Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Là Bóng Hay Là Hình - Fyodor Mikhailovich Dostoevsky

Trong một bức thư gởi cho Mikhail, một người anh, vào tháng 11.1845. Dostoievki đã viết: “Tôi tin là tiếng tăm của tôi đã lên đến tột đỉnh”. Lời ấy biểu lộ niềm kiêu hãnh của một nhân tài tự nhìn rõ vóc dáng lớn lao của mình đang vươn cao trên vòm trời văn hóa quê hương: nước Nga, vào lúc mà nền văn học già nua đang kỳ phát khởi lạ lùng của những công trình trường thiên bất hủ, thế kỷ thứ 19 và đầu thế kỷ thứ 20: những công trình đã mô tả kiếp người khắc khoải trong đa mang tâm sự, lao đao trong xã hội trầm luân. Niềm kiêu hãnh của Dostoievski giá trị như một lời tiên tri, vì dù rằng khi vừa ra đời, tác phẩm “Là Bóng hay là Hình” đã không được giới phê bình niềm nỡ đón mừng, thì càng về sau, tác phẩm này, và nói chung văn nghiệp của Dostoievski, càng được văn giới Nga, Âu Châu, và cả thế giới ân cần ngưỡng mộ. Được xuất bản vào năm 1846, “là bóng hay là hình” vẫn là hình ảnh con người trong trong cái nhìn lạ lùng của Dostoiesvski, ném ánh mắt tinh tế vào tận nẻo thâm cùng của tâm hồn con người, những tâm hồn độc đáo, bất thường, bệnh hoạn. Golyadkin, nhân vật của câu chuyện, và “cái bóng sống thực” của y, cho ta thấy sự hoảng hốt ngỡ ngàng của con người về chính mình: rất gần mà rất xa, thân thiết mà hận thù, thật một mà quả hai, rất hai nhưng chỉ là một. Nhưng mỗi chàng Golyadkin là một mẫu người: Nếu Golyadkin là một tích lũy của những dồn nén ẩn ức, thì Golyadkin hai là sự giải tỏa những ẩn ức dồn nén đó: nếu Golyadkin một là con người trong sạch (theo cái nghĩa gần như sơ khai, nguyên thủy) thì Golyadkin hai là một người tạo ra bởi những giả dối của xã hội văn minh. Và tâm hồn què quặt của Golyadkin là bãi chiến, là sự giằng co giữa hai con người đó. Nhưng trong cuộc chiến này không bên nào có thể tiêu diệt hoàn toàn đối thủ của mình. Không phải chỉ Dostoievski là người duy nhất mô tả tâm lý bằng phường cách quái lạ này, trong câu chuyện chập chờn, không hề có một phân định giữa ảo tưởng và thực tế, chập chờn như những giấc ngủ mê sảng của Golyadkin, nhưng nhân vật của ông có một sắc thái riêng, vừa huyền hoặc, vừa triết lý. Nhân vật William Wilson của Poe chẳng hạn, không thể hòa hợp với cái “bóng sống” của mình như Golyadkin, đến như những nhân vật Jekyll và Hyde của Stevenson thì lại quá cách biệt, xa xôi. Giới thiệu tác phẩm “là bóng hay là hình” qua Việt ngữ, chúng tôi hy vọng đã mở được một cánh cửa theo một phương vị thích hợp, để từ đó độc giả Việt Nam có thể nhìn được một mẫu hương sắc và tiêu biểu nhất cho một cánh rừng bao la: văn nghiệp Dostoievski. Chúng tôi cũng tiếc là đã phải dịch tác phẩm này căn cứ trên bản Anh ngữ của Andrew R. Mac Andrew, do đó dầu đã cố gắng dịch sát vẫn khó có thể tránh được một khoảng cách với nguyên tác Nga ngữ, một ngôn ngữ mà người Nga vẫn tự hào là gồm đủ nét hùng vĩ của tiếng Anh, diễm lệ của tiếng Pháp, âm điệu của tiếng Ý và quý phái của tiếng Tây Ban Nha. *** Cũng đã ngót tám giờ sáng lúc Yakov Petrovich Golyadkin, một viên chức nhà nước cấp nhỏ thức giấc sau một giấc ngủ khá lâu. Chàng ngáp dài, duỗi mình rồi cuối cùng mở mắt ra. Chàng nằm bất động trên giường trong vài phút, như chưa biết là mình đã thức hay vẫn còn đang ngủ, và những gì chung quanh là thật hay chỉ là nhũng giấc mơ lộn xộn kéo dài. Tuy nhiên chàng cũng nhận ra ngay là chàng đang trở về với cái cảm giác hàng ngày rõ ràng minh bạch hơn. Chàng nhận ra bức tường xanh rêu dơ bẩn, đầy bồ hóng và bụi bậm trong căn phòng, những ngăn tủ và bàn ghế bằng gỗ đào hoa, chiếc ghế nệm dài phủ vải dầu đỏ có hoa xanh, và cuối cùng bộ đồ chàng đã vội vã cởi ra đêm trước nằm một đống nhàu nát trên ghế. Sau hết cái u ám ảm đạm của một ngày mùa thu qua khung cửa sổ xanh xao hắt vào trong phòng chàng khó chịu đến nỗi Golyadkin không thể không biết là chàng không còn ở trong một nơi huy hoàng đầy sữa và mật nữa, mà đang ở trong một phòng trên lầu tư của tòa nhà khá lớn trên đường Six Shop ở Petersburg. Nhận ra điều đó, chàng rùng mình nhắm mắt lại, như là tiếc nuối giấc mơ đã mất và đang cố tìm lại nó trong một thoáng. Nhưng một phút sau chàng nhảy ra khỏi giường, như vừa nghĩ ra được điều gì tự nãy giờ những tư tưởng rải rác, chưa kiểm soát được của chàng còn đang tìm kiếm. Đứng dậy rồi, chàng bước đến bên chiếc gương soi nhỏ trên ngăn tủ. Dầu vẻ mặt ngái ngủ với đôi lông mày thưa thớt của chàng phản chiếu trong gương không có gì quyến rũ, chàng vẫn có vẻ hài lòng. Chàng nói thầm: “Nếu hôm nay không phải là ngày tốt, hoặc có gì không đẹp xảy đến cho mình, chẳng hạn như bỗng nhiên nổi lên một cái nhọt, hay gì gì đó... ồ, mọi sự rồi sẽ tốt đẹp hết mà”. Bằng lòng với ý nghĩ đó, chàng đặt gương soi vào chỗ cũ. Và dầu đang mặc đồ ngủ, chàng cũng chồm ra khỏi cửa sổ, chăm chăm nhìn ra sân trước mặt. Hình như chàng đã tìm ra được điều gì đó, vì trông mặt chàng sáng lên với nét tự mãn. Rồi Golyadkin nhìn ra đằng sau bức tường ngăn, nơi phòng của Petrushka, tên giúp việc của chàng. Thấy Petrushka không có đấy, chàng nhón gót chạy đến bàn, mở hộc bàn, lục lọi và đem ra một chiếc túi màu xanh đã sờn nhét dưới một mớ giấy tờ đã ngã màu và vài thứ đồ lặt vặt khác. Chàng cẩn thận mở túi nhìn vào. Một mớ tiền xanh, đỏ đủ màu. Golyadkin mỉm cười, đặt chiếc túi mở trên bàn và xoa tay sung sướng. Rồi chàng đổ mớ tiền ra ngoài, và là lần thứ một trăm từ ngày hôm kia, chàng đếm tiền, trang trọng giữ từng tờ giữa ngón trỏ và ngón cái. “Bảy trăm năm chục roubles tiền giấy” chàng nói, nửa thì thầm “Một món tiền đáng kể” giọng chàng run lên vì sung sướng “Ai cũng muốn được chừng này tiền. Mình chưa gặp người nào cho là món tiền thế này là vô giá trị. Có tiền thế này... mua tiên cũng được... nhưng thằng Petrushka đâu rồi kìa?”. Chàng nhìn qua vách lần nữa. Petrushka vẫn không có đấy, nhưng ấm nước đang thở phì phò giận dữ trên sàn, như muốn nói gì đó với Golyadkin bằng cái ngôn ngữ phức tạp của nó, chẳng hạn: “Ông nhắc tôi ra đi, tôi sôi đây. Tôi sẵn sàng rồi đây”. “Thằng khốn Petrushka trốn đâu rồi?” - Golyadkin nghĩ - “Cái con vật lười biếng đó cũng đủ khiến người ta điên lên được”. Chàng giận dữ bước ra lối ra vào dẫn đến sân. Mở cánh cửa cuối lối đi, chàng thấy gã người làm đứng giữa một đám gia nhân khác. Petrushka đang hùng hồn gì đó, và cả bọn đang lắng tai nghe. Golyadkin tỏ vẻ không thích đề tài câu chuyện hay việc đang xảy ra. Chàng bực bội ra lệnh cho Petrushka trở vào. Bước vào phòng, chàng nghĩ: “Thằng cục súc đó có thể làm bất cứ việc gì với nửa kopeck, ngay cả bán chủ của nó đi. Dám chắc là nó cũng đã bán mình với giá không đầy một kopeck rồi...” Chàng hỏi. - Chuyện gì vậy? - Họ đang phát đồ cho người làm, thưa ông. - Mặc vào rồi đến đây. Petrushka mặc bộ đồ vào, cười ngu ngốc, bước vào trong phòng chủ. Trông nó thật kỳ cục: mặc bộ đồ xanh viền chỉ vàng, rõ ràng là cắt cho người cao hơn nó cả thước, trên tay cầm một cái nón cũng viền chỉ vàng với lông chim, bên sườn lủng lẳng một thanh gươm bao da, nhưng lại đi chân đất giống ở nhà. Golyadkin quan sát Petrushka, coi bộ vừa ý. Trông thì biết ngay là bộ đồ được mướn để dành cho một dịp nghiêm trọng đặc biệt nào đó. Trong khi đó Petrushka cũng nhìn chủ với vẻ chờ đợi khiến Golyadkin đâm ra bối rối. Chàng hỏi : - Sao, có xe chưa? - Xe có đây rồi, thưa ông. - Trọn ngày? - Vâng, và khoảng 25 roubles. - Còn giày? Họ mang tới chưa? - Thưa rồi. - Đồ ngốc! Mày không nói: “Thưa ông, họ đã đem đến rồi” được sao? Mang đến đây! Golyadkin hài lòng thấy đôi giày vừa vặn. Chàng sai Petrushka đem nước nóng để rửa mặt và cạo râu, cùng mang trà lại. Chàng cạo râu rất kỹ, nhắp vài ngụm trà, và mặc đồ. Chàng mặc chiếc quần mới vào, cùng một sơ-mi gắn nút đồng, thêm một áo chẽn có những bông sáng trông rất bắt mắt. Chàng thắt chiếc cà-vạt lụa đủ màu và sau cùng khoác bộ lễ phục mới, chải cẩn thận. Lúc mặc đồ, thỉnh thoảng chàng nhìn xuống đôi giày một cách trìu mến, và nhấc chân lên như chiêm ngưỡng kiểu giày, thì thầm gật gù tự tán thưởng mình. Sáng nay thật sự chàng không để ý đến điều gì khác, không cảm nhận thấy những cái nhăn mặt cùng nụ cười mỉa mai của Petrushka khi giúp chàng thay y phục. Khi đã mặc đồ xong và sẵn sàng rồi, Golyadkin bỏ bọc tiền vào túi nhìn Petrushka lúc đó cũng đã mang giày xong. Không còn gì khác, Golyadkin háo hức bước xuống lầu. Một cỗ xe màu xanh nhạt có tay bọc chạy đến bậc cửa trong tiếng leng keng. Petrushka nháy mắt với gã đánh xe, với những người đi đường rồi đỡ chủ lên xe, và như để khỏi phải phá lên cười một cách ngu ngốc, y la lớn “chạy” và nhảy lên bậc xe. Chiếc xe leng keng ồn ào chạy về hướng đại lộ Nevsky. Lúc xe chạy ra khỏi cổng, Golyadkin xoa hai tay mạnh vào nhau, bật cười giống như một tên ba trợn đang vui sướng vì vừa chơi khăm được ai. Nhưng cái bộ tịch vui vẻ đó mất ngay. Gương mặt Golyadkin có vẻ khác lạ. Không kể gì thời tiết xấu và ướt át, chàng hạ cửa xe xuống, quan sát người đi đường. Mỗi khi thấy ai nhìn chàng lại làm bộ nghiêm nghị. Khi xe rẽ từ đường Liteinaya đến đại lộ Nevsky, Golyadkin giật mình, có vẻ khó chịu như bị ai dẫm lên chân, và chàng chui vào trong xe coi bộ sợ hãi. Điều làm chàng khó chịu đó là chàng bắt gặp tia mắt của hai viên chức cùng làm một sở với chàng. Golyadkin thấy họ có vẻ ngạc nhiên khi thấy một đồng sự như vậy, có người còn chỉ vào chàng. Rồi Golyadkin tưởng như người kia gọi mình. Nhưng tiếng gọi loãng mất trên đường, nên chàng làm ngơ không trả lời. Chàng nghĩ : “Mấy thằng con nít ngu, đi xe này có gì lạ đâu? Cần xe thì thuê, đâu có gì vô lý? Bọn con nít bẩn thỉu đáng ăn roi. Chúng nó chỉ biết vừa lãnh lương vừa nghĩ đến các trò chơi thôi. Mình có thể cho chúng nó biết như vậy, nhưng có gì đâu mà phải...”. Tư tưởng của chàng bị ngắt ngang. Chàng há hốc mồm, sợ hãi. Một cặp song mã giống Kazan kéo một cỗ xe sáng loảng đang vượt qua chàng ở bên phải. Người ngồi trong xe tình cờ thấy được Golyadkin khi chàng vô ý thò mặt ra ngoài xe, và có vẻ ngạc nhiên, cố chồm ra ngoài để nhìn vào trong góc tối nơi người hùng của chúng ta đang co ro. Đó là Andrei Filipovich, trưởng phòng của Golyadkin, nơi chàng làm việc với chức phụ tá cho viên thư ký trưởng. Thấy Andrei Filipovich đã nhận ra mình, bắt gặp cặp mắt tròn xoe của ông ta, và hết chỗ trốn, Golyadkin vô cùng ngượng ngập. “Có nên cúi chào ông ta không? Có nên nhìn ông ta không? Nhận là mình, hay cứ giả vờ như ai khác giống hệt mình, rồi làm mặt lạ?”. Golyadkin tự hỏi với vẻ khổ sở khó tả: “Đúng rồi, không phải mình, thế là xong”. Chàng nghĩ như vậy, khi đôi mắt dán vào Andrei Filipovich và lấy tay dở nón chào ông ta. “Tôi... tôi... thưa ngài, không có gì...”. Chàng lắp bắp: “Thật thì... không phải tôi... vâng, như vậy đó”. Tuy nhiên cỗ xe đã vượt qua và đôi mắt của vị trưởng phòng không còn ám ảnh chàng nữa. Nhưng mặt Golyadkin vẫn còn đỏ. Chàng mỉm cười: “Mình đúng là thằng ngu mới không chào ông ta. Song mình phải có vẻ cứng cỏi hơn, nghiêm nghi hơn. Chỉ cần nói với ông ta: ‘Thưa ngài, tôi cũng được mời cơm tối’, như vậy thôi”. Rồi nhớ lại là mình đã không làm được như vậy, người hùng của chúng ta thấy máu nóng bốc lên. Chàng nhíu cặp lông mày, nhìn vào một góc xe với cái nhìn thách thức đe dọa như thể muốn đốt kẻ thù thành tro bụi. Rồi hứng quá chàng giật cương của người đánh xe, ra lệnh cho y quay trở về đường Liteinava. Chàng thấy cần phải gặp Christian Ivanovich, bác sĩ riêng của mình, cho ông ta biết vài chuyện lý thú, như vậy chắc là thích hơn, dầu chàng chưa quen biết vị bác sĩ này cho lắm. Chàng chỉ mới gặp ông ta một lần, khoảng đầu tuần trước, để hỏi ý kiến ông về việc này nọ - Hơn nữa, người ta thường nói là bác sĩ cũng như linh mục, đối với ông ta mà còn giấu diếm thì thật rõ ngu, vì bổn phận của ông ta là phải biết rõ bệnh nhân. Golyadkin bảo dừng trước một tòa nhà năm tầng trên đường Liteinaya và khi bước xuống, chàng nghĩ: “Có nên không? Có phải lúc không?” Nhưng khi chàng bước lên bậc thang, thở hổn hển và cố gắng làm dịu bớt quả tim đập thình thịch, một thói quen mỗi khi vào một thang lầu lạ, chàng quyết định: «Ồ có gì đâu, chuyện này là chuyện của ta, đâu có gì sái quấy. Nếu ta giấu diếm thì thật là ngu. Ta cứ giả vờ như tình cờ đi ngang và ghé vào đây. Bác sĩ sẽ không thấy gì là kỳ cục hết...». Golyadkin suy luận như vậy và lên đến tầng thứ nhì, đứng trước cửa phòng số 5, trên đó có tấm bảng với hàng chữ : CHRISTIAN IVANOVICH RUTENSPITZ Bác sĩ Y Khoa và Giải Phẫu Người hùng của chúng ta sửa bộ nghiêm nghị nhưng vẫn có một chút thân thiện, trước khi kéo chuông cửa. Trước khi thật sự kéo, chàng tự hỏi: “Mình có nên đến vào hôm khác không, vì dù sao cũng không có gì gấp gáp...” Nhưng khi nghe tiếng chân bước lên thang, chàng vội vã quyết định rằng một khi đã có mặt tại đây thì phải tiến tới. Và chàng quả quyết kéo chuông. ... Mời các bạn đón đọc Là Bóng Hay Là Hình của tác giả Fyodor Mikhailovich Dostoevsky.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tôi Không Phải Là Công Chúa
Truyện Tôi Không Phải Là Công Chúa là câu chuyện thú vị về tình yêu tuổi teen nói riêng và phản ánh đời sống tâm lý, xã hội của lứa tuổi này nói chung, xoay quanh câu chuyện về Lam và những người bạn học của mình. Nhẹ nhàng, trong sáng, giản dị và chân thành. Đó là tất cả những gì Tôi không phải là công chúa đem lại đến cho bạn đọc. Những rung động đầu đời trong sáng và vô cùng thú vị, những giận hờn vu vơ những giọt nước mắt tủi hờn và cả những sự tinh nghịch của tuổi học trò là những khoảnh khắc đẹp đẽ của tuổi áo trắng mà tác giả muốn gửi gắm đến bạn đọc. Hy vọng rằng, mỗi chúng ta, đều tìm thấy một nàng công chúa và hoàng tử của riêng mình và mỉm cười khi nhìn lại quãng thời gian của tuổi thanh xuân đã qua! *** Nhận xét của độc giả tiki: Sở Thiên Khoát: Hay Cốt truyện không được gọi là mới nhưng tác giả viết rất thú vị. Hay lắm. cuốn sách rất hay!! Đoàn Thị Mỹ Ngọc :Khá Hài Lòng bìa đẹp, nội dung truyện cx khá ổn, mỗi tội giở sách ra auto bìa xấu, k giống như mấy quyển truyện khác mà mk mua Tô Ngọc Anh Thư Tuyệt ❤Đây là một trong những cuốn sách khiến tôi thao thức mỗi khi đọc xong :) Hay lắm các bác ạ !!!! Ben Heo Lê: Cực Kì Hài Lòng Truyện này rất hay!!!!!!???????????????????????? Nên xuất bản nhiều những tác phẩm của Kawi *** Mình thường chỉ đọc những tiểu thuyết văn học kinh điển hay truyện trinh thám mà ít khi xem đến những thể loại này. Nhưng chẳng biết nghĩ thế nào, là muốn đổi gió chăng? Mình lại đặt mua quyển sách này. Bìa sách thiết kế rất đẹp, lấy gam màu chủ đạo là xanh, mang đến cảm giác dễ chịu và tò mò. Nhưng nội dung thì theo chủ nghĩa “bình cũ rượu mới”,mô típ tình tay 4 (3 chàng theo đuổi một nàng) hay là nhiều chàng theo đuổi một nàng đã không còn xa lạ gì nữa. Nhân vật chính là một cô gái bình thường dễ bị “chìm” trong đám đông. Văn phong của tác giả không đến nỗi tệ nhưng diễn biến của câu chuyện quá nhanh khiến người đọc cảm thấy có sự miễn cưỡng trong mối quan hệ của hai nhân vật chính. Lại chưa nói đến có nhiều tình tiết vô lí và quá thuận lợi trong truyện: từ gia thế của hotboy Lê Thái đến hoàn cảnh đẩy đưa cho hai người sống chung một nhà, rồi cô bạn thân của Lam(tên gì mình quên mất tiêu luôn), đang từ yêu say đắm cái cậu Hải Phi xong tự dưng lại gọi là anh như thường được, cả cô bạn Hoàng Mĩ ở đoạn cuối truyện nữa…. Với lại mới là học sinh cấp 3 mà mua nhẫn cho nhau rồi gọi “vợ ơi là vợ” thì có ổn không nhỉ? Nói chung là truyện chỉ mang tính giải trí và nếu so với những truyện cùng thể loại thì còn kém xa. Nhưng vẫn cảm ơn tác giả vì khi đọc nó, em đã cười rất nhiều…. *** Mười một giờ ba mươi tối. Nó đang ngủ. Đúng hơn là đã ngủ được mấy giấc rồi. Ò o o o... Ò o o o... Theo phản xạ, nó vừa ngủ vừa... với tay mò mẫm chiếc điện thoại đang reo inh ỏi, không biết người nào rảnh rang mà chọn giờ này quấy phá giấc ngủ của nó. Không buồn nhìn số gọi đến, nó vừa ngáp vừa bật nắp, kề cái miệng ngái ngủ vào điện thoại với cái giọng thê thảm: - A... lô! Đầu nó gục gục. Nhưng âm thanh từ đầu dây bên kia khiến nó tỉnh hẳn. - Kin! Bây giờ Kin hãy im lặng, hãy chỉ im lặng nghe Bun nói mà thôi. Nó nuốt nước bọt. - Bun biết Kin đang giận Bun, rất giận là đằng khác. Nhưng thực sự Bun không cố ý. Chỉ là... chỉ là Bun không thể kiềm chế... Bây giờ Bun muốn nói 1 sự thật, 1 sự thật mà bấy lâu nay Bun không giám nói. Bun thích Kin... Kin chỉ biết thế là được. Thôi , kin ngủ đi mai gặp. Tín hiệu đột nhiên bị cắt đứt... Lần này thì nó tỉnh hẳn, nhìn chằm chằm vào điện thoại, số vừa gọi đến là số lạ hoắt, đơn giản là vì nó không phải là Kin, dù buồn ngủ đến mấy thì nó vẫn đủ khả năng để nhớ tên mình. Phải! Nó là Lam. không phải Kin. Nó cười 1 mình. Một cuộc điện thoại kì quặc và nó vô tình trở thành người được tỏ tình bất đắc dĩ. Tội nghiệp thằng nhóc tên Bun nào đó. Nghe qua giọng nói có vẻ khó khăn lắm mới thốt ra được. Ai dè lại không đúng đối tượng. Haizzz... nó quăng điện thoại vào góc giường và ngủ tiếp. Nhưng nó không ngủ tiếp được nữa. Vậy là thêm 1 đêm làm cú vọ... Sáng hôm sau nó gật gà gật gù trên bàn ăn, kết quả của 1 đêm thức trắng. Nhìn đôi mắt thâm quần như bị ai bum vào, mẹ nó nhăn mặt - Con làm gì mà trông kinh khủng thế? - Đêm qua con không ngủ! Mắt mẹ nó bỗng sáng rực. - Ôi! Con gái yêu của mẹ bữa nay đã biết thức khuya học bài rồi cơ đấy! Nó ngán ngẩm không trả lời. Cứ để mẹ nghĩ như vậy cũng được. - Chào mẹ, con đi học! - Ừ! Nó lóc cóc leo lên chiếc xe đạp điện nó cho là "cà tưng" mà ba rước về từ nhà cậu. Vì sự đểnh đoảng bẩm sinh mà nó làm mất con ngựa sắt yêu quý để rồi phải xài con ngựa điện này 15' sau nó "đáp" trường.   Mời các bạn đón đọc Tôi Không Phải Là Công Chúa của tác giả Kawi.
Chúng Tôi
Tất cả các cuộc cách mạng hiện đại trên thế giới đều đưa đến sự củng cố sức mạnh của nhà nước tập quyền. Ở thế kỷ XXVI, cuộc cách mạng Hai Trăm Năm đã biến nhà nước trong tiểu thuyết “Chúng tôi” của Yevgeny Zamyatin thành một bộ máy chinh phục và đàn áp. Mọi quyền riêng tư đã bị phá bỏ, sở hữu cá nhân không còn nữa, con người chỉ là những mã số sinh hoạt và lao động theo một bảng giờ bất biến. Yêu đương và giải trí, tình dục và hưởng thụ đều phải theo sự sắp đặt, quy định của nhà nước. Nghệ thuật được dùng để phục vụ cho mục đích tuyên truyền và áp chế. Giáo dục trở thành phương tiện nhồi sọ để biến con người thành công cụ. Nhân bản bị vứt bỏ hoàn toàn. Các giá trị người trở thành hòn đá thử vàng cho một thiết chế nhà nước… *** Đơn giản là tôi chép lại nguyên văn những gì đăng trên tờ Nhật Báo Quốc Gia hôm nay: Việc xây dựng tàu vũ trụ Tích Phân sẽ hoàn thành sau 120 ngày. Giờ phút lịch sử vĩ đại, khi con tàu Tích Phân đầu tiên bay vào không gian, sắp cận kề. Một ngàn năm trước những bậc tiền nhân anh hùng của các bạn đã thiết lập sự cai trị của Quốc Gia Thống Nhất trên toàn cõi địa cầu. Chiến công hiển hách hơn đang đón chờ các bạn: lấy tích phân phương trình vô hạn của vũ trụ bằng con tàu Tích Phân bọc thủy tinh, dùng điện năng, khạc ra lửa. Các bạn sẽ chinh phục những sinh vật chưa từng được biết đến trên những hành tinh khác - có lẽ hãy còn trong tình trạng tự do chưa khai hóa, đưa họ vào cái ách thiện nguyện của lý trí. Nếu như họ còn chưa thấu hiểu việc chúng ta đem lại cho họ niềm hạnh phúc đúng đắn như toán học, thì nhiệm vụ của chúng ta là buộc họ phải hưởng hạnh phúc ấy. Tuy nhiên, trước khi phải sử dụng vũ lực, ta hãy dùng lời lẽ để thuyết phục. Thay mặt Lãnh Tụ Thiện Nguyện, thông báo đến toàn thể mã số của Quốc Gia Thống Nhất: Mọi mã số, nếu cảm thấy đủ năng lực, đều có nghĩa vụ sáng tác tiểu luận, thơ ca, tuyên ngôn, tụng ca hoặc những thể loại khác để tán dương cái đẹp và sự vĩ đại của Quốc Gia Thống Nhất. Đó sẽ là kiện hàng đầu tiên được tàu Tích Phân đem theo. Quốc Gia Thống Nhất muôn năm, toàn thể mã số muôn năm, Lãnh Tụ Thiện Nguyện muôn năm! Tôi viết những dòng này và cảm thấy hai má nóng bừng. Phải, để lấy tích phân phương trình vũ trụ vĩ đại. Phải, để uốn đường cong sơ khai, nắn nó lại theo tiếp tuyến - đường tiệm cận - thành một đường thẳng. Bởi lẽ con đường của Quốc Gia Thống Nhất chính là đường thẳng. Đường thẳng thông thái, chính xác, thần thánh, vĩ đại chính là đường kẻ thông tuệ nhất... Tôi, mã số D-503, Tổng công trình sư của tàu Tích Phân, chỉ là một trong số những nhà toán học của Quốc Gia Thống Nhất. Ngòi bút vốn quen với những con số của tôi không đủ khả năng sáng tác nhạc điệu cho những vần thơ. Tôi chỉ cố ghi chép lại những gì mắt thấy tai nghe, những gì suy nghĩ - chính xác hơn, những gì chúng tôi nghĩ (đúng vậy: chúng tôi, và hãy để từ "CHÚNG TÔI" này làm tựa đề cho những ghi chép của tôi). Tuy nhiên, đó sẽ là đạo hàm của cuộc đời chúng tôi, cuộc đời hoàn hảo như toán học của Quốc Gia Thống Nhất, và nếu thế, lẽ nào tự thân nó không phải là một bài thơ, bất chấp ý nguyện của tôi? Nó sẽ là như thế. Tôi viết những dòng này mà cảm thấy hai má nóng bừng. Có lẽ, điều đó tương tự cảm giác của người phụ nữ khi lần đầu nghe thấy trong cơ thể mình nhịp đập của một sinh linh mới, hãy còn tí hon và chưa mở mắt. Đó là tôi và đồng thời cũng không phải là tôi. Trong nhiều tháng dài tôi sẽ phải nuôi dưỡng nó bằng nhựa sống, bằng máu thịt của mình, để rồi sau đó đau đớn tách nó ra khỏi cơ thể và đặt dưới chân Quốc Gia Thống Nhất. Song tôi sẵn sàng, như mỗi người hay hầu hết mỗi người trong chúng tôi. Tôi sẵn sàng.   Mời các bạn đón đọc Chúng Tôi của tác giả Yevgeny Zamyatin.
Trái Tim Hoang Dã
"Trái Tim Hoang Dã" là một quyển tiểu thuyết tình yêu mô tả hết sức tinh tế những rung động, đam mê và niềm khao khát yêu đương... đến tận cùng cảm xúc con người. Tác giả của Trái Tim Hoang Dã là Johanna Lindsey, nhà văn nữ nổi tiếng về tiểu thuyết lãng mạn của Mỹ. Kể từ tác phẩm đầu tiên xuất bản năm 1977 là Captive Bride được độc giả đón nhận một cách nhiệt tình cho đến nay gần 30 tác phẩm khác của bà ra đời đều là bestseller (sách bán chạy) với số lượng phát hành hơn 40 triệu bản và được dịch ra 12 thứ tiếng. Johanna Lindsey được coi là người thành công xuất sắc khi viết về đề tài tình yêu lãng mạn. Trái Tim Hoang Dã lấy bối cảnh nước Mỹ vào những năm sau cuộc nội chiến Bắc - Nam (1868) làn sóng di cư miền Nam tràn xuống miền Tây khai khẩn, xây dựng cuộc sống mới. Đây là thời kỳ của những cuộc tàn sát đẫm máu để tranh giành đất đai, cướp bó, biến một miền hoang mạc bao la không còn là miền đất bình yên của các bộ lạc da đỏ. Không chịu diệt vong, cuộc chiến bảo vệ lãnh thổ, tổ tiên của người da đỏ ngày càng trở nên quyết liệt. Họ lao vào những cuộc trả thù triền miên, không khoan nhượng. Courtney, cô thiếu nữ 15 tuổi, vô cùng trong trắng, xinh đẹp, cùng cha là một bác sĩ từ Chicago xuống Texas nhận nhiệm sở. Giữa đường hai cha con đã rơi vào giữa cuộc đụng độ giữa bộ lạc Comanche trả thù chủ một trang trại – người đã cùng tham gia với một toán người da trắng vừa tàn sát dã man bộ lạc này. Courtney may mắn được một chàng trai da đỏ tha chết. Nhưng cha cô mất tích và mọi người đinh ninh ông đã bị người da đỏ giết chết. Bốn năm sau, Courtney tình cờ nhìn thấy hình cha cô lẫn trong đám đông trong một tờ báo cũ. Tin rằng cha mình còn sống, cô quyết định đi tìm. Trong khi đó, Chandos là chàng trai lai da đỏ, có đôi mắt xanh thăm thẳm với cái nhìn bí hiểm, một tay súng lạnh lùng, cừ khôi... Chandos mang trong lòng mối hận thù và ký ức đau đớn về cái chết thê thảm của mẹ và em gái trong một vụ tàn sát của người da trắng. Anh quyết tâm trả thù cho kỳ hết những kẻ tham gia cuộc tàn sát man rợ đó... Chandos trở thành người bạn đồng hành của Courtney trong cuộc hành trình băng qua những hoang mạc thuộc lãnh thổ của người da đỏ dầy rẫy nguy hiểm đến Texas tìm cha. Courtney cũng không hề biết rằng người đàn ông lạnh lùng đã nhiều lần cứu cô thoát nạn này chính là chàng trai da đỏ cách đây 4 năm đã tha mạng cho cô. Một chuyến đi đầy thử thách của một cô gái trong sáng, xinh đẹp và tự trọng cùng chàng trai hoang dã kiêu hãnh và đầy lòng thù hận. Tình yêu chính là thử thách nghiệt ngã nhất giữa hai con nguời bướng bỉnh đó. Họ vừa phải đương đầu với hiểm nguy luôn rình rập vừa phải đối phó với chính niềm đam mê và mâu thuẫn của bản thân để không làm tổn thương nhau... *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), Ngôi Sao Lạc Loài Chỉ Một Lần Yêu Nơi Em Thuộc Về Trái Tim Hoang Dã Yêu Lầm Anh? Tình Yêu Tìm Thấy The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Kansas năm 1868, ba năm sau nội chiến Hoa Kỳ, Elroy Brower bực tức dằn ly bia xuống. Tiếng ồn ào trong quán làm hắn không hưởng được trọn vẹn người đẹp đang ngồi trên đùi hắn mà hắn thì ít khi với được một của quý như ả Sal béo này – nàng nghiêng người qua thì thầm vào tai hắn, giọng ngọt lịm: - Sao cưng không lên trên kia, chỉ có mình ta thôi. Hắn ngoái mình ra cười trước viễn ảnh của những giờ khoái lạc. Hắn muốn giành ả trọn đêm nay. Ở thị trấn Rockley, gần khoảnh trại của hắn, chỉ có một mụ điếm già gầy đét, đâu có "mát tay" như Sal béo của gã đêm nay nên hắn thầm cảm ơn Chúa đã với được của quý trong chuyến đi Wichita lần này Thế mà cái tiếng giận dữ của gã trại chủ nào đó cứ dội vào tai hắn. Elroy nhớ lại qua giọng nói của người chủ trại chăn nuôi tên Bill Chapman, có trại ở phía bắc quán này một chút và ông ta đang tìm người để cùng đi lo về chuyện "bọn da đỏ đang hoành hành trong vùng" Elroy giật mình khi nghe đến hai tiếng "da đỏ" dù hắn chưa bao giờ gặp rắc rối với họ. Hắn chỉ mới đến Kansas gần hai năm trước, nhưng khoảnh trại của hắn dễ bị tấn công lắm. Trại hàng xóm gần nhất cũng cách hắn gần hai cây số. Và Elroy chỉ lại có một mình cùng với người thợ làm thuê cho mỗi mùa gặt. Vợ hắn chết ngay vào tháng thứ sáu khi họ đến Kansas Kể riêng một mình Elroy, lẽ ra chẳng phải lo lắng hắn là người cao hơn hai thước, to như thùng dầu hai trăm lít, đủ bảo đảm vượt khó khăn trong cuộc đời, trừ khi hắn muốn gây sự. Nhưng lúc này Elroy đang lo lắng vì cái bọn "mọi rợ" kia đang tìm cách tràn vào vùng này để xua những "người hiền lành, kính Chúa mới định cư vào vùng này". Cái bọn đó là dân "chơi không đẹp" và nhiều chuyện kể làm cho Elroy thấy ớn lạnh. Người ta đã cảnh cáo hắn đi quá gần vào vùng lãnh thổ phân chia cho người da đỏ gọi là "Biệt khu da đỏ", hay đúng hơn là một vùng bao la, trơ trụi nằm giữa Kansas và Texas. Cái khoảnh trại của Elroy lại chỉ cách đường biên Kansas có ba mươi dặm và khốn nỗi, đó là vùng đất tốt, nằm ngay giữa hai con sông Arkansas và Walnut. Khi chiến tranh phân ly chấm dứt, Elroy vẫn nghĩ rằng quân đội sẽ chận đứng và buộc được "bọn da đỏ" ấy quay quần trong cái phần đất phân chia cho họ mà thôi. Thực tế khác hẳn. Quân đội không thể chận đứng khắp được và khi cuộc nội chiến chấm dứt, thì cuộc chiến của người da đỏ lại dâng lên cao điểm. Họ không giao nộp những phần đất mà tổ tiên họ, luôn nghĩ là của người da đỏ Hai ngày trước khi đến Wichita, Elroy đã phát hiện ra một nhóm nhỏ người da đỏ qua ranh đất của hắn đi về phía nam. Elroy lo lắng, đi theo tám người từ khoảng cách xa cho đến ngã ba sông Arkansas – Ninnescah. Ở đây đã có chừng mười chiếc tàu tepee dựng lên ven song Arkansas và Elroy còn thấy hơn chục gã trai khác, cùng với phụ nữ, trẻ con ra vào như một ngôi làng của họ từ lâu rồi Nằm quan sát cái làng ấy cũng đã làm cho Elroy thấy máu muốn đông lại trong người hắn: Đây là nhóm dân Kiowa hoặc Comanche và họ chỉ ở cách trại của hắn vài giờ đi ngựa Khi đến Wichita, hắn đã kể chuyện này khắp thị trấn và bây giờ gã Bill Chapman lại đang khuấy động những người khách cố hữu của quán rượu này. Chapman đã rủ được ba ông khách rượu và sáu tay chăn bò ... ra đi. Một khách rượu lại nêu ra rằng hai chàng phiêu bạc thích "giết tụi nó" và họ đang đi tìm hai chàng đó ở các sòng bài Bill Chapman kể đến lực lượng mình đã có và liếc mắt nhìn Elroy nãy giờ hậm hực lắng nghe - Còn anh thì sao? Anh bạn ... đi với tụi này đi? Elroy xô Sal béo khỏi đùi mình, nắm lấy cánh tay ả mà kéo tới gần chỗ Chapman - Sao các anh không để bên quân đội họ săn bọn nó? Lão chủ trại cười nghiêng ngả - Để cho quân đội họ tống chúng về vùng đất tự trị ư? Thật chẳng công bằng chút nào! - Cách hay nhất để buộc tên da đỏ không ăn cắp của bạn lần thứ hai là cho nó một con dao. Cái lũ Kiowa này đã hạ của tao hơn mười lăm con bò và cuỗm đi cả chục con ngựa ngoại hạng của tôi tuần trước. Chúng móc túi tôi nhiều lần rồi đấy. Tao phải chặn chúng lại Và cặp mắt sắc của gã nhìn xéo Elroy - Đi nhé? Một cái nhìn lạnh buốt dọc xương sống Elroy. Mười lăm con bò bị hạ. Hắn chỉ có hai con bò đực và gà quê không đủ cho bọn chúng quét. Một ngày không có bò thì cuộc đời hắn tiêu ma. Nếu mấy tên Kiowa ghé thăm là hắn hết đời. Elroy nhìn chằm chằm vào Chapman - Hai ngày trước tao đã theo bọn chúng. Chúng đã dựng trại ở ngã ba sông Arkansas – cách trại tôi chừng mười tám cây số. Nghĩa là cách đây khoảng ba mươi cây số nếu ta đi theo đường sông - Chết thật! Sao anh không nói. Có lẽ chúng là bọn chúng ta đang theo dõi đấy. Ấy, chúng đi mau thế. Bọn quỷ đó đi nhanh hơn tôi tưởng. Có đúng là bọn Kiowa không? Elroy nhún vai: - Tao trông bọn nào cũng vậy. Bọn này không đi ngựa. Nhưng ở trại tụi nó có chừng bốn mươi con - Anh dẫn tụi tôi đến trại tụi nó nhé? Elroy cau mày - Tao mang bò đi để mua máy cày về. Tao không mang theo ngựa. Thế ... làm các ông đi chậm lắm - Tao thuê ngựa cho mày - Nhưng còn bò của tao - Tao trả tiền cho mày gửi lại đây. Sau đó mày trở lại lấy, được chứ? - Bao giờ các ông đi? - Đầu giờ sáng mai ... Nếu ta không đi gấp và nếu chúng còn ếm ở đó, thì ta bắt kịp chúng vào giữa trưa Elroy nhìn Sal béo đang ngoác miệng ra cười ... Chapman đi ngay nghĩa là hắn phải mất buổi tối nay với ả Sal béo thì "xin ngài ..." Nhưng sáng mai ... -Kể như là có tao và anh chàng gặt thuê cho tao nữa ... Mời các bạn đón đọc Trái Tim Hoang Dã của tác giả Johanna Lindsey.
Pie Đệ Nhất
Pie đệ Nhất là một tiểu thuyết lịch sử tương đối đồ sộ một cách rất Nga, theo dự kiến có ba tập, tập I hoàn thành năm 1930, tập II năm 1934 và tập III, quan trọng nhất, đã phải dừng lại đột ngột năm 1945 vì cái chết của tác giả. Tiểu thuyết có nhân vật chính là Pie Đại đế (Pierre/Pyotr/Peter) – Sa hoàng lừng lẫy nhất trong lịch sử đế quốc Nga, cai trị từ năm 1682 đến năm 1725. Pie Đại đế là một Sa hoàng vô tiền khoáng hậu thuộc dòng họ Romanov, lịch sử đã ghi nhận ở ông một nhà cải cách kiệt xuất đã đưa nước Nga từ đêm đen u tối trở thành một trong năm cường quốc châu Âu lúc ấy giờ. Ông cũng chính là người đã cho xây dựng thành phố Sankt-Peterburg. Như vậy, Aleksey Tolstoy đã có một cái lõi vững chắc để phát triển tác phẩm. Nhưng viết tiểu thuyết lịch sử không phải là kể lại lịch sử đơn thuần. Trước một tượng đài có tầm ảnh hưởng sâu rộng như Sa hoàng Pie thì quả thực không dễ để viết mà không để tác phẩm của mình biến thành một thứ “sách sử trá hình“, điều đó yêu cầu nhà văn phải có bản lĩnh và bút lực dồi dào. Aleksey Tolstoy đã chứng minh mình có đủ các phẩm chất ấy. Chúng ta sẽ thấy Pie đệ Nhất là một tiểu thuyết sống động như thể các nhân vật đều do chính tác giả tạo ra từ tâm não mình nên ông hiểu rõ tâm lý cách cư xử của tất cả chứ không phải là dựa trên bất kì hình mẫu có thật nào. Aleksey Tolstoy đã cho tác phẩm một không gian, thời gian khá lớn, bắt đầu từ thời điểm Sa hoàng tiền nhiệm  Fyodor III qua đời vì bệnh phù thũng và kết thúc khi Sa hoàng giành được chiến thắng quan trọng tại Navar. Do sự mở rộng về không gian, khi bắt đầu đọc tác phẩm, người đọc dễ cảm thấy mọi thứ rời rạc, rối rắm. Cuốn sách này yêu cầu một sự chú tâm nhất định mới có thể theo kịp dòng văn của người viết. Và sự kiên trì sẽ được đền đáp xứng đáng khi dần dà chúng ta nhận ra các mảnh ghép tưởng chừng vô nghĩa kia khớp lại với nhau, cấu thành một bức tranh hoàn chỉnh và sắc nét trong từng chi tiết. Về mặt tiểu thuyết, Pie đệ Nhất có một hệ thống nhân vật khá đồ sộ và hầu hết các nhân vật trọng yếu đều được nhà văn đi sâu miêu tả từ thuở hàn vi, ví dụ như Aleksandr Danilovich Menshikov – bạn và cận thần thân tín nhất, Anna Mons – người tình Đức của Pie, Ekaterina – hoàng hậu thứ hai, sau này trở thành nữ hoàng Ekaterina I, v.v… Chính điều này đã giúp cho độc giả có cái nhìn xuyên suốt tác phẩm, cảm thấy được sự phát triển trong diễn biến truyện và hình tượng nhân vật. Rải rác trong sách cũng có một số mối quan hệ thú vị gây hứng thú cho người xem, ví dụ Aleksandr Menshikov từ một đứa trẻ bỏ nhà ra đi sống lang thang sau lại thành đại thần bậc nhất bên cạnh Sa hoàng hay tình vợ chồng của lãnh chúa Vasili Volkov và nàng Alexandra, con gái một nông nô… Tuy tác phẩm mang tên Pie đệ Nhất và quả thực nhà văn đã bỏ rất nhiều tâm sức xây dựng hình tượng vị Sa hoàng đặc biệt này, nhưng đây không phải là cuốn sách chỉ để nói về một con người riêng lẻ. Cả xã hội Nga hiện lên trên giấy, từ điện Kremlin lộng lẫy cho đến túp lều khốn khổ của một gia đình nông dân bị bóc lột kiệt cùng, từ những người dân Nga hiền lành hèn mọn đến những tên lãnh chúa mất hết nhân tính… Dù là nhân vật nào cũng hiện lên dưới cái nhìn đa chiều sâu sắc. Trên phương diện lịch sử, Aleksey Tolstoy đã thể hiện sự nghiêm cẩn rất cao trong việc nghiên cứu các tư lệu, không chỉ về lịch sử mà còn về các phong tục tập quán thời bấy giờ của Nga và các dân tộc liên quan. Tài năng của ông đã biến những thứ tư liệu khô khan ấy trở nên rất hấp dẫn dưới hình thức tiểu thuyết mà vẫn đảm bảo được tính chính xác của các sự kiện. Quá khứ và trí tưởng tượng của nhà văn đã hòa quyện vào nhau thành một thể độc lập. Nói tóm lại, một tác phẩm đồ sộ như vầy thật khó có thể phân tích trong một bài viết nhỏ, thế nên chỉ có thể kết luận rằng, Pie đệ Nhất thực sự là một tiểu thuyết lịch sử xuất sắc và mẫu mực trong nền văn học thế giới, hoàn toàn xứng đáng với nguồn cảm hứng mà từ đó nó được tạo thành : Pie Đại đế, vị Sa hoàng đã được nhân dân Nga bình chọn là nhân vật lịch sử vĩ đại nhất của nước Nga. *** Aleksey Nicolaievich Tolstoy  (tiếng Nga: Алексей Николаевич Толстой) là một nhà văn nổi tiếng Liên Xô. Thường được gọi vui là Đồng chí Bá tước, ông là một trong những nhân vật tiêu biểu của dòng văn học Liên Xô giai đoạn trước và trong Thế chiến II. Ông sinh ngày 10-1-1883 tại thành phố Nikolaievsk, tỉnh Samara miền hạ lưu sông Volga, trong một gia đình quý tộc nhỏ có truyền thống văn học. Năm 1901, ông lên Petersburg theo học trường kỹ thuật, năm 1907 xuất bản tập thơ đầu tiên, nhưng ít lâu sau chuyển sang viết văn xuôi. Năm 1914-1916, ông làm phóng viên chiến tranh. Từ 1918 ông sống lưu vong ở Pháp. Năm 1923 ông trở về nước Nga, tình nguyện đứng vào hàng ngũ những trí thức tham gia công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ông mất ngày 23-2-1945 tại nhà an dưỡng Barkhivinsky, ngoại ô Moskva, thọ 63 tuổi. *** Xanka nhảy từ ổ nằm trên bếp lò(1) xuống đất, lấy người đẩy cánh cửa ẩm sũng. Sau Xanka đến Laska, Gavrinka và Artamoska cũng tụt nhanh xuống đất, bỗng cả bọn đều thấy khát; chúng nhảy ùa vào lối cửa đi tối om, theo làn hơi và khói từ ngôi nhà gỗ thum thủm mùi chua bay ra mù mịt. Ánh sáng xanh mờ xuyên qua làn tuyết phủ kín khuôn cửa sổ nhỏ lọt vào nhà. Trời rét như cắt. Chậu nước và chiếc gáo gỗ đã bị băng phủ kín. Mấy đứa trẻ chân không nhảy choi choi; đầu Xanka choàng khăn vuông; Gavrinka và Artamoska phong phanh chiếc áo lót cũn cỡn đến ngang rốn. Từ trong ngôi nhà gỗ, bà mẹ tru tréo: – Đóng cứa lại, đồ quỷ sứ! Bà ta đang đứng trước lò. Trong lò, những thanh củi nhỏ bắt lửa, hắt ánh sáng rực lên khuôn mặt nhăn nheo. Dưới chiếc khăn vuông rách, đôi mắt mờ đi vì khóc nhiều, lúc nầy sáng ngời, khủng khiếp y như mắt tượng thánh. Xanka, đột nhiên thấy rờn rợn, chẳng hiểu tại sao, liền ráng hết sức đóng sầm cánh cửa lại, sau đó, cô múc nước thơm uống một hớp, nhấm nhấm một cục nước đá rồi cho các em uống. Cô thì thầm: – Chúng mầy có rét lắm không? Nếu không đi ra sân mà xem, bố đang đóng ngựa đấy… Ngoài sân, ông bố đang đóng ngựa vào xe trượt tuyết. Từ vòm trời nặng trĩu, những bông tuyết nhỏ lặng lẽ rơi; những con quạ khoang đậu trên hàng rào cao; ở đây đỡ giá hơn lối vào ngôi nhà gỗ. ông bố là Ivan Artemist - bà mẹ thường gọi như vậy, còn mọi người thì gọi bác ta là Ivaska và chính bác cũng tự xưng như thế ở nơi công chúng - biệt hiệu là Brovkin, đầu đội chiếc mũ lông cao, nhọn hoắc, ấn sụp xuống tận cặp lông mày cau có. Bộ râu hung hung đỏ chưa được nhát lược nào kể từ ngày lễ Kháng cáo… Đôi bao tay thò ra ở chỗ hở của chiếc áo dài bằng len thô, thắt trễ ngang lưng một sợi dây thừng; đôi giầy bện bằng vỏ gai của bác bực dọc bước lạo xạo trên tuyết trộn lẫn phân: bác không làm sao gỡ nổi bộ yên cương. Bộ yên cương nát quá, chỗ nào cũng chắp nối. Bác bực mình, mắng con ngựa nhỏ đen nhẫy, chân ngắn cũng như chân chủ, bụng to tướng. – Rồi tao sẽ cho mầy giỡn, đồ chết tiệt? Mấy đứa trẻ ra ngay chân thềm nhà tè một bãi và co ro nép vào nhau ở trên thềm nhà đóng băng mặc dầu chúng rét căm căm. Artamoska, đứa nhỏ nhất lắp bắp: – Không sao cả, lát nữa chúng mình lại vào sưởi ở bếp lò! Đóng ngựa xong, Ivan Artemist cho ngựa uống nước chứa trong một cái thùng. Con ngựa uống một hơi dài, đôi sườn lông lá căng lên như muốn bảo chủ: "Ông đã không cho tôi ăn no thì ít ra tôi cũng phải được uống thoả thuê…". Ivan xỏ bao tay vào, rút lấy chiếc roi để trong xe, dưới lớp rơm. Bác quát bọn trẻ: – Muốn sống vào trong nhà ngay lập tức! - Bác nghiêng mình ngồi phịch xuống xe, cho xe đi qua cổng rồi cho ngựa chạy nước kiệu theo dọc hàng tùng cao vút lốm đốm tuyết phủ, về phía dinh cơ của lãnh chúa trẻ Volkov. – Chà, sao mà rét thế nầy, thật buốt thấu xương! - Xanka nói. Mấy đứa trẻ ùa vào ngôi nhà gỗ tối mò và leo lên ổ trên bếp lò, hai hàm răng lập cập. Dưới trần nhà đen kịt, làn khói ấm, hanh hanh, bốc lên cuồn cuộn, rồi thoát qua cửa sổ lùa khoét ở trên phía cửa ra vào: cái bếp lò không có ống khói. Bà mẹ đang nhào bột. Dẫu sao thì gia đình cũng đủ ăn: họ có một ngựa, một bò cái và bốn gà mái. Mọi người vẫn bảo Ivaska Brovkin là một bác nông dân khá giả. Khi những thanh củi trên giá đèn(2) cháy lụi, tàn rơi lả tả xuống chiếc cóng nhỏ đựng nước kêu xèo xèo, Xanka kéo chiếc áo lông cừu đắp lên người mình và cho các em, rồi lại thì thào kể tiếp đủ mọi thứ chuyện khủng khiếp: cô kể cho các em nghe về những cái giống, - lạy Chúa, ai mà dám gọi đến tên thật của chúng - cứ lào xào dưới sàn nhà lúc đêm khuya… – Thì mới đây thôi, tao mà nói dối thì tao mù mắt, tao đã bị một mẻ sợ hết hồn?… Cạnh bậu cửa, có một đống rác và trên đống rác, có một cái chổi bện bằng cành bạch dương. Tao nhìn thì, ôi lạy Chúa tôi! Tao thấy cái thằng lông lá ấy từ dưới cái chổi lù lù hiện ra, râu như râu mèo. – Ối ối, ối! - bọn trẻ hoảng sợ chúi đầu vào trong cái áo lông cừu kêu ầm lên. Chú thích: (1) Bếp lò ở Nga thường xây cao, bằng gạch hoặc bằng đá, để sưởi ấm nhà và để nấu ăn. Mặt bếp lò phẳng. người Nga hay kê ván làm giường nằm lên trên cho ấm. (2) Nông dân Nga thời xưa thắp những thanh củi nhỏ(thường bằng gỗ thông) để thay đèn. Mời các bạn đón đọc Pie Đệ Nhất của tác giả Aleksey Nicolaievich Tolstoy.