Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bố Già

Bố Già là tên một cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn người Mỹ gốc Ý Mario Puzo được xuất bản lần đầu vào năm 1969 bởi nhà xuất bản G. P. Putnam's Sons. Bố Già là câu chuyện về một gia đình mafia gốc Sicilia tại Mỹ được tạo lập và lãnh đạo bởi một nhân vật được gọi là Bố Già-Godfather, Don Vito Corleone. Các sự kiện chính của tiểu thuyết xảy ra từ năm 1945 đến 1955 ngoài ra cũng đề cập đến thời thơ ấu và giai đoạn thanh niên của Vito Corleone vào đầu thế kỉ 20. Thế giới ngầm được phản ánh trong tiểu thuyết Bố già là sự gặp gỡ giữa một bên là ý chí cương cường và nền tảng gia tộc chặt chẽ theo truyền thống Mafia xứ Sicily với một bên là xã hội Mỹ nhập nhằng đen trắng, mảnh đất màu mỡ cho những cơ hội làm ăn bất chính hứa hẹn những món lợi kếch xù. Trong thế giới ấy, hình tượng Bố già được tác giả dày công khắc họa đã trở thành bức chân dung bất hủ trong lòng người đọc. Từ một kẻ nhập cư tay trắng đến ông trùm tột đỉnh quyền uy, Don Vito Corleone là con rắn hổ mang thâm trầm, nguy hiểm khiến kẻ thù phải kiềng nể, e dè, nhưng cũng được bạn bè, thân quyến xem như một đấng toàn năng đầy nghĩa khí. Nhân vật trung tâm ấy đồng thời cũng là hiện thân của một pho triết lí rất “đời” được nhào nặn từ vốn sống của hàng chục năm lăn lộn giữa chốn giang hồ bao phen vào sinh ra tử. Với kết cấu hoàn hảo, cốt truyện không thiếu những pha hành động gay cấn, tình tiết bất ngờ và không khí kình địch đến nghẹt thở, Bố già xứng đáng là đỉnh cao trong sự nghiệp văn chương của Mario Puzo. Nhận định “Bố già là sự tổng hòa của mọi hiểu biết. Bố già là đáp án cho mọi câu hỏi.” (Diễn viên Tom Hanks) “Bạn không thể dừng đọc nó và khó lòng ngừng mơ về nó.” (New York Times Magazine) “Một tác phẩm kinh điển về mafia… Tự bản thân nó đã tạo ra một thứ bùa mê hoặc độc giả.” (The Times) *** Tác giả Mario Puzo, quốc tịch Mỹ, gốc Ý, sang Mỹ sống ly hương trong khu dành riêng cho dân ngụ cư người Ý ở Long Island (New York). Khởi sự bằng những truyện ngắn viết nhỏ ở ban đầu, tiền nhuận bút kiếm chẳng đủ nuôi miệng. Vợ làm nghề thợ may chẳng đủ nuôi miệng vợ và chồng chưa đủ nuôi thân chồng. Chồng dại vợ đi ngủ, khẽ gập bàn máy may lại, kê bàn máy chữ lên, dưới để chiếc chăn không gây tiếng động, bắt đầu viết. Thật cuộc sống không ngày mai; nhưng kiên nhẫn vẫn cứ kéo dài ngày qua ngày. Khi Mario Puzo hàn vi, cũng may mắn gặp dược một người bạn thật tốt. Hàng ngày bạn này lui tới, khuyến khích chàng văn sĩ, không những về tinh thần mà giúp cả vật chất nữa. Thường là cho Mario Puzo vay tiền, lúc năm, hoặc mười đô la; khi hai chục. Rồi một ngày, bạn đưa ra ý kiến: khuyên nên viết một tác phẩm theo ý thích: nhân vật, chất liệu, tình tiết cũng như bối cảnh mà chàng có được. Nếu cứ viết như bây giờ, chuyện nhỏ theo lối đặt hàng chủ báo, thì cuộc đời văn sĩ sẽ chẳng bao giờ mọc mũi, sủi tăm - tiền cũng chẳng có mà sự nghiệp cũng không! Mario Puzo nghe tới đây rất thích thú, nhưng có một điều; chẳng lẽ chàng lại nói ra. Cuối cùng đành phải tiết lộ, món tiền nhuận bút kia nhỏ thật; nhưng đủ uống nước lạnh và gặm mẩu bánh mì dằn bụng. Chàng cũng đành thú thật, viết tác phẩm theo sở thích, thì lấy đâu ra tiền để sống hàng ngày? Bạn chàng gật dầu, đáp ứng ngay, hôm nay hai; mai ba; mốt bốn; kia năm mươi đô đủ sống mà viết. Ngày, tuần, tháng; bạn lui tới kiểm tra sáng tác tới đâu. Và mỗi lần cho vay tiền đều rút sổ tay ghi nợ. Một ngày kia, khi gần hoàn tất tác phẩm, bạn chàng cho vay số tiền khá lớn, và cầm bản thảo đến các nhà xuất bản thương lượng. Các tác phẩm của Mario Puzo: Đấu trường u ám (1955) Đất khách quê người (1965) The Runaway Summer of Davie Shaw (1966) Six Graves to Munich (1967), với bút danh Mario Cleri Bố già (1969) Những kẻ điên rồ phải chết (1978) Sicilian Miền đất dữ (1984)  Đời Tổng Thống K thứ tư (1991) Ông Trùm Quyền Lực Cuối Cùng (1996) Luật im lặng (2000) phần tiếp theo tới Bố già Gia đình Giáo hoàng (2002) (tựa bản dịch khác Cha Con Giáo Hoàng) *** Lão Amerigo Bonasera ngồi tại tòa đại hình số 3 ở New York mà chờ đợi, lão chờ đợi công lý trả thù cho lão, trả thù những thằng quá tàn bạo với con gái lão, định xâm phạm tiết hạnh con bé. Ngài chánh án đường bộ xắn hai tay áo chùng đen lên, cứ như sắp thẳng tay trừng trị hai thằng nhóc đang đứng trước tòa. Mặt ngài lạnh lùng, nghiêm nghị. Nhưng lão Amerigo Bonasera cảm thấy tất cả cái màn này có cái gì đó có vẻ giả tạo, mà lão chưa đoán ra được là trò gì. Ngài chánh án gay gắt cất tiếng: – Các ngươi hành động như những kẻ mạt hạng, tồi bại nhất. Đúng vậy, lão Amerigo Bonasera nghĩ, đúng là đồ thú vật. Hai thằng ranh con tóc tai thẳng thớm, mặt mày sáng sủa, đầu cúi gục đầy vẻ ăn năn, hối hận. – Các ngươi hành động như thú dữ trong rừng, cũng may là các ngươi đã không xâm phạm tiết hạnh của cô bé tội nghiệp kia, chứ nếu có chuyện đó thì tòa phải xử các ngươi hai chục năm tù. Ngài ngừng lại, cặp mắt dưới đôi lông mày rậm rì thoáng nhìn khuôn mặt thiểu não của lão Amerigo Bonasera, rồi cúi xuống chồng hồ sơ xin được tại ngoại, cải tạo tại gia. Ngài nhăn mặt, nhún vai, cứ như phải ép lòng làm một chuyện ngoài ý muốn. Ngài lên tiếng: – Xét vì các người còn trẻ người, non dạ, lý lịch sạch, con nhà tử tế, và xét vì tính nghiêm minh của luật pháp không phải nhằm trả thù, do đó, tòa tuyên án mỗi đứa ba năm tù. Được hưởng án treo. Suốt 40 năm làm nghề mai táng, lão Amerigo Bonasera biết cách không để lộ mối hờn căm lộ ra ngoài mặt. Chứ đứa con xinh đẹp của lão vẫn phải đang nằm viện với cái cằm vỡ nát, phải kẹp bằng dây, mà hai con thú vật kia lại được tự do thoải mái như vậy sao? Tất cả màn xử án vừa qua là trò hề sao? Cha mẹ hai thằng khốn đang xoắn xuýt lấy chúng. Tất cả bọn chúng đang hớn hở, vui cười với nhau. Cảnh đó làm lão Amerigo Bonasera điên tiết, tim gan phèo phổi lão như sắp phọt ra khỏi hai hàm răng nghiến chặt. Lão phải móc cái khăn mùi xoa trắng, bịt lên miệng. Lão đứng thận ra mà nhìn hai thằng nhóc phản phơ, trơ tráo, không thèm liếc tới lão, tỉnh bơ ra về thơ thới hân hoan. Lão cứ câm như hến khi chúng đi qua mặt lão, tay lão vẫn ghì chặt cái khăn lên miệng. Cha mẹ chúng, hai thằng đàn ông, hai mụ đàn bà trạc tuổi lão, nhưng quần áo có vẻ Mỹ hơn lão; khi đi qua mặt, chúng thoáng nhìn lão, mặt có vẻ sượng sùng, nhưng ánh mắt chúng vẫn thấp thoáng sự đắc thắng ngạo mạn. Không nín nổi nữa, Bonasera xông ra lối đi, gào theo: – Chúng mày sẽ phải khóc như tao đã khóc. Con tụi bây làm tao phải khóc, tao cũng sẽ bắt tụi bây phải khóc, rồi lão đưa khăn lên mắt. Đám luật sư bào chữa vội tiến lên cùng thân chủ, bao bọc lấy hai thằng nhóc, vì cả hai thằng đều chớm quay lại như để bảo vệ cha mẹ chúng. Một tay thừa phát lại to đùng mau mắn chạy lại chặn lối Bonasera. Nhưng rồi chẳng có gì ầm ĩ xảy ra. Suốt bấy nhiêu năm sống trên đất Mỹ, lão Amerigo Bonasera đã tin tưởng vào trật tự và luật pháp. Và cũng nhờ vậy mà lão làm ăn khấm khá lên. Thế mà lúc này đây, đầu lão bốc cháy căm hờn, lão chỉ muốn mua ngay một khẩu súng, bắn vỡ sọ hai thằng nhãi kia, nhưng Bonasera vẫn phải quay lại mụ vợ đang ngẩn tò te, chẳng hiểu có sự thế này là thế nào, mà cắt nghĩa: Mình bị tụi nó gạt rồi. Lão ngừng lại rồi đi đến quyết định, dù giá nào cũng phải chơi. Lão bảo vợ: – Muốn có công lý, mình phải quỳ lết tới Ông Trùm Corleone thôi. ★ Trong căn hộ trang trí lòe loẹt của khách sạn Los Angeles, Johnny Fontane đang say, y như những anh chồng bình thường khác say xỉn trong cơn ghen. Nằm sõng soài trên cái đi văng đỏ, nó cầm nguyên chai rượu mà tu, rồi vục mồm vào cái xô pha lê đựng nước đá lạnh để chữa lửa. Bốn giờ sáng rồi, trong cái đầu phừng phừng hơi men của nó loay hoay ý định giết chết con vợ mất nết, khi ả về nhà. Nếu ả còn trở về. Gọi cho vợ cũ để hỏi thăm mấy đứa con thì giờ này quá trễ, mà gọi cho mấy thằng bạn trong lúc nghề nghiệp đang xuống dốc thế này thì xuống cấp quá. Thời hoàng kim của nó, thằng nào được nó gọi vào bốn giờ sáng thế này cứ là sướng rên rồi, còn bây giờ, gọi vào giờ này là quấy rầy chúng. Nó mỉm cười, nhớ lại, mới ngày nào, chỉ một rắc rối nhỏ của Johnny Fontane cũng đủ làm mấy nữ minh tinh lớn nhất nước Mỹ bấn cả người lên. Cuối cùng, đang ừng ực nốc rượu, nó cũng nghe thấy tiếng con vợ đang mở khóa cửa, nhưng nó vẫn tì tì uống cho đến khi ả bước vào phòng, đứng lù lù trước mặt nó. Ả đẹp quá, mặt như thiên thần, mắt tím sóng sánh tình tứ, thân hình mảnh mai, tuyệt mỹ. Trên màn ảnh, nhan sắc ả thật tinh khiết, diệu kỳ. Hàng trăm triệu anh đàn ông trên thế giới mê mệt tấm nhan sắc của Margot Ashton, đổ tiền ra mua vé để chiêm ngưỡng dung nhan đó trên màn bạc. Johnny Fontane hỏi vợ: – Cô đi chỗ chó nào về vậy? Vợ nó tỉnh bơ: – Đi nhảy đực. Ả không ngờ nó xỉn quá rồi. Nó phóng qua bàn rượu, nắm cổ ả. Nhưng khi cái khuôn mặt huyền hoặc kia, đôi mắt tím tình tứ kia sát gần mặt nó, thì cơn giận của nó, dũng khí của nó biến mất ráo. Thấy nó buông nắm đấm xuống, ả cười cười cợt nhả: – Johnny ôi, đừng uýnh vô mặt em. Em đang mắc đóng phim đó. Ả cười rũ ra. Nó thui cho ả một quả ngay bụng, làm ả té lăn đùng xuống sàn. Hắn nằm đè lên ả. Ả thở gấp, nó ngửi thấy hơi thở thơm thơm. Nó thui tới tấp, cánh tay, bắp vế, làn da mướt như lụa của cặp đùi ả. Nó dọng ả, như ngày còn là một thằng bé cà lơ trong những xó xỉnh tối tăm của thành phố New York, nó đã từng dọng những nhóc con nhỏ hơn nó... Cái kiểu hành hạ cho đau, nhưng không làm gãy răng, vỡ mũi. Nhưng nó cũng không đánh ả quá mạnh. Nó không nỡ. Thế là ả giở giọng cà chớn mà giễu nó. Ả nằm dạng háng ra, cái váy hếch lên khỏi vế, khinh miệt bỡn cợt: – Nào, cắm vào đi. Cắm vào đi Johnny, mày chỉ ham cái đó thôi mà. Johnny Fontane đứng dậy. Nó căm ghét con đàn bà đang nằm õng ra trên sàn kia, nhưng nhan sắc ả là tấm lá chắn tuyệt vời. Margot uốn mình, bật dậy như một vũ viên. Đứng trước mặt nó, ả nhún nhảy, ca hát như một đứa trẻ ngây thơ: "Anh Johnny chẳng bao giờ đánh mình, chẳng bao giờ làm mình đau đâu." Rồi ả đổi tông, sủa ngay vào mặt Johnny: – Thằng khốn nạn, mày kiềm tỏa, giam hãm tao như một đứa con nít. A ha, Johnny ơi, mãi mãi mày vẫn chỉ là một thằng mọi ngu đần. Cả chuyện làm tình, mày làm cũng như con nít. Mày tưởng làm tình cũng giống như ong ỏng mấy bài ca hạng bét của mày à? Ả lắc đầu ngao ngán: – Tội nghiệp mày quá, Johnny. Thôi, chào, ả vào phòng ngủ, khóa cửa lại. Johnny ngồi xuống sàn, hai tay ôm mặt. Thế rồi, sức mạnh đã từng giúp nó sống nổi tại Hollywood tàn bạo này làm nó bật dậy, nhấc điện thoại, gọi xe ra phi trường. Chỉ một người có thể cứu nó, phải trở về New York. Trở về với con người quyền lực, khôn ngoan đã từng là cứu cánh của nó, và một tình thương yêu mà nó vẫn hằng tin tưởng. Đó chính là cha đỡ đầu Corleone của nó. ★ Lão chủ lò bánh mì Nazorine tánh nết quạu quọ, vừa mập vừa lùn, giống hệt mấy ổ bánh mì Ý của lão, người ngợm dính đầy bột mì, gắt gỏng nhặng xị từ mụ vợ, đứa con gái vừa tuần cập kê, con Katherine, cho tới thằng thợ phụ Enzo. Thằng Enzo đã thay quần áo, tròng lên người bộ đồng phục tù binh, với những chữ xanh trên tay áo, phát hoảng lên vì sợ trễ giờ điểm danh. Nó là một trong hàng ngàn tù binh Ý được tại ngoại mỗi ngày để phục vụ cho nền kinh tế Mỹ, nó sống trong sự phập phồng lo sợ cái khế ước này bị hủy bỏ. Vì vậy màn hài kịch này đối với nó là một dịch vụ tối quan trọng. Mời các bạn đón đọc Bố Già của tác giả Mario Puzo & Đặng Phi Bằng (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trái Tim Chó - Mikhail Bulgakov
"Trái tim chó" kể về câu chuyện xảy ra khi nhà bác học Preobrajenski qua thí nghiệm kết hợp thể xác chó với tuyến yên não người đã tạo ra một sinh vật biết sử dụng ngôn ngữ người. Ông hi vọng cải biến sinh vật đó thành người có trí tuệ. Nhưng vừa có được chỗ đứng trong cộng đồng người, sinh vật đó đã trở thành mối nguy hiểm đe doạ ngay cả người tạo ra nó, và cái sai lầm của thí nghiệm là ở chỗ nhà bác học đã cấy não của một con người cụ thể là Clim Trugunkin - một kẻ vô sản lưu manh chuyên trộm cắp, rượu chè, dối trá. Cho nên Saricov - cái sinh vật đã tiếp thu "ý thức" của Klim - không đại diện cho loài người nói chung, mà ở hắn tập trung những gì xấu xa, thấp hèn của tầng lớp vô sản lưu manh, cái phần bản năng tối tăm trụy lạc trong cuộc sống quần chúng. Qua "Trái tim chó" tác giả cảnh báo về nguy cơ "Saricov", một dạng người có trái tim chó, hay nói đúng hơn là một dạng người mang tâm lí chó vốn không quá hiếm trong cuộc đời xung quanh. *** Nội dung câu chuyện kể về 1 ông bác sĩ nổi tiếng, GS Philip Philipovich Preobrazhensky đã thành công trong phẫu thuật, một thí nghiệm chưa từng có, cấy ghép và biến 1 con chó hoang tên là Sharik thành người. Kết quả vượt quá sự mong đợi – nó dần dần bắt đầu có hình dạng con người và mang cái tên người Sarikov, chỉ duy nhất còn trái tim là của loài chó! Sharikov vẫn nhớ thời nó phải làm 1 con chó, lang thang kiếm ăn và bị người ta đánh đập. Giờ nó muốn đòi lại sự “công bằng”, trả món nợ áp bức bất công trước đây. Nó bắt đầu chống lại loài người với tất cả những gì xấu xa nhất, đểu giả nhất và vô lương nhất trong tim 1 con chó. Từ săn đuổi 1 con mèo, gây gổ với nhà bên, nhậu nhẹt, gẹo gái, trộm cắp, dối trá và lừa đảo cho đến giết người. Hối hận vì đã biến 1 con chó thành người, vị giáo sư đáng kính Preobrazhensky muốn sửa chữa sai lầm… nhưng đã muộn. *** Mikhail Afanasievitr Bulgacov (15/5/1891 - 10/3/1940) là một nhà văn có số phận - cuộc đời cũng như sáng tác - chìm nổi, nhiều khát vọng, đau khổ, vinh quang. Với những gì xảy ra trong hơn một thế kỉ từ khi ông sinh ra và hơn bảy mươi năm từ khi ông qua đời, có thể khẳng định rằng tên tuổi ông sẽ được lưu giữ lâu dài. Xuất thân trong một gia đình trí thức thần học tại thành phố Kiev, nhà văn tương lai với tấm bằng Bác sĩ cứu người đã bị cuốn vào những sự kiện sôi động đẫm máu của cuộc Đại chiến Thế giới I, rồi Cách mạng Vô sản tháng Mười và Nội chiến. Khi tiếng súng lắng lại, từ cuối năm 1921, ông đến Moskva và sống ở đó tới cuối đời, hiến mình cho văn chương, nghệ thuật. M. Bulgacov bắt đầu sự nghiệp bằng viết báo, sáng tác các tiểu phẩm, hoạt cảnh kịch. Tác phẩm lớn đầu tiên mang lại danh tiếng cho ông là tiểu thuyết Bạch vệ, sau được chuyển thành kịch bản Những ngày tháng của anh em Turbin mang đến một thành công vang dội. Tiếp sau đó là các truyện vừa Ổ quỷ, Những quả trứng định mệnh, Trái tim chó… cùng hàng loạt vở kịch, và cuối cùng là Tiểu thuyết sân khấu. Đặc biệt trong 12 năm cuối đời, ông đã viết nên kiệt tác bất hủ Nghệ nhân và Margarita. Sáng tác của Bulgacov thường gây nhiều tranh cãi, nhiều vở kịch của ông bị cấm diễn, hàng mấy chục năm, cả khi ông còn sống và sau khi ông đã qua đời, tác phẩm của ông không được in một dòng nào. Tuy nhiên đến cuối thế kỉ XX, chân lí nghệ thuật đã trở lại, và chiến thắng: tất cả các tác phẩm của ông được in, được hâm mộ, phần lớn tác phẩm chính được đưa lên sân khấu, màn ảnh, được dịch ra nhiều thứ tiếng, đưa lên mạng internet... *** Ư-ư-ư-ư-ư-hư-hư-hư-ư! Ôi khốn nạn thân tôi, tôi chết mất đây! Dưới vòm cổng, bão tuyết đang gào rít bản nhạc tống biệt tôi, và tôi cũng tru lên cùng với gió tuyết. Đời tôi thế là hết, thế là hết thật rồi. Một thằng súc sinh đội mũ không vành cáu bẩn, cái lão đầu bếp ở nhà ăn bình dân của các nhân viên thuộc Hội đồng Kinh tế Quốc dân Trung ương ấy, đã hắt nước sôi làm bỏng cả một bên sườn trái của tôi. Cái đồ đểu giả đến vậy, mà lại còn là vô sản nữa chứ! Trời đất ơi, đức Chúa của tôi ơi, đau quá! Nước sôi bỏng thấu tận xương. Bây giờ tôi chỉ biết tru lên, nhưng tiếng tru nào phỏng giúp được gì! Tôi đã làm gì động đến hắn? Chẳng lẽ nếu để tôi đào bới trong đống thức ăn thải thì cái Hội đồng Kinh tế Quốc dân kia sẽ khánh kiệt đi sao? Đồ súc sinh bần tiện! Có khi nào đó các người thử nhìn cái mặt của hắn xem - chiều ngang rộng hơn chiều dọc! Một thằng ăn cắp mặt dầy. Ôi, bàn dân thiên hạ ôi! Giữa trưa, hắn dội cho tôi một gầu nước sôi, còn bây giờ trời đã nhập nhoạng tối, cứ ước theo mùi hành phi bay ra từ khu nhà ở của đội cứu hoả phố Pretristenca thì chắc đã khoảng bốn giờ chiều rồi. Như các người biết đấy, bữa tối lính cứu hoả thường ăn cháo. Đấy là một món mạt hạng, cũng giống như nấm ấy. Thế nhưng mấy thằng chó đực quen trên phố Pretristenca lại kể rằng, dường như ở nhà hàng “Bar” trên đại lộ Neglinnưi người ta thường chén món nấm dầm nước sốt cay giá ba rúp bảy mươi lăm copek một suất. Tuy nhiên đó là chuyện khẩu vị từng người, nó cũng chẳng khác gì việc liếm giầy cao su vậy... Ư-ư-ư-ư-ư... Hông đau không chịu nổi, và tôi đã thấy rõ mồn một cái viễn cảnh của tôi: ngày mai sẽ bắt đầu những vết loét, và thử hỏi lúc đó tôi lấy gì để chữa chạy? Mùa hè thì còn có thể dông tuốt lên công viên Soconiki, ở đấy có một loại cỏ đặc biệt làm thuốc hết sẩy; ngoài ra đến đó còn được chén đẫy không mất tiền các mẩu lạp xường thừa, tha hồ liếm láp những tờ giấy gói đẫm mỡ mà quý vị công dân vứt tứ tung khắp nơi. Và nếu như không gặp phải một mụ già cáu bẳn nào đó hát trong dàn đồng ca dưới trăng - “Ôi Aida yêu dấu”(1) - đến rụng tim, thì cuộc đời thật sự hết ý. Còn bây giờ tôi biết đi đâu? Người ta có thường phết giầy vào đít các người không? Có chứ. Các người đã được nếm món gạch chọi vào sườn chưa? Từng xơi đủ. Tôi đã trải qua tất cả, tôi nhẫn nhục cam chịu cái số kiếp của mình. Nếu bây giờ tôi khóc rên thì cũng chỉ là bởi thân xác của tôi lạnh cóng và đau đớn, vì linh hồn tôi hãy còn chưa tắt... Linh hồn loài chó vốn sống dai. Nhưng thân thể tôi thì đã bị tàn giập, xơ xác, cái giống người hành hạ giày vò nó kể cũng gớm ghê. ...   Mời các bạn đón đọc Trái Tim Chó của tác giả Mikhail Bulgakov.
Tình Đầu Trao Anh - Barbara Cartland
Barbara Cartland tên đầy đủ là Maria Barbara Cartland Hamilton sinh ngày 9/7/1901 là một nhà văn người Anh. Bà được coi là một trong những cây bút sáng tác mạnh mẽ nhất của thế kỷ 20 và luôn có tên trong sách kỷ lục Guinness như một trong những nhà văn xuất bản nhiều tác phẩm nhất trong một năm. Sự nổi tiếng của bà gắn liền với những cuốn tiểu thuyết lãng mạn hư cấu dưới bút danh Barbara Cartland, ngoài ra bà cũng sáng tác dưới bút danh sau khi đã lập gia đình là Barbara McCorquodale. Ước tính lượng sách bán được lên đến hơn một tỷ bản đã khiến bà trở thành một trong những biểu tượng xã hội của thành phố London cũng như một trong những nhân vật được giới truyền thông Anh săn đón nhiều nhất. Điểm đặc trưng nhất trong phong cách của Barbara Cartland là đoạn kết với tuyên ngôn tình yêu sẽ chinh phục mọi thử thách. "Những nhân vật nữ chính luôn là chìa khóa trong mọi tình huống. Họ là những phụ nữ độc lập, thông minh và tự tin vào bản thân. Barbara Cartland đã tạo ra sức hấp dẫn cho những câu chuyện bà kể bằng công thức vô cùng đơn giản: Luôn là một kết thúc có hậu nhưng trong suốt chiều dài câu chuyện người đọc lại luôn bị thu hút bởi ý nghĩ liệu nút thắt có bao giờ được cởi bỏ thành công" – Miller nói. Trong suốt sự nghiệp của mình Barbara Cartland đã viết khoảng 723 cuốn sách được dịch sang 38 ngôn ngữ. Quãng thời gian sáng tác dồi dào nhất của bà phải kể đến 650 tiểu thuyết lãng mạn được viết trong 20 năm cuối đời. Ngày 21/5/2000 bà qua đời ở tuổi 98 sau khi hoàn thành cuốn tiểu thuyết cuối cùng chỉ một năm trước đó. *** Hầu tước Mounteagle bước ra khỏi xe ngựa và nói với người đánh xe: - Hãy quay lại sau một giờ nữa! - Vâng, thưa ngài. Hầu tước bước lên cầu thang dẫn vào Câu lạc bộ White[1]. Chàng được người phục vụ chào đón lễ phép. Chàng nhìn qua cánh cửa mở rộng của căn phòng và nhận ra người mình đang cần gặp, đang ngồi trong một chiếc ghế bành da. Khi chàng sắp bước tới phía đó, thì chợt nghe thấy ai đó bên cạnh thì thào nhưng có vẻ cố ý để chàng nghe thấy: - Nhìn kìa, Hầu tước Mounteagle! Lạy chúa, đừng để ông ấy xem được cuốn sổ cá cược! Hầu tước sững lại. Nhưng rồi với bản lĩnh tự kiềm chế đáng khâm phục, chàng không nhìn về hướng giọng nói phát ra, mà cố ý bắt chuyện với một người cạnh đó. Anh này, gần đây cũng hay đến khu chợ mới. - Anh đã thắng cuộc chứ? - Hầu tước hỏi. - Tôi không có được cái may mắn đó của ngài! - Anh ta trả lời. ... Mời các bạn đón đọc Tình Đầu Trao Anh của tác giả Barbara Cartland.
Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương - Haruki Murakami
Aka trong Akamatsu nghĩa là Đỏ O trong Oumi nghĩa là Xanh lơ Shira trong Shirane nghĩa là Trắng Kuro trong Kurono nghĩa là Đen Và Tazaki Tsukuru Không màu Họ -  năm người bạn đã từng chơi rất thân với nhau. Họ - một ngày nọ, đã loại trừ một sắc thái màu mang tên Tazaki. Vì Không màu quá mơ hồ, nhợt nhạt hay quá khác biệt? Không có lời giải đáp nào cho câu hỏi trên. Đây là tác phẩm mới nhất của Murakami sau bộ tiểu thuyết “dài hơi” 1Q84. Cuốn sách được khởi nguyên từ một truyện ngắn như lời Mura tâm sự: "Ban đầu tôi định viết một truyện ngắn nhưng tôi càng viết, nó tự nhiên càng dài ra. Chuyện này không thường xảy ra với tôi lắm, có lẽ là lần đầu tiên kể từ khi viết Rừng Na Uy.” Tazaki cũng gặp phải cú sốc tinh thần đầu đời (một kiểu san chấn tâm lý) như nhiều nhân vật chính khác trong các tác phẩm trước đó của Murakami. Một vết thương lòng đớn đau ở tuổi hai mươi. Tazaki bị đẩy ra ngoài nhóm bạn với lời nhắn gửi cuối cùng “đừng gọi nữa”. Cô đơn trong kí ức, hoài niệm. Cô đơn nơi thực tại mơ hồ. Cô đơn trong nỗi đau, hoài nghi. Anh mặc định mình là một kẻ trống rỗng, không bạn bè. Ngay ngày hôm đấy, anh chết. Tuổi trẻ, tình yêu, khát vọng - tất cả chỉ còn là một màu trong suốt vô hình. Và mười sáu năm sau, ý niệm về cái chết như phương thức giải thoát duy nhất vẫn còn đeo đuổi trong tâm trí anh. Nếu như không có sự xuất hiện của cô gái Sara, có thể Tazaki đã mang theo những tuyệt vọng, ám ảnh triền miên vào giấc ngủ không bao giờ thức tỉnh. Anh quyết định quay về những năm tháng lãng quên để tìm ra sự thật và giải mã những phần đứt đoạn của giấc mơ. Xuyên suốt tác phẩm, chuyến hành hương ngập tràn trong âm nhạc - thanh âm êm dịu của đoạn khúc Le mal du pays (Hoài hương) mà cô gái tên Trắng thường chơi. Cái chết bí ẩn của Trắng. Những đớn đau giày vò của Xanh, Đen và Đỏ. Sự thật đã giải thoát Không Màu khỏi hồi ức vỡ vụn! Trong thời đại của công nghê, Google và Facebook, con người đã dần quen với việc kết nối với nhau bằng mạng lưới thông tin đa chiều. Và chúng ta dường như ngủ mơ trong thế giới ảo mà quên rằng: lòng người - nơi tận cùng thế giới mới là nơi khó nắm bắt nhất. Nó hiện hữu đấy nhưng cũng rất đỗi mong manh vô hình. Và Murakami đã khẳng định một cách chua xót rằng, “Nếu muốn, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể dễ dàng lấy được những thông tin như thế. Dẫu vậy, chúng ta thật sự gần như chẳng biết gì về mọi người”. Suốt mười sáu năm, Tasuki trốn chạy nỗi đau bằng cách tự gây tổn thương bản thân. Nhưng điều đó không giúp anh thoát khỏi ám ảnh. Đối diện với nỗi đau và những vết cứa sắc lẹm của nó mới chính là cách giúp con người tồn tại và xích lại gần nhau. “Lòng người và lòng người không bao giờ gắn kết với nhau chỉ bởi sự hài hòa. Mà trái lại, gắn kết với nhau sâu sắc bởi tổn thương và tổn thương. Nối liền với nhau bởi niềm đau và niềm đau, bởi mong manh và mong manh. Không có sự tĩnh lặng nào mà không chứa đựng những tiếng kêu bi thống, không có sự dung thứ nào mà không đổ máu trên mặt đất, không có sự chấp nhận nào mà không phải vượt qua những mất mát đau thương. Đó là thứ nằm trong căn đế của sự hài hòa đích thực". Đọc cuốn sách, có thể bạn sẽ nhớ lại những câu trong Kafka bên bờ biển. Chuyến hành hương của Tazaki vô tình gợi nhắc đến cuộc hành trình của Kafka để thoát khỏi lời nguyền định mệnh: Anh ngồi bên rìa thế giới Em trên miệng núi lửa đã tắt Đứng khuất trong bóng cánh cửa Là những lời không còn chữ Phía bên kia những lời không còn chữ. Đó mới là thực tại vẹn nguyên, là lòng người sâu thẳm. Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương không quá siêu thực, mơ hồ và huyền bí như những kiệt tác trước đó của Murakami. Thế nhưng, nó vẫn có sức hút mãnh liệt đối với độc giả. Với 13000 bản trong lần đầu ra mắt, tiểu thuyết này đã phá vỡ kỉ lục lượng xuất bản đầu tiên của bất kì cuốn sách nào tính đến thời điểm hiện tại. Xin phép được tạm dừng mọi luận bàn tại đây. Tất cả vẫn là một bí mật. Tất cả không thể là khởi đầu. Cho đến khi bạn gặp Tazaki. Và hành hương cùng anh ấy… *** Nhận định “Sự kết hợp đầy cảm hứng giữa Murakami ‘cũ’ và Murakami ‘mới’.”- Amazon “Câu chuyện của Tsukuru sẽ còn âm vọng cùng bất kỳ ai cảm thấy mình đang trôi dạt giữa kỷ nguyên Google và Facebook này.” - San Francisco Chronicle "Đây là một cuốn sách rất thực tế, như Rừng Na Uy vậy. Nó, với tôi, có vẻ nặng nề, thậm chí là u buồn hơn so với những tác phẩm khác, nhưng quan trọng nhất, là nó có triển vọng" - Philip Gabriel, dịch giả tiếng Anh của cuốn sách *** Haruki Murakami là tác giả Nhật Bản nổi tiếng vào bậc nhất cả trong lẫn ngoài nước Nhật. Tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 30 thứ tiếng trên thế giới. Ở những nước đồng văn như Trung Quốc, Hàn Quốc các lãnh thổ Đài Loan Hồng kông hầu như toàn bộ tác phẩm Haruki đã được dịch, xuất bản; các tác phẩm mới vừa ra mắt độc giả Nhật Bản thì vài tháng sau đã có ngay bản dịch tiếng Trung Quốc, Hàn quốc. Ở Nga và Mỹ cũng có nhiều độc giả nhiệt liệt hâm mộ tác phẩm Haruki, qua các bản dịch nghiêm túc và thành công. Những nhà phê bình và độc giả ái mộ còn nói đến chuyện Haruki sẽ có thể đoạt giải Nobel văn học, hay có hình in trên giấy bạc Nhật Bản. Murakami Haruki là tác giả Nhật Bản có khuynh hướng phản kháng đối với truyền thống. Tác phẩm Haruki đặc sắc cả trong thể loại truyện dài lẫn truyện ngắn. Chính ông cho biết không đặc biệt chú trọng hay ưa chuộng thể loại nào hơn. Nhiều truyện ngắn của ông đã trở thành hạt giống được. khai phát thành truyện dài thành công. và nhiều truyện dài của ông đã chia nhánh phát triển thành những truyện ngắn đặc sắc. Mời các bạn đón đọc Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương của tác giả Haruki Murakami.
Ôi Đàn Ông! - Bì Bì
Ôi Đàn ông là tiểu thuyết mang đầy tính tự sự và cũng không kém phần hài hước của tác giả Bì Bì. Nhân vật chính của chuyện là Hồ Đông. Anh có một tính cách không nổi bất và có phần nhàm chàn. Từ một phó chủ tịch phụ trách văn hóa, văn nghệ anh được nhận chức Viện trưởng một Viện nghiên cứu văn hóa. Từ khi nhận chức vụ mới, những công việc và hệ lụy từ công việc và gia đình bắt đầu đổ dồn vào anh, đưa anh đến cảm giác bức bí, khó chịu và bất an nhưng anh vẫn phải cố gắng hằng ngày để thể hiện được vai trò và sếp ở cơ quan văn hóa mà thiếu văn hóa và làm chồng trong một gia đình từ lâu đã chẳng còn êm đềm… *** Tôi, bốn mươi hai tuổi. Nghe nói đàn ông tuổi này rất nhiều. Hy vọng tôi không giống họ. Đó không phải là sự theo đuổi gì về cá tính. Sự thật e rằng thế này: tôi không biết lái xe, cũng không đi nổi xe buýt, nuôi hai mươi lăm con cá nhiệt đới vui tính nên dần dần bị nhiễm đặc điểm của cá. Bởi vậy mọi người đánh giá về tôi thường là “không hiểu nổi”, “không rõ lắm”… Xét về hình thức, tôi là một người hòa nhã. Đàn ông như vậy, ai có thể gặp được nhiều cơ chứ? Nhất là cần phải nhấn mạnh rằng, tôi còn có một chức quan nho nhỏ, cũng nắm một chút quyền lực. Một hôm, vợ tôi phát hiện ra rằng, những người đàn ông có chút quyền lực như tôi, đã không còn hòa nhã, đã không còn khoan dung. Trước tiên, hãy để tôi giới thiệu về mình và những thứ xung quanh tôi. Như vậy đối với bạn sẽ tốt hơn. Trước khi bước vào câu chuyện, bạn có thể hiểu được đại khái về mọi thứ xung quanh. Cũng như khi tìm hiểu về một thành phố, trước tiên phải tìm hiểu về vùng ngoại ô của nó. Như vậy đối với tôi cũng tốt. Thậm chí trước mặt bạn, nom tôi vẫn đáng tin, như người muốn nói điều thật lòng, không có ý định dùng câu chuyện của người khác để gạt bạn. Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này vẫn tồn tại một khả năng là, dù sao đi nữa, bạn vẫn cảm thấy bị gạt. Vậy bạn hãy coi những lời tâm huyết của tôi như mớ rác rưởi, giống như vợ tôi đã làm. ... Mời các bạn đón đọc Ôi Đàn Ông! của tác giả Bì Bì.