Lee Monroe cho rằng mình đã dứt bỏ được Lovette, Texas từ nhiều năm về trước, nhưng khi trở lại quê nhà, cô nhận ra mọi thứ chẳng thay đổi gì mấy. Em gái cô vẫn suy nghĩ thiếu sáng suốt, sân trước nhà mẹ cô vẫn còn những con hồng hạc nhựa màu hồng. Và Jackson Lamott Parrish, anh chàng xấu xa mà cô từng bỏ lại sau lưng, vẫn quyến rũ đến chết người. Chẳng có gì làm cô thấy dễ chịu hơn là tránh xa người này, nhưng cô không thể. Daisy có chuyện muốn nói với Jackson, và cô sẽ chẳng đi đâu hết cho đến khi anh chịu lắng nghe cô nói. Jackson từng nhận được một bài học cay đắng về Daisy, và giờ đây từ duy nhất anh muốn nghe từ đôi môi đỏ mọng của Daisy là: tạm biệt. Nhưng cô xuất hiện ở khắp mọi nơi, và anh không tin đó là sự trùng hợp ngẫu nhiên. Có vẻ như cách duy nhất để buộc cô im miệng là hôn cô, nhưng trước đây, việc hôn Daisy từng khiến anh thảm hại vô cùng. Hiện tại, liệu anh có đủ mạnh mẽ để cưỡng lại sức hút của cô không? Có đủ cứng rắn đứng nhìn cô bước ra khỏi đời mình một lần nữa không? Có đủ kiên quyết để cô giữ cô ở lại bên anh? Một cuốn truyện hấp dẫn những ai đang băn khoăn tìm hiểu những cảm xúc nằm ngoài lí trí của tình yêu. *** Bộ sách Lovett Texas, gồm có:  Daisy's Back in Town - Tình Yêu Trở Lại Crazy on you - Yêu Em Cuồng Si Rescue Me - Hãy Cứu Em I Do! *** Hơi nóng lượn lờ trên mặt bê tông khi chiếc ’63[1] Thunderbird lướt ra từ trong bóng tối của xưởng xe. Động cơ V8 và bộ chế hòa khí Holley hai ống xả rên lên như một người đàn bà thỏa mãn, đầy ấm áp, gợi cảm, với chất giọng khàn khàn. Ánh mặt trời Texas nóng rực tạo ra cả trăm đốm sáng nho nhỏ trong vành bánh xe, lướt dọc mạn xe làm từ crôm và rót ánh sáng xuống nước sơn đen bóng loáng. Chủ chiếc xe nhìn nó lăn bánh về phía mình và mỉm cười tán thưởng. Vài tháng trước, chiếc Sports Roadster này chẳng hơn gì nhà của lũ chuột. Giờ đây, khi đã được khôi phục trọn vẹn vẻ rực rỡ xưa kia, nó đẹp chói lọi – gợi nhớ lại quãng thời gian mà dân cư Detroit có hứng thú với khả năng đạt tốc độ chín mươi ki-lô-mét trong tám giây hơn là số ki-lô-mét đi được trên mỗi gallon, những tính năng bảo đảm an toàn, hay chỗ đặt đồ đựng cốc. Jackson Lamott Parrish ngồi trong chiếc T-bird[2] có đồ nội thất bằng da thuộc màu đỏ, một cổ tay vắt lên vô lăng màu đỏ. Ánh nắng chiếu vào mái tóc nâu dày và nếp nhăn hình thành trên hai khóe đôi mắt màu xanh lục khi anh hạ mi mắt xuống trước ánh nắng chói chang. Anh rồ máy lần cuối, rời tay khỏi vô lăng và kéo phanh xe. Anh đẩy cửa xe và đặt đế đôi bốt cao bồi xuống vỉa hè. Bằng một động tác uyển chuyển, anh đứng dậy và chủ của chiếc Roadster vừa được tân trang bước lên trước đưa anh một tấm séc. Jack liếc nhìn nó, để ý thấy mọi số không đã ở đúng chỗ, đoạn gấp đôi nó lại, nhét vào túi áo sơ mi trắng trước ngực. “Tận hưởng nhé,” anh nói, rồi xoay người đi vào cửa hàng. Anh đi qua một chiếc ‘Cuda 440-6 từ năm một chín bảy mươi, động cơ Hemi khổng lồ của nó treo lơ lửng trên một cái cần cẩu. Qua tiếng máy nén khí và các thiết bị có động cơ, em trai của Jack, Billy, gọi một thợ cơ khí từ dưới một chiếc ‘59 Dodge Custom Royal Lancer. Ngày mai, khoảng trống vừa được chiếc T-bird bỏ lại sẽ được anh lấp đầy bằng một chiếc Corvette một chín năm tư. Cỗ xe thể thao cổ điển ấy được tìm thấy trong một xưởng xe ọp ẹp ở Nam California, và ba ngày trước Jack đã bay tới đó để xem xét chiếc xe. Khi anh phát hiện ra là nó mới chỉ đi được sáu mươi tư nghìn ki-lô-mét và mọi con số đều phù hợp, anh mua nó với giá tám nghìn đô ngay tại chỗ. Một khi đã được khôi phục hoàn toàn, chiếc Vette này sẽ mang lại gấp mười lần con số đó. Về việc khôi phục xe ô-tô cổ, công ty xe Mỹ cổ Parrish là số một. Ai cũng biết điều đó. Những chiếc ô-tô “cơ bắp”[3] nổ đinh tai nhức óc, chạy rầm rầm trên đường đã ăn sâu trong máu đàn ông nhà Parrish. Từ khi bước những bước chân đầu tiên, Jack và Billy đã làm việc trong xưởng xe của cha mình. Họ đã tháo động cơ đầu tiên trước cả khi mọc lông vùng kín. Họ có thể phân biệt một chiếc 260 V8 với một chiếc 289 kể cả khi nhắm mắt và lắp lại máy phun xăng trong khi ngủ. Là những đứa con kiêu hãnh của Lovett, Texas, dân số mười chín nghìn ba trăm, các chàng trai nhà Parrish đã trưởng thành cùng tình yêu bóng đá, bia lạnh, và phá vỡ nhựa đường trên những con đường rộng bằng phẳng – thường là cùng lúc có một cô nàng tóc xù bông lả lơi nào đó tô lại son môi bằng gương chiếu hậu. Hai chàng trai được nuôi lớn trong một ngôi nhà ba phòng ngủ sau xưởng xe. Giờ thì cửa hàng ban đầu không còn nữa. Bị dỡ xuống và thay thế bằng một không gian lớn hơn, hiện đại hơn, chia làm tám khu nhà để xe. Khoảnh sân sau xưởng xe đã được dọn dẹp. Những cỗ xe cũ kỹ và những bộ phận bỏ đi bị kéo đi từ lâu lắm rồi. Dù vậy, căn nhà vẫn như xưa. Vẫn những khóm hoa hồng mà mẹ họ đã trồng, vẫn có những khoanh đất và cỏ dưới tán cây du cao chót vót. Vẫn hiên nhà bằng bê tông và cánh cửa kính cần kha khá WD-40[4]. Căn nhà mới được khoác một lớp sơn mới, cả trong lẫn ngoài. Vẫn màu trắng như trước. Sự khác biệt thật sự duy nhất là giờ Jack sống ở đây một mình. Bảy năm trước, Billy cưới Rhonda Valencia và vui vẻ từ bỏ lối sống phóng túng trước sự sung sướng của những người trong vùng. Trong trí nhớ của tất cả mọi người trong thị trấn, Jack chưa bao giờ nảy sinh ý muốn từ bỏ cái lối sống phóng túng ấy. Theo những gì họ biết, anh chưa từng gặp một người phụ nữ khiến anh muốn có cuộc sống một-một. Trọn đời. Nhưng họ không biết hết mọi chuyện. Jack đi vào văn phòng của mình ở cuối xưởng xe và đóng cửa lại. Anh nhét tấm séc vào một ngăn bàn và kéo ghế ra. Trước khi mua chiếc ’54 Corvette, anh đã tìm kiếm lịch sử của nó rồi bay tới California để kiểm tra nó nhằm bảo đảm rằng không có hư hỏng nghiêm trọng nào trong toàn bộ cấu trúc của cỗ xe. Việc tìm kiếm lịch sử một cỗ xe, tìm những bộ phận thay thế rồi khôi phục nó thôi thúc và thu hút anh cho tới khi cỗ xe hoàn hảo trở lại. Đã được sửa chữa. Tốt hơn. Hoàn thiện. Penny Kribs, thư ký của Jack, đi vào văn phòng và đưa anh thư từ trong ngày. “Em sắp về để đi làm tóc đấy nhé,” cô nhắc anh. Jack ngước lên nhìn mớ tóc đen lưa thưa trên đầu Penny. Anh đã học cả mười hai năm cùng Penny, và anh cũng chơi cùng đội bóng bầu dục với chồng cô, Leon. Anh đứng dậy và đặt thư lên bàn. “Em sắp làm đẹp vì anh à?” Cô đeo nhẫn ở hầu hết các ngón tay và có bộ móng dài màu hồng trông như móng vuốt. Anh thường tự hỏi làm sao cô gõ máy tính mà không ấn nhầm phím khác hay bôi được chừng ấy mascara mà không chọc mù con mắt nào. Anh thậm chí còn không muốn nghĩ đến cảnh cô ôm tay vào thằng bé của Leon nữa. Ý nghĩ ấy làm anh rợn sống lưng. “Tất nhiên,” cô nói với một nụ cười. “Anh biết là anh lúc nào cũng là mối tình đầu của em mà.” Phải rồi, anh biết. Năm lớp ba, Penny đã bảo anh rằng cô yêu anh rồi đá vào cẳng chân anh bằng đôi giày da màu đen của cô. Anh luôn thấy rằng mình không cần thứ yêu thương đó. “Đừng nói với Leon nhé.” “À, anh ấy biết mà.” Cô vẫy tay rồi đi ra cửa, mùi nước hoa vương vất lại sau lưng. “Anh ấy cũng biết là em sẽ chẳng bao giờ dính dáng gì đến anh.” Jack khoanh tay trên ngực và tựa người vào mép bàn. “Vì sao chứ?” “Bởi vì anh đối xử với phụ nữ như người mắc chứng biếng ăn đối xử với kẹo Whitman Sampler. Anh nhấm nháp chỗ này một chút, chỗ nọ một chút. Có lẽ anh sẽ cắn vài miếng, nhưng anh không bao giờ ăn toàn bộ.” Jack bật cười. “Anh nghĩ có vài phụ nữ có thể thay đổi suy nghĩ đó của em.” Penny không thấy thú vị. “Anh hiểu ý em mà,” cô nói qua vai khi bước ra khỏi cửa. Phải rồi, anh hiểu ý cô. Như đa số phụ nữ, Penny nghĩ anh nên kết hôn, nuôi dạy con cái và lái một chiếc SUV. Nhưng theo Jack, anh thấy em trai mình đã đảm trách nghĩa vụ đó hộ phần cả hai người họ rồi. Billy có ba cô con gái ở độ tuổi từ sáu tháng tới năm tuổi. Họ sống trong một con phố cụt với một cái xích đu ở sân sau, và Rhonda lái một chiếc Tahoe, một sự lựa chọn khác của các bà mẹ ưa thể thao ở mọi nơi. Với từng ấy cô cháu gái, Jack thấy mình không cần phải mang thêm một đứa Parrish khác vào thế giới này. Anh là “bác Jack,” và anh thấy ổn thỏa với điều đó. Anh quay lại ghế và mở khuy cổ tay áo ra. Anh xắn ống tay áo lên bắp tay, sau đó quay về làm việc. Hôm nay là thứ Sáu và anh có cả núi việc phải xử lý xong trên bàn trước khi có thể bắt đầu những ngày cuối tuần của mình. Lúc năm giờ, Billy mở cửa để bảo anh rằng cậu sắp về nhà. Jack liếc nhìn chiếc đồng hồ Buick Riviera đặt cạnh màn hình máy tính. Em trai anh mới ở chỗ làm có ba tiếng mười lăm phút. “Em sẽ đến trận T-ball[5] của Amy Lynn,” Billy nhắc đến cô con gái năm tuổi của mình. “Anh sẽ đến công viên chứ?” Amy Lynn là con gái lớn của Billy và Jack cố gắng đến trận đấu của con bé mỗi khi có thể. “Không phải tối nay,” anh trả lời và ném bút lên bàn. “Tối nay có bữa tiệc độc thân của Jimmy Calhoun ở quán The Road Kill,” anh nói. Mãi đến gần đây, Jimmy vẫn là một gã thích chè chén. Giờ đây cậu ta sắp sửa từ bỏ tự do của mình vì hai chiếc nhẫn đôi. “Anh đã bảo cậu ta là anh sẽ ghé qua một lát.” Billy mỉm cười. “Sẽ có vũ công thoát y chứ?” “Anh cho là có.” “Đừng nói với em là anh thích xem phụ nữ cởi truồng hơn là một trận T-ball nhé?” Nụ cười toe toét của Jack giống hệt em trai mình. “Phải rồi, đó là một lựa chọn khó khăn. Xem phụ nữ cởi đồ hay là nhìn lũ nhóc năm tuổi chạy quanh các gôn với mũ bảo hiểm đội ngược.” Billy bật cười, theo một kiểu đặc biệt của riêng cậu với đầu ngả ra sau và phát ra vài tiếng hơ-hơ-hơ. Điệu cười đó giống cha họ, Ray, đến mức Jack cho rằng nó phải do gen di truyền. “Đồ may mắn,” Billy nói, nhưng không mấy thật lòng. Cả hai người họ đều biết rằng Bill thích xem Amy Lynn chạy vòng vòng với mũ bảo hiểm đội ngược hơn. “Nếu anh cần người lái xe đưa anh về từ quán The Road Kill,” Bill nói thêm trên đường ra cửa, “thì hãy gọi em nhé.” “Tất nhiên.” Một người lái xe say xỉn đã cướp đi mạng sống của cha mẹ họ khi Jack mới mười tám tuổi. Hai anh em quyết tâm là họ sẽ không bao giờ lái xe khi say. Jack làm việc thêm một tiếng nữa trước khi tắt máy và ra khỏi xưởng xe qua lối các khu chứa xe. Những người khác đã ra về, và tiếng đế giày của anh vang lên trong bầu không khí tĩnh mịch. Anh khóa cửa, bật chuông báo động rồi nhảy vào chiếc Shelby Mustang. Trời bắt đầu mưa khi anh lái xe về phía ngoại ô Lovett. Vài hạt mưa lưa thưa hòa lẫn cùng bụi và gió, biến màu đen bóng loáng của chiếc xe thành một màu xám mờ xỉn. Quán The Road Kill rất giống các quán bar khác rải rác khắp vùng cán xoong Texas. Nhạc đồng quê phát ra từ máy hát tự động trong khi các khách quen nốc cạn những vại bia Lone Star. Một tấm bảng ĐỪNG GÂY SỰ VỚI DÂN TEXAS màu đỏ-trắng-và-xanh treo trên tấm gương sau quầy bar, trong khi các tấm biển báo giao thông cũ, tatu[6] và rắn chuông nhồi bông trang trí trên tường. Chủ quầy bar cũng đồng thời là một người nhồi bông thú, và nếu một vị khách quá tha thiết, hay đã đủ say, anh ta hoặc cô ta có thể mua một cái thắt lưng rắn chuông hoặc một cái túi bằng da tatu cực kỳ hấp dẫn với mức giá ưu đãi. Khi Jack đi vào quán bar, anh đẩy vành mũ Stetson của mình lên và dừng lại ở ngưỡng cửa đủ lâu để mắt kịp thích nghi trước khi tiến lại quầy bar. Anh chào hỏi vài câu với vài vị khách quen. Xen giữa tiếng Clint Black trong hộp nhạc tự động, anh có thể nghe thấy tiếng bữa tiệc độc thân của Jimmy đang lên đến cao trào ở phòng sau. “Một chai Lone Star,” anh gọi. Một chai bia xuất hiện trên quầy bar và anh đưa ra tờ năm đô. Anh cảm nhận được một bàn tay mềm mại đặt trên cánh tay mình và quay sang nhìn vào khuôn mặt của Gina Brown. “Chào Jack.” “Chào Gina.” Gina cùng tuổi với Jack và đã ly dị hai lần. Cô là một cô gái miền Texas cao ráo, mảnh dẻ thích cưỡi bò máy ở quán Slim Clem’s gần đường cao tốc 70. Cô ta mặc quần bò Wranglers thật bó, áo Justins thật ôm, và tóc nhuộm đỏ. Jack biết cô nhuộm tóc bởi vì cô ta cũng thích trèo lên người anh. Nhưng dạo gần đây có dấu hiệu cho thấy cô ta đang tính toán cưới anh làm chồng ba. Anh đã phải làm nguội mọi chuyện để cô ta bỏ ngay cái ý nghĩ ấy ra khỏi đầu. “Anh đến tham dự buổi tiệc độc thân ở phía sau kia à?” Cô chăm chú nhìn anh qua khóe đôi mắt xanh dương. Anh có mù mới không nhận thấy lời mời mọc đang uốn cong đôi môi cô ta. “Phải.” Jack đưa chai bia lên môi và hớp một ngụm lớn. Anh không có hứng thú hâm nóng lại mọi chuyện. Anh thích Gina, nhưng anh không thuộc tuýp làm chồng. Anh lấy tiền thừa từ quầy bar và nhét vào túi trước quần jeans. “Gặp em sau nhé,” anh nói và quay người bỏ đi. Câu hỏi tiếp theo của Gina làm anh dừng ngay lại. “Anh đã gặp Daisy Lee chưa?” Jack hạ chai bia xuống và đột nhiên thấy khó mà nuốt nốt chỗ bia trong miệng xuống được. Anh quay lại nhìn Gina. “Sáng nay em đã gặp cô ta ở trạm xăng Texaco. Đổ xăng cho chiếc Cadillac của mẹ cô ta.” Gina lắc đầu. “Em nghĩ đã bao lâu nhỉ, tầm mười hoặc mười hai năm kể từ lần cuối cô ta ở trong thị trấn phải không?” Là mười lăm năm. “Em nhận ra cô ta ngay lập tức. Daisy Lee Brooks không thay đổi nhiều lắm.” Chỉ là bây giờ Daisy Brooks là Daisy Monroe và đã là như vậy trong mười lăm năm qua. Và điều đó đã thay đổi tất cả. Gina bước lại gần một bước và đùa nghịch một khuy áo của anh. “Em rất buồn khi nghe chuyện của Steven. Em biết anh ấy là bạn anh.” Anh và Steven Monroe đã gần như không thể tách rời từ lúc lên năm khi họ ngồi cạnh nhau ở nhà thờ Tin Lành Baptist của Lovett, hét to “Phải, Chúa yêu con.” Nhưng điều đó cũng đã thay đổi. Lần cuối cùng anh gặp Steven là buổi tối hai bọn họ đánh nhau đến chảy máu, trong khi Daisy kinh hãi nhìn vào. Đó cũng là lần cuối cùng anh gặp Daisy. Như thể không nhận thấy Jack không hề mở miệng nói chuyện, Gina tiếp tục lải nhải, “Em không tưởng tượng nổi cảnh chết ở tuổi của chúng ta. Nó quá đỗi khủng khiếp.” “Thứ lỗi cho anh nhé, Gina,” anh nói và bỏ đi. Một cơn tức giận xưa cũ, cơn tức giận mà anh cứ nghĩ là mình đã chôn vùi, đang chực kéo anh vào quá khứ. Anh lại xô nó thật mạnh, đập mạnh nó xuống, và gạt bỏ nó. Sau đó anh chẳng cảm thấy gì nữa. Cầm chai bia trong tay, anh luồn lách qua quán bar đang nhanh chóng chật kín và đi tới căn phòng đông đúc ở cuối. Anh dựa vai vào khung cửa và chuyển toàn bộ sự chú ý vào Jimmy Calhound. Tiêu điểm của bữa tiệc đang ngồi trên một cái ghế ở giữa phòng, vây quanh bởi cả tá đàn ông, tất cả đang nhìn hai phụ nữ ăn mặc như nữ hoàng chăn bò ép chặt vào nhau trong khi Dixie Chicks hát về một cỗ xe tội lỗi. Đã thoát y đến tận cái quần lọt khe lấp lánh, hai cô gái mở khuy áo cánh lụa của mình ra. Áo họ đồng thời trượt xuống hai bả vai rám nắng và cơ thể hoàn hảo, để lộ hai bộ ngực bự nhồi trong áo bikini đính đá lấp lánh. Jack rời mắt khỏi bộ ngực đầy đặn, nhìn xuống hai chiếc quần lọt khe buộc dây ở hông họ. Marvin Ferrell dừng lại cạnh anh ở ngưỡng cửa để quan sát màn biểu diễn. “Cậu nghĩ hai bộ ngực kia có phải đồ thật không?” anh ta hỏi. Jack nhún một bên vai và đưa chai bia lên môi. Rõ ràng là Marvin đã kết hôn quá lâu, bởi vì giọng anh ta bắt đầu giống đàn bà rồi. “Ai quan tâm chứ?” “Đúng vậy.” Marvin cười. “Cậu đã nghe tin Daisy Brooks quay lại chưa?” Qua chai bia, anh nhìn xuống Marvin rồi hạ chai xuống. “Có, tớ đã nghe rồi.” Anh lại cảm nhận được cơn tức giận ngày xưa, và một lần nữa anh lại đập nó xuống cho tới khi không cảm thấy gì nữa. Anh tiếp tục chú ý vào các vũ công thoát y và nhìn họ kẹp Jimmy giữa hai cơ thể bán khỏa thân của mình trong khi hôn nhau trên đầu anh ta. Nụ hôn ướt át đó khiến cánh đàn ông hò reo đòi thêm. Jack nghiêng đầu sang một bên và mỉm cười. Trò này trở nên hay ho rồi đây. “Tớ đã gặp Daisy ở siêu thị Minute,” Marvin nói tiếp. “Chết tiệt, cô ấy vẫn nóng bỏng như hồi cấp ba.” Nụ cười của Jack tắt ngóm khi một ký ức không mời về đôi mắt nâu và đôi môi hồng mềm mại chực chờ kéo anh vào hố đen quá khứ. “Còn nhớ cô ấy trông thế nào trong bộ đồ cổ động cũn cỡn không?” Jack rời người khỏi cửa và đi sâu hơn vào phòng, nhưng anh không thể thoát được. Có vẻ như mọi người đều muốn một chuyến du hành trên con đường ký ức. Tất cả, trừ anh. Trong khi hai cô nàng vũ nữ thoát y cởi hai cái áo bikini nhỏ xíu của nhau, chủ đề của câu chuyện là về Daisy. Giữa những tiếng huýt sáo và reo hò, Cal Turner, Lester Crandall và Eddy Dean Jones đều hỏi anh đã gặp cô chưa. Chán ghét, Jack rời phòng và quay lại quầy bar. Thật quá mức khó chịu khi một người đàn ông không được phép tận hưởng hai cô nàng gần như chẳng mặc gì âu yếm nhau cách anh ta chỉ có hai mét. Anh không biết Daisy sẽ ở lại thị trấn trong bao lâu, nhưng anh cực kỳ hy vọng rằng đây chỉ là một chuyến đi ngắn ngủi. Sau đó có lẽ mọi người sẽ có chuyện gì khác hay ho hơn để bàn tán. Chủ yếu anh hy vọng cô biết điều mà tránh xa khỏi lối đi của anh. Anh đặt chai bia lên quầy bar và tìm đường ra khỏi The Road Kill, bỏ lại đằng sau những cuộc trò chuyện và nghi vấn về Daisy Monroe. Mưa trút xuống trên mũ và làm ướt đẫm vai khi anh đi qua bãi đỗ xe. Nhưng với mỗi bước chân, ký ức vẫn bám sát theo sau. Ký ức anh nhìn vào đôi mắt nâu xinh đẹp khi anh hôn lên đôi môi mềm mại. Tay anh lướt lên mặt sau phần đùi trơn mịn, trượt xuống dưới cái váy cổ động màu xanh và vàng của cô. Ký ức Daisy Lee đi một đôi bốt cao bồi màu đỏ có trái tim trắng hai bên và không mặc gì khác nữa. “Rời bữa tiệc sớm thế sao?” Gina hỏi khi cô ta đi về phía anh. Anh nhìn cô ta. “Bữa tiệc chán chết.” “Chúng ta có thể tự tổ chức tiệc của riêng mình.” Đúng là điển hình của Gina, cô ta không đợi anh chủ động. Thường thì điều đó khiến anh khó chịu. Tối nay thì không. Cô ta đưa miệng lên cho anh, và cô ta có vị của bia ấm cùng dục vọng. Jack hôn lại. Với hai bầu ngực săn chắc của đối phương ép chặt vào ngực, những đòi hỏi đầu tiên của dục vọng khuấy động bụng dưới anh. Anh kéo Gina vào lòng và đốt nóng mọi thứ cho tới khi tất cả những gì anh cảm thấy là dục vọng và nước mưa xối ướt da thịt qua lần áo sơ mi. Anh thay thế mọi ý nghĩ về đôi mắt nâu và váy cổ động bằng người phụ nữ đang ép chặt người vào khóa quần mình. Daisy Monroe giơ tay lên trước cửa kính rồi lại hạ tay xuống. Tim cô đập thình thịch trong lồng ngực và dạ dày xoắn lại thành một cục lớn. Mưa trút xuống hiên nhà quanh khắp người cô và nước mưa chảy từ ống xối xuống thảm hoa. Xưởng xe sau lưng cô còn để đèn, soi sáng mọi ngóc ngách quanh công ty xe Mỹ cổ Parrish. Nhưng nơi cô đứng tối đen như mực, như thể ánh sáng không dám bò sâu hơn vào sân. Xưởng xe mới toanh, được xây cất lại kể từ lần trước cô thấy nó. Khoảnh sân bao quanh xưởng xe được dọn dẹp. Các chiếc xe cũ đã bị kéo đi. Dù vậy, từ những gì cô quan sát được thì ngôi nhà vẫn hệt như cũ, mang theo ký ức về một làn gió hè tươi mát thổi qua mái tóc cô và đem đến mùi hoa hồng. Về vô số những tối cô ngồi trên hàng hiên mà giờ cô đang đứng, kẹp giữa Steven và Jack, bật cười trước những câu chuyện đùa của họ. Sấm chớp nổ đùng đoàng và rọi sáng cả bầu trời đêm, đập tan ký ức ấy. Một điềm báo cho thấy cô nên rời đi và quay lại vào lúc khác. Cô không giỏi đối đầu trực diện. Cô không thuộc tuýp người đương đầu trực tiếp với rắc rối. Giờ thì cô có giỏi làm thế hơn hồi trước, nhưng... có lẽ cô nên gọi trước. Xuất hiện bất thình lình trước cửa nhà ai đó lúc mười giờ tối không phải là lịch sự, và cô hẳn trông giống hệt một con mèo sũng nước. Trước khi rời khỏi nhà mẹ mình, cô đã bảo đảm tóc mình được chải mượt và dài chớm vai. Lớp trang điểm trông hoàn hảo, áo trắng tinh và quần kaki là phẳng phiu. Còn bây giờ, cô chắc chắn rằng tóc mình xù bông, mascara trôi mất biệt và quần thì dính đầy bùn từ cái vũng nước mà cô đã vô tình lao qua. Cô quay người bỏ đi, rồi ép mình quay lại. Vẻ ngoài của cô không thật sự quan trọng, và chẳng bao giờ có thời điểm nào là tốt đẹp cho việc cô phải làm hết. Cô đã ở trong thị trấn ba ngày rồi. Cô phải nói chuyện với Jack. Tối nay. Cô đã trì hoãn quá lâu. Cô phải kể cho anh những gì mình đã giấu giếm anh suốt mười lăm năm. Cô lại giơ tay lên và gần như đứng tim khi cánh cửa gỗ bật ra trước khi cô kịp gõ. Qua lớp cửa kính và không gian tối om bên trong, cô có thể trông thấy bóng dáng một người đàn ông. Anh ta không mặc áo, và một tia sáng từ sâu tít trong nhà tỏa ra một luồng sáng vàng ấp áp từ đằng sau, rót xuống cánh tay, bờ vai và nửa lồng ngực trần của anh ta. Rõ ràng là đáng ra cô nên gọi trước. “Xin chào,” cô mở lời trước khi có thể đầu hàng sự lo lắng của mình. “Tôi đang tìm Jackson Parrish.” “Trời trời,” giọng anh ta kéo dài trong bóng tối, “không phải Daisy Lee Brooks sao?” Đã mười lăm năm trôi qua và giọng anh đã thay đổi. Nó trầm hơn giọng chàng trai mà cô biết, nhưng cô vẫn sẽ nhận ra cái tông giọng xấu xa đó ở bất kỳ đâu. Không ai có thể đưa nhiều chất chế giễu vào giọng nói của mình như Jack. Cô đã từng một lần hiểu được nó. Từng biết điều gì ẩn sau giọng nói đó. Cô không dám đùa rằng mình vẫn còn biết rõ anh nữa. “Xin chào, Jack.” “Cô muốn gì, Daisy?” Cô nhìn anh chăm chú qua lớp cửa kính và bóng tối, nhìn những đường nét của người đàn ông mà một thời cô từng biết rất rõ. Cảm giác xoắn cục trong dạ dày cô sít chặt hơn. “Tôi muốn... tôi cần nói chuyện với anh. Và tôi – tôi đã nghĩ...” Cô hít một hơi thật sâu và ép mình ngừng lắp bắp. Cô đã ba mươi ba rồi. Cả anh cũng vậy. “Tôi muốn nói với anh rằng tôi ở trong thị trấn trước khi anh nghe được điều đó từ người khác.” “Muộn quá rồi.” Mưa trút xối xả xuống mái nhà và sự im lặng kéo dài ra giữa họ. Cô có thể cảm nhận được ánh mắt anh đặt trên người mình. Ánh nhìn ấy chạm vào mặt và ngực áo đi mưa màu vàng của cô, và đúng lúc cô nghĩ anh sẽ không nói gì nữa, anh cất lời, “Nếu đó là những gì cô đến để nói với tôi thì cô có thể đi được rồi.” Vẫn còn. Rất nhiều. Cô đã hứa với Steven rằng cô sẽ đưa cho Jack bức thư mà anh đã viết vài tháng trước khi mất. Bức thư nằm trong túi áo, bây giờ cô phải kể thật cho Jack nghe những gì đã xảy ra mười lăm năm trước, rồi chuyển bức thư. “Tôi nhất định phải nói chuyện với anh. Làm ơn đi.” Anh nhìn cô vài giây dài đằng đẵng rồi quay người và biến mất trong nhà. Anh không mở cửa cho cô, nhưng anh cũng không đóng sập cánh cửa gỗ vào mặt cô. Anh đã cho thấy rõ là anh sẽ tỏ ra khó khăn hết mức có thể. Nhưng rồi, anh đã bao giờ làm chuyện gì trở nên dễ dàng cơ chứ? Vẫn như mọi lần, cánh cửa kính kêu cọt kẹt khi cô mở nó ra. Cô đi theo anh qua phòng khách về hướng bếp. Dáng người cao ráo của anh biến mất ở góc rẽ, nhưng cô biết đường. Trong nhà có mùi sơn mới. Cô nhìn qua những đồ đạc màu tối và một cái tivi màn hình lớn, thoáng thấy chiếc đàn piano của bà Parrish đặt sát một bức tường và trong thoáng chốc cô tự hỏi, bao nhiêu thứ đã thay đổi kể từ lần cuối cô ghé qua ngôi nhà này. Đèn bật lên khi cô đi vào bếp, và cảm giác cứ như bước vào một vết lõm thời gian vậy. Cô ngờ ngợ mong chờ sẽ nhìn thấy bà Parrish đứng trước lò sưởi màu quả hạch, nướng bánh mì hoặc những cái bánh quy snickerdoodle mà Daisy thích nhất. Tấm vải sơn lót sàn nhà màu xanh lục đặt trước bồn rửa vẫn còn vết ố ngày xưa và kệ bếp vẫn có những đốm li ti màu xanh dương và xanh ngọc. Jack đang đứng trước tủ lạnh, nửa thân trên khuất sau cửa tủ đang mở. Những ngón tay rám nắng của anh cầm quanh tay cầm bằng crôm, và tất cả những gì cô có thể thấy rõ trên người anh là đường cong ở mông và đôi chân dài. Một túi trên chiếc quần Levi’s bó sát có một vết rách gần như đứt rời hẳn ra, và chỉ khâu trông xơ xác. Adrenaline chạy khắp mạch máu của cô, và cô nắm chặt tay lại để ngăn chúng khỏi run rẩy. Rồi anh đứng thẳng dậy, và mọi thứ dường như chậm lại, như thể có ai đó bật công tắc trên máy chiếu phim. Anh quay người lại khi đóng cửa tủ và cầm một hộp sữa trên bàn tay đặt cạnh đùi. Trong khoảnh khắc, sự chú ý của cô dính chặt vào đường lông mảnh chòi lên khỏi cạp quần Levi’s và uốn quanh rốn anh. Cô đưa ánh mắt lướt qua phần bụng phẳng lì và những cơ bắp rắn chắc trên ngực anh. Nếu cô mà còn bất kỳ nghi ngờ nào, thì nhìn thấy anh thế này cũng đủ để xua đuổi hết chúng đi. Đây không phải là chàng trai mà cô từng biết. Đây rõ ràng là một người đàn ông. Cô ép mình đưa mắt rời khỏi cái cằm nam tính, cánh cung sắc nét ở đôi môi màu nâu, và nhìn vào mắt anh. Cô cảm giác thấy cổ họng mình trở nên khô khốc. Jack Parrish xưa kia luôn là một chàng trai ưa nhìn, còn giờ anh đẹp chết người. Một lọn tóc dày rơi xuống trán và chạm vào chân mày anh. Đôi mắt màu xanh lục sáng mà cô vẫn nhớ, từng một thời nhìn cô đầy đam mê và sở hữu, nhìn trả cô như thể anh chẳng thích gặp cô hơn gặp một con chó hoang. “Cô đến đây để trố mắt ra nhìn thế à?” Cô đi sâu hơn vào bếp và đút tay vào túi áo mưa. “Không, tôi đến để nói với anh là tôi về thị trấn để thăm mẹ và em gái tôi.” Anh nâng hộp sữa lên và uống thẳng từ hộp giấy, chờ cô nói thêm. “Tôi nghĩ là anh nên biết.” Anh nhìn cô chằm chằm qua hộp giấy, rồi anh hạ nó xuống. Có vài thứ rốt cục chẳng hề thay đổi. Jack Parrish, chàng trai hư hỏng và thích làm loạn, vẫn luôn là một người thích uống sữa. “Điều gì khiến cô nghĩ là tôi thèm quan tâm?” anh hỏi và quệt mu bàn tay trên miệng. “Tôi không biết anh có quan tâm hay không. Ý tôi là, tôi có băn khoăn xem anh sẽ nghĩ gì, nhưng tôi không dám chắc.” Chuyện này khó khăn hơn nhiều những gì cô đã mường tượng. Và những gì mà cô tưởng tượng cũng đã khá là khó nhằn rồi. “Giờ thì cô không phải băn khoăn nữa nhé.” Anh dùng hộp sữa chỉ ra căn phòng khác. “Nếu đó là tất cả thì cửa kia.” “Không, đó không phải là tất cả.” Cô nhìn xuống mũi giày của mình, vải da màu đen đã bị mưa vấy bẩn. “Steven muốn tôi kể cho anh nghe một chuyện. Anh ấy muốn tôi nói với anh rằng anh ấy xin lỗi về tất cả mọi chuyện.” Cô lắc đầu và tự chữa lại. “Không... đã từng xin lỗi chứ, ý tôi là thế. Anh ấy đã mất bảy tháng trước và giờ tôi vẫn thấy khó lòng mà tưởng nhớ về anh ấy khi dùng thì quá khứ. Không hiểu sao điều ấy không đúng. Như thể nếu tôi làm vậy, anh ấy sẽ như chưa bao giờ tồn tại.” Cô nhìn Jack. Vẻ mặt anh không hề thay đổi. “Bó hoa anh gửi đến rất đẹp.” Anh nhún vai và đặt sữa lên kệ bếp. “Penny đã gửi chúng.” “Penny?” “Penny Colten. Đã cưới Leon Kribs. Giờ cô ấy làm việc cho tôi.” “Cảm ơn Penny hộ tôi nhé.” Nhưng Penny không gửi chúng và ký tên anh mà anh không biết. “Đừng xem nó là cái gì ghê gớm.” Cô biết Steven từng có ý nghĩa quan trọng đến thế nào với anh. “Đừng giả vờ anh không quan tâm việc anh ấy đã mất.” Anh nhướn một bên mày. “Cô quên là tôi từng cố giết cậu ta rồi.” “Anh hẳn sẽ không giết anh ấy, Jack.” “Đúng là không, cô nói đúng. Tôi cho là cô không đáng giá đến thế.” Câu chuyện đang đi nhầm hướng và cô phải lái nó quay lại. “Đừng tỏ ra xấu xa.” “Cô gọi thế này là xấu xa sao?” Anh bật cười, nhưng không có vẻ gì dễ chịu. “Thế này chẳng là gì, mao lương ạ. Cứ ở gần đi và tôi sẽ cho cô thấy tôi có thể trở nên xấu xa thế nào.” Cô đã biết Jack có khả năng trở nên xấu xa thế nào rồi, nhưng dù cô có thể là một kẻ hèn nhát, cô cũng bướng bỉnh như cỏ lưỡi chó. Cũng như Jack không còn là chàng trai mà cô từng quen biết, cô cũng không phải là cô gái ngày xưa anh biết nữa. Cô đã đến để kể với anh sự thật. Sau rốt thì cũng phải thế thôi. Trước khi đi tiếp được đường đời của mình, cô phải kể cho anh về Nathan. Cô đã mất mười lăm năm mới dám làm vậy, và anh có thể tỏ ra xấu xa hết mức anh muốn, nhưng anh sẽ phải lắng nghe cô. Một tia sáng trắng lọt vào khóe mắt Daisy trong tích tắc, trước khi một người phụ nữ mặc một cái áo sơ mi trắng của đàn ông bước vào bếp. “Chào,” cô ta nói khi đến đứng cạnh Jack. Anh nhìn xuống cô ta. “Anh đã bảo em ở yên trong giường mà.” “Em phán chán lên được vì không có anh.” Hơi nóng tràn qua cổ lên má Daisy, nhưng dường như cô là người duy nhất thấy xấu hổ trong phòng. Jack có bạn gái. Tất nhiên là vậy. Anh vẫn luôn có một hoặc hai cô bạn gái. Đã từng có thời điều ấy thật đau đớn. “Xin chào, Daisy. Tôi không biết cô còn nhớ tôi không. Tôi là Gina Brown.” Nó không còn đau đớn nữa, và Daisy hơi xấu hổ khi phải thú nhận với bản thân rằng chủ yếu cô chỉ thấy vô cùng nhẹ nhõm. Cô đã đi cả quãng đường dài từ Seattle để kể cho anh về Nathan, và giờ tất cả những gì cô cảm thấy là nhẹ nhõm. Như thể một cái rìu vừa được nhấc khỏi cổ cô. Cô cho là mình hèn nhát hơn cô nghĩ. Daisy mỉm cười và băng qua phòng để chìa tay ra bắt tay Gina. “Tất nhiên là có. Chúng ta đã ở cùng lớp Chính phủ Mỹ vào năm cuối.” “Thầy Simmons.” “Phải rồi.” “Có nhớ lúc thầy ấy vấp phải một cái tẩy trên sàn nhà không?” Gina hỏi như thể không phải cô ta đang đứng đó và chỉ mặc mỗi áo sơ mi của Jack, Daisy dám cá, mà không có gì khác. “Chuyện đó đúng là rất buồn cười. Tôi vừa...” “Cái quái gì thế này?” Jack xen ngang. “Họp mặt lớp cấp ba à?” Cả hai người phụ nữ cùng ngẩng lên nhìn anh và Gina nói, “Em chỉ đang tỏ ra lịch sự với khách của anh mà thôi.” “Cô ta không phải khách của anh và cô ta sắp đi rồi.” Anh ghim chặt mắt vào Daisy, vẫn lạnh lùng và kiên quyết hệt như lúc cô mới bước chân vào cửa. “Rất vui được gặp cô, Gina,” cô nói. “Tôi cũng vậy.” “Chúc buổi tối tốt lành, Jack.” Anh tựa hông vào kệ bếp và khoanh tay ngang ngực. “Gặp hai người sau nhé.” Cô quay người băng qua cả căn phòng tối om và bước ra khỏi cửa. Mưa đã ngừng và cô tránh các vũng nước mưa trên đường đến chỗ chiếc Caddie[7] của mẹ cô đỗ cạnh xưởng xe. Lần sau, cô nhất định sẽ gọi trước. Đúng lúc cô vươn tay ra mở cửa, cô cảm nhận được một bàn tay đặt trên cánh tay xoay người cô lại. Cô nhìn lên mặt Jack. Ánh đèn an ninh chiếu xuống người anh và tạo bóng đen trên quai hàm cứng lại vì giận dữ của anh. Mắt anh nhìn thẳng vào mắt cô – không còn lạnh lùng nữa, chúng chất đầy vẻ giận dữ rực lửa. “Tôi không biết cô đến đây để tìm kiếm gì, sự xá tội hay tha thứ,” giọng nói kéo dài của anh nhấn mạnh hơn lúc trước. “Nhưng cô sẽ không tìm được đâu.” Anh thả tay cô ra như thể anh không thể chịu nổi việc chạm vào cô. “Phải, tôi biết.” “Tốt. Cô hãy tránh xa tôi ra, Daisy Lee,” anh kéo dài các nguyên âm trong tên cô. “Cô tránh xa ra hoặc tôi sẽ khiến đời cô trở nên đau khổ.” Cô nhìn vào khuôn mặt tối om của anh, nhìn vào sự giận dữ không hề nguôi bớt trong mười lăm năm. “Hãy tránh xa tôi ra,” anh lặp lại lần cuối trước khi quay người trên gót chân trần và biến mất trong bóng tối. Cô biết mình nên khôn ngoan mà lưu ý đến lời cảnh báo của anh. Quá tệ là cô lại không có lựa chọn đó. Mặc dù anh vẫn chưa biết, nhưng cả anh cũng không. ... Mời các bạn đón đọc Tình Yêu Trở Lại của tác giả Rachel Gibson.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Bọn Rợ Rình Trước Cổng: Mua Lại Có Đòn Bẩy Và Thương Vụ Đình Đám RJR Nabisco
Cuốn sách Bọn rợ rình ở cổng là câu chuyện có thật về cuộc chiến giành quyền kiểm soát công ty bánh quy và Mỹ – RJR Nabisco – nhà sản xuất bánh quy Oreo và RJ Reynolds. Nội dung chính nói về việc mua lại có đòn bẩy (LBO) của tập đoàn RJR Nabisco với nhịp độ nhanh chóng và chi tiết, bao gồm cả những cuộc hội thoại riêng cũng như trong phòng họp giữa các CEO của các công ty. Cuốn sách thể hiện lòng tham đáng kinh ngạc của các chủ ngân hàng đầu tư, nhà quản lý công ty, nhà đầu tư cổ phần tư nhân, các cổ đông… Việc mua lại diễn ra được mở đầu bằng một cuộc chiến đấu thầu giữa ban lãnh đạo (do CEO Ross Johnson dẫn đầu), KKR, công ty cổ phần tư nhân lâu đời, và một số người chơi “nhỏ hơn”. Việc mua lại có đòn bẩy thường khiến công ty bị mua lại phải gánh rất nhiều nợ, đòi hỏi các nhà quản lý phải cắt giảm chi phí (thường bao gồm cả nhân sự) – đó là lý do tại sao những điều này không được nhân viên, công chúng và giới báo chí ưa chuộng. Khoản mua lại trị giá 25 tỷ đô la này, mà cuối cùng KKR đã giành được bởi cũng không khác gì, đặc biệt vì đây là LBO lớn nhất tại thời điểm đó. Những người phản đối nỗ lực mua lại công ty của Johnson, Henry Kravis và anh họ của ông ta là George R. Roberts, là những người tiên phong trong việc mua lại có đòn bẩy (LBO). Kravis là người đầu tiên mà Johnson nói chuyện về việc thực hiện LBO và cảm thấy bị phản bội sau khi biết rằng Johnson muốn thực hiện thỏa thuận với một công ty khác, bộ phận Shearson Lehman Hutton trước đây của American Express. Ted Forstmann và công ty mua lại Forstmann Little của ông cũng đóng một vai trò quan trọng. Khi lên nắm quyền điều hành RJR Nabisco và thấy giá cổ phiếu của công ty đang trì trệ, Ross Johnson đã tìm cách để có được giá trị lớn hơn cho các cổ đông của mình và cuối cùng đã được các cố vấn ngân hàng đầu tư (của Lehman Brothers) thuyết phục rằng ông nên thực hiện một vụ mua lại có đòn bẩy. Và ngay sau khi giá thầu được công bố, các nhà thầu cho công ty đã xuất hiện. KKR đã trở thành con mồi đầu tiên của LBO. Hầu như tất cả các ngân hàng đầu tư lớn đều tham gia với tư cách là cố vấn cho thương vụ này. Một số nhân vật quan trọng trong giới tài chính xuất hiện. Bruce Wasserstein, CEO của Lazard đã tham gia, cùng với Joe Perella, Eric Gleacher, Tom Hill.   Sau khi Kravis và Johnson không thể dung hòa được sự khác biệt của họ, một cuộc chiến đấu thầu đã diễn ra mà cuối cùng Johnson sẽ thua. Tác dụng phụ đáng tiếc của việc tăng giá mua đối với các cổ đông là tạo ra mức nợ đáng lo ngại cho công ty. Cuốn sách bắt đầu chậm rãi với hơn 300 trang xây dựng bối cảnh cho các nhân vật chính và mô tả lịch sử của RJR Nabisco. Sau đó, nó đẩy nhanh tốc độ và sự kịch tính qua các cuộc hội thoại, thời gian và giọng điệu của nhân vật.   Đánh giá của chuyên gia, tổ chức uy tín về cuốn sách cùng các giải thưởng  “Một trong những cuốn sách kinh doanh tuyệt vời nhất từng được biết tới…” — Joe Nocera, New York Times “Một tác phẩm xuất sắc, tái hiện câu chuyện với quy mô ấn tượng… Lối viết hoa mỹ… bố cục chặt chẽ từ đầu đến cuối.” — Scot J. Paltrow, Los Angeles Times Book Review “Nội dung rất ấn tượng… bối cảnh đặc sắc… một tác phẩm có chất liệu điện ảnh nhưng cũng là cuốn sách được viết cực kỳ công phu.” — KeN auletta, New York Daily News “Thật khó để hình dung ra một cuốn sách hay hơn, lột tả hết bản chất của bối cảnh kinh tế những năm 1980… và cũng khó tưởng tượng ra một ai đó có tài viết lách hơn Burrough và Helyar.” — Bill BarNhart, Chicago Tribune *** Hẳn là nhiều người vẫn còn nhớ đến cuộc chiến giành quyền kiểm soát công ty bánh kẹo và thuốc lá Mỹ – RJR Nabisco – nhà sản xuất bánh quy Oreo và thuốc lá RJ Reynolds gây rúng động Phố Wall hơn 30 năm về trước. Việc sáp nhập bắt đầu với quyết định thực hiện mua lại có đòn bẩy (LBO - Leveraged Buyout) của CEO Ross Johnson và kết thúc với chiến thắng trị giá 25 tỷ đô la của công ty cổ phần tư nhân lâu đời KKR, LBO lớn nhất tại thời điểm đó. Toàn bộ những diễn biến của thương vụ đình đám này được Bryan Burrough và John Helyar tái hiện một cách hết sức chân thật trong cuốn tiểu thuyết kinh doanh kinh điển Bọn Rợ Rình Trước Cổng. Đây là cuốn sách đầu tiên cho chúng ta thấy rõ thực hư về những sự kiện gây chấn động một thời, nó đã được chuyển thể thành phim chiếu trên kênh HBO vào năm 1993 và phim tài liệu chiếu trên kênh History vào năm 2002.  Bằng sự chuyên nghiệp và thấm nhuần các chuẩn mực về tính thời sự, tính chính xác khi làm việc cho tờ Wall Street Journal, hai tác giả đã không bỏ sót bất cứ chi tiết nào dù là nhỏ nhất, bao gồm cả những cuộc hội thoại riêng cũng như những bí mật trong phòng họp giữa các CEO của các công ty. Bắt đầu chậm rãi với hơn 300 trang xây dựng bối cảnh cho các nhân vật chính và mô tả lịch sử của RJR Nabisco, sau đó đẩy nhanh tốc độ và sự kịch tính qua các cuộc hội thoại, thời gian và giọng điệu của nhân vật, cuốn sách này sẽ khiến chúng ta phải kinh ngạc vì những mánh khóe, thủ đoạn, lòng tham không đáy của các chủ ngân hàng đầu tư, nhà quản lý công ty, nhà đầu tư cổ phần tư nhân, các cổ đông…  Được New York Times Book Review đánh giá là “Một trong những bản tường thuật hay nhất, hấp dẫn nhất về những gì đã xảy ra với các công ty Mỹ và Phố Wall vào những năm 1980”, qua cuốn sách, độc giả sẽ hiểu rõ hơn về các rủi ro khi thực hiện LBO, những sai lầm có thể khiến cả doanh nghiệp lớn sụp đổ trong nháy mắt. Từ đó, rút ra kinh nghiệm cho bản thân. Không những vậy, thất bại của CEO Ross Johnson và hàng loạt nhân vật tiếng tăm trong giới kinh doanh đã trở thành những tấm gương, những bài học đắt giá về cái tâm, cái tầm của các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới. Bài học thứ nhất: Bất kỳ thành quách kiên cố nào cũng đều có thể bị phá huỷ từ bên trong, và người dễ dàng làm điều đó nhất, ít bị đề phòng nhất chính là lãnh đạo, chỉ huy của tòa thành ấy. Việc trao quyền cho nhầm người khi không có cơ chế kiểm soát đủ hiệu quả sẽ là nguy cơ tiềm ẩn khôn lường cho doanh nghiệp. Bài học thứ hai: Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự sa đọa tuyệt đối. Khi người lãnh đạo có được những thứ mình muốn quá dễ dàng thì sẽ dễ bị lạc hướng, chìm vào trong những mưu toan, thủ đoạn trục lợi. Vì thế cuốn sách này sẽ bài học về quản trị nhân sự, tuyển dụng nhân tài sao cho vừa phù hợp, vừa hiệu quả, vừa bền vững. Bài học thứ ba: Thành công của một lãnh đạo không chỉ là xây dựng và phát triển một đội ngũ đủ sức đạt được những thành tích xuất sắc trong nhiệm kỳ của mình mà còn phải tạo ra những người lãnh đạo kế nhiệm đủ tầm khác. Bài học thứ tư: Văn hóa của một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng cho sự phát triển và trường tồn trong một doanh nghiệp. Câu chuyện về văn hóa doanh nghiệp của Reynolds là một ví dụ không thể thuyết phục hơn. Bài học thứ năm: Cần hơn nữa những ý thức và cam kết với các giá trị cốt lõi và bổ sung thường xuyên của những động lực phát triển mới cho doanh nghiệp. Bọn Rợ Rình Trước Cổng - Bài học đắt giá giành cho những nhà quản lý Đây không chỉ là cuốn sách khiến người đọc phải ngạc nhiên, tò mò với những thủ thuật tài chính, mua bán sáp nhập hiện đại và nguy hiểm, mà còn là cuốn sách những người lãnh đạo doanh nghiệp đang trăn trở về cách thức quản trị tổ chức hiệu quả nhất định không thể bỏ qua.  *** Bryan Burrough là đặc phái viên của Vanity Fair và cựu phóng viên của The Wall Street Journal, ông đã báo cáo về nhiều chủ đề, bao gồm các sự kiện dẫn đến cuộc chiến ở Iraq, sự mất tích của Natalee Holloway và vụ Anthony Pellicano. Bryan còn là tác giả của nhiều bài phê bình sách và bài báo trên The New York Times, Los Angeles Times và Washington Post. John Helyar là một nhà báo và tác giả người Mỹ. Ông tốt nghiệp Đại học Boston và đã làm việc cho The Wall Street Journal, Fortune, ESPN.com, ESPN The Magazine và Bloomberg News. Bài viết của ông và Bryan Burrough về RJR Nabisco đã mang về cho cả hai giải thưởng danh giá Gerald Loeb. *** LỜI GIỚI THIỆU cho bản tiếng Việt 1 Bất kỳ thành quách hay pháo đài kiên cố nào cũng đều có thể bị phá hủy từ bên trong. Và người thuận lợi nhất, dễ dàng nhất, ít bị đề phòng nhất để phá hủy lại chính là người lãnh đạo của cái pháo đài ấy. Đây không chỉ là cuốn sách để người đọc ồ à ngạc nhiên, tò mò với những thủ thuật tài chính, mua bán sáp nhập hiện đại và nguy hiểm, mà còn là cuốn sách khiến những người lãnh đạo doanh nghiệp như chúng ta nhức nhối và trăn trở về cách thức quản trị tổ chức hiệu quả (corporate governance). Trăm năm là rất dài. Nhưng trăm năm dường như vẫn là chưa đủ để tích lũy độ dày cần thiết giúp cái vỏ trứng mong manh có thể chống chọi được những sự phá hoại từ bên trong. Những câu chuyện “chất như nước cất” về quá trình khởi nghiệp, tạo dựng và phát triển của các đế chế hàng đầu thế giới như Reynolds trong ngành thuốc lá hay Nabisco trong ngành bánh kẹo có lẽ sẽ là động lực hừng hực cho những chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam. Nhưng câu chuyện về sự sụp đổ nhanh chóng của những đế chế trăm năm ấy chỉ trong một thời gian rất ngắn có thể làm cho lãnh đạo của những tập đoàn lớn nhiều nghìn tỷ chúng ta lạnh lưng rợn gáy. Việc cho phép những công cụ tài chính nguy hiểm được hoạt động thiếu kiểm soát lại là trách nhiệm và bài học nhức nhối cho những người quản lý nhà nước. Nhưng trao quyền nhầm người trong khi không có cơ chế kiểm soát đủ hiệu quả có lẽ là nguyên nhân lớn nhất. 2 Quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự sa đọa tuyệt đối. Có lẽ với một số độc giả, Ross Johnson cũng sẽ là một nhà quản lý hiệu quả nếu được sử dụng ở đúng vai trò, vị trí và kèm với một số cơ chế kiểm soát phù hợp. Khi trái ngọt đến quá dễ dàng thì người ta sẽ dễ bị lạc hướng, chìm vào những thủ đoạn chính trị nội bộ, những mua chuộc dối trá và những ê kíp đoàn kết nhất trí ru ngủ… Cuốn sách này vì thế cũng là một bài học về quản trị nhân sự. Tuyển dụng và phát triển nhân tài như thế nào để vừa phù hợp, vừa hiệu quả và bền vững không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật. Không phải cứ nhanh hơn là hay hơn. Không phải cứ trao quyền là tốt hơn. Không hẳn cứ trọng dụng là tiến bộ hơn. Đúng người (Who), đúng việc (What) nhưng còn phải đúng cách (How) nữa. Và cũng vì thế nên trách nhiệm quản trị nhân sự không phải là của trưởng phòng hay giám đốc nhân sự. Trách nhiệm ấy là của Ban điều hành, Hội đồng quản trị và cả Đại hội đồng cổ đông. Đặc biệt là với những nhân sự nòng cốt. 3 Thành công của một lãnh đạo không chỉ giới hạn trong việc xây dựng, phát triển và lãnh đạo đội ngũ đủ sức đạt được những kết quả hoạt động mong đợi trong nhiệm kỳ của mình. Thành công của lãnh đạo còn được đánh giá bởi kết quả của sự chuẩn bị lực lượng kế thừa đủ chất lượng, đủ sức lãnh đạo tổ chức thành công trong các nhiệm kỳ tiếp theo. Trách nhiệm của người lãnh đạo không phải là tạo ra những người đi theo: Họ cần tạo ra những người lãnh đạo đủ tầm khác. Nhìn từ góc độ này, những người lãnh đạo tiền nhiệm của Ross Johnson tại các doanh nghiệp liên quan đều là những người lãnh đạo tồi, cho dù tính cách và phong cách lãnh đạo của mỗi người đều rất khác nhau. 4 Muốn hủy diệt một quốc gia, hãy lấy hết đất đai của họ. Nhưng muốn hủy diệt một dân tộc, chỉ cần làm ô nhiễm hay pha loãng văn hóa của họ. Trong doanh nghiệp cũng vậy. Văn hóa của một doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng cho sự phát triển và trường tồn của doanh nghiệp ấy. Cuốn sách chia sẻ những câu chuyện tuyệt vời về sức mạnh vô địch của văn hóa doanh nghiệp. Không có một văn hóa đủ mạnh thì chắc là cả Nabisco lẫn Reynolds đã sớm chìm vào dòng lịch sử chứ không thể sừng sững với thời gian như vậy. Văn hóa của một tổ chức không phải là thứ mà họ tuyên bố hay tuyên truyền. Văn hóa ấy được bắt nguồn từ những người lãnh đạo cao nhất và thấm nhuần vào suy nghĩ, hoạt động cũng như hành vi hằng ngày của tất cả các cấp lãnh đạo và nhân viên của tổ chức ấy. Văn hóa ấy không nhất thiết phải là “tốt” dưới con mắt của cộng đồng xã hội. Nhưng nhất thiết phải phù hợp với đặc tính ngành nghề, bổ trợ cho sự phát triển của tổ chức và tăng cường gắn kết với những người quan trọng cần thiết cho sự thành công của tổ chức: cổ đông, nhân viên và khách hàng. Câu chuyện về văn hóa doanh nghiệp ở doanh nghiệp thuốc lá Reynolds là một ví dụ không thể thuyết phục hơn. 5 Kết cục đau thương cho những thương hiệu hàng đầu trong câu chuyện đặt ra câu hỏi nhức nhối về công thức truyền thừa của các tổ chức: Làm sao để trường tồn? Văn hóa mạnh: Đúng rồi. Nhưng sẽ đến lúc chính văn hóa ấy cản trở doanh nghiệp thay đổi và phát triển. Lãnh đạo tâm - tầm - tài: Đúng rồi. Nhưng lãnh đạo nào rồi cũng sẽ ra đi, mà có phải lãnh đạo nào cũng minh mẫn suốt đời đâu. Có lẽ sẽ cần hơn nữa những sự cảm nhận và thôi thúc sứ mệnh, những ý thức và cam kết với các giá trị cốt lõi và sự bổ sung thường xuyên của những động lực phát triển mới cho doanh nghiệp. Nhưng khổ nỗi, tất cả những điều ấy đều đến từ hay bị điều chỉnh bởi lãnh đạo. Làm sao để kiểm soát được lãnh đạo, hoặc ít nhất để lãnh đạo tự kiểm soát được chính mình, thì chỉ có những người tạo ra lãnh đạo trả lời được mà thôi. Vài dòng tâm tư khi đọc cuốn sách Bọn rợ rình trước cổngtrong chuyến đi cứu trợ miền Trung năm 2020. Trần Bằng Việt Chuyên gia tư vấn cao cấp Chủ tịch Giải pháp Phát triển Đông A *** LỜI TÁC GIẢ Năm 1989, chúng tôi viết Bọn rợ rình trước cổng kể về các sự kiện đang diễn ra; bây giờ mọi thứ đã trở thành dĩ vãng. Một số cuốn sách có vòng đời dài hơn các cuốn khác. Chúng tôi nghĩ rằng cuốn sách này là một trong số đó. Nó vẫn được dùng để giảng dạy về nhiều chủ đề cho sinh viên trong các trường đào tạo kinh doanh lớn, từ đạo đức kinh doanh đến nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Năm 1993, cuốn sách được chuyển thể thành phim và chiếu trên kênh HBO. Năm 2002, 14 năm sau khi gây chấn động, cuộc chiến RJR lại được chuyển thể thành một bộ phim tài liệu chiếu trên kênh History. Sự đón nhận này của công chúng là những gì chúng tôi chưa từng dám nghĩ tới khi bắt tay viết cuốn sách. Trên thực tế, mục tiêu chính của chúng tôi chỉ đơn giản là kiểm tra năng lực của chính mình, xem liệu chúng tôi có thể tự viết một cuốn sách hay không; cả hai chúng tôi đều chưa từng thử viết sách. Bọn rợ rình trước cổng cũng không phải là cuốn sách được các nhà xuất bản tranh giành. Trên thực tế, trong số hơn chục nhà xuất bản chúng tôi đã tiếp xúc, chính xác chỉ có nhà xuất bản Harper & Row (nay là nhà xuất bản Harper Collins) tỏ ra quan tâm một chút. Mọi người đã chán ngấy với các câu chuyện xuất hiện nhiều tuần trên những mặt báo về RJR. Còn ai muốn đọc thêm nữa? Là phóng viên của tờ Wall Street Journal, chúng tôi đã cố gắng làm cho Bọn rợ rình trước cổng thấm nhuần các chuẩn mực về tính thời sự và tính chính xác mà chúng tôi đã nắm vững khi viết báo. Thật sự, Bọn rợ rình trước cổng sẽ không thể ra đời nếu không có sự khích lệ mà hai biên tập viên của cuốn sách này, Norman Pearlstine và Paul Steiger, dành cho chúng tôi. Không chỉ vậy, chúng tôi còn được nghỉ phép không lương trong tám tháng để thực hiện cuốn sách này. Tháng 10 năm đó, khi câu chuyện về RJR bùng nổ, tôi là phóng viên của Wall Street Journal, tờ báo đầu tiên đưa tin về vụ sáp nhập và mua lại đình đám ở Phố Wall; còn John, sống tại Atlanta, phụ trách viết bài về công ty. Chúng tôi đã cùng nhau viết về mọi ngóc ngách của trận chiến RJR kéo dài sáu tuần. Chỉ đến khi trận chiến kết thúc, chúng tôi mới thống nhất cùng nhau viết sách, thế là chúng tôi gặp nhau. John giơ một cuốn tạp chí Timelên, trên trang bìa là bức ảnh đáng hổ thẹn của Ross Johnson, để tôi có thể nhận ra anh ở sân bay Atlanta. Chúng tôi thường có chút ngại ngùng khi thừa nhận đã nghiên cứu và viết Bọn rợ rình trước cổng trong tám tháng ngắn ngủi, từ tháng Một đến tháng Tám năm 1989. Đó là quãng thời gian buồn vui lẫn lộn với chúng tôi. Tôi sống trong một căn hộ không có điều hòa ở khu phố Park Slope, quận Brooklyn. Tôi đi tàu điện ngầm đến Manhattan để thực hiện sáu cuộc phỏng vấn mỗi ngày; chúng tôi nhất trí với nhau rằng tất cả các cuộc phỏng vấn nên được thực hiện trực tiếp. Buổi tối, tôi trở về nhà, kiểm tra, đối chiếu thông tin và viết lại những ghi chú trong buổi phỏng vấn. Đôi khi, vì trời mùa hè quá nóng, tôi chỉ mặc chiếc quần bơi và áo phông. John phải di chuyển rất nhiều, qua lại giữa Atlanta, Bắc Carolina và New York để khớp nối các câu chuyện về con đường tiến thân đến đỉnh cao quyền lực của Ross Johnson. Chúng tôi làm việc độc lập, trừ khi có các cuộc phỏng vấn quan trọng với chính Johnson, đã có các cuộc phỏng vấn dài không chính thức ở Atlanta và Manhattan, có thêm bánh pizza và nước ngọt. Khi đang viết sách, chúng tôi đã lo rằng câu chuyện về RJR sẽ bị lu mờ bởi một số thương vụ đình đám hơn, khắc nghiệt hơn. Giữa những kẻ tập kích công ty, các nghệ sĩ LBO và những nhà tài phiệt đầu tư vào trái phiếu rác, toàn bộ giới kinh doanh của những năm 1980 như phát điên. Những cuộc đột kích man rợ diễn ra sau Bọn rợ rình trước cổng có thể làm cho trận chiến RJR từ bản anh hùng ca chỉ còn là vài dòng chú thích. (Đó là lý do tại sao Harper muốn ra mắt cuốn sách thật nhanh.) Chúng tôi đã sẵn sàng cho ngày đen tối đó, nhưng nó không bao giờ đến. Hóa ra cuộc chiến giành RJR vừa xác lập và kết thúc một kỷ nguyên. Trong gần một thập kỷ sau đó, vụ trúng thầu trị giá 25 tỷ đô-la của KKR vẫn được xem là thương vụ lớn nhất mọi thời đại. Có một số yếu tố kết hợp với nhau làm giảm quy mô của các giao dịch trong vài năm. Cỗ máy kiếm tiền siêu đẳng đằng sau LBO - trái phiếu rác - đã ngắc ngoải, và có lúc gần như dừng hoạt động. Mike Milken bị bắt giam; Drexel Burnham phá sản, và trong thời kỳ suy thoái đầu thập niên 1990, các công ty ốm yếu sử dụng đòn bẩy quá mức đã gây tiếng xấu cho LBO. Henry Kravis thôi không nhòm ngó các cuộc chơi lớn nữa. Ông ta còn bận với việc chăm sóc sức khỏe và ăn uống - cũng như chuyện nợ nần của RJR. Những ngôi sao khác của Phố Wall trong thập niên 1980, những kẻ từng chinh chiến để giành lấy RJR đã kiêu ngạo quá mức và trở nên quá đỗi nhạt nhòa. John Gutfreund bị hất cẳng vào năm 1991, khi đang là chủ tịch của Salomon Brothers, sau một vụ bê bối giao dịch trái phiếu kho bạc. Chủ tịch Tom Strauss cũng phải từ chức. Ông này từng tham gia với Peter Cohen trong vụ nhập nhèm ở một quỹ phòng hộ. Những người khác cũng chuyển sang các công ty quản lý quỹ, bao gồm Tom Hill ở tập đoàn Blackstone và Steve Waters ở một quỹ đầu tư tư nhân của châu Âu có tên Compass Partners. Nhân vật duy nhất nổi lên như một ngôi sao trong vụ Bọn rợ rình trước cổng là Steve Goldstone. Vị luật sư từng làm cho Ross Johnson cuối cùng đã trở thành CEO của RJR Nabisco. Nhưng ngay cả việc Goldstone leo lên được vị trí này cũng chủ yếu nhờ sự sụp đổ của công ty hùng mạnh một thời. Năm 1999, ông bán Nabisco cho Phillip Morris, thoái vốn khỏi hoạt động kinh doanh thuốc lá quốc tế của RJR, và đưa công ty trở lại điểm xuất phát: một công ty thuốc lá Mỹ có trụ sở tại Winston-Salem, Bắc Carolina. Kohlberg Kravis đã rời khỏi RJR ngay sau đó, với những khoản lợi nhuận khiêm tốn. Nhưng ngay khi những sát thủ Phố Wall của thập niên 1980 lặng lẽ lùi dần vào sau ánh hoàng hôn, họ đã mở ra buổi bình minh của thập niên 1990 thậm chí còn hỗn độn hơn. Ban đầu, các CEO của Mỹ bị sốc và kinh hoàng bởi những gì bọn rợ đã làm, nhưng cuối cùng lại theo chân họ. Từ vụ RJR, họ đã hiểu những gì mà những kẻ giàu sụ dễ dàng kiếm được. Họ bắt đầu lao vào giành lấy phần của mình. “CEO của các tập đoàn đã học được hai điều từ các vụ LBO,” Dick Beattie, người vẫn tiếp tục với các thỏa thuận lớn cho đến những năm 1990, nói. “Trước tiên, cách để có một khối tài sản kếch xù là thông qua sở hữu cổ phần, chứ không phải là dựa vào tiền lương và tiền thưởng, và thứ hai, anh không cần phải làm LBO mới có trong tay cổ phiếu. Anh có thể cho mình quyền mua bán cổ phiếu. Với cách làm phổ biến đó, các CEO của những năm 1990 đã thu về bộn tiền khiến Ross Johnson phải bối rối và lây lan tính tham lam trên cả Phố Main* lẫn Phố Wall. Tính tham lam đó thậm chí còn lây lan đến cả những công ty kế toán vốn ù lì, nay biến thành các công ty tổ chức sòng bạc hơn là làm công việc kiểm toán. “Lỗi là ở các nhân viên ngân hàng đầu tư,” Paul Volcker gào lên. Ông là cựu Chủ tịch Fed, người đã rất nỗ lực giải cứu Arthur Andersen nhưng bất thành trong một vụ bê bối gây nhiều tranh cãi. Lúc ông mới đến Phố Wall vào đầu năm 2002, những tay đầu cơ cổ phiếu ở đây đã có ảnh hưởng sâu sắc đến đám đông nhân viên kiểm toán thường đội mũ lưỡi trai màu xanh lá cây để che nắng này*. Volcker kể lại: “Các kế toán viên cảm thấy thế này: ‘Chúng ta cũng giỏi như bọn họ, và chúng ta đang làm mọi việc.’ Bầu không khí bao trùm nơi đây là: ‘Tiền ở đó, đến mà lấy.”’ Hãy gọi đó là “chiến thắng của bọn rợ” cho đó là lý do để cuốn sách này vẫn mãi liên hệ đến những con người của hiện tại. Các CEO khét tiếng ngày nay như Dennis Kozlowski và Bernie Ebbers thực sự là những phiên bản Ross Johnson thời hiện đại. Họ đã phát triển những gì mà ông tiên phong: CEO chỉ là những kẻ tư lợi, không phải là người của công ty. Các CEO như những tay giang hồ liều lĩnh và là những kẻ trơ tráo tước đoạt tài sản của công ty. Chỉ khác là các thương vụ họ thực hiện ở quy mô, tầm vóc lớn hơn, trong thị trường bò (bull market) và thời kỳ bong bóng công nghệ của những năm 1990, khi số cổ phiếu và lượng tiền chiếm đoạt lớn hơn rất nhiều. Ngay cả những kẻ bất tài như Henry Samueli và Henry Nicholas, đồng chủ tịch của một công ty có tên Broadcom, cũng thu về mỗi người 800 triệu đô-la lợi nhuận. Họ bán cổ phiếu thưởng lấy tiền mặt khi ngành viễn thông vẫn còn đang “nổi”. So với số tiền đó, chiếc dù vàng đáng xấu hổ một thời trị giá 53 triệu đô-la của Ross Johnson vẫn còn là ít. Nhưng ngay cả khi có các thương vụ đã vượt qua Bọn rợ rình trước cổng về quy mô tiền mặt, chúng cũng không được dựng thành phim. Và nguyên nhân không nằm ở tài năng của các tác giả, có Chúa mới biết. Đó là vì trong sáu tuần chinh chiến vào năm 1988 đó, khi một nhóm các ông trùm kinh doanh mới phất lên giành giật quyền sở hữu một công ty lớn và trở thành những ông chủ lớn thống trị Phố Wall, trật tự hoàn hảo của thế giới mới đã được thiết lập. Hệ tư tưởng của một thời đại đã được thể hiện đầy đủ trong cuộc chiến giành RJR: những cảm xúc thô thiển xung đột kịch liệt với tính tự cao tự đại: cốt truyện không hề bị méo mó và các nhân vật lại càng không. Các tác giả khác đã cùng viết nên những cuốn sách đáng tự hào, những thiên tiểu thuyết về kinh doanh. Cuốn Indecent Exposure (tạm dịch: Để lộ âm tàng) của David McClintick là khuôn mẫu cho tất cả chúng ta, nhưng không có cuốn sách nào lại đặc biệt với nhiều tư liệu rùng rợn đến vậy. Chúng tôi viết về những nhân viên ngân hàng đầu tư vừa nuốt vội bánh Milk Bone, vừa chạy như bay đến khu trung tâm Manhattan, hạ giá thầu vào phút cuối. Chúng tôi viết về một CEO, người có con chó được sắp xếp bay trên một chiếc máy bay phản lực với khẩu hiệu sống: “Cứ mỗi giây qua đi, vài triệu đô-la lại trở thành quá khứ xa vời.” Chúng tôi mãi mãi biết ơn họ đã cho chúng tôi nguồn tư liệu quý để viết nên cuốn sách này. Bạn không thể cảm nhận được điều đó đâu. Mời các bạn đón đọc Bọn Rợ Rình Trước Cổng: Mua Lại Có Đòn Bẩy Và Thương Vụ Đình Đám RJR Nabisco của tác giả Bryan Burrough & John Helyar & Hoàng Thị Ngọc (dịch).
Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ
[Giới thiệu sách]  Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ - tác giả Rita Nguyễn  “Vòng Tròn To, Vòng Tròn Nhỏ” là câu chuyện kể về chuyến hành trình xuyên lục địa của một mảnh ni lông. Trong thế giới giả tưởng ấy, các loài sinh vật và đồ vật đều có ngôn ngữ và tư duy riêng không kém loài người. Ở chương 1 và chương 2, mảnh ni lông tên Ni Lô chia sẻ những trải nghiệm về cuộc sống ở giai đoạn đầu đời tại Việt Nam. Ni Lô trăn trở về kiếp sống bạc bẽo của những loài động vật hoang dã bị đối xử tệ bạc trong một vườn bách thú. Ni Lô hoang mang về sinh mệnh của bản thân khi bị chỉ trích là “kẻ tội đồ” phá hoại môi trường sống. Từ đó, Ni Lô quyết định đi thật nhiều và thật xa nhằm khám phá thế giới và tìm kiếm lời giải thích cho sự tồn tại của chính mình, cũng như vấn nạn ô nhiễm trên trái đất này. Từ chương 3 đến chương 6, Ni Lô kể về hành trình du lịch đến một số quốc gia cùng những nhân vật đồng hành như con người, con bò, con chim, con cá, chiếc ba lô, v.v.. Đồng thời, bằng những gì đã thấy và đã nghe, Ni Lô chia sẻ nhiều thông tin khoa học về vấn đề ô nhiễm môi trường tại Thái Lan, Ấn Độ, Nepal và Mỹ. Chương cuối “Trở về và chuyển hóa”, Nilo nêu lên câu chuyện nguồn nước bị tàn phá nghiêm trọng đang diễn ra tại biển hồ Tonle Sap ở Campuchia nói riêng và sông Mekong nói chung. Cuối cùng, ở chương 7, mảnh ni lông bé nhỏ mong manh, ham học hỏi và đầy trí tuệ ấy đã được tái chế trở thành một vật liệu vô cùng có ý nghĩa cho cuộc sống của người dân Việt Nam thường hay sống chung với lũ. Đó cũng là lúc, mảnh ni lông nhận ra giá trị tồn tại của bản thân trong sự hòa hợp với đồng loại rác thải nhựa. Đó cũng là lúc, chân lý được nhận ra, kích cỡ vòng tròn của trái đất ngỡ thật to mà hóa ra nhỏ đến không ngờ!   Người đăng: Vô_ngôn
Không Còn Là Con Người
KHÔNG CÒN LÀ CON NGƯỜI - CUỐN SÁCH MÀ NHỮNG NGƯỜI CON MONG MUỐN CHA MẸ ĐỌC 1 LẦN ĐỂ HIỂU MÌNH HƠN “Một gia đình không có hy vọng, giống như một ngọn nến yếu ớt lay lắt trong gió mạnh.” Ruồng bỏ hay ra sức bảo vệ con trai mình, lựa chọn của Miharu sẽ là gì? *** “Không còn là con người” là tiểu thuyết được sáng tác bởi nhà văn Izumi Kurosawa, kể về cuộc sống của Miharu, một bà mẹ có con trai bị biến thành quái vật. Một cuốn sách có dung lượng vừa phải, rất phù hợp cho những độc giả yêu thích dòng văn học viễn tưởng nói chung và những câu chuyện đến từ xứ sở Phù Tang nói riêng. Thông tin chung về “Không còn là con người” Tác giả: Izumi Kurosawa Thể loại: Tiểu thuyết Người dịch: Vương Hải Yến Nhà xuất bản: Nhà xuất bản Thanh Niên Năm xuất bản: 2019 Tóm tắt tác phẩm “Không còn là con người” Ở một địa phương nọ, vào vài năm trước đột nhiên xuất hiện một căn bệnh kỳ lạ khiến con người bị biến đổi thành một sinh vật có hình thù quái dị. Căn bệnh vô phương cứu chữa này được gọi là “Mutant Syndrome – Hội chứng đột biến” và nó gây bệnh cho những tầng lớp những người trẻ bị gọi là “hikikomori” hoặc “NEET” – những người ăn bám tự giam mình trong phòng. Chính phủ đã ra chỉ thị rằng những người mắc phải căn bệnh này sẽ được coi như là đã chết và sẽ bị tước đi quyền làm con người. Đến một ngày, bi kịch bỗng xảy ra với gia đình của Miharu khi mà người con trai hikikomori của cô cũng mắc phải căn bệnh đó… Ruồng bỏ hay ra sức bảo vệ con trai mình, lựa chọn của Miharu sẽ là gì? Về cốt truyện “Không còn là con người” có cốt truyện khá dễ hiểu, kể về một người mẹ dũng cảm bảo vệ đứa con trai mắc bệnh đột biến của mình. Căn bệnh ban đầu được giới thiệu là vô phương cứu chữa, nhưng rồi khi biến cố qua đi, người đọc vẫn sẽ thấy được ánh sáng của hy vọng, thể hiện quan điểm sống mạnh mẽ và lạc quan của tác giả. Bên cạnh câu chuyện cảm động về tình mẫu tử thiêng liêng, “Không còn là con người” tập trung đánh giá lại vai trò của gia đình trong xã hội hiện đại. Tác giả đã mạnh dạn đưa ra nhiều câu hỏi hóc búa, đối thoại lại với quan niệm về gia đình được công nhận từ trước đến nay. Có phải gia đình luôn là bến đỗ bình yên và hạnh phúc không? Có phải tình yêu thương sẽ không bao giờ vơi cạn giữa những thành viên có cùng huyết thống không?… Câu trả lời tùy thuộc vào cách nhìn của mỗi con người. Về nhân vật Hệ thống nhân vật của “Không còn là con người” khá dễ nắm bắt. Các nhân vật được miêu tả thông qua lời nói và hành động, với nhân vật trung tâm là Miharu thì sẽ có thêm những dòng độc thoại nội tâm nhằm thể hiện tư tưởng tình cảm của tác phẩm. Mỗi nhân vật được giao cho một vai trò nhất định, hoạt động trong những mối quan hệ nhỏ, ít sự chuyển biến về mặt tính cách. Câu chuyện tập trung vào gia đình của Miharu, với đầy đủ những đặc trưng của một gia đình Nhật Bản hiện đại. Miharu là một bà nội trợ hiền lành và cam chịu, không có việc làm nên phải ở nhà chăm con. Chồng của Miharu là một viên chức bình thường, tính cách gia trưởng và bảo thủ, không bao giờ giúp đỡ Miharu trong công việc mà suốt ngày cằn nhằn và chê trách cô. Vợ chồng Miharu chỉ có duy nhất một đứa con trai, vì không chịu nổi áp lực kỳ vọng từ gia đình nên đã bỏ học cấp ba, ở nhà ăn bám; đến năm hai mươi hai tuổi cậu mắc bệnh đột biến, trở thành quái nhân. “Không còn là con người” miêu tả rất chi tiết những thanh niên mắc bệnh đột biến. Đó là một con sâu chậm chạp có những cặp chân giống đốt tay người. Đó là một con chó hung dữ có gương mặt của một cô gái. Đó là một cái cây vô tri với tán cây chính là những cánh tay thòng xuống. Thậm chí đó còn là một đống thịt bầy nhầy, răng môi lẫn lộn nhưng vẫn biết nói, biết than khóc, thét gào… Những bức chân dung ấy tự nhiên nhưng không thô lậu, ám ảnh nhưng không rùng rợn, cùng nhau tạo nên một ấn tượng khó phai mờ trong lòng độc giả. Về văn phong “Không còn là con người” có cách kể chuyện tương đối linh hoạt. Câu chuyện không bị bó hẹp trong điểm nhìn của nhân vật Miharu mà còn mở rộng ra những bà mẹ có con mắc bệnh đột biến khác. Bên cạnh mạch truyện chính được kể bằng ngôi thứ ba, những dòng tâm sự được viết bằng ngôi thứ nhất cũng gây được ấn tượng khá mạnh mẽ, giúp người đọc hình dung được thực trạng “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh” trong câu chuyện. Ngôn ngữ của “Không còn là con người” dung dị và dễ hiểu, không dùng quá nhiều ví von và so sánh. Mỗi chương trong cuốn sách được chia nhỏ để người đọc dễ theo dõi, đồng thời tạo nên một nhịp điệu riêng cho câu chuyện, nhẹ nhàng mà sâu lắng, sự đan xen những hình ảnh biểu tượng gợi ra nhiều suy ngẫm sâu xa. “Không còn là con người” của Izumi Kurosawa là một câu chuyện đem lại nhiều suy ngẫm cho độc giả, về giá trị của con người, về vai trò gia đình, và cao hơn là về bản chất của xã hội. Hãy chia sẻ cảm nghĩ của bạn về cuốn sách này với Japankuru nhé. Japankuru Team *** Lần đầu tiên tiếng động kỳ lạ ấy vang lên phía sau cánh cửa là vào khoảng quá trưa. Miharu đưa tay lên định gõ cửa phòng, nhưng rồi cô dừng lại, ghé tai nghe một cách nghi hoặc. Không phải tiếng “sồn sột”, cũng không phải tiếng “sột soạt”. Đó là tiếng một thứ gì đó cứng, nhưng nhẹ, đang cào lên tấm dán hình vân gỗ dán trên cửa phòng. Thứ đó mỏng manh như một cành cây nhỏ, dường như chỉ có sức trượt nhẹ trên bề mặt tấm dán. Nó không đủ sức chọc thủng một cái lỗ trên cửa, cũng không cào mòn được cánh cửa như nó muốn, chỉ tạo ra được những âm thanh yếu ớt với khoảng cách ngắn, dai dẳng không ngừng. Cứ mãi như vậy. Miharu đứng sững lại, nhìn chằm chằm cánh cửa. Đối với cô, phía bên kia cánh cửa là một thế giới hoàn toàn xa lạ. Trong ngôi nhà mà cô đã sống mười năm có lẻ này, đó là nơi duy nhất cô không thể đặt chân đến, khó nắm bắt vô cùng. Đó là phòng của Yuichi - cậu con trai duy nhất của cô. Bên trong căn phòng là thành trì của Yuichi. Ở trong đó, cậu có làm việc gì, có xảy ra chuyện gì cũng chẳng có gì lạ. Nó là một nơi xa lạ với Miharu đến mức như vậy đấy. Đúng thế, nếu xảy ra chuyện gì thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên, cho dù nó có là chuyện vượt quá sức tưởng tượng của Miharu thế nào đi chăng nữa. Cô khẽ nuốt nước bọt. Cô tới đây chỉ để gọi con trai xuống ăn trưa như mọi ngày thôi, vậy mà hôm nay cô lại cảm thấy một cơn căng thẳng dị thường. Cổ họng khô khốc, cô khẽ gõ cửa. “Yu… Yuu ơi.” Miharu gọi cậu con trai hai mươi hai tuổi của mình đang ở bên trong phòng như thế. “Cơm trưa xong rồi đấy con. Con đoán xem thực đơn trưa nay của chúng ta là gì nào? Là món hamburger mà con rất thích đấy! Mau xuống ăn trước khi đồ bị nguội nhé.” Không có câu trả lời. Lần nào cũng vậy. Miharu định quay gót bước đi thì chợt sững lại. Sột sột, sột, sột sột sột sột… Tiếng động kỳ lạ vang lên từ phía bên kia cánh cửa. Một thứ gì đó đang cào vào cánh cửa một cách nhanh hơn, khẩn thiết hơn khi nãy. “… Yuu à?” Một nỗi bất an không thể diễn tả được chìm sâu trong tâm trí cô. Cùng lúc đó, một liên tưởng tồi tệ xẹt qua đầu cô. Không thể nào - cô nghĩ. Nhưng cô không thể rũ bỏ suy nghĩ đó như một suy đoán vô căn cứ được. Nếu là bình thường, cô sẽ chỉ gọi rồi xuống ăn trước, vừa ăn vừa đợi con trai tự mình bước xuống. Cô không bao giờ mở cửa phòng. Nhưng giờ đây cô bị thôi thúc bởi ý nghĩ, nhất định hôm nay mình phải mở cánh cửa đó. … Sột sột. Sột sột sột sột. Âm thanh vẫn tiếp tục vang lên. Có lẽ nó muốn Miharu nhận ra sự khẩn thiết, cố gắng hết sức của nó. Cô suy nghĩ. Chủ nhân của tiếng động kỳ lạ này hẳn đang rất muốn bước ra khỏi phòng. “Yuu à, mẹ mở cửa nhé.” Miharu vừa thông báo như vậy thì tiếng động liền ngừng lại. Không gian tĩnh lặng lạ thường. Cô đột nhiên thấy sốt ruột. Cuối tháng Năm, ngoài trời quang đãng với ánh nắng dễ chịu của những ngày đầu hạ, nhưng cô vẫn thấy se se lạnh. Miharu khẽ hít vào một hơi sâu, đoạn đặt tay lên tay nắm cửa. Cô cẩn trọng gạt tay nắm xuống, rón rén mở cửa ra. “Yuu ơi…” Trước mắt cô là bức rèm cửa sổ đóng kín. Rèm có độ cản sáng cao, bảo vệ căn phòng khỏi ánh sáng chói mắt bên ngoài một cách hoàn hảo. Căn phòng mờ tối có vẻ gọn gàng và ngăn nắp hơn Miharu nghĩ. Miharu yên tâm hẳn khi thấy căn phòng không bừa bộn rác khiến cô phải rùng mình, ánh mắt cô rơi xuống phía dưới. Cô tròn mắt nhìn một thứ vừa lọt vào tầm mắt mình, dạ dày liền co thắt lại. Đúng lúc đó miệng cô thoát ra một tiếng như tiếng nấc cụt, cô sững người lại không thốt nên lời. Dưới chân cô là “thứ đó”. Phần cơ thể có vẻ là phần đầu của nó đang cố gắng ngẩng lên nhìn Miharu. Cảm giác đầu tiên đến với Miharu chính là sự ghê tởm. Nó giống với cảm giác khi cô nhìn thấy một kẻ không mời mà tới xâm nhập không gian sống của mình, cụ thể là côn trùng như muỗi, ong, kiến, hoặc nhện. Đó là cảm xúc của cô mỗi lần nhìn thấy bóng dáng chúng, những kẻ chẳng biết đã tự ý lẻn vào phòng từ khi nào và hiên ngang đi lại bên trong như thể đây là nhà của mình vậy. Miharu đã quen với môi trường thành thị ít côn trùng, chỉ có điều vẫn không thể tránh khỏi việc thỉnh thoảng lại bắt gặp lũ nhện. Vì chúng là côn trùng có ích nên cô không thể tận diệt được, nhưng cô cũng khó lòng đè nén cảm giác ghê tởm, sợ hãi và ý muốn ngay lập tức diệt trừ chứng. Đừng lại gần tao. Đó là lời cầu nguyện khẩn khoản của Miharu đối với kẻ xâm nhập trái phép mà cô nhìn thấy. Và lúc này, Miharu đang trải qua thứ cảm giác y hệt như vậy. Phần đầu tròn khá to so với cơ thể. Hai bên mặt là hai con mắt kép, cằm rắn rỏi như của loài kiến. Phần phía dưới đầu giống như thân một con sâu bướm. Chỉ khác ở điểm, từ phần thân đó mọc ra vô số chân giống như loài rết vậy. Ngay bên dưới đầu, có hai cặp chân giống như những cành cây dài và mảnh trông rất thiếu cân bằng mọc ra từ phần ngực. Hẳn là nó đã dùng bốn chân này để cào vào cánh cửa. Những cái chân khác chỉ dài bằng khoảng một nửa hai cặp chân mọc ra ở ngực thôi. Sinh lực trong người như trôi tuột đi đâu hết, Miharu ngồi sụp xuống. Tầm mắt cô cùng độ cao với tầm mắt của “thứ đó”. Nhận thấy nó đang định tiến tới gần mình, làm rung rinh cặp râu mọc trên đầu, Miharu lết mình lùi ra sau. “Không…” Con vật trước mặt cô thật là kỳ quái. Hình dáng nó gần giống côn trùng, nhưng độ lớn cơ thể nó ngang ngửa với một con chó tầm trung, khó mà cho rằng nó là một sinh vật thông thường. Đứng trước Miharu đang run rẩy, con vật cử động cằm tạo nên tiếng ken két. Có lẽ nó muốn nói gì đó, nhưng cô không thể hiểu được. “Không, không…” Miharu lắc lắc đầu, kêu lên đầy đau khổ. “Không thể nào… Khônggg!” Giọng nói của cô không chỉ có nỗi sợ hãi vì gặp phải một sinh vật quái dị, mà còn thấm đẫm âm thanh của sự tuyệt vọng. Bởi Miharu đã nhận ra, “thứ đó” chính là hình hài mà con trai cô vừa biến thành. Mời các bạn đón đọc Không Còn Là Con Người của tác giả Izumi Kurosawa & Vương Hải Yến (dịch).
Siêu Cấp Thần Cơ Nhân
Tương lai ầm ầm sóng dậy thời đại vũ trụ, nhân loại rốt cuộc phá được không gian truyền tống kỹ thuật, thế nhưng là làm con người truyện tống đến một chỗ khác thời điểm, lại phát hiện nơi đó cũng không phải là quá khứ tương lai, cũng không phải dưới trời sao bất luận cái gì một mảnh cương vực. . . Thần bí nơi ẩn núp thế giới, vô số cường hoành dị sinh vật, nhân loại nghênh đón làm người nhiệt huyết sôi trào bay vọt tính tiến nhanh hóa, mở ra dưới trời sao huy hoàng nhất sáng chói kỷ nguyên mới. "Săn giết thần huyết sinh vật Hắc Giáp Trùng, thu hoạch được thần huyết Hắc Giáp Trùng thú hồn, dùng ăn thần huyết Hắc Giáp Trùng huyết nhục, nhưng ngẫu nhiên thu hoạch được 0 đến 10 điểm Thần gien." *** Thế giới tiên hiệp ngày càng đủ màu sắc, đa loại thể dạng do các tác giả không ngừng đóng góp và sáng tạo ra nhiều tác phẩm khác nhau phục vụ nhu cầu của độc giả. Có những truyện thuần tu tiên - tu chân, có những truyện mạnh về yếu tố luyện đan - luyện cổ, có những tác phẩm có harem đông đúc thích hợp để giải trí, và cũng có những tác phẩm lấy bối cảnh tương lai hiện đại cần độc giả dành ra một chút 'cân não' khi nhảy hố, và Siêu Cấp Thần Cơ Nhân chính là một tác phẩm như thế. Lấy bối cảnh săn quái vật đầy kịch tính, tác phẩm mới của tác giả Thâp Nhị Dực Hắc Ám Sí Thiên Sứ đã được rất nhiều độc giả đón nhận và yêu thích. Hãy cùng blog Tu Chân Giới tìm hiểu thử sơ lược về nội dung của bộ truyện đang sở hữu hơn 200.000 lượt xem (chỉ tính riêng tại web TruyenYY) này nhé! SIÊU CẤP THẦN CƠ NHÂN Tác giả: Thập Nhị Dực Hắc Ám Sí Thiên Sứ Thể loại: Huyền huyễn, khoa huyễn, võng du *** Chào mừng các bạn đến với thế giới săn quái vật.... Cấp bậc sinh vật: Bình Thường, Nguyên Thủy, Biến Dị, Thần Huyết,... Cấp bậc tiến hóa: Tiến Hóa Giả, Siêu Việt Giả, Bán Thần,... Cấp bậc Dị Linh: Thị Giả, Kỵ Sĩ, Quý Tộc, Hoàng Tộc,.... Thời đại vũ trụ trong tương lai ầm ầm dậy sóng, nhân loại rốt cuộc đã phát minh ra được kỹ thuật truyền tống từ không gian này sang không gian khác, thế nhưng, thời điểm nhân loại truyền tống đến một địa phương ngẫu nhiên, họ mới phát hiện ra nơi đó chẳng phải là quá khứ, cũng không phải là tương lai, lại càng không phải là một mảnh cương vực quen thuộc nào ở Trái đất này. . . Thế giới xung quanh họ vô cùng thần bí, vô số cường dị sinh vật hoành hành khắp nơi. Muốn sinh tồn, nhân loại bắt buộc phải nghênh đón thời kỳ tiến hóa bùng nổ và đầy nhiệt huyết sôi trào, mở ra một kỷ nguyên mới dưới trời sao huy hoàng, sáng chói... "Săn giết thần huyết sinh vật Hắc Giáp Trùng, thu hoạch được thần huyết của thú hồn Hắc Giáp Trùng, phục dụng huyết nhục của thần huyết Hắc Giáp Trùng, ngẫu nhiên sẽ thu hoạch được từ 0 đến 10 điểm Thần gien." Trong một khe núi, bên cạnh một dòng suối nhỏ đầy đá lỏm chỏm có một thiếu niên mặc áo đen, trong tay hắn đang cầm một con vật có xác ngoài màu đen thui sáng loáng, tản ra ánh sáng kim loại, trông giống như con cua, lại có chút giống như bọ hung. Thiếu niên mặc áo đen một tay cầm dao găm, nhanh chóng cắt đứt móng vuốt của con giáp trùng vẫn còn đang giãy dụa, đẩy lớp giáp xác ra, bên trong lập tức lộ ra lớp da thịt mềm mại trắng bóc. Hầu như không có chút do dự nào, thiếu niên mặc áo đen tựa như đang mần cua, trước tiên lấy thịt ở bên trong móng vuốt ra, sau đó ném cả khối thịt mềm mại to lớn kia vào trong miệng nhai ngồm ngoàm rồi trực tiếp nuốt vào. - Săn giết Hắc Giáp Trùng, không đạt được thú hồn, ăn thịt Hắc Giáp Trùng ngẫu nhiên có cơ hội đạt được từ 0 đến 10 điểm gen. - Ăn thịt Hắc Giáp Trùng, gen +0. Âm thanh kỳ dị vang lên ở trong đầu Hàn Sâm, đồng thời cũng có tin tức liên tục hiện lên ở trong đầu hắn. (Trích đoạn chương 1 Siêu Cấp Thần Cơ Nhân) Nếu nãy giờ bạn nào vẫn còn đang lờ mờ cảm thấy tên tác giả Thập Nhị Dực Hắc Ám Sí Thiên Sứ nghe quen quen thì đúng rồi đó, đây chính là người chắp bút nên các tác phẩm cực nổi khác như Ta Chỉ Muốn An Tĩnh Chơi Game, Thần Phẩm Đạo Thánh… Với bút pháp sinh động, lối hành văn chắc tay cùng trí tưởng tượng cực kỳ phong phú, Thập Nhị Dực Hắc Ám Sí Thiên Sứ đã tạo nên rất nhiều câu chuyện có sức hấp dẫn người đọc đến lạ kỳ, và nếu bạn đã từng yêu mến văn phong của vị tác giả này thì chắc chắn bạn không nên bỏ qua "cuộc chiến săn quái vật" với đầy những điều bí ẩn, thú vị trong tác phẩm Siêu Cấp Thần Cơ Nhân của ông đâu! *** Trong một khe núi, bên cạnh một dòng suối nhỏ đầy đá lỏm chỏm có một thiếu niên mặc áo đen, trong tay hắn đang cầm một con vật có xác ngoài màu đen thui sáng loáng, tản ra ánh sáng kim loại, trông giống như con cua, lại có chút giống như bọ hung. Thiếu niên mặc áo đen một tay cầm dao găm, nhanh chóng cắt đứt móng vuốt của con giáp trùng vẫn còn đang giãy dụa, đẩy lớp giáp xác ra, bên trong lập tức lộ ra lớp da thịt mềm mại trắng bóc. Hầu như không có chút do dự nào, thiếu niên mặc áo đen tựa như đang mần cua, trước tiên lấy thịt ở bên trong móng vuốt ra, sau đó ném cả khối thịt mềm mại to lớn kia vào trong miệng nhai ngồm ngoàm rồi trực tiếp nuốt vào. - Săn giết Hắc Giáp Trùng, không đạt được thú hồn, ăn thịt Hắc Giáp Trùng ngẫu nhiên có cơ hội đạt được từ 0 đến 10 điểm gen. - Ăn thịt Hắc Giáp Trùng, gen +0. Âm thanh kỳ dị vang lên ở trong đầu Hàn Sâm, đồng thời cũng có tin tức liên tục hiện lên ở trong đầu hắn. Hàn Sâm: Chưa tiến hóa. Cấp độ: Không Tuổi thọ: 200. Yêu cầu để thần thể tiến hóa: Gen. Điểm gen: 79 điểm. Thú hồn: Không. - Hơn ba mươi con Hắc Giáp Trùng liên tiếp mà vẫn không được điểm gen nào, xem ra là mình ăn quá nhiều thịt Hắc Giáp Trùng, thịt trùng đã không thể tiếp tục xúc tiến thân thể của mình tiến hóa nữa, thậm chí ngay cả một điểm gen cũng không thấy đâu, cứ tiếp tục như vậy thì tới năm nào tháng nào mình mới có thể hoàn thành lần tiến hóa thứ nhất đây. Khuôn mặt Hàn Sâm lộ ra vẻ buồn bực. Hơn một trăm năm trước, khoa học kỹ thuật của nhân loại đã đạt tới trình độ cực cao, nắm giữ kỹ thuật không gian truyền tống, nhưng sau khi nhân loại thử tiến hành truyền tống, lại kinh hãi phát hiện ra bọn họ không bị truyền tống trở về quá khứ, cũng không bị truyền tống đến tương lai. Thậm chí cũng không phải từ một tinh cầu này truyền tống đến một tinh cầu khác, nơi bọn họ được truyền tống đến là một thế giới hoàn toàn khác. Một thế giới mà nhân loại không có cách nào tưởng tượng được, ở trong cái thế giới này, tất cả thủ đoạn khoa học kỹ thuật đều mất đi tác dụng, súng tiểu liên ở đây còn không hiệu quả bằng một thanh cương đao, các loại đạn đạo và vũ khí hạt nhân trong thế giới đó căn bản không thể phát nổ được, bọn chúng chẳng khác gì một đống sắt vụn cả, các loại thiết bị cơ giới và thiết bị điện tử ở trong thế giới này cũng không có cách nào vận hành. Các loại sinh vật khủng bố hoành hành khắp mọi nơi, nguyên bản nhân loại có trí khôn và khoa học kỹ thuật nên mới đứng ở đỉnh chuỗi thức ăn, nhưng ở trong thế giới này, con người lại nằm ở phần cuối cùng. Tuy nhiên khi nhân loại giết chết một ít sinh vật loại nhỏ tương đối yếu nhược, sau khi ăn thịt của bọn nó, lại kinh ngạc phát hiện ra thân thể của mình sinh ra biến hóa nghiêng trời lệch đất, dùng một phương thức mà khoa học không có cách nào giải thích được để tiến hóa. Càng khiến cho nhân loại vui mừng hơn chính là ở trong thế giới này, theo thân thể tiến hóa, tuổi thọ của bọn họ cũng sẽ tăng theo, phát hiện này khiến cho toàn thể nhân loại khiếp sợ không thôi. Trong hơn một trăm năm sau, càng ngày càng có nhiều nhân loại tiến vào thế giới được gọi là “Thần Chi Tí Hộ Sở” (Dịch: Nơi ẩn nấp của thần), dần dần quen thuộc với quy tắc của thế giới này, săn giết sinh vật nơi đây để giúp thân thể mình tiến hóa, trình độ thân thể tiến hóa càng cao, tuổi thọ sẽ càng dài, trên lý thuyết nếu như có thể một mực tiến hóa tiếp, cho dù muốn trường sanh bất lão cũng không phải là chuyện không thể. Mà ở trong thế giới này, thủ đoạn khoa học kỹ thuật đã hoàn toàn vô dụng, thứ duy nhất có thể trợ giúp loài người chỉ có kỹ xảo cận chiến nguyên thủy nhất, mà nguyên bản cổ võ đã hoàn toàn xuống dốc trong xã hội hiện đại, ở trong thế giới này lại phát huy ra hiệu quả làm cho người ta không thể tưởng tượng được. Các loại cổ võ được khai phá ra một lần nữa, trải qua hơn một trăm năm truyền thừa và phát triển, hiện nay đã có thêm các lưu phái võ học mới, đồng thời các loại cổ võ mới cũng theo đó mà phát triển lên. Ngoại trừ cổ võ, Thần Chi Tí Hộ Sở còn có một loại lực lượng vô cùng hữu ích cho nhân loại, đó chính là thú hồn. Săn giết sinh vật ở Thần Chi Tí Hộ Sở sẽ có một ít cơ hội đạt được thú hồn của sinh vật đó, loài người sử dụng thú hồn, hình thái thiên kì bách quái, có một vài thú hồn có thể triệu hoán ra chiến đấu cùng nhân loại, có một vài thú hồn có thể hóa thành các loại áo giáp vũ khí. Cuối cùng còn có một ít thú hồn có thể giúp cho nhân loại biến thân, khiến nhân loại hóa thành cự thú kinh khủng, hoặc là thần điểu bay lượn trên trời cao, thậm chí là biến thành con kiến có thể chui xuống lòng đất. Nhưng bất kể là cổ võ hay là thú hồn, những thứ đó đều không có quan hệ quá lớn với Hàn Sâm. Cho dù là ở thế giới cũ, khoa học kỹ thuật tiên tiến đều nằm trong tay những người đứng ở đỉnh kim tự tháp. Hàn Sâm hoàn thành chương trình giáo dục bắt buộc năm mười sáu tuổi, sau khi tốt nghiệp liền bước vào Thần Chi Tí Hộ Sở, thứ hắn học được cũng chỉ là mấy chiêu cổ võ nhập môn mà thời đại này ai cũng biết kia. Về phần thú hồn, đó là thứ vô cùng quý giá, cho dù là thú hồn cấp thấp nhất cũng không phải là một người nghèo trắng tay như Hàn Sâm có thể mua nổi. Không có cổ võ mạnh mẽ, không có thú hồn trợ giúp, thậm chí không mua nổi vũ khí hợp kim cao cấp do nhân loại chế tạo, hành trình của Hàn Sâm ở Thần Chi Tí Hộ Sở gặp rất nhiều khó khăn, hắn chỉ có thể săn giết một vài sinh vật cấp thấp, ăn thịt để giúp thân thể mình tiến hóa. Thế nhưng mà thịt cấp thấp hắn ăn khá nhiều rồi, hiệu quả mang lại càng ngày càng ít, cho nên Hàn Sâm tiến vào Thần Chi Tí Hộ Sở đã hơn ba tháng mà vẫn không thể hoàn thành lần tiến hóa đầu tiên. Không phải Hàn Sâm chưa từng thử đi săn giết một vài sinh vật cao cấp hơn, nhưng mà cho dù là Đồng Nha Thú yếu nhất cấp nguyên thủy đều suýt chút nữa đã lấy đi cái mạng nhỏ của hắn, khiến cho hắn phải nghỉ ngơi gần một tháng mới có thể trở lại Thần Chi Tí Hộ Sở. Hiện nay Hàn Sâm hầu như đã săn giết sạch sẽ những sinh vật mà hắn có thể đối phó, tiếp tục ăn thịt của bọn nó cũng không có tác dụng gì, nếu như không mạo hiểm săn giết sinh vật cao cấp, không biết đến khi nào hắn mới có thể tiến hóa được. Trong lúc Hàn Sâm đang cân nhắc có nên thử đi săn Đồng Nha Thú một lần nữa hay không, đột nhiên hắn nhìn thấy có một vật gì đó đang men theo khe suối bò ra. Vốn Hàn Sâm tưởng rằng thứ kia là Hắc Giáp Trùng, nhưng lập tức cảm thấy có gì đó không đúng, Hắc Giáp Trùng là sinh vật có giáp xác đen nhánh, nhưng thứ trước mặt hắn lại có một lớp giáp xác màu vàng kim óng ánh rực rỡ. Hàn Sâm nhìn chằm chằm thứ vừa mới bò từ trong khe suối ra, thật sự là một con Hắc Giáp Trùng, nhưng mà con Hắc Giáp Trùng này lại khác với những con Hắc Giáp Trùng thông thường, thân thể nó lớn cỡ quả bóng rổ, lớp giáp xác của nó có màu vàng óng ánh, tựa như một tác phẩm nghệ thuật được điêu khắc bằng vàng, đặc biệt là đôi mắt sáng long lanh như thủy tinh kia, nếu như không nhìn kỹ, căn bản sẽ không nhìn ra được đây là một vật sống. - Con Hắc Giáp Trùng này sao lại kỳ quái như thế? Hàn Sâm vẫn không nhúc nhích nhìn chằm chằm vào con Hắc Giáp Trùng màu vàng. Mời các bạn đón đọc Siêu Cấp Thần Cơ Nhân của tác giả Thập Nhị Dực Hắc Ám Thiên Sứ.