Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Trò Chơi Của Thiên Thần

Nếu đã yêu thích Bóng hình của gió hay Tù nhân của thiên đường, bạn sẽ không thể bỏ qua Trò chơi của thiên thần. Tập thứ 2 trong bộ sách về Nghĩa trang những cuốn sách bị lãng quên kể về nhà văn trẻ David Martin. Trong những tháng ngày bị ám ảnh bởi mối tình bất thành, anh nhận được lời đề nghị kỳ lạ từ một chủ nhà xuất bản bí hiểm: Viết một cuốn sách chưa từng có trên đời, một câu chuyện mà vì nó người ta có thể sống và cũng có thể chết, có khả năng giết người và cũng có khả năng bị giết hại. Đổi lại, anh sẽ nhận được một gia tài khổng lồ và có thể nhiều hơn thế nữa. Thế nhưng, từ khi đặt bút ký vào bản hợp đồng kia, David cũng đã bán linh hồn mình cho quỷ dữ, đặt mạng sống của những người thân xung quanh mình vào vòng đe doạ… GIỚI THIỆU TÁC GIẢ: Carlos Ruiz Zafón sinh năm 1964, là một trong những nhà văn Tây Ban Nha được đọc nhiều nhất và được yêu quý nhất. Ông là tác giả của nhiều tác phẩm viết cho lứa tuổi thiếu niên, mà khởi đầu là một tiểu thuyết dày 500 trang được ông sáng tác năm mười bốn tuổi. Trò chơi của thiên thần nằm trong xê ri bộ tứ Nghĩa trang những cuốn sách bị lãng quên, bên cạnh các tập Bóng hình của gió, Tù nhân của thiên đường và Mê cung của linh hồn. Sách của Zafón đã được dịch ra hơn 40 thứ tiếng trên thế giới, được giới phê bình khen ngợi và giành được nhiều giải thưởng quốc tế. NHẬN ĐỊNH: “Nhà văn Tây Ban Nha Carlos Ruiz Zafón có một cung tên mang nhiều dây cung, và ông thích cùng lúc kéo căng tất cả: tiểu thuyết trinh thám, huyền ảo, tình cảm. Trò chơi của thiên thần là một cuộc pha trộn thể loại được xử lý một cách hoàn hảo.” Marianne Dubertret - La Vie *** 80 năm trước, trong một tác phẩm đầy thách đố của mình, Jorge Louis Borge đã tưởng tượng ra một thư viện trong đó chứa đựng những cuốn sách dày 410 trang, mỗi cuốn sách bao gồm những chỉnh hợp của 23 chữ cái, dấu câu và dấu cách – nghĩa là mọi cuốn sách đã từng có và sẽ có trên đời, về tất cả những gì đã biết và sẽ được biết tới. Nói cách khác, đó không phải là một vũ trụ sách, đó là một vũ trụ. Thư viện là cõi vũ trụ. Cố nhà văn người Tây Ban Nha Carlos Ruiz Zafón nói rằng ông không thấy có lí do chi để Borges (sự uyên bác) không thể trộn cùng với Neil Gaiman (tính giải trí), “chỉ là kể chuyện thôi; những cách khác nhau để sử dụng mật mã và hình ảnh và ngôn từ và tiếng động”. Và vì không có lí do chi để không làm vậy, nên ông liền làm vậy, bằng cách viết Nghĩa trang những cuốn sách bị lãng quên, chuỗi tiểu thuyết bốn tập độc lập tựa một biên niên u huyền về Barcelona, nơi những kẻ mộng mơ sẽ bị kéo về phía một mê cung thư viện bí ẩn để cất giấu những cuốn sách mà không hay đó chỉ là chương đầu cho những ngày thẫm tối. Bộ tiểu thuyết như tòa lâu đài làm bằng thủy tinh giữa một vương quốc bị bỏ quên, lộng lẫy vô cùng và cũng mong manh vô kể, sẵn sàng bốc cháy mọi ngọc ngà thành tro bụi ngay khi đến lúc.   Được đọc những tập tiểu thuyết như thế này luôn là một ân điển, khiến ngay cả một vài đêm không ngủ cũng chỉ là chuyện phù du, ta chấp nhận cái giao kèo mơ hồ đổi lấy vài đêm thức trắng ấy để quăng mình vào một giấc chiêm bao lưu huyết, và ta nhận lại một thứ gì đẹp đẽ - vâng, những cuốn sách của Carlos Ruiz Zafón là minh chứng rằng rốt cuộc vẫn còn một thứ gì dẫu điêu tàn, nhưng đẹp đẽ. Cho nên sẽ quá tham vọng nếu định viết về cả bốn tập sách của ông trong khuôn khổ một bài viết đôi ngàn từ, thay vì thế, hãy chỉ ngẫu nghiên chọn ra một trong số đó, Trò chơi của thiên thần. Sẽ không thể lôi văn chương ra từ một tâm hồn lành lặn an ổn, chỉ những kẻ đã bị bể dập tan tành và trải qua những cuộc đại phẫu hư ảo thì từ những vết nức toác mới nảy lên được văn chương. David Martín, một nhà văn trẻ trên bờ vực lụn bại nhận được một đề nghị không-thể-từ-chối từ một người đàn ông bí hiểm: một trăm ngàn france đổi lại việc anh sẽ sáng tác một câu chuyện khiến mọi người có thể sống vì nó, chết vì nó, giết chóc vì nó và để mặc cho mình bị giết chóc vì nó, một câu chuyện khiến người ta tin, mơ, dâng hiến, hy sinh, chuộc tội – hay, một tôn giáo mới, một Kinh Thánh mới. Giống như Faust, anh bằng lòng, đâu hay biết mình đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Đó trước hết là một tiểu thuyết noir, lắt léo những ngóc ngách và nấp trong ngóc ngách là những kẻ truy lùng giấu mặt, gợi nhớ về những bộ phim thời kỳ đỉnh cao của Jean-Pierre Melville, tàn nhẫn mà cũng băn khoăn triết lí. Đó tiếp theo là một bảo tàng ngây thơ về Barcelona thế kỷ 20. Cuộc điều tra, rượt đuổi và chạy trốn của David Martín đưa anh xuyên qua thành phố được làm nên từ tội ác và hoài niệm, từ thiên thần và địa ngục, từ tâm hồn si tình đến chết của những cư dân hữu tử và từ những bóng ma bất tử nán lại trong hoang phế, từ những ngôi nhà bị nguyền rủa và những cuốn sách bị vùi quên, từ những ô cửa sổ nhìn ra sương mù và những đại lộ trong hũ nút. Trên tư cách nhà văn của một nơi chốn, Carlos Ruiz Zafón ngang hàng với Paul Auster của New York, Patrick Modiano của Paris hay Orhan Pamuk của Istanbul. Số phận của Barcelona là số phận của ông, say đắm nhưng đồng thời đẫm máu như một cuộc đấu súng trong mơ.  Lúc sinh thời, Carlos Ruiz Zafón nhận được rất nhiều lời đề nghị để chuyển thể các tác phẩm của ông thành phim, nhưng lần nào ông cũng từ chối. “Chẳng có gì sai khi chuyển thể sách thành phim nhưng tại sao mọi thứ lại cứ phải là một bộ phim điện ảnh, một mini series hay một series truyền hình? Sao một cuốn sách không thể chỉ là một cuốn sách?”, ông chất vấn. Và ông bảo, những cuốn sách của ông “ổn khi là chính nó”. Đáng để suy nghĩ về một câu hỏi như thế, sao một cuốn sách không thể chỉ là một cuốn sách mà thôi.  Không cần bàn, Carlos Ruiz Zafón là người có khả năng mise-en-scène (dàn cảnh) không thua gì những tiểu thuyết gia vĩ đại của thế kỷ 19. Ông tạo nên những vũ đài điện ảnh ngoạn mục chỉ bằng ngôn từ, nào là hình ảnh trinh bạch u ngục của một người thiếu phụ chết dưới hồ băng, nào là trường đoạn giằng giật dữ dội trên cáp treo giữa bầu trời Barcelona khi trời ngả tối, nào là cảnh tòa dinh thự cũ xưa chìm trong biển lửa. Chúng quá phù hợp để được chuyển thành một bộ phim, nhưng tác giả lại khăng khăng giữ chúng như chúng vẫn là, như thể ông đã lấy được cuốn sách này từ Nghĩa địa những cuốn sách bị lãng quên, nơi mỗi người chọn lấy một cuốn sách và lập lời thề sẽ bảo vệ nó vĩnh viễn.  Ông muốn bảo vệ sự sinh động vô hình ấy – điều vốn là bản chất tự nhiên của văn chương, dù nghẹt thở, rợn ngợp hay tráng lệ đến mấy thì cũng không nhìn thấy được, tất cả bị gói chặt trong những con chữ màu đen ngay ngắn. Văn chương là giấc mơ, ta hình dung được nó như một người nằm mơ tưởng như đã nhìn rõ vạn vật trong mơ, nhưng tất thảy sẽ tan biến ngay khi ta tỉnh giấc, ta không thể thấy bản lai diện mục của giấc mơ. Khác với mọi môn nghệ thuật thị giác, văn chương tạo nên những phóng chiếu trong đầu mỗi người, nó không dựa trên hình ảnh hiện thực vững chắc nào. Văn chương đích thực là thế đấy, lộng lẫy vô cùng và cũng mong manh vô kể, sẵn sàng bốc cháy mọi ngọc ngà thành tro bụi ngay khi đến lúc. Cho nên, sau những lớp kịch noir, những hành lang bảo tàng về một thành phố, Trò chơi của thiên thần đến cùng đích là một nghiền ngẫm về văn chương, về sự viết. Hành trình vật lộn để sống của David Martín trùng với hành trình vật lộn để viết của anh. Thỏa thuận giữa anh và người đàn ông bí hiểm tóm lược lại chỉ là: nếu muốn sống, anh phải viết. Và chẳng phải đây là định mệnh không thể tránh khỏi của mọi nhà văn, với họ, sống và viết là một, “không thể sống mà không viết”, nói như Pablo Neruda. Và giống như David Martín, để viết nên một tác phẩm để đời, mọi nhà văn phải đánh bạn với quỷ dữ và bán linh hồn cho cái ác. Sẽ không thể lôi văn chương ra từ một tâm hồn lành lặn an ổn, chỉ những kẻ đã bị bể dập tan tành và trải qua những cuộc đại phẫu hư ảo thì từ những vết nứt toác mới nảy lên được văn chương. Mọi nhà văn đều sống trong ngôi nhà với căn phòng nguyền rủa khóa kín và bị một bóng ma ám ảnh, đôi khi bóng ma ấy là chính họ, họ tự săn đuổi và giam cầm mình. Nhìn xem, David Martín đã lì lợm viết bản thảo nguy hiểm ấy đến cùng bất chấp sự can ngăn và những lời cảnh báo. Tình yêu không ngăn cản được anh, quyền lực không ngăn cản được anh, sự hoài nghi, sự ghê tởm và sự căm phẫn của chính mình không ngăn cản được anh, không gì ngăn được ham muốn kể chuyện của một người kể chuyện, cái ham muốn mãnh liệt không thể gò cương. Tất cả chỉ bởi David Martín tin rằng chỉ câu chuyện ấy mới cứu được đời anh. Không phải biết, mà là tin. Anh đã dấn quá sâu để không thể không tin. Văn chương là một loại cuồng giáo, mà mọi loại cuồng giáo đều đi tới hủy diệt tín đồ.  Biết là vậy, nhưng làm sao khác đi đây với một nhà văn? Trong tác phẩm của Goethe, quỷ Mephistopheles đã nhắn nhủ với Faust rằng: “Đừng âu yếm những nỗi khốn khổ của mình, nó ăn mòn ngươi như một con kền kền vậy”, nhưng không âu yếm những nỗi khốn khổ thì làm sao hoài thai văn chương, làm sao hoài thai cái đẹp? Với một nhà văn, không thể sống mà không viết, không thể viết mà không tự hủy hoại mình.  Theo Báo Thanh niên *** Kẻ viết văn không bao giờ quên được khoảnh khắc lần đầu tiên chấp nhận đổi một câu chuyện lấy chút tiền hoặc vài lời khen ngợi. Hắn cũng không bao giờ quên lần đầu tiên cảm thấy trong mạch máu mình nọc độc ngọt ngào của lòng kiêu hãnh và tin rằng nếu không ai phát hiện sự bất tài nơi hắn, giấc mộng văn chương của hắn có thể mang lại cho hắn một mái nhà che nắng che mưa, một bữa ăn tử tế mỗi tối và điều mà hắn khát khao nhất trần đời: tên hắn được in trên một mẩu giấy thảm hại mà hắn dám chắc rằng sẽ còn tồn tại ngay cả khi hắn đã từ giã cõi đời này. Kẻ viết văn buộc phải nhớ về khoảnh khắc ấy, bởi lẽ kể từ giờ phút ấy, hắn đã thất bại: linh hồn hắn đã được định giá. Khoảnh khắc ấy, tôi đã biết đến vào một ngày xa xăm thuộc tháng Mười hai năm 1917. Bây giờ tôi mười bảy tuổi và đang làm việc tại Tiếng nói ngành công nghiệp, một tờ báo bên bờ phá sản đang lay lắt trong ngôi nhà xây đầy ngóc ngách, xưa kia vốn là xưởng sản xuất axit sunfuric với những bức tường vẫn còn tiết ra thứ hơi độc ăn mòn đồ đạc, quần áo, những khối óc và cho tới cả đế giày. Tòa nhà mọc lên sau một rừng thiên thần và thánh giá của nghĩa trang Pueblo Nuevo, và từ đằng xa, cái bóng của nó hòa lẫn với bóng các lăng mộ để nổi bật trên nền trời tua tủa hàng trăm ống khói và nhà máy khiến cho buổi hoàng hôn bao trùm Barcelona vĩnh viễn có màu đỏ ối pha đen. Buổi tối đó hẳn đã xoay chuyển dòng đời tôi. Phó tổng biên tập, ông Basilio Moragas, đã gọi tôi tới căn phòng tối tăm nằm tận cuối tòa soạn, là nơi được ông dùng như phòng làm việc kiêm phòng hút xì gà. Ông Basilio có vẻ ngoài dữ tợn với bộ ria rậm, ông ghét cay ghét đắng những thứ vô vị và công khai bày tỏ lý thuyết cho rằng việc sử dụng thừa thãi trạng từ và tính từ là hành vi của những kẻ đồi bại và thiếu vitamin. Nếu phát hiện biên tập viên nào thiên về lối văn hoa lá cành, ông sẽ phân cho hắn viết cáo phó ba tuần liền. Nếu sau đợt thanh trừng này mà đối tượng vẫn tái phạm, ông Basilio sẽ đày hắn vĩnh viễn sang mục “nội trợ gia đình”. Chúng tôi ai cũng khiếp sợ mục này, và ông biết rõ điều đó. “Ông gọi tôi, ông Basilio?” tôi rụt rè đánh tiếng. Phó tổng biên tập gườm gườm nhìn tôi. Coi đó như một mệnh lệnh, tôi liền bước vào phòng làm việc nồng nặc mùi mồ hôi và thuốc lá. Phớt lờ sự hiện diện của tôi, ông Basilio tiếp tục đọc soát một trong những bài viết nằm trên bàn, tay lăm lăm cây chì đỏ. Suốt nhiều phút, phó tổng biên tập nã liên tiếp vào bài viết những chỗ chỉnh sửa, thậm chí là cắt xén, miệng làu bàu những lời thô tục như thể không có mặt tôi ở đó. Đang không biết phải làm gì, tôi chợt nhìn thấy một chiếc ghế đặt dựa vào tường, bèn vờ ngồi xuống. “Ai đã cho phép cậu ngồi?” ông Basilio lầm bầm, mắt vẫn không rời bài viết. Tôi vội vàng đứng lên và nín thở. Phó tổng biên tập thở dài, buông rơi cây chì đỏ, rồi dựa vào lưng ghế bành để dò xét tôi như thể tôi là một thứ cặn bã vô dụng. “Ta được nghe kể là cậu viết văn, Martín.” Tôi bỗng cảm thấy cổ họng khô khốc và khi tôi mở miệng, từ đó thoát ra một giọng nói lố bịch. “Một ít... à mà tôi không biết... Có nghĩa là, vâng, tôi có viết…” “Ta hy vọng cậu viết tốt hơn là nói. Mà cậu viết những gì vậy, nếu hỏi như vậy không quá tọc mạch?” “Vài truyện trinh thám. Thực ra là…” “Được, ta hiểu rồi.” Ông Basilio hướng về tôi một cái nhìn khó tả. Cũng hào hứng ngang bằng khi giả sử tôi nói mình chuyên tâm vào việc dùng phân bò nặn thành tượng để trang trí máng cỏ Giáng sinh. Ông thở dài lần nữa rồi nhún vai. “Vidal cho rằng hẳn cậu không tệ đến mức ấy. Thậm chí cậu hẳn còn có chút tài cán. Đúng là ở đây cậu không có nhiều đối thủ. Nhưng dù sao, nếu Vidal đã khẳng định thế…” Pedro Vidal là cây bút ngôi sao của tờ Tiếng nói ngành công nghiệp. Anh phụ trách mục thời luận vặt hằng tuần, mục duy nhất đáng đọc trong cả tờ báo, và anh cũng đã xuất bản mươi mười hai tiểu thuyết đề cập đến những tên đầu đảng của khu Raval và những cuộc dan díu tình cảm của chúng với các phu nhân tầng lớp cao trong xã hội, những cuốn tiểu thuyết này mang lại cho anh một thành công khiêm tốn. Luôn diện những bộ com-plê lụa hoàn hảo cùng đôi giày mô-ca Ý bóng loáng như gương, Vidal có dáng dấp cũng như phong thái của một tài tử điện ảnh thường xuất hiện trong những suất phim chiều, với mái tóc vàng luôn chải mượt, hàng ria như được vẽ bằng bút chì cùng nụ cười dung dị và độ lượng của một người cảm thấy mãn nguyện về bản thân và cả thế giới. Anh xuất thân từ một gia tộc mà ông cha đã tạo dựng sản nghiệp tại Mỹ nhờ ngành công nghiệp mía đường, và khi trở về, họ chiếm được cả một mảng lớn trong việc cung cấp điện cho thành phố. Cha anh, người đứng đầu gia tộc, là một trong số các cổ đông chủ chốt của tờ báo, và Pedro dùng tòa soạn như thể sân chơi để tiêu diệt nỗi buồn chán bởi không bao giờ cần phải làm việc dù chỉ một ngày trong đời. Việc tờ báo thất thoát các khoản tiền theo cùng cách các loại ô tô tân thời bắt đầu lưu thông khắp các đường phố Barcelona bị rò dầu đối với anh không quan trọng: được ban vô số tước hiệu quý tộc, kể từ giờ triều đại Vidal chuyên tâm thu nạp nhà băng và những tòa nhà trên những diện tích tương đương các lãnh địa nhỏ trong khu Ensanche. Pedro Vidal là người đầu tiên tôi dám cho xem những bản thảo mà tôi viết hồi mới chỉ là một thằng nhóc với công việc chủ yếu là mang cà phê và thuốc lá tới tòa soạn. Anh luôn có thời gian dành cho tôi, để đọc những gì tôi viết và đưa ra lời khuyên hữu ích. Vài năm trôi qua, anh nhận tôi làm trợ lý riêng và cho phép tôi gõ lại những bản thảo anh viết tay. Cũng chính anh từng nói nếu tôi muốn đùa giỡn với số phận bằng nghiệp văn chương may rủi, anh sẽ sẵn lòng giúp đỡ và định hướng cho tôi vào con đường đúng đắn. Và đúng như lời đã hứa, giờ đây anh ném tôi vào nanh vuốt của ông Basilio, tay gác cổng hắc ám của tòa báo. “Vidal là một người cảm tính vẫn còn tin vào loại chuyện hoang đường hoàn toàn không phù hợp với Tây Ban Nha, ví như chế độ trọng dụng nhân tài hay quan điểm là cần ban phát cơ hội cho người thực sự xứng đáng chứ không phải cho dạng con ông cháu cha. Cậu ấy giàu sụ nên có thể dễ dàng cho phép bản thân làm những trò ngông cuồng lãng mạn ấy. Nếu có được một phần trăm trong số gia tài cậu ấy đang phung phí, ta cũng sẽ chuyên tâm vào việc làm thơ và lũ chim nhỏ bé sẽ tới ăn trên tay ta, bị thu hút bởi lòng tốt và sự quyến rũ nơi ta.” “Vidal là một người tốt bụng!” tôi khẳng định. “Còn hơn thế ấy chứ. Cậu ấy là một vị thánh, bởi vì bất chấp bộ dạng khố rách áo ôm của cậu, cậu ấy vẫn quấy nhiễu ta hàng tuần trời khi cứ lải nhải về tài năng và công việc của thằng nhóc ít tuổi nhất tòa soạn. Cậu ấy biết, sâu thẳm trong tâm hồn, ta thực ra rất dễ mềm lòng, vả lại cậu ấy còn hứa là nếu cho cậu cơ hội, ta sẽ nhận được quà của cậu ấy là một hộp xì gà La Habana. Và nếu Vidal đã nói thế thì cũng giống như thể nhà tiên tri Moise xuống núi, tay cầm những bảng đá ghi Mười Điều Răn và mang theo Thần khải. Thế nên tóm lại, vì đang dịp Giáng sinh, và cũng để anh bạn của cậu ngậm miệng một lần cho xong, ta sẽ trao cho cậu cơ hội khởi nghiệp viết lách như những vị anh hùng: đương đầu với bão táp và thủy triều.” “Nghìn lần biết ơn ông, ông Basilio. Tôi cam đoan rằng ông sẽ không phải hối hận vì đã…” “Đừng vội hăng tiết vịt, chàng trai. Mà trước tiên, cậu nghĩ gì về việc sử dụng bừa phứa và không đúng lúc các phó từ và tính từ?” “Đó là một sự sỉ nhục và đáng bị luật hình sự trừng phạt, tôi đáp lời với niềm tin chắc của một chiến binh quá khích.” Ông Basilio tỏ vẻ tán thành. “Hoàn hảo, Martín. Cậu có những mối ưu tiên tuyệt vời. Những người tồn tại trong nghiệp viết lách này là những người có ưu tiên chứ không phải có nguyên tắc. Vậy thì công việc là thế này. Hãy ngồi xuống và lắng tai nghe cho rõ, vì ta sẽ không lặp lại tới lần thứ hai đâu.” Công việc là thế này: vì một số lý do mà ông Basilio thấy tốt hơn hết là không đi sâu vào chi tiết, trang bìa cuối của số báo ra ngày Chủ nhật từ trước tới nay vốn luôn được dành để đăng truyện ngắn hoặc bài viết về du lịch đã bị để trống vào giờ chót. Nội dung dự kiến là một bài viết thấm đẫm tinh thần yêu nước và một bài thơ trữ tình hừng hực xoay quanh sự nghiệp anh hùng của những chiến binh Almogavare, ngợi ca chiến công bảo vệ đạo Thiên Chúa cũng như mọi giá trị đạo đức trên đời của những hiệp sĩ Catalan thời Trung cổ khi họ tiến quân từ Vùng Đất Thánh và dừng chân tại đồng bằng Llobregat. Thật không may, bài viết không thể hoàn thành đúng hạn định, mà tôi ngờ rằng, đơn thuần là ông Basilio không muốn cho đăng bài đó. Tòa soạn chỉ có sáu tiếng trước giờ phải lên trang toàn bộ số báo, mà hiện lại không có bài nào dự phòng ngoài một trang quảng cáo áo nịt ngực làm từ tấm lược trong miệng cá voi với lời hứa hẹn đảm bảo một vòng eo trong mơ và xóa bỏ những ngấn mỡ thừa. Trước tình thế khó xử, ban biên tập đã quyết định đối đầu thử thách, kêu gọi tài năng văn chương ẩn giàu trong một thành viên bất kỳ của tòa báo, ai cũng được, để chữa cháy tạm và phát hành số báo Chủ nhật với bốn cột chữ mang đậm tính nhân văn hòng thỏa mãn những độc giả trung thành vốn thân thiết như gia đình của chúng tôi. Danh sách những cây bút tài năng được công nhận trong tòa soạn bao gồm mười cái tên, và dĩ nhiên, trong đó không hề có tên tôi. “Martín thân mến, hoàn cảnh trớ trêu khiến không ai trong số những cây bút gạo cội của chúng ta kịp có mặt tại đây vào thời điểm nguy cấp này, cũng không một ai hiện đang ở trong tầm liên lạc. Trước thảm họa đang tới gần, ta quyết định ban cho cậu cơ hội này.” “Xin ông cứ tin ở tôi.” “Ta tin vào năm trang giấy cách dòng đúp hoàn thiện trong sáu tiếng đồng hồ, Edgar Allan Poe* ạ. Hãy mang tới cho ta một câu chuyện, không phải một bài diễn văn. Nếu muốn nghe lời thuyết giáo, ta thà đi dự lễ misa vào lúc nửa đêm. Hãy đem tới đây một câu chuyện mà ta chưa từng đọc, và nếu ta đã đọc truyện nào tương tự rồi, hãy viết thật khéo sao cho ta không nhận ra chút quen thuộc nào trong đó.” Tôi đang định chạy biến đi thì ông Basilio đứng dậy, đi vòng qua bàn, đoạn đặt bàn tay vừa to vừa nặng không kém gì cái đe bằng thép lên vai tôi. Đôi mắt ông như đang mỉm cười. “Nếu truyện cậu viết đạt tiêu chuẩn, ta sẽ trả mười đồng peseta. Còn nếu truyện hay hơn thế và được độc giả yêu thích, ta sẽ tiếp tục cho cậu đăng bài.” “Còn chỉ dẫn đặc biệt nào nữa không, ông Basilio?” tôi hỏi. “Có đấy: đừng làm ta thất vọng.” Sáu tiếng đồng hồ tiếp theo tôi ở trong trạng thái tập trung cao độ. Tôi ngồi dính lấy chiếc bàn đặt ngay giữa phòng nội dung vốn được dành riêng cho Vidal vào những ngày anh nổi hứng ghé qua tòa soạn. Ngoài tôi ra, căn phòng không có một ai và ngập trong thứ bóng tối mịt mù tù đọng bởi khói của chục ngàn điếu thuốc. Nhắm mắt lại giây lát, trong đầu tôi hiện lên một hình ảnh: một tấm màn kết từ những đám mây đen loang ra trên thành phố đang chìm ngập trong cơn mưa, một người đàn ông vừa rảo bước vừa tìm cách ẩn mình trong bóng tối với máu dính trên đôi tay và bí ẩn hàm chứa trong đôi mắt. Tôi không biết anh ta là ai, cũng không biết anh ta đang trốn chạy khỏi điều gì, nhưng trong vòng sáu tiếng đồng hồ tới đây anh ta sẽ trở thành người bạn thân thiết nhất của tôi. Tôi gài một trang giấy trắng vào máy chữ, rồi không ngừng lấy một giây, bắt đầu vắt kiệt mọi câu chữ xuất hiện trong đầu mình. Tôi vật lộn với từng từ, với mỗi câu cũng như các cấu trúc, hình ảnh và chữ cái, như thể đó là những điều cuối cùng tôi viết ra. Tôi viết rồi viết lại từng dòng như thể cả cuộc đời tôi phụ thuộc vào đó, rồi tôi còn viết lại thêm lần nữa. Bạn đồng hành với tôi là tiếng lạch cạch không ngừng từ chiếc máy chữ vang vọng khắp căn phòng tối tăm cùng chiếc đồng hồ treo tường đang rút dần đi từng phút giây còn lại cho tới lúc bình minh lên. Ngay trước khi kim đồng hồ chỉ sáu giờ sáng, tôi giật trang giấy cuối cùng khỏi máy chữ, thở dài vì kiệt sức, đầu óc quay cuồng như thể bên trong có cả đàn ong đang bay lượn. Tôi nghe thấy tiếng bước chân nặng nề, chậm rãi của ông Basilio, ông đang lững thững tiến tới chỗ tôi sau khi tỉnh dậy từ một trong những giấc ngủ ngắn vẫn luôn được ông kiểm soát chặt chẽ. Không dám đối diện trực tiếp với ánh mắt của ông Basilio, tôi xếp lại các trang bản thảo và đưa cho ông. Ông Basilio ngồi xuống cái bàn ngay cạnh, đoạn bật đèn đọc lên. Đôi mắt ông lướt trên bản thảo, không để lộ chút cảm xúc nào. Rồi ông đặt điếu xì gà xuống cạnh bàn, đoạn liếc nhìn tôi và đọc to dòng đầu tiên trong truyện: “Màn đêm buông xuống thành phố, những con đường ngập trong mùi thuốc súng như hơi thở của một lời nguyền.” Ông Basilio liếc mắt nhìn tôi còn tôi thì trốn sau nụ cười không để lộ dù chỉ một chiếc răng. Không nói thêm một lời, ông đứng dậy rồi bỏ đi cùng tập bản thảo của tôi trong tay. Ông khép cánh cửa lại sau lưng. Tôi sững sờ đứng ngây ra đó, không biết nên chạy trốn hay ở đây đợi chờ án tử giáng xuống. Mười phút sau - thực ra tôi có cảm giác như đã mười năm trôi qua - cửa phòng làm việc của phó tổng biên tập bật mở và giọng nói như sấm rền của ông Basilio vang khắp khu phòng nội dung. “Martín. Làm ơn lại đây.” Tôi lết vào phòng ông chậm rãi hết mức, cứ mỗi bước lại rụt cổ so vai, tới khi không còn lựa chọn nào khác là ló mặt vào phòng và ngước nhìn lên. Ông Basilio, với cây chì đỏ đáng sợ trong tay, lạnh lùng nhìn tôi. Tôi muốn nuốt ực một cái, nhưng miệng lại khô không khốc. Ông cầm tập bản thảo lên và đưa cho tôi. Tôi nhận lại xấp giấy và quay về phía cửa nhanh hết mức, tự nhủ với bản thân rằng chắc vẫn còn chân đánh giày ở sảnh khách sạn Colon. “Hãy mang xấp bản thảo xuống phòng sắp chữ và bảo họ lên trang ngay,” giọng nói phía sau lưng tôi ra lệnh. Tôi quay phắt lại, chắc mẩm mình chính là nạn nhân của một trò đùa ác. Ông Basilio mở ngăn kéo bàn làm việc, đếm đủ mười đồng peseta rồi đặt lên mặt bàn. “Đây là phần của cậu. Ta khuyên cậu nên dùng số tiền này sắm cho mình một bộ cánh ngon lành hơn, vì ta thấy cái thứ cậu đang mặc vẫn y như vậy sau bốn năm trời, chưa kể còn to hơn cậu đến tận sáu cỡ. Nếu muốn, cậu cứ thử ghé qua tiệm quần áo của ông Pantaleoni trên phố Escudellers, cứ nói là ta giới thiệu cậu. Ông ấy sẽ tiếp đãi cậu tử tế.” “Cảm ơn ông rất nhiều, ông Basilio. Tôi sẽ làm như vậy.” “Còn giờ hãy tiếp tục nghĩ thêm những truyện khác cho ta. Ta cho cậu một tuần lễ. Nhưng đừng ngủ quên trên chiến thắng. Và lần này cậu phải xoay xở sao cho có ít xác chết hơn đấy, bởi độc giả ngày nay chuộng những cái kết lâm ly trong đó tinh thần nhân đạo cao cả chiến thắng trước mọi tai ương, đại loại là mấy trò nhảm nhí kiểu như vậy.” “Vâng thưa ông Basilio.” Phó tổng biên tập chìa tay ra. Tôi bắt lấy tay ông. “Làm khá lắm, Martín. Vào thứ Hai tới ta muốn thấy cậu ngồi ở cái bàn trước từng thuộc về Junceda, giờ nó là của cậu. Ta xếp cậu vào bộ phận chuyên viết tin vặt.” “Tôi sẽ không khiến ông thất vọng đâu, ông Basilio.” “Không, cậu sẽ không khiến ta thất vọng. Cậu sẽ chỉ bỏ ta mà đi thôi, chẳng sớm thì muộn. Và cậu hoàn toàn đúng khi làm vậy, vì cậu không phải một nhà báo và sẽ chẳng bao giờ làm được nhà báo. Nhưng giờ cậu vẫn chưa phải tiểu thuyết gia trinh thám đâu, dù cậu cứ tưởng là như vậy. Hãy ở đây một thời gian và bọn ta sẽ chỉ dạy cho cậu một vài mánh mà về sau sẽ luôn hữu dụng.” Vào giây phút ấy, lá chắn phòng thủ đột ngột rơi xuống, tôi ngập tràn trong cảm giác biết ơn đến mức tưởng chừng muốn ôm chầm lấy người đàn ông to lớn trước mặt. Ông Basilio, vừa đeo lại chiếc mặt nạ dữ dằn quen thuộc, ném cho tôi một cái nhìn sắc lẹm rồi chỉ thẳng về phía cửa. “Làm ơn đừng diễn mấy trò xúc cảm ở đây. Đóng cửa lại. Và Giáng sinh vui vẻ.” “Chúc ông Giáng sinh vui vẻ.” Vào ngày thứ Hai tuần kế tiếp, khi đến phòng nội dung và sẵn sàng ngồi vào bàn làm việc riêng của mình lần đầu tiên, tôi nhìn thấy có một phong bì giấy xám buộc ruy băng, trên đó là tên tôi được gõ bằng chiếc máy chữ mà tôi đã miệt mài sử dụng suốt nhiều năm nay. Bên trong phong bì là trang bìa cuối số ra ngày Chủ nhật cùng với câu chuyện của tôi được đóng khung hẳn hoi, kèm theo đó là một tờ giấy nhắn: “Đây mới chỉ là khởi đầu thôi. Mười năm nữa tôi sẽ thành tay thợ học việc còn cậu sẽ là thầy. Bạn và đồng nghiệp của cậu, Pedro Vidal.” Mời các bạn đón đọc Trò Chơi Của Thiên Thần của tác giả Carlos Ruiz Zafón & Ngô Hoàng Việt (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tấm Ảnh Tình Yêu Và Một Câu Chuyện Khác - Ichikawa Takuji
"Về tình yêu thì tôi có kinh nghiệm đầy mình. Dĩ nhiên phải chú thích là tình yêu đơn phương thôi...   Không phải chỉ những mối tình đơm hoa kết trái mới có ý nghĩa. Tình đơn phương tự bản thân đã là một phần ngoại truyện hoàn mỹ trong cuộc đời." -  Tấm ảnh tình yêu và những câu chuyện khác *** Takuji Ichikawa sinh ngày mùng 7 tháng Mười năm 1962 tại Tokyo. Ông tốt nghiệp trường đại học Dokkyo. Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, Separation, xuất bản năm 2002. Cuốn Em sẽ đến cùng cơn mưa (xuất bản tại Nhật với tên Ima Ainiyukimasu) in lần đầu năm 2003, là một trong những tiểu thuyết thành công nhất Nhật Bản, được chuyển thể thành truyện tranh, kịch, phim truyền hình ở Nhật và điện ảnh tại Mỹ. Một số tác phẩm đã được dịch và xuất bản tại Việt nam: Nơi em quay về có tôi đứng đợi Tôi vẫn nghe tiếng em thầm gọi Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào Em sẽ đến cùng cơn mưa Bàn tay cho em Tấm ảnh tình yêu và một câu chuyện khác ... Ichikawa Takuji là một trong những tác gia người Nhật thành công hiện nay, lối viết của ông đặc biệt tạo dấu ấn riêng nhờ tìm được hướng khai thác mới cho những đề tài quen thuộc. Sách của Ichikawa Takuji thiên về tình cảm nhẹ nhàng, nhưng thấm thía và bền vững, thường để lại nhớ thương lâu dài trong lòng người đọc. Độc giả Việt Nam biết đế cái tên Ichikawa Takuji qua hai cuốn tiểu thyết Em sẽ đến cùng cơn mưa và Nếu gặp người ấy cho tôi gửi lời chào. Vẫn giọng văn nhẹ nhàng pha chút hài hước, như thể một cậu bé mới lớn đang thủ thỉ kể chuyện, Ichikawa Takuji một lần nữa khắc họa bức tranh tình yêu và sự chia ly bằng những gam màu trong sáng và thuần khiết. Những tác phẩm của ông khiến tâm hồn người đọc trở nên tươi sáng hơn.   Mời các bạn đón đọc Tấm Ảnh Tình Yêu Và Một Câu Chuyện Khác của tác giả Ichikawa Takuji.
Tiếu Lâm Việt Nam - Cử Tạ
Truyện cười (còn gọi là truyện tiếu lâm) là một lĩnh vực truyện kể dân gian rộng lớn, đa dạng, phức tạp bao gồm những hình thức được gọi bằng những danh từ khác nhau như truyện tiếu lâm, truyện khôi hài, truyện trào phúng, truyện trạng, giai thoại hài hước... Tiếng cười trong sinh học mang tính bản năng, vô thức phát ra do phản ứng của cơ thể một cách đơn thuần. Trong khi, tiếng cười tâm lý xã hội biểu thị thái độ, bộc lộ tư tưởng, tình cảm con người. Tiếng cười tâm lý xã hội có hai loại nhỏ: tiếng cười tán thưởng và tiếng cười phê phán. Tiếu Lâm Việt Nam gồm có: 1. CHẾT VÌ CƯỜI 2. LÀNG SỢ VỢ 3. GIỐNG GIAN TỰU VỊ 4. CUA CẮP 5. GIÁ GẶP TAY TAO 6. PHẢI LÀM THEO 7. THÈM QUÁ 8. CHỒNG NÀO VỢ NẤY 9. TRA CÁN 10. ĂN MẤT RỒI 11. HÂN HẠNH 12. MỒ HÔI MỰC 13. CHỮ ĐIỀN 14. NGHE SAO LÀM VẬY 15. TÀI NÓI LÁO 16. ĐỒ PHẢN CHỦ 17. MÈO HOÀN MÈO 18. VỎ QUÝT DẦY MÓNG TAY NHỌN 19. TIỀN « ĐỒNG-MÔN » 20. QUÝT LÀM CAM CHỊU 21. TƯỚNG CÔNG KỴ BÀ LÃO 22. THIÊN SINH TỰ NHIÊN 23. CẮM CỔ XUỐNG, THÒ ĐẦU RA 24. TAM ĐẠI CON GÀ 25. CHẾT CÒN HƠN 26. CHẾT VẪN LƯỜI 27. CÂY BẤT 28. CÁ RÔ LÁCH NGƯỢC 29. THÀY ĐỒ ĂN VỤNG CHÈ 30. ĐƯỢC CẢ ĐƠN LẪN KÉP 31. ĐÊM KHUYA GÀ GÁY 32. NƯỚC MẮM HÂM 33. HÁN-VƯƠNG ĂN ỚT 34. THUA GÌ ĐƯỜNG HÁN 33. TỘI HÒA THƯỢNG 36. BUÔN VỊT TRỜI 37. HỌC GÌ NỮA 38. SỢ MA 39. GÌ CŨNG ĐƯỢC 40. TRỪ CHỒN 41. GỚM QUÁ 42. NHANH NHẢU ĐOẢNG 43. HẬU UYỂN 44. TRÊN DƯỚI 45. VỊT HAI CHÂN 46. PHÁT ĐIÊN 47. NGŨ PHÚC LÂM MÔN 48. TRỜI SINH THẾ 49. ẤY ĐI XEM 50. THƠ QUAN VÕ 51. ĐƯỜNG LÊN TRỜI 52. NGỦ VỚI AI 53. KIÊNG CỮ 54. THƠ CON CÓC 55. TÔI ĐÁNH CON CHA 56. MUA PHÂN 57. CÂY CỘT MỐI 58. THEO SAO KỊP 59. ĐÊM KHUYA GIÓ LẶNG… 60. TÔI LÀ AI ? 61. CAN CAN ĐAO THỔ… 62. NHƯ MẶT VUA 63. RỂ QUÍ 64. CÁI GÌ CỨNG NHẤT 65. RẮN VUÔNG 66. VỠ VÒ RƯỢU 67. BẮT VỀ CHO TRẺ CHƠI 68. XỎ GẶP XỎ 69. TUẦN TỰ 70. LẨY KIỀU 71. PHÊ ĐƠN 72. KHÔNG CƯỜI, CÓ ÔNG THÁNH !… 73. HỌC ĐI CÀY 74. CHỈ LIẾM THÔI 75. MUỐN CHẾT THÌ ĐÂY 76. HẾT HÁCH !!! 77. VÔ-ĐỊCH 78. ĐỂ ĐO ĐÃ 79. LÁI MỘT CHÚT 80. QUÁ CẨN THẬN 81. MỖI THỨ MỘT NỬA 82. CAN ĐẢM CHƯA ? 83. MÊ NGỦ 84. TRẮC NGHIỆM 85. LẮM THẦY NHIỀU MA 86. ĐỂ VÀO DĨA 87. NGÓN SỞ TRƯỜNG 88. THỰC TẾ 89. GÓP PHẦN 90. CẤP BỰC 91. CẢ ĐỜI NGƯỜI 92. GIỎI LẮM 93. BÍ MẬT NHÀ NGHỀ 94. ÁI TÌNH CAO THƯỢNG Mời các bạn đón đọc Tiếu Lâm Việt Nam của tác giả Cử Tạ​​​​​​​.
Chết Chịu
Thật không dễ bắt đầu với Chết chịu khi thực và mơ đan xen lẫn lộn, khi vô số dấu ba chấm xuất hiện liên tiếp giữa các câu ngắn, gây cảm giác cực kỳ khó chịu. Nhưng một khi đã vượt qua nỗi khó ở ấy thì ta không còn muốn ngừng lại chuyến đi cùng Ferdinand tới khắp các xó xỉnh tối tăm của Paris và Luân Đôn trong tuổi thơ của mình. Ngay từ tác phẩm đầu tiên, Céline nghiễm nhiên đứng vào hàng ngũ những nhà canh tân lớn của văn chương Pháp thế kỷ XX khi đưa ngôn ngữ bình dân vào văn chương đồng thời phá vỡ mọi quy tắc cú pháp truyền thống. Đọc Céline cũng như đang thưởng thức một tách trà nóng bỏng rẫy, ta hãy nhấp từng ngụm để cảm, để thẩm và để thấu… một câu chuyện không đầu không cuối… một bước sa bùn lầy và bạo lực… một tiếng kêu hận thù và tuyệt vọng… một Paris đầu thế kỷ XX đầy biến động trước những tiến bộ khoa học… và một cái chết rất đỗi từ từ của những người buôn bán nhỏ buộc phải thu mình để tồn tại. *** Chết chịu và Hành trình đến tận cùng đêm tối có nhiều điểm chung mà phần lớn độc giả coi Chết chịu là phần tiếp theo của Hành trình. Nếu Hành trình mở đầu bằng việc nhập ngũ tham gia Thế chiến thứ nhất của Ferdinand Bardamu, lần theo nhân vật chính qua những cuộc phiêu lưu ở châu Phi, Mỹ, cuối cùng là cuộc hồi hương về làm bác sĩ ở Paris, thì Chết chịu gần như tiếp nối câu chuyện với nhân vật Ferdinand giờ đây cũng là bác sĩ ở những khu ổ chuột của kinh đô ánh sáng, là cựu quân nhân có vết thương ở đầu sau khi tham gia Thế chiến khiến anh lúc nào cũng gặp hoang tưởng. Tuy nhiên sau đoạn mở đầu giới thiệu nhân vật chính, với rất nhiều nhảy cóc về thời gian đi phiêu lưu về các miền ký ức khác nhau, Chết chịu sau đó phần lớn tập trung vào tuổi ấu thơ của nhân vật Ferdinand ở Paris vào cái thời được gọi là Belle Époque - Thời kỳ tươi đẹp. Căn cứ vào những yếu tố tự thuật đậm đặc, độc giả rất dễ nhận thấy vị bác sĩ Louis Ferdinand Auguste Destouches (tên thật của Céline) đã rút tỉa từ cuộc sống thực của chính mình để đổ ụp vào văn chương. Trong khi đó, Ferdinand của Chết chịu là một nhà văn với rất nhiều tiểu thuyết được xuất bản, thậm chí một nhân vật trong truyện còn đọc cả tác phẩm Hành trình. Vì thế, rốt cuộc có thể nói, Ferdinand là phân thân của tác giả, lần lượt xuất hiện làm nhân vật trong hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông.   Bởi thế mà dịch giả Ralph Manheim lừng danh, người đã chuyển ngữ Chết chịu sang tiếng Anh, coi nó chỉ là tiểu thuyết trên danh nghĩa, đúng hơn phải gọi nó là “những tự thú được sáng tạo”. Céline đã lấy nhiều chi tiết trong ấu thơ của mình đưa thẳng vào tiểu thuyết: một gia đình nghèo đói nợ nần luôn ngấp nghé bờ vực phá sản với một bà mẹ buôn bán đồ đăng ten trong một cửa hàng nhỏ ở một ngõ nhỏ Paris, với ông bố làm cho công ty bán bảo hiểm. Từ những dữ liệu tự thuật ấy, Céline, bằng bàn tay của một phù thủy ngôn ngữ, đã dựng nên một thế giới tuổi thơ dữ dội đầy bạo lực, ở cái ngõ Bérésinas những năm đầu thế kỷ 20, “chốn tù đọng hôi thối không thể tưởng tượng nổi. Đây là nơi được tạo ra cho người ta chết từ từ nhưng chắc chắn, giữa cứt đái của người và của chó, những bãi khạc nhổ và khí gas rò”. Hơn 600 trang sách khổ lớn không phân chia chương hồi, nhưng theo các nhà phê bình, Chết chịu có thể được phân thành 8 phần nhỏ: Phần mở đầu giới thiệu Ferdinand của hiện tại, một bác sĩ kiêm văn sĩ, chuyên khám bệnh không công cho người nghèo, khinh bỉ họ cùng cực, gần như điên loạn vì liên tục nghe thấy đủ loại tạp âm trong đầu. Phần về cuộc sống của Ferdinand lúc còn nhỏ cho đến khi tốt nghiệp tiểu học, quãng 1905, lúc cậu bé tầm 11 tuổi, thường xuyên bị rủa xả và đánh đập trong một gia đình luôn phải chạy đôn chạy đáo kiếm miếng ăn độ nhật. Giai đoạn vào đời với việc chạy chọt kiếm việc, mà phần lớn là chạy việc vặt không công ở cửa hiệu bán ruy băng trang trí và cửa hiệu nạm kim hoàn rồi nhanh chóng bị sa thải. Sang Anh học nội trú ở Trường Meanwell College hơn nửa năm, rồi trường đóng cửa. Quay lại Paris nỗ lực săn việc nhưng lông bông là chính, mâu thuẫn và đánh nhau với bố. Tìm được việc làm trợ lý cho nhà sáng chế Courtial des Pereires ở tòa báo Génitron cho đến khi tòa báo đóng cửa. Đi về vùng ngoại ô Paris cùng nhà sáng chế và vợ của ông. Tham gia dự án ứng dụng khoa học vào nông nghiệp và thất bại thảm hại. Cuối cùng, quay trở lại Paris một mình, tuyệt vọng và quyết định nhập ngũ, vào khoảng năm 1911. Vào cái thời kỳ được coi là đỉnh cao của văn chương, nghệ thuật, khoa học và kỹ thuật ấy ở châu Âu, cuộc sống của Ferdinand hiện lên đầy những túng bấn, bạo lực, tệ nạn, cùng quẫn với những chiếc hoa tai và đồng hồ thường xuyên đi ra tiệm cầm đồ, những bữa ăn lúc có lúc không, những phi vụ buôn bán thường xuyên thất bại của người mẹ tàn tật khi các ngành tiểu thương rơi vào chỗ lụn bại vì lỗi thời, với ông bố chật vật với tiến bộ thời đại, cụ thể ở đây là máy đánh chữ, với ông - nhà sáng chế tin vào khí cầu để rồi sự ra đời của máy bay là chấm dứt cho sự nghiệp của ông. Tất cả đều bị tiến bộ thời đại đè bẹp và đào thải, đẩy một tầng lớp người bị kẹt lại trong kiệt quệ.   Những tưởng câu chuyện như vậy thì văn chương của Céline sẽ nằm gọn đẹp trong trường phái hiện thực tố cáo xã hội (ông là nhà văn yêu thích của phe cánh tả). Nhưng không. Với quan niệm “Tôi không phải là con người của thông điệp, tôi không phải là con người của ý tưởng, tôi là con người của phong cách”, Céline đã đẩy Chết chịu lên đỉnh cao bằng phong cách viết độc nhất vô nhị, một lối viết hiện đại hóa cả nền văn học Pháp. Với ông, “Khởi đầu là cảm xúc, nơi động từ hoàn toàn vắng mặt”, ông viết để chuyển tải cảm xúc, chứ không phải hiện thực. Và đó là thứ cảm xúc quẫn bách, tuyệt vọng, hoảng loạn không lối thoát, một sự hư vô và chán ghét đời sống đến cùng cực. Vào thời kỳ hoàng kim ở Paris, trong những ngõ nhỏ đó, những số phận trả góp cuộc đời mình để nhận phần thưởng cuối cùng là cái chết. Céline viết bằng một thứ sinh ngữ quẫy đạp, gồm những từ ngữ thô kệch sống sít của đường phố, từ lóng của đủ mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là lớp người dưới đáy, những câu chửi thề, những từ vựng mô tả các hoạt động tính giao... Ông sáng chế một loạt từ vựng mới mà ông tự hào coi là cách mạng trong văn chương. Đặt mình sánh ngang các họa sĩ của chủ nghĩa Ấn tượng hay các nhạc sĩ vĩ đại, những người tạo ra khác biệt lớn bằng việc khuấy đảo màu sắc và âm thanh, Céline xáo đổi trật tự ngôn từ, lén đẩy ngôn ngữ nói vào ngôn ngữ viết. Viết là để cho ngôn ngữ sống, bởi ngôn ngữ chết rất nhanh, và bởi thế, ông ban sự sống cho ngôn ngữ bằng cách cho nó sống khi ông sử dụng nó. Con người của phong cách ấy còn thể hiện mình rõ qua những biện pháp lộng ngôn đến kệch cỡm, biến Chết chịu thành tiểu thuyết bợm nghịch đầy chất uy mua (humour), sánh vai cùng bậc thầy François Rabelais, thậm chí ông còn được coi là người mở đầu cho thể loại hài hước đen (humour noir trong tiếng Pháp). Ranh giới giữa hiện thực và hoang tưởng trong tác phẩm luôn bị làm mờ. Biện pháp lộng ngôn còn được hỗ trợ nhờ các mô típ lặp đi lặp lại về bạo lực mà Ferdinand phải chịu đựng trong gia đình. Các nghịch cảnh bi đát trong Chết chịu (lẫn Hành trình), vì thế, đều được ông viết bằng một thứ văn chương hài hước đến lố bịch. ----------------------------------------------- Điểm đặc biệt nhất về phong cách văn chương của Chết chịu có lẽ nằm ở dấu ba chấm. Đã xuất hiện tương đối nhiều ở tiểu thuyết đầu tay, nhưng đến Chết chịu thì dấu ba chấm mới thực sự trở thành một hình thức cách tân táo bạo. Céline coi dấu ba chấm là tối cần thiết, ông đổ vào tiểu thuyết hơn hai mươi nghìn dấu ba chấm. Tác dụng của nó thì vô cùng: để mô phỏng sự trôi chảy liên tục của ngôn ngữ nói và của ý nghĩ, để tạo nên sự gián đoạn, nhưng đồng thời lại thúc đẩy mạch văn, những dấu ba chấm kích thích độc giả theo đuổi mạch văn như một dòng ý thức, thu hút trọn sự chú ý của người đọc. *** Về #Céline – tác giả #CHẾT_CHỊU - Céline hay Louis-Ferdinand Céline là bút danh của Louis Ferdinand Auguste Destouches (1894-1961). - Céline vốn học ngành y và từng hành nghề bác sĩ trong một thời gian. - Céline là nhà văn Pháp có tác phẩm được dịch và phát hành nhiều nhất thế giới trong thế kỷ 20, chỉ sau Marcel Proust – tác giả bộ sách ĐI TÌM THỜI GIAN ĐÃ MẤT. - Năm 1939, Céline và nhà xuất bản Denoël bị kết tội vu khống, sau khi xuất bản tác phẩm có tên là l'École des cadavres (Tạm dịch: Trường học xác người). Ở đó, có ba trên bốn bài văn đả kích được Céline viết mang đậm tư tưởng bài Do Thái. Công khai các ý tưởng cực hữu, những bài viết này là một chuỗi đả kích nhằm chống lại một thế giới nơi người Do Thái điều hành và khai thác. Ông tỏ rõ thái độ đồng minh với Đức quốc xã và tự coi mình là người cộng tác với phe Quốc xã. Tiểu thuyết đầu tay Hành trình đến tận cùng đêm tối (Voyage au bout de la nuit, 1932/Journey to the End of the Night) ngay lập tức đưa ông lên vị trí ngôi sao trong văn đàn, đến nay vẫn được đánh giá là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thế kỷ 20.   Ấy vậy mà kỷ niệm 50 năm ngày mất của ông, năm 2011, người ta tuyên bố tên ông không nằm trong danh sách 500 Biểu tượng văn hóa Pháp. Trong câu cửa miệng của người Pháp, ông được gọi là “một thiên tài và một thằng vô lại”. Ông ủng hộ chủ nghĩa phát xít nhiệt thành và là người bài Do Thái triệt để. Nhưng cũng chính ông, trong bữa ăn tối ở Đại sứ quán Đức tại Paris vào tháng 2-1944, đã khăng khăng khẳng định trước mọi quan khách rằng Hitler thật thực ra đã chết và lãnh tụ của Đức quốc xã hiện nay là một Hitler giả do một người Do Thái đóng thế. Mời các bạn đón đọc Chết Chịu của tác giả Louis Ferdinand Céline.  
Cô Nàng Cửa Hàng Tiện Ích
“Sáng ra tôi lại là một nhân viên bán hàng, một bánh răng trong vòng quay của thế giới. Chỉ điều này mới biến tôi thành một con người bình thường.” Furukura Keiko bị coi là một phụ nữ lập dị, vì ở tuổi 36 cô độc thân và làm một công việc khá đáng ngại, nhân viên part time của cửa hàng tiện ích Smile Mart trong suốt 18 năm trời. Cô luôn phải vật lộn từ nhỏ để đóng vai một người bình thường. Keiko thấy bình yên khi ở cửa hàng tiện ích, nơi cô được công nhận, nơi mọi quy tắc đều rõ ràng. Cho đến một ngày, người đàn ông kỳ quặc tên Shiraha xuất hiện, và sự va chạm giữa hai con người khác thường như một tia sét nổ do va chạm điện cực, đẩy Keiko khỏi quỹ đạo quen thuộc, buộc cô nhìn thẳng vào những áp lực cô luôn lẩn tránh… “Khác với các cô gái trẻ trung phấn khởi của Banana Yoshimoto, Keiko gần như bước ra từ một cuốn sách Kafka, chân thành tuyệt đối trong những hoàn cảnh hết sức nghịch dị...”      - Japan Times “Một bản khảo sát khôi hài, tăm tối, gây chấn động sâu sắc về đời sống đương đại, về sự xa lánh, về chủ nghĩa tư bản, ý thức cá nhân, và sự quy hàng các ước lệ xã hội. Dù ở Nhật Bản hay đâu khác, chúng ta đều đã từng đặt chân vào cửa hàng này.”      - Viet Thanh Nguyen, tác giả cuốn The Sympathizer thắng giải Pulitzer Prize *** Một cuốn tiểu thuyết kỳ lạ, về một người phụ nữ hư cấu hết sức kỳ quặc, của một tác giả được xem là một trong những nhà văn thú vị nhất trong nền văn học đương đại Nhật Bản. “Cô nàng cửa hàng tiện ích” (tựa gốc “Konbini Ningen”, tựa tiếng Anh “Convenient Store Woman”) là cuốn tiểu thuyết thứ 10 của Murata Sayaka, ra mắt năm 2016, sách đã giúp cô đạt giải Akutagawa – một giải thưởng văn học danh giá trao cho các tác giả trẻ có những tác phẩm mang giá trị văn học cao. Trong cùng năm, sách cũng mang lại danh hiệu “Người phụ nữ của năm” do tạp chí Vogue bình chọn cho nữ văn sĩ người Nhật này, khiến tên tuổi của Murata Sayaka trở thành cơn sốt tìm kiếm trên mạng xã hội. Như tựa đề, cuốn sách là một câu chuyện lạ kỳ xoay quanh một người tên là Furukura Keiko… Một người phụ nữ 36 tuổi khiếm khuyết về logic trước cuộc đời, không biết gì về các mối quan hệ lãng mạn, đã làm nhân viên bán thời gian ở cửa hàng tiện ích 18 năm và không có dấu hiệu thay đổi – Đó là lý do Keiko bị phán xét khi trưởng thành. Thế nhưng kể từ lúc nghỉ việc để kết hôn và tìm một công việc mới, Keiko hoàn toàn mất phương hướng trong cuộc sống. 18 năm, cô ăn ngủ nghỉ và giữ sức khỏe vì cửa hàng. Nghỉ việc rồi, cô không hiểu mình tiếp thu năng lượng để làm gì nữa. Nhắm mắt lại, âm thanh cửa hàng lại văng vẳng bên tai. Tìm việc khác, cô thực sự hiểu rõ bản thân không giỏi bất kỳ lĩnh vực nào, ngoại trừ là nhân viên cửa hàng tiện ích. Có lẽ nào trên đời lại tồn tại một người phụ nữ dị biệt đến thế Keiko sinh ra dưới hình hài là một con người, nhưng mọi suy nghĩ lại hoàn toàn khác biệt với tiêu chuẩn “bình thường” của con người. Tác giả đã tạo nên một “Ningen” mang tên Furukura Keiko – không có toàn thân màu trắng hay chiều cao gần 30m, nhưng nội tâm là một động vật máu lạnh, tư duy logic khác biệt, không yêu thương, không giận dữ, không cảm xúc. Keiko không biết yêu thương. Hồi còn học mẫu giáo, khi thấy một chú chim nhỏ chết ở công viên, thay vì khóc thương và chôn chú chim đó như những đứa trẻ khác, thì Keiko lại đề nghị với mẹ rằng ăn con chim đó đi. Dù mẹ cô bé khuyên con phải biết tội nghiệp, phải buồn khi chú chim, cũng là một “người bạn” chết đi, nhưng Keiko vẫn không thể lý giải được: “Ai cũng nói con chim đáng thương rồi khóc lóc nhưng lại quay sang giết những bông hoa quanh đó. Cái cảnh tượng mọi người nói ‘Hoa đẹp quá! Chắc con chim nhỏ thích lắm đây!’ trông thật điên rồ.” Lúc mới lên tiểu học, Keiko đã ngăn một vụ ẩu đả bằng cách “nhanh nhất” là lấy một chiếc xẻng dụng cụ làm vườn phang thẳng vào đầu thằng bé đang gây gổ. Nhận thấy hiệu quả ngay tức thì – thằng con trai đó ôm đầu ngã lăn đùng rồi nằm im bất động – Keiko lại giơ cái xẻng lên định ngăn nốt thằng kia. Sau thảm cảnh, dù thầy giáo đã bảo rằng không được dùng vũ lực, nhưng Keiko vẫn không thể hiểu. Cô bé lễ phép giải thích cho vị thầy giáo đang nổi-cáu-một-cách-vô-lý: “Nhưng các bạn bảo ngăn lại cơ mà. Em thấy làm như thế thì bạn Yamazaki và bạn Aoki sẽ dừng ngay thôi ạ.” Đến khi mẹ Keiko cúi gập người xin lỗi trước buổi họp hội đồng, Keiko mới nghĩ có vẻ việc mình làm là sai, nhưng vẫn không thể hiểu vì sao lại sai. Một lần khác, khi thấy cô giáo nổi cáu mất kiểm soát, vừa đập sổ điểm danh vừa gào thét, còn bọn học sinh trong lớp thì bắt đầu khóc lóc… Keiko lập tức chạy tới gần cô, thật nhanh tụt cả váy lẫn quần lót để mong cô ngừng gào thét. Cô giáo bật khóc rồi im lặng. Keiko giải thích rằng, cô bé xem trên tivi thấy con gái bị tụt quần áo thì sẽ im lặng. Trường lại mở cuộc họp hội đồng, mẹ lại phải xin lỗi. Trên đường về, mẹ ôm Keiko thì thào tội nghiệp: “Tại sao, sao con không hiểu hả Keiko…” “Hình như tôi lại làm gì đó sai nhưng vì sao sai thì tôi vẫn không hiểu.” Mọi trường hợp đều kết thúc bằng suy nghĩ như thế trong lòng Keiko. Bố mẹ lo lắng nhưng vẫn thương Keiko, làm mọi cách để “chữa” cho con, thậm chí là tìm bác sĩ tư vấn tâm lý. Dần nhận thức được sự khác biệt của bản thân, dẫu không thể lý giải được, nhưng để bố mẹ không phải buồn, không phải xin lỗi hết người này sang người khác, và để được xem là một người “bình thường”, cô bé Keiko quyết định sẽ chẳng nói chuyện với bất kỳ ai khi ra khỏi nhà, luôn hành động theo hai cách: bắt chước hoặc làm theo chỉ thị. Keiko cứ như vậy mà trưởng thành, cho đến khi làm công việc part-time của cửa hàng tiện ích Smile Mart từ thời còn sinh viên, và yên vị ở đấy 18 năm, không có ý định thay đổi. Vì ở đấy, mọi việc đều nằm trong quy tắc và khuôn khổ, điều đó khiến Keiko cảm thấy bản thân cũng là một mắt xích trong vòng quay thế gian, cũng là một bộ phận của thế giới, quay liên tục, an toàn và không lạc lõng. Ở đấy, cô được hóa thân thành “nhân viên” – loài sinh vật tồn tại vì cửa hàng tiện ích. Keiko là một nhân viên lý tưởng: luôn đi làm đúng giờ, độc thân, không có con, làm việc xuyên suốt kỳ nghỉ và không bao giờ mất bình tĩnh trước khách hàng. Mọi việc đều ổn khi nhìn từ bên ngoài. Thế nhưng, sâu thẳm tận tâm hồn, Keiko 36 tuổi vẫn không thể hiểu vì sao mình phải “tới chơi với cháu mình nhiều hơn” như lời em gái cô nói. Với Keiko, trẻ nhỏ cũng như mèo hoang, nhìn tuy có khác đôi chút nhưng đều thuộc động vật có tên “em bé” mà thôi. Keiko 36 tuổi, khi nhìn thấy em gái dỗ dành đứa con trai bé nhỏ đang khóc, đã nghĩ rằng: “Tôi vừa nhìn con dao nhỏ dùng để cắt bánh đặt trên bàn vừa nghĩ, muốn thằng nhỏ trật tự thì rất đơn giản thôi, vậy mà em tôi vất vả quá. Em gái tôi vẫn cố ôm chặt con vào lòng.” Keiko cũng chẳng biết giận dữ, cô coi những sai phạm của người khác là chuyện bình thường, kiên trì nhắc nhở chứ không bao giờ cáu gắt thực sự – nếu có, đó chẳng qua là sự bắt chước cảm xúc từ những người xung quanh, để bản thân không bị coi là “hàng dỏm”, cô luôn cố gắng để hòa nhập. Rõ ràng là Furukura Keiko không bị thiểu năng trí tuệ, không có vấn đề gì về năng lực suy nghĩ, nhưng logic của cô lại không giống như một “con người” bình thường, không có hỉ nộ ái ố, mà lại căn bản như một động vật máu lạnh –  có thể bắt chước, có thể làm theo chỉ thị, có thể thực hiện theo quy tắc – nhưng không thể lý giải được những suy nghĩ, tình cảm đơn giản của người bình thường. Theo thời gian điều đó vẫn không thay đổi. Cho đến khi cuộc đời Keiko vấp phải gã hèn mọn Shiraha Cuộc đời Keiko và Shiraha va vào nhau vì một quan niệm của xã hội, rằng trưởng thành là phải kết hôn, sinh con. Shiraha là một gã đàn ông tuổi tầm 35, cao cỡ 1m80, gầy đét, dáng đi khúm núm, lòng khòng như cái móc áo, đeo cặp kính trông như sợi dây thép bám lấy mặt, đôi mắt trũng lõm sâu, làn da khô quắt… Shiraha là một tổng thể của mâu thuẫn. Gã xin được làm việc ở cửa hàng tiện ích nhưng lại kỳ thị chính cái nghề này. Gã cho rằng cuộc sống bản thân khó khăn là do quan niệm xã hội về tiêu chuẩn một cuộc sống thành công, nhưng lại lấy chính cái lý luận đó để khinh thường Keiko. Gã ghét cay ghét đắng những cổ hủ của thời Jomon (thời kỳ đồ đá mới ở Nhật Bản) nhưng lại luôn lảm nhảm về nó, thậm chí lấy nó để ngụy biện cho những hành vi sai trái của mình. Khác với Keiko, Shiraha hoàn toàn bình thường, gã có thể hiểu và lý giải mọi logic tình cảm của con người. Nhưng vì bản tính lười biếng, gã không tiền tài, không nghề ngỗng, không chỗ ở. Gã luôn đổ lỗi cho xã hội thay vì cố gắng để đạt được cái mình muốn bằng năng lực của bản thân. Gã luôn giậm chân tại chỗ và ôm cái ý nghĩ “tôi không làm việc nhưng tôi có tầm nhìn, chỉ cần khởi nghiệp là bọn con gái sẽ bám theo cả đàn.”  Rồi khi bám được vào cuộc sống của Keiko, được cô cho ăn ở miễn phí, gã thu mình trong phòng tắm, dự định mọc rễ ở đấy, không ra ngoài, không gặp ai nữa. Gã, thực sự là một gã hèn đúng nghĩa. Dù chưa phải nam chính, nhưng nhờ sự xuất hiện của Shiraha và sau đó là chuỗi ngày cuộc sống đảo trộn vì gã, Keiko đã hiểu được giá trị tồn tại của bản thân trên thế giới này. Bi kịch của cá nhân khi bị đóng khung trong cái nhìn của xã hội  “Thế giới bình thường rất nguyên tắc, nó âm thầm loại bỏ dị vật. Người không ra gì sẽ bị đào thải.” Bi kịch của Keiko và Shiraha diễn ra vì họ không theo đúng quy chuẩn mà xã hội đã áp đặt lên mọi người, cái quy chuẩn tạo nên khuôn khổ của một con người bình thường, một con người thành công, mà nếu như không đi theo quy chuẩn đó, con người sẽ bị lên án, bị kỳ thị, bị đào thải. Sự khác biệt giữa Keiko và Shiraha rất rõ ràng. Dù Keiko bẩm sinh đã khiếm khuyết khả năng lý giải logic tình cảm của con người bình thường, nhưng cô chấp nhận che đậy cái kỳ lạ của bản thân và hóa thân vào một con người bình thường, cố gắng hòa nhập, cuối cùng tìm được giá trị đích thực của bản thân. Còn Shiraha dẫu sinh ra có vẹn toàn cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhưng với tính cách tích hợp giữa trịch thượng và tự ti, trên tất cả là sự lười biếng và không cầu tiến, gã tự biến mình thành đồ bỏ đi của xã hội. Cửa hàng tiện lợi trong “Konbini Ningen” là tấm gương phản chiếu cuộc sống đời thực, các bộ phận thay đổi, nhưng toàn bộ vẫn giữ nguyên. Và có lẽ con người vẫn bị mắc kẹt trong mô hình xã hội lỗi thời, mặc dù con người hiện đại cảm thấy bản thân tiến hóa hơn người thời đại trước. Có một cuốn cẩm nang được truyền lại từ đời này sang đời khác, là kết hôn, sinh con, và kiếm càng nhiều tiền càng tốt. Bất cứ ai không đáp ứng theo tiêu chuẩn đó sẽ được thuyết phục đi đúng đường hoặc bị tẩy chay. Đó là một xã hội chứa đựng ảo tưởng về những thứ mà nó gọi là bình thường, và những thỏa thuận ngầm của con người về một cuộc sống có thành công hay không. Người ta dựa vào cẩm nang đó, rồi tự cho bản thân cái quyền đánh giá, phán xét về đời tư của người khác. Thế nhưng, thành công và hạnh phúc là khái niệm trừu tượng không thể quy ra bằng tiêu chuẩn kết hôn, sinh con, nhiều tiền. Sống chăm chỉ bằng đồng tiền lương thiện do công sức mình bỏ ra không có gì là sai trái, dẫu đó có là công việc bán thời gian ở cửa hàng tiện lợi. Sống độc thân, và cảm thấy tự do, thỏa mãn, đủ đầy thì cũng không có gì đáng trách cả. Vì sao gọi là dư luận? Vì “luận” nhiều quá cho nên “dư”! Người ta nói nhiều nhưng người ta có sống giùm bản thân người được đâu? Sống mà cứ phải để ý đến ánh mắt người đời thì khó mà hạnh phúc được. Cứ lương thiện mà làm công việc người thích, sống theo cách khiến người thoải mái. Mỗi người đều tìm được an yên trong lòng thì xã hội sẽ bớt “đáng sợ” hơn cái xã hội trong “Konbini Ningen”, hay cũng chính là xã hội ngày nay của con người. Nhà văn Nguyễn Thanh Việt – tác giả cuốn The Sympathizer thắng giải Pulitzer Prize – đã có lời nhận xét về tác phẩm “Konbini Ningen”: “Một bản khảo sát khôi hài, tăm tối, gây chấn động sâu sắc về đời sống đương đại, về sự xa lánh, về chủ nghĩa tư bản, ý thức cá nhân, và sự quy hàng các ước lệ xã hội. Dù ở Nhật Bản hay đâu khác, chúng ta đều đã từng đặt chân vào cửa hàng này.” Giải mã tựa đề gốc của tác phẩm – “Konbini Ningen”  “Konbini” bắt nguồn từ chữ “Konbiniensu sutoa”, tức là “Convenient store” trong tiếng Anh, được người Việt biết đến với phiên âm “Combini” – Cửa hàng tiện ích kiểu Nhật Bản: mở cửa 24 giờ một ngày, bán các loại thực phẩm và vật dụng cá nhân hàng ngày, bao gồm cả đồ ăn nhanh, đồ gia dụng và tạp chí, theo kiểu tự phục vụ, với khu vực kệ hàng chiếm hơn 50% tổng diện tích. “Ningen” là cách phiên âm Romaji, nghĩa tiếng Việt là “con người”. Ngoài ra, ít ai biết rằng “Ningen” còn là tên của một loài sinh vật biển hình người ở Nam Cực. Tương truyền, thủy thủ các tàu đánh cá voi nghiên cứu do chính phủ quản lý đã mục sở thị loài sinh vật được gọi là “Ningen” này, kể lại rằng chúng có cơ thể màu trắng với chiều cao ước chừng 20 đến 30 mét. Những người chứng kiến mô tả “Ningen” có hình dáng giống người, có chân, có tay và bàn tay năm ngón. Đặc điểm về khuôn mặt có thể nhìn thấy là mắt và miệng. (Theo Pink Tentacle) Suốt nhiều năm, ở Nhật Bản lan truyền lời đồn đại về sự tồn tại của sinh vật biển to lớn hình người sống ở Nam Cực, giới khoa học không nghi ngờ gì việc Nhật Bản đang âm thầm nghiên cứu “Ningen” và đặt ra nghi vấn: Bao giờ thì người Nhật tiết lộ “Ningen”? Vậy thì, “Ningen” thể hiện xuyên suốt  trong “Konbini Ningen”, với nghĩa “con người” (hay “cô nàng” như bản dịch tiếng Việt, thậm chí là “woman” trong bản dịch tiếng Anh) có đủ để lột tả được nhân vật mà Murata Sayaka xây dựng hay không? Hay nhân vật chính Furukura Keiko – “Ningen” trong tựa đề của tác giả – đích thị là một cá thể dị biệt trong xã hội loài người? Murata Sayaka – một trong những nhà văn đương đại thú vị nhất Nhật Bản  Nữ văn sĩ Murata Sayaka là một nhà văn, đồng thời cũng là một nhân viên bán thời gian tại cửa hàng tiện lợi. Có lẽ vì thế mà trong tác phẩm “Konbini Ningen”, cô đã cho độc giả cái nhìn rõ nét và chân thực hơn về công việc nhân viên cửa hàng tiện ích nói riêng và cuộc sống của người Nhật Bản nói chung. Sayaka sinh năm 1979 tại thành phố Inzai, tỉnh Chiba. Năm 2003, tiểu thuyết Jyunỹu (Breastfeeding) của cô đã đoạt Giải thưởng Gunzo dành cho nhà văn trẻ. Đến năm 2013, cô giành giải thưởng Mishima Yukio nhờ tác phẩm Shiro-iro no machi no, sono hone no taion no (Of Bones, Of Body Heat, of Whitening City). “Konbini Ningen” là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của Sayaka được dịch sang tiếng Anh. Sách đã bán được hơn một triệu bản tại Nhật Bản và sau đó được dịch ra 20 thứ tiếng khác nhau trên thế giới. *** [Review Sách] Cô nàng cửa hàng tiện ích – Murata Sayaka “Cô nàng cửa hàng tiện ích” trong tên sách là Furukura Keiko, một người phụ nữ 36 tuổi đã làm việc ở cửa hàng tiện ích suốt 18 năm kể từ ngày đầu khai trương. “Cô nàng cửa hàng tiện ích” trong tên sách là Furukura Keiko, một người phụ nữ 36 tuổi đã làm việc ở cửa hàng tiện ích suốt 18 năm kể từ ngày đầu khai trương. Nhắc đến việc làm ở cửa hàng tiện ích, những người khác đều chỉ coi đó là công việc tạm thời dành cho sinh viên, các bà nội trợ, hay một vài trường hợp chưa tìm được việc làm ổn định. Thế nhưng, với Keiko, công việc ở cửa hàng tiện ích này là mối liên kết duy nhất giữa cô cùng thế giới xung quanh. Từ nhỏ đến lớn, cô chưa bao giờ được coi là một người bình thường; thậm chí, mỗi lần nhắc về cô, mẹ và em gái lại mắt rơm rớm lệ, chỉ mong một ngày nào đó cô “khỏi bệnh” và trở về ra dáng một người bình thường. Hồi nhỏ, khi thấy một chú chim nhỏ chết ở công viên, thay vì khóc thương và chôn chú chim như những đứa trẻ khác, Keiko lại cầm xác của chú chim đến trước mặt mẹ và ngỏ ý muốn đem xác chim về nướng lên ăn. Trước sự ngạc nhiên cùng sợ hãi quá đỗi của người mẹ, cô vẫn không lý giải được tại sao mình phải chôn chú chim nhỏ, phải biết thương tiếc và buồn đau một sinh mệnh vừa lìa đời. Lần khác, Keiko đã ngăn cản vụ bạo lực ở trường tiểu học bằng cách thức “nhanh nhất”: Cô lấy chiếc xẻng làm vườn phang thẳng vào đầu đứa bạn đang gây gổ. Trong khi xung quanh hét lên ầm ĩ, thầy giáo “nổi cáu một cách vô lý”, còn mẹ không ngừng gập đầu nói lời xin lỗi trước hội đồng, Keiko vẫn chẳng hiểu mình đã làm sai điều gì – vì chẳng phải, đứa trẻ kia ôm đầu, ngã xuống, nằm im bất động, và vụ ẩu đả đã kết thúc sao. Lớn lên, cô chứng kiến cảnh cô giáo mất kiểm soát, đám học sinh khóc thút thít, Keiko đã chạy lên tụt cả váy lẫn quần lót trước mặt cô để cô đừng gào thét thêm nữa. Cô làm vậy vì từng xem chương trình trên TV, người ta sẽ im lặng khi con gái bị tụt quần áo. Mẹ Keiko lại bị gọi lên trường một lần nữa, trên đường về, mẹ vừa ôm cô vừa nghẹn ngào trong câu hỏi không có lời hồi đáp: “Tại sao, sao con không hiểu hả Keiko…”. Giữa tiếng nấc nhói lòng của mẹ, Keiko nhận ra mình lại làm điều gì đó sai, nhưng cô vẫn không thể hiểu và nhận định được mình đã sai ở đâu. Cô dần dần hình thành nhận thức, suy nghĩ về sự khác biệt giữa mình và mọi người. Cô quyết định lựa chọn lặng im không lên tiếng, bởi cô nghĩ nếu không nói sẽ không có sai lầm nào xảy ra, bố mẹ sẽ không phải đi xin lỗi những người khác thêm nữa. Từ nay, Keiko sẽ sống theo 2 cách: Bắt chước hoặc làm theo chỉ thị. Chính lựa chọn cách sống như vậy, cô tìm thấy môi trường sống lý tưởng cho mình, chính là cửa hàng tiện ích. Ở trong không gian được bao bọc bởi 4 lớp kính, sinh vật được gắn mác “nhân viên cửa hàng tiện ích” bắt buộc phải làm mọi thứ theo chỉ thị và khuôn mẫu. Mọi việc diễn ra trong chiếc hộp kính này đều có khuôn khổ và quy tắc rõ ràng, đến cả biểu cảm và cách trò chuyện cũng được xếp đặt sẵn. Nếu lúc trước, cô không biết mình phải bộc lộ cảm xúc thế nào trước mỗi câu chuyện mình nghe, thì giờ đây, cô có thể bắt chước học theo video mẫu. Lần đầu tiên trong cuộc đời, Keiko “được trở thành một bộ phận của thế giới”; trong giây phút ngày mới bắt đầu, thế gian tỉnh giấc, âm thanh hỗn tạp của cửa hàng tiện ích đã “bơm” vào trong cô sự sống – thứ sự sống bình thường mà chưa từng len lỏi trong máu, trong tế bào của cô. Giống như kệ đồ tạp hóa, máy pha cà phê,… Keiko thấy mình chính là một phần của cửa hàng này. Mặc cho vẻ ngoài đã được điểm tô đôi chút bởi dáng dấp của người bình thường, sâu trong Keiko vẫn không có nổi một cảm xúc “bình thường” nào. Cô đi làm đúng giờ, làm việc cả kì nghỉ, không bao giờ tức giận trước khách hàng, càng chưa một lần mất bình tĩnh trước bất cứ ai. Cô có thể bắt chước cách ăn vận và nói năng từ những người đồng nghiệp, có thể giả bộ trở thành một phần trong những buổi nói chuyện của bạn bè, nhưng cô vẫn như vậy: Cô không biết tại sao phải tốn công dỗ đứa bé không khóc nữa, trong khi trên bàn có sẵn con dạo nhọn hoắt. Mọi hành động và phản ứng của cô đều là bản sao cóp nhặt từ nhiều người, để bản thân cô không giống một kẻ ngoài luồng hay bị coi là “hàng dỏm”. Với bản thân, cô cảm thấy mình là một loài động vật máu lạnh, không những chẳng có cảm xúc mà còn chẳng lý giải nổi cảm xúc của người xung quanh. Keiko là một mặt hàng, một thứ đồ vật, một sự tồn tại đang cố gắng bám trụ lại trong xã hội loài người.  Thế nhưng, tất cả đều thay đổi khi gã đàn ông tên Shihara bước vào cuộc đời cô. Gã là một kẻ đớn hèn, không nghề không ngỗng, không biết nỗ lực cố gắng, luôn thù hằn và chỉ trích xã hội một cách không ngừng. Gã giống Keiko ở điểm bị biệt lập bởi những quy chuẩn của xã hội. Gã cho rằng, xã hội hiện đại nào có gì khác xã hội thời Jomon (thời kỳ đồ đá ở Nhật Bản), khi loài người được định nghĩa bởi giống cái - giống đực, khi sự tồn tại của một cá thể chỉ để phục vụ sự sinh sôi nảy nở của bộ tộc, khi chỉ những gã đực rựa săn bắn giỏi mới có được những cô đẹp nhất làng,… Gã khác Keiko ở điểm gã có thể lý giải mọi cảm xúc của con người, gã hoàn toàn không coi mình là mặt hàng, hay đồ vật, hoặc một sinh vật gọi là “nhân viên cửa hàng tiện ích” như Keiko. Vậy mà, gã chỉ được cái miệng luôn nói về lý tưởng khởi nghiệp chắc chắn thành công của mình, nhưng chưa một lần gã thực sự chăm chỉ, phấn đấu cho cái ý tưởng hoàn mỹ của gã.  Shihara lựa chọn cuộc sống ăn bám Keiko, để trốn đi những định kiến xã hội thúc ép gã bấy lâu. Gã đổ mọi tội lỗi lên đầu thứ gọi là “xã hội”, bởi nó là thứ khiến gã buộc phải sống cuộc đời như những người khác: Làm việc, kết hôn, sinh con. Luôn trốn chui trốn lủi những “nghĩa vụ” phải mang, gã hèn mọn đến cùng cực: Một kẻ phẫn hận xã hội loại người, nhưng cũng chính gã lại áp những quy chuẩn ấy lên người Keiko, rồi hả hê đay nghiến, coi thường, và tự nâng vai trò của mình lên. Shihara sinh ra với đủ đầy nhận thức cùng xúc cảm, nhưng gã biếng lười và cố tìm cách đổ lỗi cho mọi sự thành bại, đến cùng cái xã hội gã căm ghét ấy cũng từ chối sự tồn tại của gã. Gã trở thành một kẻ bỏ đi, rồi chính vì sự khước từ đó, gã lại tìm cớ đổ lỗi cho những quy chuẩn của xã hội. Thế nhưng, gã thực sự căm hận cái xã hội ấy sao, hay chăng gã muốn được làm một phần của cái xã hội ấy, nên mỗi câu chửi của gã lại vẽ nên một hình mẫu mẫu mực? Trái ngược gã, Keiko sinh ra với sự khuyết thiếu về mặt cảm xúc, nhưng cô chưa từng ngừng cố gắng hòa nhập, để được trở thành một phần của những người bình thường. Cuối cùng, cô tìm thấy ý nghĩa của cuộc đời mình ở cửa hàng tiện ích. Đó là thế giới của những quy chuẩn, nguyên tắc, định kiến,… hoặc, có thể nói là của tất cả những gì gò bó nhất. Đồng thời, đó cũng là thế giới bất ổn định trong mắt những người bình thường đang đeo đuổi một cuộc sống hạnh phúc. Hóa ra, hạnh phúc không nằm ở việc ta có bao nhiêu tiền, con của ta học giỏi nhường nào, xã hội trọng vọng ta ra sao,… Hạnh phúc nằm ở việc ta cảm thấy hạnh phúc, cảm thấy được thuộc về, cảm thấy những cố gắng và nỗ lực của mình là xứng đáng.  Mỗi người có một đích đến hạnh phúc khác nhau, mỗi người có một định nghĩa thành công khác nhau, mỗi người có một nỗi đau khôn nguôi khác nhau, mỗi người có một lẽ sống của riêng mình. Xã hội hiện đại khác với xã hội thời Jomon ở chỗ, rất nhiều cuộc sống và mảnh đời không trùng lặp đang cùng tồn tại. Miễn là chúng ta không bỏ cuộc, rồi một ngày chúng ta sẽ tìm được “cửa hàng tiện ích” của mình, giống Keiko đã tìm ra ở cuối truyện. Mời bạn đón đọc Cô Nàng Cửa Hàng Tiện Ích của tác giả Murata Sayaka & An Vy (dịch).