Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đông Lai Bác Nghị - Dương Tấn Tươi

Nếu không có tài dàn xếp của bao sự ngẫu nhiên thì đâu có quyển Đông-Lai bác nghị nầy ! Đầu tiên, một vị túc nho của chốn Thần kinh, lúc tản cư vào Sài-thành, ngẫu nhiên đến trú ngụ cạnh phòng khám bịnh của chúng tôi. Đó là việc hệ trọng : vì đối với chúng tôi, bực đại nhân ấy là một người thầy đáng kính, mặc dầu Cụ vẫn có nhã ý tự xem mình là bạn vong niên ; vì đối với quyển sách này, bực lão thành ấy mới thật là người cha tinh thần, mặc dù Cụ ấy vẫn một mực chối từ không nhìn nhận. Vả lại, vì muốn giữ vẹn cốt cách của nhà ẩn dật, Cụ yêu cầu chúng tôi đừng nêu danh Cụ vào trong sách ! Thật đáng phục thay đức tính khiêm tốn của bực nho phong, mà cũng khổ cho chúng tôi vì phải dài dòng nhắc lại tiểu sử của bổn dịch mà chỉ được phép dùng một chữ « Cụ » vỏn vẹn để kể cho tròn câu chuyện ! Thì cũng bởi vai tuồng quan trọng của vị túc nho ấy trong khi phiên dịch cho nên chúng tôi xin độc giả niệm tình tha thứ khi thấy chúng tôi lắm lời nói về thân thế của một người đương cầu xin đời đừng nhắc đến tên. Sanh trưởng trong một thế gia của chốn đế đô, cha làm Thượng thơ bộ Lễ, thì khi vào sân Trình, Cụ chiếm bằng cử nhân, việc ấy, theo chúng tôi, cũng chưa đáng kể. Đáng nể là khi rời cửa Khổng để theo tân học, chỉ trong mấy năm Cụ theo kịp các bạn đồng niên nơi lớp tú tài « Tây » ! Rồi sang Pháp để trau giồi học mới, rồi xông pha nơi bể hoạn, rồi cuối cùng nối được chức của cha, thì với sức học đó, với thông minh đó, âu cũng là một việc có thể đoán trước được. Ngày nay, đã chứng kiến bao cuộc bể dâu, Cụ chỉ còn giữ lại một ham muốn là tận hưởng chữ « nhàn » trong thời hưu trí. Muốn được thế, Cụ ẩn mình trong đám rừng người để thưởng thức một câu thơ đẹp với chén trà ngon hoặc cùng vài ba tri kỷ luận bàn về văn học. Cụ nhứt quyết chủ trương : « Lịch sử và địa dư đặt nước nhà vào giữa hai nguồn văn hóa, muốn trở nên một công dân đất Việt, chúng ta phải thâu thập cả đôi. Âu Tây giúp ta kỹ thuật, Á Đông cho ta nghệ thuật làm người ». Để chứng minh lời nói, Cụ nhắc lại một gay cấn vừa xảy ra trong trường quốc tế, rồi chỉ rõ giải pháp của người xưa khi gặp cảnh ngộ tương tợ để bắt buộc kẻ đối thoại phải nhìn nhận : « Thiếu Hán học là một sự thiệt thòi rất lớn ». Sẵn có quan niệm ấy nên Cụ nhận lời ngay khi chúng tôi ngỏ ý cầu học. Lối dạy của Cụ thật là đặc biệt. thường ngày Cụ dùng tiếng Việt để giảng bài, nhưng khi gặp áng văn quá bóng-bảy hay huyền-diệu thì Cụ dùng cả tiếng Pháp để diễn-tả tư-tưởng, mượn triết-học Đức để so-sánh, đem học-thuyết Hy-Lạp để chứng minh, cốt-yếu là giúp học trò hiểu cho thấu đáo, tận-tường. Khi gặp tư-tưởng thanh-cao hoặc áng văn bất-hủ, chúng tôi lật đật ghi rồi chép lại trong giờ nhàn rỗi để trình lên cho Cụ xem-xét. Cụ dò từng câu, đối-chiếu từng chữ để phê-bình. Nhờ Cụ tiến dẫn, chúng tôi mới « nuốt hận » chép thơ của Tư-mã Thiên, sụt sùi thảo tờ biểu xuất-sư của Gia-Cát, băn khoăn đứng trên lầu Nhạc-Dương với Trọng-Yêm, ngạo nghễ biên thơ từ-chức cùng Tạ-Phùng-Đắc. * Ngẫu-nhiên khéo sắp cho chúng tôi gặp được một bực thầy đáng kính, thì cũng nhờ ngẫu-nhiên chúng tôi lại gặp quyển sách đáng yêu. Kẻ vừa nhập đạo thường không tiếc lời ca-tụng tôn-giáo mới của mình. Chúng tôi nào có tránh được thường tình đó trong khi hầu chuyện với ông Trương-Quan, một nhân vật mà giới mại bản Huê-kiều và làng « thanh sắc » bổn xứ vẫn còn nhớ tiếng. Nghe chúng tôi ca tụng nhân tánh của nền văn-hóa Trung-Hoa, Trương-quân đột-ngột hỏi : « Như thế chắc bác-sĩ đã đọc quyển Đông-Lai bác nghị rồi ? » Chúng tôi phải thẹn thùng nhìn nhận : « Chẳng những chưa được đọc mà như phần đông người Việt-Nam, chúng tôi chưa từng nghe đến tên ! » Vì bác-sĩ khen ngợi văn học cổ Trung-Hoa, trí tôi vùng nhớ lại câu chuyện hai mươi năm về trước khi còn thơ ngây cặp sách vào trường để ăn mày chữ. Trong những giờ các bạn được nghỉ ngơi hoặc nô đùa chạy giỡn thì chúng tôi bị ông bác ngồi kèm bên cạnh ép buộc đọc một vài trang Đông-Lai bác nghị. Đó là lời phê-bình về hành vi và hạnh kiểm của các nhân vật đời Đông-Chu. Câu văn huyền diệu, lập luận chặt chẽ, tâm lý sâu sắc là ba đặc điểm của tác phẩm bất hủ đó. Nhưng đối với bộ óc non nớt của đứa trẻ lên mười thì làm sao thưởng thức nổi vẻ đẹp của câu văn hay và sự điêu-luyện của bài luận khéo ? Vậy mà, ông bác vẫn bắt buộc chúng tôi « ê » « a » đọc cho xong vì : « nơi trường, thầy dạy cháu làm văn ; nơi đây, bác dạy cháu làm người ». Lời của bác thật là chí lý ! Thời-đại Đông-Chu là khoảng đen tối nhứt của lịch-sử Trung-Hoa, vì lúc ấy, xã hội đương vươn mình thay đổi lốt, nên gây ra bao sự xáo trộn lớn lao. Bực thánh phải chung đụng với sát nhân, hiền triết phải ăn ở cùng gian tà, rồi tranh đấu chống chọi nhau nẩy sanh ra trăm ngàn việc, hay dở đều có. Tất cả hai mặt – tốt và xấu, thanh với tục – của con người đều phô bày. Nếu gặp một nhà phê-bình có cặp mắt tinh đời, có bộ óc sáng suốt, lại thông tâm lý, hiểu chánh trị, khảo sát thời kỳ ấy thì chắc chắn sẽ để lại cho đời một tác phẩm vô cùng hữu ích. Lữ Đông-Lai có đủ điều kiện ấy cho nên quyển Bác-nghị là một chiếc thuyền đã cắm sào ở ngoài dòng thời gian… Khi đọc quyển Đông-Lai, chúng ta có cảm giác đương nghe một tay thợ chuyên môn giải thích về các bộ phận trọng yếu của guồng « máy lòng » rồi chỉ cho chúng ta thấy các nguyên do thường làm cho động cơ ấy chạy. Cũng bởi « động cơ » và nguyên do ấy không thay đổi cho nên lời của Đông-Lai luận về một thời vẫn có thể giúp ích cho người trong muôn thuở. Vì lẽ đó, lúc trẻ, chúng tôi oán trách ông bác bao nhiêu, thì ngày nay, đã tránh được nhiều kinh nghiệm chua cay, chúng tôi lại cám ơn ông bác bấy nhiêu ! Đáp lời yêu cầu, ông Trương-Quan phải nhờ người về tận Thượng-hải mua giùm cho chúng tôi một bổn. Của báu cầm tay, chúng tôi đến nhờ Cụ dẫn giải giùm điều thắc mắc : « Tại sao một tác phẩm giá trị dường kia, mà từ xưa, trong xứ ta chưa từng nói đến ? » Cụ giảng : « Những sách Trung-Hoa được phiên dịch và truyền bá ở Việt-Nam phần nhiều vì ba cớ : Một là bởi có nhiều người bị bắt buộc phải đọc đến, cho nên bàn tới cũng nhiều, dịch ra không ít, đó là những sách có tên trong chương trình thi cử. Hai là các thứ sách quyến rủ người vì cốt chuyện, ấy là lịch sử tiểu thuyết tức là truyện. Còn về loại thứ ba là vận văn, vì đọc lên nghe êm tai, lại dễ nhớ, nên có nhiều người ưa thích. « Đông-Lai bác nghị không đứng vào ba hạng đó. Vì là văn phê bình nên đòi hỏi ở độc giả một trí phán đoán mà người đời ít hay dùng đến. Và là văn nghị luận nên khô khan mà bắt buộc người đọc phải suy xét mới thưởng thức. Không có vần, thiếu cốt chuyện hấp dẫn, lại không được ghi vào chương trình thi cử, như vậy ít người biết đến thì cũng là một chuyện không lạ. Nói thế không phải bảo sách ấy không có độc giả ! Ngoài số thí sinh hiếu kỳ nên tìm Đông-Lai đọc trước khi vào đình thí, phần đông, các người mê thích sách đó toàn là những kẻ đã đỗ đạt, ra làm quan, ưa dùng quyển Bác-nghị để kiểm điểm hành động trong lúc chăn dân hay khi xử thế. Rồi đến lúc chiều tà bóng xế, khi đã mỏi mệt thì trí muốn yên nghỉ hơn là dịch sách ? Vả lại đối với các bực tiền bối ấy, dịch hay viết sách là một sự ngoài tưởng tượng. Đối với họ, học là hành nghĩa là đem ra áp dụng, để làm tròn bổn phận của mình, chớ không dám học để truyền cho ai cả. » * Rồi theo lệ thường, Cụ giải thích, chúng tôi ghi chép. Cả thảy được tám mươi bốn bài. Mỗi bài là một sự ngạc nhiên. Trong văn chương Trung-Hoa, chúng ta thường bực mình vì gặp lời nhiều hơn ý. Với Lữ Đông-Lai, câu văn đẹp đẽ vẫn đi kèm với tư tưởng cao thâm. Lắm bài không đầy gang tấc mà chất chứa ý dài muôn vạn dặm. Càng suy xét, càng thấy sâu rộng. Về mặt tâm lý thực nghiệm và chánh trị thực hành, chưa chắc có quyển sách nào trong văn chương Âu-Mỹ sánh kịp Đông-Lai bác nghị. Ấy là chưa bàn đến lý luận, phần cốt yếu của sách. Mở đầu cho mỗi bài, tác giả nêu ra một tư tưởng căn-bản, nhiều khi không dính-líu với cốt chuyện đem ra phê-bình. Độc-giả còn tưởng nhà văn lạc đề, thì chỉ vài câu, đã móc dính đầu-đề với ý-niệm căn-bản. Rồi dùng câu chuyện đem phê-bình để chú-thích tư-tưởng chánh ghi trên đầu bài. Trước với sau, đầu với đuôi đều ăn khớp, các bộ-phận liên-lạc cùng nhau một cách tế-nhị làm cho độc-giả tưởng là đương nghe nhà toán-học khéo chứng-minh một định-lý của hình-học. * Rồi một hôm, mấy người bạn tình-cờ đến viếng giữa giờ giảng dạy của cụ, đó là ngẫu nhiên thứ ba. Cũng như chúng tôi, các bạn đều bị câu văn trong-sáng và lập-luận huyền-diệu của Đông Lai hấp-dẫn nên mới khuyên chúng tôi cho xuất-bản. Từ-chối là sự dĩ-nhiên, vì bổn-tâm của chúng tôi là chỉ học cho mình… Lý-luận của các bạn thật cũng chặt-chẽ : « Hiện nay, quốc-văn đương nghèo… học-sanh thiếu món ăn tinh-thần, v.v…. Trong lúc các tiểu-thuyết khiêu-dâm chường mặt trên báo và trong hàng sách thì ôm giữ cho mình một tác-phẩm có giá-trị là một việc… ích kỷ, một tội to đối với nền học-vấn ». Không phương chối-cãi, đành phải nghe theo. Từ đây mới gặp bao nỗi khó … * Trước hết, nếu cho in vỏn-vẹn tám mươi bài nghị-luận của Đông-Lai mà chẳng có những đoạn Xuân-Thu, Tả-Truyện thì làm sao độc-giả lãnh-hội được ? Vả lại, lắm khi, vì bắt-bẻ một câu hoặc một chữ của Tả-Truyện mà Đông-Lai viết thành bài « bác-nghị ». Vậy dịch Xuân-Thu và Tả-Truyện song-song theo « bác-nghị » là một sự tối-cần. Cũng là một điều quá khó. Các bạn chắc đều biết Xuân-Thu là một trong năm quyển kinh của Đức Khổng-tử. Đó là bộ sử nước Lỗ do Ngài sửa-định, chép từ đời Lỗ Ẩn-công cho đến Lỗ Ai-công gồm có 240 năm (từ 721 tới 481 trước tây lịch). Với quan-niệm hiện-tại về sử học khi chúng ta trịnh-trọng lật quyển Xuân-Thu thì sẽ vô-cùng ngạc-nhiên hay thất-vọng. Vì đó chỉ là một mớ sử liệu chép rời-rạc, dường như gặp chuyện thì ghi, không màng đến sự liên-lạc hay tương-quan. Lại có nhiều việc quan-trọng mà không chép. Khi chép thì quá vắn-tắt gần như đơn-sơ. Thí-dụ : bà Khương-thị vì thương con không đồng nên gây ra cuộc xung-đột giữa Trịnh Trang-công và em là Cung Thúc-Đoạn thì nào là quỷ-kế của anh, nào là tham-vọng của em, nào là lời bàn của bá-quan rồi đến trận đánh, với cuộc vây thành phá lũy, cho đến khi cùng đường Thúc-Đoạn chạy vào xứ Yển. Trịnh Trang-công giam mẹ, thật là bao nhiêu gây cấn mà trong Xuân-Thu chỉ có một câu : « Mùa hạ, tháng năm, Trịnh-bá thắng Đoạn tại Yển ». Có lúc còn vắn tắt hơn, như « Tề cứu Hình » hoặc « Địch đánh Vệ ». Vậy thì chân giá trị của bộ Xuân-Thu ở đâu mà vẫn được xem là quyển kinh để « định công luận, đoán án cho muôn đời » ? Tại sao chính Đức Phu-Tử cũng yêu cầu người đời « biết cho ta » hay « buộc tội cho ta » thì nên do bộ Xuân-Thu ? Như vậy, bực thánh và dư luận cổ kim đã lầm chăng ? Hoặc giả, vì quan niệm về sử học của xưa với nay quá khác nhau mới có điều chinh lịch đó ? Nếu thật thế thì tại sao một học giả của thời đại nầy, cụ Nguyễn-Văn-Tố, một người mà chưa ai dám ngờ vực về sức học uyên thâm, cũng chưa ai dám nghi đến sự thận trọng của ngòi bút, đã viết : « Muốn thưởng thức cái hay của bộ Xuân-Thu, phải nhận thấy hương nồng của triết lý, thơm ngát của luân lý, mùi vị của chánh trị ở trong kinh đó. » Làm sao những câu văn vắn-tắt sơ sài kia lại chứa được bao nhiêu mùi, hương và vị ? Chỉ vì Đức Phu-Tử khéo dùng một phương pháp kín đáo : quên TÊN và VIỆC. Sự quên hữu ý, sự cố tâm quên có nghĩa là chê bai, là khiển trách. Như trong thí dụ trên, không chép tên Trịnh Trang-công chỉ gọi Trịnh-bá là chê lỗi chẳng biết dạy em. Như Thúc-Tôn Kiểu-Như, đại phu nước Lỗ chuyên chế mạng lịnh qua rước vợ ở nước Tề thì Xuân-Thu chép : « Vợ Kiểu-Như tên Phụ-Hỉ ở Tề về. » Như vua của nước Châu, tên Thiệt, chức là công, thường gọi là Châu-công, vì sợ loạn nên bỏ xứ trốn qua Tào, sau cùng qua triều Lỗ, Xuân-Thu chỉ chép : « Thiệt đến ». Còn vua nước Kỷ, tước là bá, khi qua triều Lỗ lại dùng lễ của man di, Xuân-Thu chỉ biên : « Kỷ đến triều ». Chẳng những thiếu là chê, có khi thừa cũng là khiển trách, như thêm tên tộc của các vị vua có lỗi. Muốn chỉ trích vua Vệ dùng kế tiểu nhơn để chiếm nước Hình thì Xuân-Thu ghi : « Mùa xuân, tháng giêng, ngày bính ngọ, Vệ-hầu tên Hủy diệt Hình. » Khi muốn tỏ sự hư hèn của Tống Chiêu công thì chép : « Mùa đông, tháng mười một, người Tống giết vua tên là Chử-cữu. » Nhưng phần nhiều khi Xuân-Thu thêm tức là khen, nếu ghi cả chức tước. Muốn nêu tấm lòng trung của hai bề tôi nước Tống – công tử Ấn và Đãng Ý-Chư – Xuân-Thu chép : « Người Tống giết quan đại tư mã. Quan đại tư thành trốn qua Lỗ ». Như câu : « Mùa thu, tháng tám, ngày giáp ngọ, tên Vạn của Tống giết vua tên Tiệp và quan đại-phu Cừu Mục » là dụng-ý phạt Nam-Cung Trường-Vạn, một kẻ thí chúa, lại chê vua Tống vì tánh ham đùa-bỡn với bề tôi, phải mua lấy cái chết thảm-khốc, còn khen quan đại-phu tuy yếu-đuối mà dám cầm hốt đánh một tên võ phu, coi thường cái chết. Chỉ thêm bớt vài chữ, Đức Phu-tử đã tỏ sự khen chê, ban điều thưởng phạt. Mà khen với chê, thưởng và phạt, khi đã trưng nhiều lượt, sẽ tỏ bày một luân-lý và một đường chánh-trị. Cả hai là sản-phẩm của quan niệm về cuộc đời, về vũ-trụ tức là triết-lý. Phương-pháp kín đáo ấy chẳng những bày tỏ được mấy nguồn văn hoá mà còn gây một ảnh-hưởng, một hiệu lực phi thường : được một tiếng khen của Xuân-Thu là hưởng giọt mưa Xuân đầm-ấm, bị một câu trách là chịu ngọn nắng Thu gay gắt. Thật là kết quả mỹ-mãn, nhờ bởi tay thợ thánh khéo dùng một khí cụ thô sơ. Và cũng vì thế, sự phiên dịch Xuân-Thu chất chứa bao nhiêu nỗi khó : phải cân nhắc từng chữ, phải theo đúng nghĩa mà còn lo-sợ thừa lời. * Thiếu một chữ là chê bai, không chép một việc là trách phạt, thật là cực kỳ tinh khéo ! Nhưng chỉ khéo đối với những độc-giả thông lịch-sử Trung-Hoa thời Đông-Chu ; còn với những người khác, không thấy chép, tưởng không có chuyện, thì sự thưởng phạt sẽ vô hiệu quả. Vì vậy bộ Xuân-Thu cần có chú-giải. Chính là Tả-Truyện, một quyển sử đi song song với kinh Xuân-Thu do ngọn bút cứng rắn của Tả Khâu-Minh chép. Nơi đây, cần mở một dấu ngoặc để bàn về tên của nhà sử trứ-danh ấy. (Có nhiều học-giả – trong số ấy có thầy của chúng tôi – đọc là : Tả kỳ Minh. Vậy nên theo phần đông đọc Khâu hoặc Khưu hay theo các cụ mà đọc là Kỳ ? Sự chinh lịch nầy do tục cữ tên mà sanh ra. Số là khi có tên Khâu hay Ni (tức Khổng-Khâu, Trọng-Ni, tên của Đức Phu-Tử), hoặc Kha (tức Mạnh-Kha tên của thầy Mạnh) thì sách nho đều ghi ba chữ « nên đọc Mỗ » thành ra Khổng-Mỗ, Trọng-Mỗ và Mạnh-Mỗ. Lâu ngày – theo lời của ông Nhượng-Tống – bản in mòn đi, chữ Mỗ mất hết một nét sổ nên thành chữ Kỳ. Bọn hậu-sanh chúng tôi không phải thiếu lòng thành kính thánh hiền, nhưng thấy cần đọc cho đúng, mà chắc các đấng Phu tử, Mạnh tử, và các cụ cũng đã tha thứ khi chúng tôi đọc đến Ni và Kha. Vì vậy, từ đây nên đọc là Tả Khâu-Minh và đóng lại dấu ngoặc.) Có phải vì đứng gần cụ Khổng, một cây cổ-thọ của văn hóa Trung Hoa nên bị tàn che bóng lấp mà thân thế của Tả Khâu-Minh bị vùi mất trong biển thời gian chăng ? Chỉ còn nhớ là vị quan coi về sử của nước Lỗ noi theo ý chí của Phu tử chép lại những chuyện của kinh Xuân-Thu. Vi Khổng-tử cân nhắc ngòi bút để thưởng phạt như một vì thiên tử, nên được gọi là « Tố vương » – nhà vua không ngôi – và vì đó Tả Khâu-Minh được gọi là « Tố thần ». Nhiệm vụ của tử gia ấy là theo mỗi câu Xuân-Thu để kể chuyện. Và tất nhiên nhắc lại những đoạn không có chép trong kinh, để tỏ sự biếm nhẽ của Phu tử. Theo lối viết sử ngày xưa, mỗi bài đều có luân lý, ở đây là « lời bàn của người quân tử ». Chúng ta chớ lầm tưởng vì là quyển truyện cho nên kể lể dông dài như… bài tựa nầy. Trái lại, vừa đẽo gọt vừa cân nhắc nên câu văn trở nên gọn gàng và cứng rắn. Như tả Lỗ Trang-công đi cùng Tào Uế đánh Tề ở Trường câu : « Ngồi chung xe đến Trường-câu. Trang-công sắp ra lịnh đánh trống thúc quân. Tào Uế ngăn : « Chưa nên ! » Chờ quân Tề xong ba hồi trống. Tào Uế bảo : « Đến lúc ! » Thua to, quân Tề chạy. Trang công sắp ra lịnh đuổi theo, Tào Uế ngăn : « Chưa nên ! » Xuống, xem dấu xe của Tề, trở lên đứng trông lại. Bảo : « Đến lúc ! « mới có lịnh đuổi theo. Toàn thắng. » Như khi Khuất Hà đánh trận Bồ-tao, vì hoài nghi, hỏi Đấu Liêm : « – Sao không bói thử ? - Bói là để quyết điều nghi. Không nghi cần gì bói ! Rồi đem quân đánh thắng Viên, chiếm Bồ tao, minh hội xong, kéo về. » Câu văn có khi trở nên trục trặc, gút mắt vì bị bóp chặt hay thâu quá ngắn « Cho đánh trống. Tiến quân. Toàn thắng. Tiêu diệt hạ Nhược Ngao ». Trong nhiều đoạn, Tả-Truyện chỉ ghi lại vài cử chỉ mà cũng vẽ được một tâm lý phức tạp của nhân vật. Muốn tả lòng căm tức và chí gấp báo thù của vua Sở khi được tin Thân Vô-Uý bị Tống giết, Tả-Truyện chép : « Vua Sở hay, giũ áo đứng lên, đi chơn vào thất. Vào đến cung, giày đem tới. Ra cửa cung, gươm dưng tới. Đến chợ Bồ tiêu, xa giá đẩy tới. Mùa thu, tháng chín, Sở vây kinh thành Tống. » Dùng câu văn tuy vắn mà sâu để thuật lại những mẩu chuyện tuy đơn sơ mà đầy ý nghĩa có thể làm gương đáng theo hay nên tránh cho muôn đời, Tả-Truyện thành một áng văn tuyệt tác, chẳng những được văn nhân sùng bái mà còn được võ tướng kỉnh mộ. Chính những tay cung kiếm lại mắc phải « bịnh Tả-Truyện », là vì đi đến đâu, trong hổ trướng hay khi điều khiển ở trận tiền đều giữ cận bên mình quyển sử của Khâu-Minh. Nhìn nhận giá trị của văn Tả-Truyện là nhìn nhận sự khó dịch của bộ sử đó. Vì diễn tả một tư tưởng của người bằng tiếng của mình, việc đó còn có thể làm được. Còn chuyển dịch một câu văn hay từ tiếng nầy qua tiếng nọ thật là một chuyện quá khó. * Lẽ tất nhiên, muốn dịch hai quyển Xuân-Thu và Tả-Truyện, chúng tôi hoàn toàn nhờ nơi Cụ. Từng chữ, từng lời. Cụ kiên tâm giải thích rồi chịu khó kiểm duyệt. Khi nghe các bạn khuyên tôi xuất bản, thản nhiên, Cụ dạy : « Tùy nơi anh ! Nếu thấy có thể giúp ích được thì cứ tự tiện. Còn tôi chỉ là người của thế hệ trước. Đã qua rồi. Theo thế hệ đó, muốn đọc sách thánh hiền cần phải thông Hán học mới trọn hiểu tinh thần. Anh chớ quên : theo chúng tôi, Hán-văn là sự cần thiết, không thể không ; còn phiên dịch là sự bất đắc dĩ… Anh cũng nên nhớ giùm tánh tôi ưa thanh tịnh, ít ham đời nói đến tên… » Lời nhắc nhở ấy – đối với chúng tôi – là một mạng lịnh. Vì sự yêu cầu đó mới có lời phân trần lè nhè nầy. Chớ đâu phải vì chúng tôi. Nào có muốn phô trương thằng tôi khả ố nầy làm gì cho rườm tai độc giả ! Vì công lớn của cụ trong sự phiên dịch ; Vì sự giúp đỡ của các bạn : trước là ông Trương Quan cho sách, sau là các bạn Đỗ-Thiếu-Lăng giúp tài liệu, bạn Nguyễn-Duy-Cần cho xem vài bài Đông-Lai đã dịch từ lâu. Nhứt là anh Lê-Thọ-Xuân, cặn kẽ lúc chỉ bảo, tận tình khi sửa chữa, tỉ mỉ trong ấn loát. Một người « Anh » với nghĩa tốt đẹp của danh từ ; Vì sự lương thiện của trí óc trong khi trước tác ; Vì sự thành thật đối với mình, với đời, với nền văn học ; Chúng tôi trân trọng xin đọc giả nhận rõ điều nầy : Khi gặp những câu dịch gọn gàng, ăn khớp với nguyên văn, bạn nên nhớ đó là công, đó là tài của Cụ, thầy chúng tôi ; Khi thấy câu văn bất thành cú, khi gặp những lỗi lầm, chỗ dịch sai, bạn nên chắc chắn là vì sự dốt nát của DƯƠNG-TẤN-TƯƠI Mời các bạn đón đọc Đông Lai Bác Nghị của bác sĩ Dương Tấn Tươi.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

20 Hành Trang Cho Chuyến Xe Tuổi 20s
T ôi đã đi dạo qua các hiệu sách trên phố Đinh Lễ đủ nhiều để biết rằng đa số các cuốn sách với nhan đề kiểu như “7 bí quyết để thành công” chỉ toàn những lời khuyên sáo rỗng và những mẩu chuyện đã được tác giả chọn lọc và “xào nấu” để phục vụ cho việc chứng minh rằng họ đúng. Thay vì tiêu tiền vào những cuốn sách đó, tôi vẫn luôn cho rằng tự thưởng cho mình một bát phở gà đùi và một ly nâu đá là sự đầu tư vào bản thân khôn ngoan hơn nhiều. Cuốn sách 20 hành trang cho chuyến xe tuổi 20s của tác giả Nguyễn Mai Đức chắc chắn không giống những cuốn sách kia. Với lối viết chân phương nhưng nhẹ nhàng và gần gũi, tác giả bình tĩnh dẫn dắt bạn đọc qua hai mươi chương “tuyệt đỉnh bí kíp” được gói gọn trong đúng bốn chữ: “học”, “làm”, “sống” và “đi”. Tuổi trẻ là lúc ta sung sức nhất, đầu óc còn nhạy bén nhất và vì vậy đó là lúc chúng ta phải tích cực học và tích luỹ kinh nghiệm cho sự phát triển của bản thân sau này. Thế nhưng khi sự cạnh tranh trong cuộc sống đang trở nên gắt gao hơn bao giờ hết trong khi mỗi người chỉ có 24 giờ đồng hồ mỗi ngày thì việc học cái gì và học như thế nào để phát triển bản thân ở mức tối đa là đặc biệt quan trọng. Đúng như tác giả đã chỉ ra trong những chương sách này, muốn “bay cao, bay xa” trong thời buổi ngày nay trước tiên các bạn trẻ chúng ta cần phải luyện thói quen tự học, đọc sách, trau dồi kĩ năng ngoại ngữ cũng như phát triển kỹ năng mềm. Mặc dù vậy, phát triển bản thân chưa bao giờ chỉ dừng lại ở việc học. Làm việc và cọ xát với thực tế luôn là một phần không thể thiếu được trong quá trình trưởng thành của mỗi người trẻ. Vì lẽ đó Đức đã dành năm chương sách tiếp theo để phân tích một cách tương đối tỉ mỉ về khía cạnh công việc, từ làm việc nhóm cho đến phát triển những dự án của bản thân. Tôi đặc biệt thích thú với chia sẻ của tác giả về việc làm sao để Biến sở thích thành công việc bởi từ lâu tôi đã tin rằng những người thành công nhất là những người chuyển hóa được những niềm đam mê và sở thích cá nhân thành sự nghiệp của mình. Hơn hết, tôi ấn tượng với chương sách này bởi tác giả đã đưa ra được câu trả lời thỏa đáng cho một câu hỏi mà nhiều bạn trẻ đã từng hỏi tôi trước đây: Làm sao để tìm được niềm đam mê đích thực của bản thân? May thay cuốn sách không chỉ dừng lại ở hai vấn đề học và làm bởi cuộc sống không chỉ xoay quanh riêng mình ta. Sống và cháy hết mình như những người trẻ thực thụ là phải nếm trái ngọt (và cả trái đắng) của tình yêu, xây dựng và bồi đắp các mối quan hệ xung quanh và trên hết, nỗ lực cống hiến cho cộng đồng và xã hội. Đi theo con đường mà tác giả đã vạch ra, tôi tin chắc rằng các bạn trẻ sẽ sống trọn tuổi thanh xuân của mình mà không phải hối tiếc. Cuối cùng, vì cuộc đời là những chuyến đi và những năm tháng tuổi 20s là lúc ta ít vướng bận nhất, tâm hồn còn cởi mở nhất, cuốn sách sẽ không thể nào trọn vẹn được nếu như tác giả không đề cập đến vấn đề chu du bốn phương. Tuy nhiên xách ba lô lên và đi không đơn giản là khám phá những nền ẩm thực mới lạ hay kết bạn với những người bạn ở khắp năm châu. Đúng như tác giả đã nhận định, những miền đất mới ẩn chứa vô cùng nhiều cám dỗ và đôi khi là cả sự nguy hiểm nhưng đây chính là cơ hội để chúng ta khám phá bản thân, học hỏi và trưởng thành hơn. Và nếu các bạn thấy còn e ngại trước khi bước vào cuộc hành trình của chính mình, hãy mang theo mình cuốn cẩm nang này, nó sẽ là chiếc bùa hộ mệnh khi bạn cần đến nó nhất. Đương nhiên đây không phải là một cuốn sách hoàn hảo và tôi không hoàn toàn đồng ý với tác giả về mọi điểm trong cuốn sách. Mặc dù vậy, tôi tin rằng Đức viết cuốn sách này bằng cả trái tim, sự nhiệt thành của mình và tất cả trải nghiệm của mình (có bao nhiêu cuốn sách self-help ngoài kia trích dẫn tường tận, tỉ mỉ các đường link dẫn tới các trang web hữu ích cho các bạn?), với một mong muốn duy nhất là soi đường chỉ lối cho những bạn trẻ đang và sẽ bước trên con đường của tuổi 20 đầy chông gai nhưng cũng đầy mơ mộng và lý tưởng này. NGÔ DI LÂN ***   T ôi đặt bút viết cuốn sách này sau khi hoàn thành bốn cuốn sách về IELTS. Sự ủng hộ và yêu quý của độc giả cả nước là động lực rất lớn giúp tôi tiếp tục vững bước trên con đường mà tôi đã chọn – trở thành một tác giả sách. Trong những năm trở lại đây, tôi đã có cơ hội đặt chân đến nhiều quốc gia, khám phá các nền văn hóa mới, gặp gỡ những người có tầm ảnh hưởng trong xã hội cũng như các bạn trẻ với lòng nhiệt huyết căng tràn. Mỗi trải nghiệm đều là một bài học, một kỉ niệm đáng nhớ với tôi. Từ những trải nghiệm trên, ở cuốn sách thứ năm này, tôi muốn thử sức mình với một chủ đề hoàn toàn mới: Cuộc sống tuổi trẻ. Bằng việc đọc “20 hành trang cho chuyến xe tuổi 20s”, các bạn sẽ hiểu thêm về những trải nghiệm mà tôi đã đi qua, đồng thời nhận được những lời khuyên thực tế về việc làm thế nào để sống một quãng đời tuổi trẻ trọn vẹn. Cuốn sách được chia làm bốn phần chính, bao gồm: Học để phát triển bản thân, Làm việc hết mình, Sống như một công dân thời hiện đại và Đi thật nhiều để trải nghiệm. Trong tác phẩm này, tôi rất vinh dự khi được tiếp tục hợp tác với Công ty Cổ phần Sách Alpha. Tôi và Alpha Books cùng hy vọng cuốn sách sẽ là cẩm nang hữu ích cho những bạn trẻ đang gặp khó khăn trong việc học tập, định hướng tương lai hay phát triển bản thân. Vì được xuất bản lần đầu, cuốn sách không thể tránh khỏi những sai sót. Rất mong nhận được góp ý của quý độc giả để cuốn sách có thể hoàn thiện hơn ở những lần tái bản sau. NGUYỄN MAI ĐỨC Mời các bạn đón đọc 20 Hành Trang Cho Chuyến Xe Tuổi 20s của tác giả Nguyễn Mai Đức.
10 Bước Để Có Cuộc Sống Trọn Vẹn
M ột số người có cuộc sống trọn vẹn và đầy hương vị. Họ có sức hấp dẫn mạnh, hớn hở, rạng ngời, vui vẻ và rất thu hút. Với họ, những cánh cửa luôn rộng mở và mọi người chào đón họ. Sự hiện diện của họ tạo sự dễ chịu và mang lại niềm vui. Họ biết cách thuyết phục mà không cần phải nói nhiều. Trong cộng đồng và xã hội, người ta yêu thích họ; còn trong công việc và sự nghiệp, họ thăng tiến nhanh chóng. Thật khó từ chối sự quyến rũ của một phong thái lịch thiệp, cũng như khó mà hờ hững với người có tính cách đó. Ở họ có đặc điểm nào đó lôi cuốn bạn về phía họ. Và cho dù đang bận rộn, lo lắng hoặc không thích bị gián đoạn, nhưng không hiểu tại sao bạn lại muốn tiếp xúc người đó. Nam giới và phụ nữ là những nam châm bằng xương bằng thịt. Ngay khi đưa nam châm thép đi qua đống đồ vật, nó sẽ kéo ra ngoài những thứ bị nó thu hút. Tương tự như vậy, chúng ta luôn kéo về mình và thiết lập mối quan hệ với những người có phản ứng tương tự các suy nghĩ và ý tưởng của chúng ta. Môi trường, hoàn cảnh chung và các cộng sự của chúng ta là kết quả của quá trình thu hút về mặt tinh thần. Những thứ này đến thật tự nhiên bởi ta chú ý tới chúng và có quan hệ về mặt tinh thần. Chúng là sự hấp dẫn vẫn lưu lại với ta miễn là ta còn yêu mến chúng. Cuộc sống của chúng ta có trọn vẹn hay không sẽ phụ thuộc nhiều vào ấn tượng của chúng ta đối với người khác. Do đó, điều quan trọng là cần tạo ra tính cách mạnh mẽ và đầy sức hút. Bạn thích trở thành người có sức hấp dẫn mạnh mẽ phải không? Bạn hoàn toàn có thể. Những tính cách đó không nhất thiết phải là bẩm sinh. Bất cứ ai thật sự mong muốn có được tính cách nồng nhiệt, thoải mái, vui vẻ đều có thể làm được, nếu họ thành thạo những phương pháp, cách thức thực hiện. Đó không phải là vấn đề quá khó thực hiện. Mỗi người có thể bồi dưỡng sự hấp dẫn và sức mạnh của tính cách nhằm có sức hút mãnh liệt trong thế giới này. Cho tới nay, Dale Carnegie và các hậu bối đã hướng dẫn chúng ta cách thức thông qua các khóa huấn luyện và những cuốn sách. Trong sách này, chúng tôi đã tổng hợp các nguyên tắc đó thành 10 bước nhằm giúp độc giả có được cuộc sống trọn vẹn hơn: Bước 1: Phát triển khả năng tự nhận thức. Bước 2: Đề ra và thực hiện các mục tiêu. Bước 3: Cư xử khéo léo với người khác. Bước 4: Trở thành người có tài nói chuyện. Bước 5: Diễn thuyết với sự tự tin và thuyết phục. Bước 6: Tạo lập và duy trì mối quan hệ tốt. Bước 7: Vượt qua nỗi lo lắng và sợ hãi. Bước 8: Trở thành nhà lãnh đạo đích thực. Bước 9: Giúp người khác thành công. Bước 10: Có cuộc sống hài hòa. Để có thể tiếp thu tốt nội dung, lần đầu tiên hãy đọc trọn vẹn cuốn sách để hấp thu toàn bộ các khái niệm. Sau đó, hãy đọc lại từng chương và bắt đầu áp dụng các hướng dẫn nhằm đạt được từng vấn đề. Nó sẽ giúp bạn đi đúng hướng để mang lại thành công, hạnh phúc và sự phong phú, giống như hàng triệu người đã nghiên cứu và áp dụng những lời giáo huấn của Dale Carnegie. *** Tủ Sách Thành Công Của Dale Carnegie gồm có: 10 Bước Để Có Cuộc Sống Trọn Vẹn Thay Đổi Để Thành Công Chiến Thắng Nỗi Lo Và Sự Căng Thẳng ... *** Dale Breckenridge Carnegie (24 tháng 11 năm 1888 – 1 tháng 11 năm 1955) là một nhà văn và nhà thuyết trình Mỹ và là người phát triển các lớp tự giáo dục, nghệ thuật bán hàng, huấn luyện đoàn thể, nói trước công chúng và các kỹ năng giao tiếp giữa mọi người. Ra đời trong cảnh nghèo đói tại một trang trại ở Missouri, ông là tác giả cuốn Đắc Nhân Tâm, được xuất bản lần đầu năm 1936, một cuốn sách thuộc hàng bán chạy nhất và được biết đến nhiều nhất cho đến tận ngày nay. Ông cũng viết một cuốn tiểu sử Abraham Lincoln, với tựa đề Lincoln con người chưa biết, và nhiều cuốn sách khác. Carnegie là một trong những người đầu tiên đề xuất cái ngày nay được gọi là đảm đương trách nhiệm, dù nó chỉ được đề cập tỉ mỉ trong tác phẩm viết của ông. Một trong những ý tưởng chủ chốt trong những cuốn sách của ông là có thể thay đổi thái độ của người khác khi thay đổi sự đối xử của ta với họ. Các tác phẩm của Dale Carnegie: 40 Gương Thành Công Đắc Nhân Tâm 90 Giây để thu hút bất kỳ ai Quẳng Gánh Lo Đi và Vui Sống Bằng Hữu Chi Giao 10 Bước Để Có Cuộc Sống Trọn Vẹn Thay Đổi Để Thành Công Chiến Thắng Nỗi Lo Và Sự Căng Thẳng ... Mời các bạn đón đọc 10 Bước Để Có Cuộc Sống Trọn Vẹn của tác giả Dale Carnegie.
Thức Tỉnh Mục Đích Sống - Eckhart Tolle
Chuyển hóa tâm thức con người là trọng tâm của những điều Eckhart Tolle đề cập trong quyển sách nổi tiếng A New Earth - Thức Tỉnh Mục Đích Sống này. Theo ông, sự thức tỉnh là bước kế tiếp sẽ xảy ra trong quá trình phát triển tâm thức của nhân loại. Nhân loại sẽ bước sang một giai đoạn mà sự thức tỉnh trong tâm hồn sẽ tạo ra sự tự do và niềm hạnh phúc miên viễn trong mỗi con người và trên toàn thế giới. "Thức tỉnh mục đích sống" đã cộng hưởng thật sâu sắc với những điều bên trong tôi và giúp tôi thay đổi nhận thức về bản thân và về cả mọi điều..." *** Eckhart Tolle là một nhà tâm linh, nổi tiếng nhất với vai trò tác giả cuốn sách The Power of Now và A New Earth. Năm 2011, ông được nhà sách Watkins Books xem là người có ảnh hưởng nhất thế giới về tâm linh. Năm 2008, một bài viết của The New York Times đã gọi Tolle là "tác giả về tâm linh nổi tiếng nhất nước Mỹ". Eckhart Tolle từng nói rằng ông đã bị trầm cảm trong phần lớn cuộc đời của mình cho đến khi trải qua "một sự chuyển hóa tâm linh sâu sắc" năm ông hai mươi chín tuổi, làm thay đổi hoàn toàn những gì ông từng nghĩ về chính mình và hướng đi của đời ông. Ông đã dành vài năm sau đó để tìm hiểu và đào sâu thêm vào sự chuyển hóa này, rồi trở thành một vị thầy tâm linh. Ông đã bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên của mình, The Power of Now, được phát hành vào năm 1997 và đã lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất (Best Sellers) của New York Times. Năm 2003, cuốn sách đã dẫn đầu danh sách này. Tính đến năm 2009 riêng tại Bắc Mỹ, số lượng tiêu thụ của The Power of Now và A New Earth được ước tính lần lượt là 3 triệu và 5 triệu bản. Sách của ông đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác trên khắp thế giới. Từ năm 1995 đến nay, ông cư ngụ tại Vancouver, Canada. Tác phẩm: The Power of Now (Sức mạnh của hiện tại, 1997) Stillness Speaks (Sức mạnh của tĩnh lặng, 2003) A New Earth (Thức tỉnh mục đích sống, 2005) Hợp Nhất Với Vũ Trụ Trải Nghiệm Sức Mạnh Hiện Tại *** Tôi rất hân hoan khi hoàn tất phần chú thích và hiệu đính tác phẩm xuất sắc “Thức Tỉnh Mục Đích Sống” này của ông Eckhart Tolle. Công khó phiên dịch trọn tác phẩm là công sức của anh Đỗ Tâm Tuy và trên hết là những đóng góp lớn lao của các anh, chị ở First News – Trí Việt để giúp cho ra đời tác phẩm xuất sắc nhất của Eckhart Tolle này. Mười năm trước, với tất cả những thành công trong công việc, đời sống cá nhân và gia đình, tôi vẫn cảm thấy thiếu thốn một cái gì. Cảm giác bất ổn này đã làm cho tôi quay quắt, vật vã. Nhiều lần tôi đã gào lên: “Không lẽ cuộc đời khốn khó này chỉ có bấy nhiêu thôi?” Lúc đó, tôi không ý thức rằng sở dĩ những cảm giác rối rắm ấy hiện điện là vì bản thân tôi, trong chiều sâu, tôi không biết mình muốn cái gì. Tôi khổ sở vì không cảm thấy thỏa mãn với những gì mình đang có. Có lúc tôi tự hỏi: “Tôi thực sự là ai?” “Tại sao tôi có mặt trong cuộc đời này?” Trong thời gian ấy, tôi lại bắt dầu gặp phải những khó khăn trong công việc, trong gia đình và trong đời sống hôn nhân, … mà tôi phải chịu bó tay, chẳng giải quyết được gì. Từ đó tôi dấn thân vào con đường tâm linh. Điều tôi mong lúc dấy chỉ là học được một cái gì đó để tự giúp cho mình bớt khổ, biết cách nhận điện cũng như khắc phục những tiêu cực và khiếm khuyết đầy dẫy ở trong mình. Tôi thiết nghĩ chẳng có gì sai khi con người nỗ lực đi tìm hạnh phúc cho riêng mình. Nhưng tôi cho rằng chúng ta khó có thể thực sự cảm thấy hạnh phúc hoặc thỏa mãn sâu xa qua những chuyện thường nhật: làm việc, giải trí, ăn, ngủ và làm tình, vì có một mục đích sâu xa hơn trong đời sống, có một chiều không gian tâm linh sâu lắng hơn vượt lên trên những ưu tư, lo lắng hạn hẹp của cá nhân mà ta chưa tiếp xúc được. Riêng tôi, cảm giác bất ổn này chỉ thực sự lắng dịu lại khi tôi bắt dầu dối điện với nỗi cô đơn lớn trong mình. Trong mỗi người chúng ta, có một lỗ hổng lớn của tâm cảm bơ vơ, không thể lấp đầy. Nhưng nếu ta dám đặt những câu hỏi lớn, dối điện và nhìn sâu vào những cảm xúc tiêu cực đó theo những gì mà Eckhart Tolle đã hướng dẫn ở đây, thì ta sẽ vượt qua tâm cảm bơ vơ, niềm cô độc ấy. Tôi rất vui vì thực hiện được công trình có nhiều thử thách nhưng đầy hứng thú: đó là biên dịch và giới thiệu đến các bạn một tác phẩm tâm linh giá trị như cuốn “Thức Tỉnh Mục Đích Sống” này của Eckhart Tolle. Diện Mục Nguyễn Văn Hạnh. Mời các bạn đón đọc Thức Tỉnh Mục Đích Sống của tác giả Eckhart Tolle.
Sức Mạnh Của Tĩnh Lặng - Eckhart Tolle
Sức mạnh của tĩnh lặng là tác phẩm tâm linh rất ngắn ngọn nhưng sâu sắc của Eckhart Tolle, tác giả được The New York Times bình chọn là một trong những tác giả có sách bán chạy nhất. Đây là một cuốn sách hữu ích và thiết thực cho những ai muốn tiếp xúc với bản chất sâu lắng, trong sáng và chân thật trong con người mình. Cuốn sách có thể giúp bạn vun bồi sự vững chải, khả năng trầm lắng ở tâm hồn bên ngoài đang xảy ra những biến động gì đi nữa. Sức mạnh của tĩnh lặng có thể giúp bạn vượt qua những tình huống thử thách trong đời sống cá nhân và tiếp xúc được với một chiều không gian yên tĩnh và an bình ở bên trong. Cuốn sách sẽ giúp cho bạn khả năng lắng nghe sự tĩnh lặng ở trong bạn để có thể tìm ra lời giải cho những câu hỏi lớn mà bạn từng thao thức. Sức mạnh của tĩnh lặng có thể giúp bạn rũ bỏ hết những khó khăn, hiểu lầm, vun bồi lại những quan hệ thân thiết trong đời mình, vượt lên trên những thói quen xưa cũ, những cách hành xử tiêu tực, thay đổi quan hệ của bạn với mọi người và với cuộc đời. *** Eckhart Tolle là một nhà tâm linh, nổi tiếng nhất với vai trò tác giả cuốn sách The Power of Now và A New Earth. Năm 2011, ông được nhà sách Watkins Books xem là người có ảnh hưởng nhất thế giới về tâm linh. Năm 2008, một bài viết của The New York Times đã gọi Tolle là "tác giả về tâm linh nổi tiếng nhất nước Mỹ". Eckhart Tolle từng nói rằng ông đã bị trầm cảm trong phần lớn cuộc đời của mình cho đến khi trải qua "một sự chuyển hóa tâm linh sâu sắc" năm ông hai mươi chín tuổi, làm thay đổi hoàn toàn những gì ông từng nghĩ về chính mình và hướng đi của đời ông. Ông đã dành vài năm sau đó để tìm hiểu và đào sâu thêm vào sự chuyển hóa này, rồi trở thành một vị thầy tâm linh. Ông đã bắt đầu viết cuốn sách đầu tiên của mình, The Power of Now, được phát hành vào năm 1997 và đã lọt vào danh sách những cuốn sách bán chạy nhất (Best Sellers) của New York Times. Năm 2003, cuốn sách đã dẫn đầu danh sách này. Tính đến năm 2009 riêng tại Bắc Mỹ, số lượng tiêu thụ của The Power of Now và A New Earth được ước tính lần lượt là 3 triệu và 5 triệu bản. Sách của ông đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ khác trên khắp thế giới. Từ năm 1995 đến nay, ông cư ngụ tại Vancouver, Canada. Tác phẩm: The Power of Now (Sức mạnh của hiện tại, 1997) Stillness Speaks (Sức mạnh của tĩnh lặng, 2003) A New Earth (Thức tỉnh mục đích sống, 2005) Hợp Nhất Với Vũ Trụ *** Tôi rất thích tựa sách “STILLNESS SPEAKS” mà Eckhart Tolle đặt cho tác phẩm thứ hai này của ông. Nhưng phải mất một thời gian khá lâu tôi mới tìm ra được một cụm từ thích đáng – “Sức mạnh của tĩnh lặng”- để dùng làm tựa tiếng Việt cho cuốn sách này. Hay nói đúng hơn, là tựa sách đã đến từ một nơi rất Tĩnh Lặng ở bên trong mà chắc chắn không phải là bằng suy tư của tôi. Lúc đọc xong chương đầu tiên, tôi cảm thấy như vừa được đọc một bài kinh văn thâm diệu và linh cảm được năng lực chuyển hoá kỳ diệu của cuốn sách. Qua cuốn Sức Mạnh của Tĩnh Lặng, Eckhart Tolle giúp chúng ta tìm lại được bản chất sâu lắng, trong sáng và chân thật của mình. Dù cho có những biến động đang xảy ra chung quanh, hay những tình huống thử thách trong đời sống cá nhân hiện nay của chúng ta như thế nào đi nữa, chúng ta vẫn luôn có khả năng tiếp xúc được với một chiều không gian yên tĩnh, và sâu lắng ở bên trong. Phẩm chất đời sống của chúng ta tuỳ thuộc vào phẩm chất của những quan hệ trong đời mình. Tuỳ thuộc vào quan hệ của bạn với gia đình và những người thân. Tuỳ thuộc vào quan hệ của bạn với người bạn đời. Tuỳ thuộc vào quan hệ của bạn với đời sống. Nói một cách khác, bạn có một quan hệ tốt đẹp với mọi người và với cuộc đời? Do đó, Sức Mạnh của Tĩnh Lặng sẽ giúp bạn khả năng rũ bỏ những thói quen xưa cũ, tiêu cực; giúp bạn thay đổi cách sống, cách suy nghĩ và cách cư xử với bạn bè cùng những người thân trong gia đình một cách tốt đẹp hơn. Không những thế, Sức Mạnh của Tĩnh Lặng còn giúp bạn nhìn sâu vào những câu hỏi lớn hơn: - Tôi là ai? Ý nghĩa của Đời Sống là gì? - Tại sao tôi có mặt trên cuộc đời này? - Mục đích tối hậu của đời sống là gì? Tất cả những câu hỏi đó, dù lớn, dù nhỏ, đều rất quan trọng đối với chúng ta. Và một khi bạn đã hỏi thì sẽ luôn được Im Lặng trả lời, khi bạn đã sẵn sàng lắng nghe. Chỉ cần giữ cho lòng mình trong lắng. Khi có mặt, bạn có thể nghe những hồi âm, những lời giải đáp đến với bạn qua tiếng giói, tiếng mưa, tiếng thì thầm của biển cả… Chỉ cần bạn biết lắng nghe. Hãy sống và thực hành những gì mà Im Lắng đã nhắc nhở cho ta.   Diện Mục Nguyễn Văn Hạnh Mời các bạn đón đọc Sức Mạnh Của Tĩnh Lặng của tác giả Eckhart Tolle.