Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Quả Chuông Ác Mộng

Khi nhìn vào sự điên rồ của thế giới và thế giới của sự điên rồ, chúng ta luôn phải đối diện với câu hỏi: “Thực tại là gì và làm thế nào để chấp nhận nó?” Trong Quả chuông ác mộng, áp lực thực tại đã hủy hoại hoàn toàn Esther Greenwood xinh đẹp và tài năng, đẩy cô vào thế giới trầm cảm, chênh vênh giữa biên cảnh của khát vọng sống và ham muốn chết. Tự tử, một trò chơi u tối khó cưỡng của sợ hãi và tội lỗi, gây nghiện như ma túy, ban đầu chỉ mang tính thử nghiệm - nay vài giọt máu, mai một cơn nghẹt thở, chỉ cốt để xem cảm giác ấy ra sao. Dần dà, nó nhanh chóng bùng phát thành khát vọng điên cuồng của niềm tự diệt *** Đã 56 năm kể từ ngày nữ thi sĩ - nhà văn người Mỹ Sylvia Plath cho ra đời cuốn tiểu thuyết định mệnh Quả chuông ác mộng , một tác phẩm bán tự truyện được phát hành trước vụ tự sát của chính cô chưa đầy một tháng khiến nó mang một màu sắc dự báo đầy ám ảnh. Vì lo sợ cuốn tiểu thuyết có thể tác động tới đời sống của các nhân vật ở ngoài đời, nhà văn ban đầu đã xuất bản Quả chuông ác mộng dưới nghệ danh Victoria Lucas; và phải bốn năm sau cái chết của cô cuốn sách mới được tái bản dưới đích danh Sylvia Plath. Kể từ đó, Quả chuông ác mộng lập tức gây chấn động trong giới độc giả, bán được hàng triệu bản trên khắp nước Mỹ và được đưa vào chương trình giảng dạy phổ thông ở nhiều nơi trên thế giới. Câu chuyện kể về Esther Greenwood, một cô gái trẻ dường như đang đứng trước tương lai trải hoa hồng với công việc thực tập tại một tạp chí danh giá ở New York (Mỹ). Tuy nhiên với bao nỗi lo lắng sợ hãi về vai trò được đòi hỏi ở bản thân đối với gia đình và sự nghiệp, Esther ngày càng cảm thấy bị cô lập khỏi thế giới bên ngoài và dần đánh mất mọi hứng thú và hi vọng, cũng như khả năng thực hiện những nhiệm vụ đơn giản trong cuộc sống thường ngày. Cô bỏ học, bắt đầu tìm cách tự sát, và bị đưa đi chữa trị ở nhiều nhà thương điên. Những sự kiện chính trong truyện đều được rút ra từ chính cuộc đời của nữ nhà văn - công việc biên tập khắc nghiệt tại một nhà xuất bản có tiếng ở New York, ám ảnh tự sát, và những trải nghiệm chữa trị bằng sốc điện thiếu quy chuẩn. Khoảng gần mười năm trước khi sáng tác Quả chuông ác mộng, trong một lá thư gửi người bạn thân Sylvia Plath đã bộc bạch về cuộc vật lộn của mình với chứng trầm cảm: “Cái cách tôi quẩn quanh suốt cuộc đời mình trong bầu không khí loãng thếch dưới quả chuông này quả là khó tin". Quả chuông ác mộng được Công ty cổ phần Sách Tao Đàn và NXB Hội Nhà Văn xuất bản tháng 7.2019 Cả trước và sau Quả chuông ác mộng, hiếm có cuốn sách nào phơi bày những bằng chứng đích xác như thế về bản chất của bệnh tâm thần. Từ đầu truyện, trạng thái cách ly của Esther khỏi thực tại thể hiện rất rõ qua cách cô đón nhận các tác động ngoại lai rất bị động: “Bất chợt tôi cảm nhận được mặt đất dâng lên và đập vào mình. Bùn trào qua kẽ ngón tay...”. Đặc biệt ám ảnh là mỗi khi Esther nhìn vào gương, cô lại thấy hình ảnh ánh xạ kia như một cá thể tách biệt và vô hồn: “Khuôn mặt đang nhìn tôi trong gương giống như đang nhìn qua lưới sắt của phòng giam sau khi bị tra tấn lâu ngày”; “Trong gương phản chiếu hình ảnh tôi với đôi cánh trắng, tóc buộc đuôi ngựa, tái nhợt như hồn ma bồng bềnh giữa khung cảnh bên ngoài”. Plath gọi những cảm xúc này là bị nhốt bên trong một “quả chuông” - biểu tượng cho sự cô lập; chúng mạnh đến mức người ngồi bên trong cảm thấy bất lực trước bất kỳ một quyết định hay nhiệm vụ đơn giản nào của cuộc tồn sinh. Trên thực tế, vào những tháng cuối đời, bệnh trầm cảm đã khiến cho Sylvia Plath không còn khả năng sáng tác bất cứ thứ gì và đẩy cô vào trạng thái bất lực đến điên loạn. Cuối cùng cô đã chọn cách tự sát bằng hơi ga và không may mắn như Esther Greenwood trong sách, Sylvia Plath không bao giờ trở lại cuộc sống đời thường được nữa. Thế nhưng chụp lên quả chuông tâm lý là một quả chuông khổng lồ hơn mang tính xã hội. Phụ nữ Mỹ thời hậu Thế chiến thứ hai, giai đoạn đánh dấu bùng nổ dân số và chủ nghĩa tiêu thụ, được đóng khung trong quan niệm cô ta chỉ có thể trở thành một người phụ nữ đáng mơ ước trong vai trò vợ hiền, mẹ đảm, và phục sức những thứ đồ đắt tiền. Trái ngược với đàn ông, người có thể cùng lúc theo đuổi đam mê, thăng tiến trong sự nghiệp lẫn làm chủ một gia đình thì người phụ nữ chỉ có thể chọn một con đường cho chính mình. Đây chính là chỗ thế giới quan của Sylvia Plath mâu thuẫn với thực trạng xã hội, một phụ nữ đã hình thành tư tưởng nữ quyền từ rất sớm trước khi phong trào nữ quyền của thế kỷ 20 thực sự phổ biến rộng rãi. Trong Quả chuông ác mộng, Sylvia Plath đã gói gọn tư tưởng của mình trong hình ảnh ẩn dụ về cây vả: “Tôi thấy đời mình đang đâm cành trổ nhánh như cây vả xanh tươi trong truyện ngắn đã đọc. Ở đầu mỗi cành, như một trái vả tím mọng, một tương lai tươi sáng đang lấp lánh chào đón tôi. Trái đầu tiên là một người chồng, ngôi nhà và những đứa trẻ, một trái khác là thi sĩ nổi danh, một trái khác nữa là giáo sư kiệt xuất [...] Rồi trên cao, vượt lên những trái vả này là những trái khác mà tôi không thể nào nhận ra. Tôi thấy chính mình đang ngồi trên chạc của cây vả này, người đói lả, chỉ vì không thể quyết định mình sẽ chọn trái nào. Trái nào trong số đó tôi cũng muốn, nhưng chọn một trái nghĩa là bỏ lỡ số còn lại, thế nên tôi ngồi trơ đó, băn khoăn chọn lựa, rồi những trái vả bắt đầu nhăn nheo sạm màu, từng trái, từng trái một rụng rơi xuống chân tôi". Bên cạnh đó, Sylvia Plath còn đưa vào Quả chuông ác mộng yếu tố đồng tính nữ như một phản ứng trước sự thống trị của nam giới. Trong truyện, nhân vật Joan Gilling cũng từng hẹn hò với Buddy Willard, bạn trai cũ của Esther Greenwood. Tuy nhiên về cuối tác giả hé lộ Joan là lesbian và giống như Esther, cô chưa bao giờ thực sự thích Buddy Willard. Yếu tố nữ quyền thể hiện rất rõ khi từ đầu câu chuyện, cả Esther lẫn Joan đều từng đụng độ với những gã đàn ông đểu cáng, hung bạo, ve vãn, thì đến cuối truyện, họ đều được bàn tay hiền hậu của phụ nữ che chở, và Joan thậm chí sinh tình cảm với Esther hay với nữ bệnh nhân Dee Dee: “Một người đàn bà tìm thấy điều gì ở một người đàn bà khác mà cô ta không thấy ở đàn ông? Bác sĩ Nolan ngập ngừng. Rồi bà nói: Sự dịu hiền”. Đối với người ở trong quả chuông thủy tinh, trống rỗng và ngưng đọng như một đứa bé chết non, bản thân thế giới là một cơn ác mộng. Sylvia Plath đã sống giữa cơn ác mộng ấy trong 30 năm ngắn ngủi của đời cô và trút hết những nỗi trăn trở miên trường vào tiểu thuyết duy nhất cô từng viết. Không chỉ dẫn ta đi sâu vào những góc khuất tối tăm của bệnh trầm cảm, Quả chuông ác mộng còn là tâm sự của một phụ nữ với tầm tư tưởng vượt trước thời đại, là tuyên ngôn mạnh mẽ về nữ quyền ngày càng có giá trị giữa thời nay. *** Đó là một mùa hè dị thường, ngột ngạt và oi bức, mùa hè mà người ta đưa vợ chồng nhà Rosenberg lên ghế điện, còn tôi thì chẳng biết mình đang làm gì ở New York nữa. Tôi mù tịt về những vụ hành hình. Ý nghĩ phải lên ghế điện làm tôi phát ốm, nhưng đó là tất cả những gì có thể đọc được từ những tiêu đề giật gân trên báo chí cứ đập vào mắt tôi nơi các góc phố và ở mỗi lối xuống ga tàu điện ngầm ẩm mốc bốc mùi đậu phộng. Chúng chẳng liên quan gì đến tôi, nhưng tôi không thể không tự hỏi sẽ như thế nào khi các dây thần kinh bị thiêu sống. Tôi nghĩ đó hẳn là điều kinh khủng nhất trần đời. New York quả thực tồi tệ. Tầm 9 giờ sáng, sự tươi mát ẩm ướt giả tạo rỉ ra trong đêm đã tan biến như đoạn kết của một giấc mơ ngọt ngào. Chỉ còn lại vẻ xám xịt dưới đáy các thung lũng hoa cương, những con đường nóng rẫy loang loáng dưới ánh mặt trời, những mui xe kêu ri rỉ và lấp lánh sáng, bụi khô như than đỏ đâm vào mắt, tràn vào tận họng. Tôi vẫn tiếp tục nghe về nhà Rosenberg trên radio nhiều đến nỗi khi ở văn phòng làm việc tôi không thể dứt bỏ nó ra khỏi tâm trí. Cũng giống như lần đầu tiên tôi nhìn thấy xác chết. Nhiều tuần sau, cái đầu thi thể - hay đúng hơn là những gì còn sót lại của nó - cứ lềnh bềnh lên món trứng và thịt nguội trong bữa sáng và đằng sau là gương mặt của Buddy Willard, người phải chịu trách nhiệm vì đã chỉ cho tôi thấy nó đầu tiên. Ngay sau đó, tôi cảm thấy như lúc nào cũng phải mang bên mình cái đầu lâu lơ lửng trên một sợi dây, tựa như một quả bong bóng màu đen không có mũi, hôi mùi giấm. (Tôi biết mình có gì đó không ổn vào mùa hè ấy, bởi lúc nào tôi cũng chỉ nghĩ tới vụ án nhà Rosenberg và tôi ngu ngốc hết mức khi mua một lô quần áo đắt tiền, nhưng không chút tiện dụng nào chỉ để treo đầy tủ, và tất cả những thành công nho nhỏ mà tôi đã hạnh phúc khi gặt hái được ở trường trở nên vô nghĩa hoàn toàn khi đứng trước những cửa hiệu bằng đá cẩm thạch và kính, dọc theo đại lộ Madison.) Tôi phải tận hưởng thời khắc đẹp đẽ của cuộc đời. Tôi phải trở thành đối tượng ghen tị của hàng ngàn nữ sinh viên đại học ở khắp nước Mỹ, những cô gái không có mong muốn gì hơn là được dạo chơi với đôi giày da bóng cỡ số bảy mà tôi đã mua ở hiệu Bloomingdale nhân một lần đi ăn trưa, cùng với chiếc thắt lưng và túi xách đồng màu da đen bóng. Rồi khi ảnh tôi xuất hiện trên tờ tạp chí, nơi mười hai đứa chúng tôi đang làm việc, uống martini ở Starlight Roof, mình mặc áo yếm lấp lánh ánh kim cùng chiếc váy phồng bằng vải tulle trắng, được vây quanh bởi nhóm thanh niên xa lạ với cấu trúc xương kiểu Mỹ, thuê riêng cho những dịp thế này - hẳn mọi người sẽ cho rằng tôi đang quay cuồng thực sự. Họ sẽ bảo, hãy nhìn xem cái gì đang xảy ra ở cái đất nước này. Một cô gái tỉnh lẻ sống ở vùng sâu vùng xa nào đó suốt mười chín năm trời, nghèo đến nỗi không mua nổi một tờ tạp chí, đột nhiên nhận được một học bổng đại học, rồi giành hết giải thưởng này sang giải thưởng khác, và tạo ảnh hưởng ở New York ngon lành như thể lái chiếc xe riêng của mình vậy. Chỉ có điều tôi chẳng lái cái gì cả, kể cả bản thân mình. Tôi chỉ đi từ khách sạn đến nơi làm việc hoặc các bữa tiệc, rồi lại từ các bữa tiệc trở về khách sạn và tiếp tục đi làm như một chiếc xe điện tê cóng. Tôi nghĩ mình cũng có thể bị kích động như phần lớn những cô gái khác, nhưng tôi không thể tự phản ứng lại được. Tôi cảm thấy rất bình yên và trống trải tựa như mắt bão khi di chuyển một cách chậm chạp giữa tiếng mưa gào gió thét xung quanh. Mười hai đứa chúng tôi đều ở khách sạn. Chúng tôi vừa đoạt giải trong kỳ thi do một tạp chí thời trang tổ chức dự thi những bài luận, truyện ngắn, thơ và quảng cáo thời trang. Giải thưởng là một công việc ở New York trong vòng một tháng, mọi chi phí đều đã được đài thọ, thêm vào đó là hàng lô hàng lốc những món thưởng khác: vé ba lê, xem trình diễn thời trang, làm tóc tại một tiệm danh tiếng và cơ hội gặp được những người thành đạt trong lĩnh vực mà chúng tôi mơ ước, để nhận được những lời khuyên thích hợp với mình. Tôi vẫn còn giữ cái hộp trang điểm mà họ đã tặng, vốn hợp với một cô nàng mắt nâu tóc vàng: một lọ mascara màu nâu với bàn chải nhỏ xíu, một ô phấn mắt màu xanh hình tròn chỉ vừa đủ lớn bằng đầu ngón tay, và ba thỏi son môi từ đỏ đến hồng, tất cả đều đặt trong một cái hộp nhỏ mạ vàng, mặt trong có kèm gương. Tôi cũng có một cái hộp đựng kính mát bằng nhựa trắng, được khảm xà cừ đủ màu và đính một con sao biển bằng nhựa màu xanh lá cây. Tôi nhận ra rằng việc trao tặng những món quà này chính là cách quảng cáo miễn phí của các doanh nghiệp, nhưng tôi không thể không giữ chúng. Tôi từng hất văng tất cả những món quà trong tầm tay. Suốt một thời gian dài, tôi giấu biệt chúng đi, nhưng rồi khi bình tâm lại, tôi lôi chúng ra và bày khắp nhà. Đôi khi tôi dùng son môi, và mới tuần trước tôi đã cắt con sao biển bằng nhựa khỏi bao kính để làm đồ chơi cho một đứa bé. Cả bọn mười hai đứa chúng tôi đều ở khách sạn, cùng một bên dãy ở cùng một tầng gồm các phòng đơn. Phòng nọ kế tiếp phòng kia làm cho tôi nhớ đến các phòng ở ký túc xá. Đây không phải là một khách sạn đúng nghĩa - tôi muốn nói đến khách sạn mà đàn ông và đàn bà ở lẫn lộn trên cùng một tầng. Khách sạn Amazon này chỉ dành cho phái nữ, phần lớn là những cô gái cùng lứa tuổi tôi, gia cảnh giàu có, mong ước cho con gái mình sống ở một nơi mà bọn đàn ông không thể lui tới và lừa dối được: tất cả bọn họ đều theo học những trường sang trọng chuyên đào tạo thư ký như Katy Gibbs, nơi họ phải mang mũ, tất dài và găng tay đến lớp; hoặc những người vừa tốt nghiệp các trường như Katy Gibbs và trở thành thư ký cho các ủy viên cao cấp, và cứ quanh quẩn ở New York mong tìm được một anh chàng thành đạt nào đó để kết hôn. Với tôi, những cô gái này buồn tẻ một cách khủng khiếp. Tôi thấy họ nằm phơi nắng, vừa ngáp vừa sơn móng tay và cố giữ cho làn da Bermuda rám nắng, nom họ nhạt nhẽo chết đi được. Tôi lân la tán chuyện với một người trong đám, cô nàng cho biết đã chán ngấy những chiếc thuyền buồm, chán ngấy những chuyến du hành bằng máy bay, và cả việc đi trượt tuyết ở Thụy Sĩ vào dịp Giáng sinh lẫn cánh đàn ông ở Brazil nữa. Đám con gái đó làm tôi phát ốm. Họ khiến tôi ghen tỵ nhưng không dám nói thành lời. Mười chín tuổi đầu, tôi chưa từng bước chân ra khỏi New England trừ chuyến đi New York này. Đây là cơ hội lớn đầu tiên của tôi, thế nhưng giờ đây, nó đang như những giọt nước dần dần trôi tuột qua kẽ tay. Tôi nghĩ một trong những phiền nhiễu của tôi chính là Doreen. Tôi chưa từng quen một đứa con gái nào như Doreen. Cô nàng tới từ một trường nữ sinh dành cho giới thượng lưu ở miền Nam. Cô có mái tóc bạch kim bồng bềnh như một cây kẹo bông quanh đầu, cặp mắt xanh như hai viên mã não trong trẻo, cô cứng cỏi, thanh lịch và ương ngạnh, nụ cười giễu cợt luôn nhếch trên môi. Tôi không cho rằng đó là sự cay độc, mà là kiểu giễu nhại, pha chút thần bí, như thể tất cả mọi người xung quanh đều ngốc nghếch và cô ta có thể buông lời bỡn cợt họ bất cứ lúc nào. Doreen để mắt tới tôi ngay lập tức. Cô làm tôi cảm thấy mình sắc sảo hơn mọi người, còn cô lại là con người rất hài hước. Doreen thường ngồi cạnh tôi mỗi lần hội họp và khi những vị khách danh tiếng tới thăm phát biểu, cô ta thì thầm vào tai tôi mấy lời nhận xét châm chọc tếu táo. Cô ta bảo với tôi rằng trường của cô ta rất chú trọng chuyện thời trang. Tất cả nữ sinh phải có túi xách may cùng một loại với quần áo, thành thử mỗi lần thay đồ lại phải đổi túi xách cho phù hợp. Kiểu chi tiết tỉ mỉ này khiến tôi rất ấn tượng. Nó biểu thị một cuộc sống tuyệt diệu, xa hoa mà suy đồi, và thu hút tôi như một thanh nam châm. Lần duy nhất mà Doreen hoạch họe tôi là về chuyện hoàn thành công việc đúng thời hạn. “Cậu đổ mồ hôi cho việc đó làm gì?” Doreen hỏi, cô nàng mặc nguyên bộ đồ bằng tơ màu hồng đào ngả ngốn trên giường tôi, lấy một miếng giấy ráp giũa những móng tay dài vàng khè vì nicotin, trong khi tôi đánh máy lại bài phỏng vấn một tiểu thuyết gia thuộc dạng best-seller. Đó lại là chuyện khác - còn thường thì chúng tôi khoác những bộ quần áo ngủ mùa hè bằng vải bông và áo choàng mặc ở nhà, hoặc có thể là những loại áo dài bằng vải kiểu mặc ngoài bãi biển. Duy có Doreen mới mặc những loại áo cực mỏng hay bằng ren gần như trong suốt, hoặc váy áo màu da, khiến người cô lúc nào cũng lách tách tình điện. Ở cô có một điểm thú vị nữa là luôn phảng phất một mùi mồ hôi hấp dẫn gợi tôi nhớ tới mùi hương khi ta vò nát những chiếc lá dương xỉ hình quạt giữa các ngón tay. “Cậu nên biết mụ Jay Cee sẽ không nổi điên lên nếu cậu gác câu chuyện này đến mai hoặc thứ Hai đâu.” Doreen châm một điếu thuốc và nhả khói chầm chậm qua lỗ mũi, khiến đôi mắt cô trở nên mơ hồ. “Mụ Jay Cee xấu như quỷ,” Doreen lạnh lùng nói tiếp. “Mình dám cá là lão chồng già của mụ phải tắt hết đèn trước khi gần gũi mụ, bằng không lão sẽ phát nôn ngay.” Jay Cee là sếp của tôi, và tôi rất quý bà, bất kể Doreen có nói gì đi nữa. Bà không phải là loại người phù phiếm vẫn thường thấy trên các tạp chí thời trang với hàng lông mi giả và đồ trang sức hào nhoáng. Jay Cee là người có đầu óc, nên vẻ xấu xí của bà xem ra chẳng có gì hệ trọng cả. Bà nói được vài thứ tiếng và biết rõ những tay viết cứng cựa trong nghề. Tôi cố hình dung ra cảnh bà Jay Cee cởi bộ đồng phục cứng nhắc cùng chiếc mũ dự tiệc, lên giường với lão chồng béo ị của bà, nhưng không tài nào hình dung được. Tôi luôn luôn rất khó khăn khi phải tưởng tượng ra cảnh người ta đang ngủ với nhau. Jay Cee luôn muốn dạy dỗ tôi, tất cả những bà lớn tuổi khác mà tôi quen biết đều như vậy, nhưng tôi cho rằng họ chẳng có điều gì để chỉ bảo tôi cả. Tôi đóng nắp máy chữ rồi khóa lại. Doreen cười nhăn nhở: “Thông minh đấy!” Chợt có tiếng gõ cửa. “Ai đấy?” Tôi không buồn đứng dậy. “Betsy đây. Cậu có đi dự tiệc không?” “Chắc có đấy.” Tôi vẫn không ra mở cửa. Betsy được đưa thẳng từ Kansas về đây cùng mái tóc hoe vàng tết kiểu đuôi ngựa và nụ cười kiểu những cô nàng thiện tâm. Tôi nhớ một lần hai đứa chúng tôi được mời tới văn phòng của một đạo diễn truyền hình mặc bộ đồ sọc, để xem thử có góc độ nào nơi chúng tôi khả dĩ phù hợp với một chương trình của ông không. Và Betsy bắt đầu nói về loại ngô đực ngô cái ở Kansas. Cô nàng hào hứng với thứ ngô chết tiệt này đến mức nhà đạo diễn phải rưng rưng mắt lệ, nhưng sau đó ông ta nói rằng lấy làm tiếc bởi chẳng có gì hữu dụng cả. Sau này, người phụ trách thẩm mỹ thuyết phục Betsy cắt tóc và cho cô nàng lên bìa báo, tôi thi thoảng còn thấy khuôn mặt của cô đang tươi cười trên mẫu quảng cáo “Vợ của P.Q mặc đồ nhà B.H. Wragge.” Betsy lúc nào cũng rủ tôi làm việc cùng cô và vài cô nàng khác nữa, cứ như thể đang cố cứu vớt tôi không bằng. Cô chẳng bao giờ rủ Doreen cả. Doreen lén gọi riêng với tôi là con nhỏ cao bồi Pollyanna. “Cậu có muốn đi cùng taxi với bọn tớ không?” Betsy hỏi vọng vào. Doreen lắc đầu. “Được rồi, Betsy.” Tôi nói. “Tớ sẽ đi cùng với Doreen.” “Ừ!” Tôi nghe tiếng Betsy đi xuống đại sảnh. “Tụi mình ghé qua một lát, khi nào oải quá thì về.” Doreen bảo tôi, dụi tắt điếu thuốc lá vào đế cây đèn đọc. “Rồi tụi mình xuống phố. Những buổi tiệc tùng ở đây làm mình nhớ lại những lần khiêu vũ trong phòng thể chất ở trường. Tại sao chúng nó cứ phải bám lấy bọn Yale? Chúng ngốc bỏ xừ!” Mời các bạn đón đọc Quả Chuông Ác Mộng của tác giả  Sylvia Plath & Trần Quế Chi (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Annabelle Người phụ nữ tuyệt vời - Danielle Steel
Bị phản bội và chịu nhiều tai tiếng từ một xì căng đan mà nàng là nạn nhân, Annabelle đã quyết định sang Pháp với hy vọng lấy công việc từ thiện để quên đi nỗi sầu khổ của mình. Tại một bệnh viện ở tuyến đầu của cuộc chiến tranh Pháp - Đức, Annabelle làm tất cả mọi việc được giao và tỏ ra rất có năng khiếu về y khoa, nên đã được gửi đi học tại trường y để trở thành bác sĩ. Khi chiến tranh chấm dứt, Annabelle bắt đầu cuộc sống ở Paris với tư cách là một bác sĩ, một người mẹ; và đời nàng đã mở sang một trang mới. *** Danielle Steel, tác giả "Bây giờ và mãi mãi" là tiểu thuyết gia của hơn 500 triệu bản sách được tiêu thụ trên toàn thế giới, đem lại cho bà gia tài trị giá hàng trăm triệu USD. Nhưng khi còn nhỏ, Danielle chỉ mong trở thành người dốc lòng phụng sự Chúa. Kế hoạch triển khai một cuộc sống thanh đạm và khổ hạnh của Danielle Steel sụp đổ hoàn toàn khi bà kết hôn vào năm 17 tuổi và bắt đầu viết lách sau đó hai năm. Đến nay, ở tuổi, ở tuổi 60, nhà văn sắp sửa xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ 72 có tiêu đề Honor Thyself. Danielle Steel sinh năm 1947 tại New York. Bà là nhà văn có bút lực dồi dào và đặc biệt thành công về mặt thương mại. Tác phẩm của bà thường xuyên xuất hiện trên danh sách best-seller của The New York Times. Những tiểu thuyết của Steel đã được xuất bản và dịch tại Việt Nam, gồm có: Now And Forever (Bây giờ và mãi mãi), The Ring (Chiếc nhẫn tình yêu), Second Chance (Cơ hội thứ hai), Five Days In Paris (5 ngày ở Paris) Ánh Sao Chiều Bóng Hình Hẹn Yêu Lối Về Một Thời Say Đắm Ngôi Sao Lầm Lỗi Annabelle Người Phụ Nữ Tuyệt Vời Những Trái Tim Vàng Ba Chàng Độc Thân Tình Khúc Mùa Thu Tiền Chuộc Mạng Sự Huyền Diệu của Tình Yêu Bẫy Tình Muôn Nẻo Đường Tình Thỏa Niềm Nguyện Ước Sóng Tình Phương Nam Bến Cũ Chị Em Gái Tình Yêu Cuối Cùng Hơn Cả Ước Mơ Người Vợ Người Tình Đến Rồi Bến Đợi Một Chặng Đường Dài Bến Bờ Tình Yêu Tiếng Nói Của Con Tim Nối Lại Tình Xưa Những Cánh Hoa Lạc Loài Nỗi Buồn Số Phận Âm Vang Ngày Cũ Cánh Đại Bàng Đơn Độc Quỷ Ám Tình Hè Rực Lửa Căn Nhà Trên Phố Hi Vọng Người Đàn Ông Tuyệt Vời ... *** Sáng ngày 14 tháng 4 năm 1912, Annabelle Worthington ngồi lặng lẽ đọc sách trong thư viện tại ngôi nhà của bố mẹ, thư viện nhìn ra khu vườn rộng có tường bao bọc. Mùa xuân đã bắt đầu báo hiệu khắp nơi, thợ làm vườn đã trồng hoa, mọi thứ đều có vẻ đẹp đẽ để chờ đợi ngày về của bố mẹ nàng trong vài hôm nữa. Ngôi nhà nàng ở với bố mẹ và anh trai Robert rộng lớn, uy nghiêm, nằm ở đoạn đường phía bắc của Đại lộ 5 ở New York. Gia đình Worthington và gia đình Sinclair có bà con thân thuộc với dòng họ Vaderbilt và Astor, gián tiếp có quan hệ với tất cả những gia đình nổi tiếng nhất ở New York. Bố nàng, Arthur, chủ một ngân hàng có uy tín nhất trong thành phố và hiện đang điều hành ngân hàng này. Gia đình ông làm ngân hàng từ nhiều thế hệ nay, cũng như gia đình của mẹ nàng đã làm ngân hàng tại Boston. Anh Robert của nàng 24 tuổi, làm việc cho bố nàng đã ba năm rồi. Và dĩ nhiên khi nào Arthur về hưu, Robert sẽ thay ông điều khiển ngân hàng của gia đình; tương lai của họ rất tươi sáng, bảo đảm và bình an. Annabelle sẽ được sống một cuộc sống thoải mái dưới sự che chở của gia đình. Bố mẹ nàng yêu nhau, nàng và Robert luôn luôn gần bên nhau, đi đâu đều có nhau. Không có gì có thể làm cho họ buồn rầu, bối rối. Nếu có chuyện gì rắc rối nho nhỏ xảy ra, họ sẽ tìm cách giải quyết ngay. Annabelle lớn lên trong thế giới vàng son, thiêng liêng, có thời thơ ấu hạnh phúc, sống giữa những con người tốt bụng đáng yêu. Mấy tháng vừa qua, cuộc sống của nàng rất sôi động, mặc dù có vài chuyện buồn bực xen vào. Trong tháng mười hai, trước lễ Giáng sinh, nàng được bố mẹ tổ chức một buổi dạ vũ sang trọng để giới thiệu nàng với xã hội thượng lưu. Đấy là lễ ra mắt của nàng, mọi người đều cho rằng đây là buổi dạ vũ tuyệt vời nhất, sang trọng nhất ở New York từ nhiều năm nay. Mẹ nàng thích tổ chức những buổi tiệc lớn. Phòng khiêu vũ trong nhà tuyệt đẹp có ban nhạc hay nhất trong thành phố được mọi người hâm mộ. Bốn trăm người đến dự, và cái áo dạ hội làm cho Annabelle giống như nàng công chúa trong chuyện thần tiên. ... Mời các bạn đón đọc Annabelle Người phụ nữ tuyệt vời của tác giả Danielle Steel.
Những Bóng Ma - Paul Auster
Paul Benjamin Auster sinh ngày 3.2.1947 tại Newark, New Jersey, bố mẹ là người Do Thái gốc Ba Lan thuộc tầng lớp trung lưu. Sau khi tốt nghiệp đại học Columbia năm 1970, ông tới Paris và kiếm sống bằng việc dịch các tác phẩm văn học Pháp. Trở lại Mỹ năm 1974, ông bắt đầu xuất bản các sáng tác cũng như những bản dịch của mình thuộc nhiều thể loại: thơ, tiểu luận, tiểu thuyết… Paul Auster từng theo học đại học Harvard. Sau tác phẩm đầu tay khá thành công The Invention of Solitude, Auster tiếp tục khẳng định tên tuổi bằng bộ ba truyện trinh thám The New York Triology - bao gồm Thành phố thuỷ tinh, Những bóng ma, và Căn phòng khoá kín. Ông cưới Siri Hustvedt, người vợ thứ hai của ông, vào năm 1981 và họ đến sống ở Brooklyn. Họ có một bé gái tên Sophie Auster. Người vợ trước của ông là nhà văn nổi tiếng Lydia Davids. Ông và bà có một đứa con trai tên Daniel Auster. Ông còn là phó Chủ tịch của PEN American Center Chủ đề thường gặp trong các tác phẩm của Auster là cuộc kiếm tìm nhân dạng và ý nghĩa sự tồn tại của cá nhân. Vai trò của cái ngẫu nhiên, sự trùng hợp cũng như mối quan hệ giữa con người với đồng loại và với môi trường xung quanh thường được nhấn mạnh. *** Tác phẩm tiêu biểu Trần trụi với văn chương Nhạc đời may rủi Thành phố thuỷ tinh Những bóng ma Người trong bóng tối Căn phòng khoá kín Khởi sinh của cô độc *** Đầu tiên xuất hiện Blue (1), sau đó đến White, sau đó nữa là Black và trước khi câu chuyện bắt đầu còn có Brown. Brown dạy nghề cho Blue, truyền cho anh ta những mẹo mực trong nghề, và khi Brown về già, Blue là người thay thế. Câu chuyện đã bắt đầu như vậy. Địa điểm nơi câu chuyện xảy ra là New York, thời gian là hiện tại, hai yếu tố này sẽ không thay đổi bao giờ. Hàng ngày Blue đến văn phòng, ngồi tại bàn làm việc của mình, chờ đợi một điều gì đó xảy ra. Đã một thời gian dài chẳng có chuyện gì xảy ra cả, cho đến khi một người đàn ông có tên là White bước vào văn phòng và câu chuyện đã bắt đầu như vậy. Vụ việc xem ra cũng có vẻ đơn giản. White muốn Blue theo dõi một người đàn ông có tên là Black và để mắt coi chừng anh ta trong trong một khoảng thời gian cần thiết. Hồi còn làm việc cho Brown, Blue đã từng giải quyết nhiều vụ việc lặt vặt, vụ việc lần này có vẻ như cũng chẳng có gì khác biệt, thậm chí có lẽ còn là trường hợp dễ dàng nhất. Blue cần công việc, vì thế anh lắng nghe White và không hỏi han gì nhiều. Anh đoán chắc đây là một vụ dính dáng đến chuyện hôn nhân và White là một anh chồng có máu ghen. White không đòi hỏi gì phức tạp. White nói rằng anh ta muốn hàng tuần nhận được một bản báo cáo gửi đến một hòm thư có số hiệu như thế… như thế…, bản báo cáo cần được đánh máy làm hai bản trên khổ giấy dài cỡ thế này, rộng cỡ thế kia. Hàng tuần, Blue cũng sẽ được nhận một tấm séc gửi qua đường bưu điện. Rồi White nói cho Blue biết nơi ở của Black, hắn ta trông như thế nào, và những điều đại loại như thế. Khi Blue hỏi White xem theo anh ta thì vụ này sẽ kéo dài độ bao lâu, White trả lời rằng anh ta không rõ. Cứ gửi báo cáo hàng tuần, anh ta bảo vậy, cho đến khi có thông báo cụ thể hơn. ... Mời các bạn đón đọc Những Bóng Ma của tác giả Paul Auster.
Thiên Đường Tiền Xu Tập 3
Thiên đường Tiền xu có đối thủ cạnh tranh! Đó là điều chẳng ai ngờ tới, bởi bánh kẹo nơi đây mang sức mạnh thay đổi cả vận mệnh người sở hữu chúng. Nhưng Cửa hiệu Tai ương đã xuất hiện. Ma thuật hay không thì bánh kẹo ở đây cũng không hề kém cạnh. Chỉ có điều, trong khi bánh kẹo Thiên đường tiền xu đưa đường chỉ lối con người ta đến những gì tươi sáng, thì các món hàng của Cửa hiệu tai ương lại có thể khơi dậy những mảng tối sâu nhất trong tâm hồn mỗi người. Để rồi, một cuộc đấu kẹo vô cùng ly kỳ  bắt đầu, mở ra một thế giới ngỡ chỉ có trong mơ, ma mị và lôi cuốn ta tới tận trang cuối. *** Hiroshima Reiko, sinh tại tỉnh Kanagawa, Nhật Bản và là một tác giả sách thiếu nhi lừng danh. Năm 2005, bà đoạt giải Juniorboukenshousetsu với tác phẩm Suiyou no mori. Bà cũng là tác giả của vô số các tác phẩm văn học thiếu nhi, kỳ ảo nổi tiếng khác. jyajya, sinh tại Fukuoka, từng làm nhân viên cho một công ty phát triển các ứng dụng trên điện thoại. Năm 2011, jyajya bắt đầu ra làm thiết kế tự do và hiện đã lấn sân sang cả lĩnh vực vẽ minh họa. *** BÁNH XỐP CÓ NHÂN ĂN GIẤC MƠ Nobutaka đang ngồi trên xe buýt để tới bệnh viện. Ngay khi vừa nhận được điện thoại báo Marie phải nhập viện, Nobutaka liền phi ngay ra khỏi văn phòng. Nhưng giờ, cả khi đang tới chỗ con gái, lòng anh vẫn lo lắng khôn nguôi. Đối với Nobutaka, cô con gái Marie vừa tròn bốn tuổi là bảo bối không gì sánh nổi. Cô con gái rượu đáng yêu vô ngần của anh. Nhưng vài tuần nay, đêm nào Marie cũng bị những cơn ác mộng khủng khiếp hành hạ. Trong mơ, con bé bị những thứ đáng sợ rượt đuổi, bị ăn thịt, bị giày xéo. Đến bây giờ thì Marie vô cùng khiếp sợ mỗi khi phải đi ngủ. Nếu có ngủ con bé cũng lập tức hét lên rồi choàng dậy ngay. Sắc mặt Marie ngày một xanh xao, con bé gầy xọp cả đi. Lần này nhập viện chắc chắn cũng do thiếu ngủ. Nobutaka xót con lắm. Giá mà anh có thể chịu thay con thì tốt biết bao. Mà tại sao con bé lại suốt ngày gặp ác mộng vậy nhỉ? Đúng là sống trên đòi ai cũng một hai lần mơ thấy ác mộng, nhưng mơ thấy ác mộng hằng đêm như Marie thì kỳ lạ quá. Nghĩ thế nào cũng thấy lạ. Con bé chưa từng trải qua chuyện gì đáng sợ, anh cũng chưa cho con xem phim kinh dị bao giờ. Rốt cuộc là vì sao? Vì lo cho con gái mà gần đây Nobutaka không thể tập trung vào công việc. Hôm nay anh cũng phạm lỗi và bị sếp mắng. Phải làm gì đó thôi. Nhưng làm gì mới được chứ? Đúng lúc Nobutaka đang đăm chiêu suy nghĩ thì có ai đó tới bắt chuyện với anh. “Hình như anh đang gặp chuyện gì đó phiền lòng?” Nobutaka quay lại thì thấy ngồi ở ghế sau là một người phụ nữ vô cùng to lớn vận kimono. Mái tóc người này trắng muốt nhưng khuôn mặt lại trẻ trung, người phụ nữ vừa nở một nụ cười kỳ lạ vừa nhìn Nobutaka. Nobutaka giật mình. Chuyện gì thế này? Sao anh cứ có cảm giác như mình đang bị áp chế vậy. Người phụ nữ lại nhoẻn miệng cười tươi hơn nữa “Liệu anh có muốn hóa giải nỗi muộn phiền đó không? Nếu được hay là ghé cửa tiệm của ta đi? Sao, không tốn nhiều thời gian đến vậy đâu. Của tiệm của ta ở ngay bến xe buýt tiếp theo thôi.” “Khô... không, tôi đang đi tới bệnh viện...” Người phụ nữ nhìn Nobutaka chằm chằm. Nobutaka cảm thấy đầu óc trống trơn. Đến khi nhận ra anh đã thấy minh xuống xe mất rồi. Cứ vậy Nobutaka đi theo người phụ nữ vào một con đường nhỏ và tối. Ớ đó có một tiệm bánh kẹo nhỏ. Những món bánh kẹo bày la liệt, sáng lấp lánh. Hẳn Marie sẽ thích chúng lắm đây. Người phụ nữ quay người lại. “Chào mừng đến với Thiên đường tiền xu, vị khách may mắn của ta. Vậy quý khách đang phiền muộn vi điều gì thế? Dù là chuyện gì xin cứ nói với chủ tiệm Beniko ta đây.” Nobutaka chợt nghĩ. Không biết chừng ở đây lại có thứ mình muốn ấy chứ? “Có thứ gì xua đuổi được những cơn ác mộng không ạ?” Nobutaka rụt rè hỏi thử, vậy mà bà chủ tiệm gật đầu rõ mạnh. “Thế thì Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ là hợp nhất rồi.” Nói đoạn, bà chủ tiệm lấy một chiếc bánh xốp từ cái thùng đặt trong góc ra. Chiếc bánh có hình đồng tiền cổ, trông vô cùng ngon mắt. Trên một mặt bánh màu nâu vàng còn có cả hình con thú kỳ dị. Con thú bốn chân hình thù thì giống chó lai sư tử đá gác cổng đền, nhưng mũi lại dài như mũi voi và còn có cả bờm sư tử nữa. “Đây là Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ chứa đựng linh lực của thần thú Baku chuyên ăn ác mộng. Chỉ cần ăn bánh này vào, giấc mơ có đáng sợ hay tồi tệ cách mấy cũng sẽ bị đuổi đi hết.” Nobutaka nín thở. Là nó! Nó chính là thứ mình, à không, Marie cần lúc này! “Tôi, tôi mua!” Dù nó có giá một triệu yên mình cũng mua! Nobutaka dứt khoát lôi ví ra khỏi cặp, làm tấm ảnh Marie phất phơ rơi xuống. Bà chủ tiệm nhặt tấm ảnh lên. “Ôi chà, cô bé dễ thương làm sao.” “Cảm ơn chị. Con gái tôi đấy. Con bé vừa tròn bốn tuổi.” “Ồ, ra là vậy. Đúng độ tuổi đáng yêu nhất đấy nhỉ... Nhưng mà đáng thương thay...” “Chị nói vậy là ý gì?” “Cô bé đang bị nguyền rủa đấy.” “Sao cơ!” Nobutaka suýt nữa thì hét toáng lên “Tự nhiên chị nói cái quái gì vậy?” Song ngay khi nhìn thấy khuôn mặt bà chủ tiệm, anh chẳng cất nên lời nữa. Nobutaka chợt hiểu ra. Rằng bà chủ tiệm đang nói sự thật. “Chị bảo Marie nhà tôi đang bị nguyền rủa ạ?” “Đúng vậy. Nhìn bức ảnh này ta thấy có tà khí... Người hay gặp phải những giấc mơ đáng sợ có phải là cô bé này chăng?” “Vâng, đúng vậy. Gần đây bỗng nhiên con bé thường xuyên gặp phải ác mộng. Mà đêm nào cũng vậy mới khổ chứ! Nhưng... nhưng mà bị nguyền thì... Marie mới chỉ bốn tuổi thôi mà? Sao lại có kẻ nào ghét con bé đến thế được!” “Những oán hận, căm ghét của con người có thể trỗi dậy từ những chuyện khôn lường, gây hại cho người không ngờ tới đấy.” Giọng bà chủ tiệm nhẹ bẫng. “Với những kẻ đi nguyền rủa người khác, đối phương có là trẻ con hay không cũng chẳng có nghĩa gì đâu... Hừm, lời nguyền này không phải do kẹo của tiệm ta. Có lẽ là Bánh nướng búp bê nguyền rủa của Cửa hiệu tai ương, hoặc là...” Bà chủ tiệm bắt đầu lẩm bẩm nói chuyện một mình, song Nobutaka đã không còn nghe thấy gì nữa. Cơn giận trong anh đang dâng lên cuồn cuộn. Đứa nào! Đứa nào đã làm chuyện này! Lại dám nguyền rủa Marie của tao, không thể tha thứ được! Tao sẽ trả thù! Tao sẽ tìm ra mày rồi cho mày mất xác luôn! Nobutaka siết chặt nắm đấm. Ô, bà chủ tiệm lên tiếng vẻ thích thú. “Chuyện này hiếm đây. Có vẻ như quý khách đã có một mong ước mới nhỉ. Một ước muốn mạnh mẽ không hề thua kém ước muốn ban đầu... Giờ quý khách muốn trả thù sao?” “Dĩ, dĩ nhiên rồi ạ!” “...Ta cũng có thể giúp quý khách cả việc đó nữa đấy.” Bà chủ tiệm khẽ nói, đoạn lấy từ chiếc tủ lạnh nhỏ trong góc tiệm ra một chai thủy tinh. Cái chai trông giống chai nước soda chanh, bên trong sóng sánh thứ chất lỏng màu vàng. Bà chủ tiệm lắc nhẹ, trong chai liền nổi lên những bọt đỏ nhìn y như lửa cháy vậy. “Đây là Nước gừng có ga phục thù. Thứ đồ uống này sẽ giúp quý khách tìm ra kẻ đã tấn công mình và trả đũa lại hắn. Dĩ nhiên ta đảm bảo nó sẽ có tác dụng. Uống thứ này nhất định ước muốn của quý khách sẽ thành hiện thực.” Mắt Nobutaka sáng rực lên trước những lời thì thầm của bà chủ tiệm. Có thứ này rồi mình sẽ bắt kẻ đã làm Marie khổ sở phải trả giá! Dĩ nhiên anh phải mua cả món này rồi. Thế nhưng khi Nobutaka định vươn tay ra với lấy cái chai thì bà chủ tiệm lại bất ngờ nói. “Như vậy là quý khách chọn mua Nước gừng có ga phục thù chứ không phải Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ đúng không?” “Hả?” Nobutaka chớp mắt lia lịa. Anh chẳng hiểu gì cả. Bà chủ tiệm chậm rãi nói tiếp. “Tiệm ta không bán hai món hàng cùng một lúc. Quý khách chỉ có thể chọn một trong hai, Nước gừng có ga phục thù hoặc Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ thôi.” “Chuyện, chuyện này...” Nobutaka cuống lên. Anh thử nài nỉ xem có cách nào mua cả hai thứ không nhưng bà chủ tiệm dứt khoát từ chối. Nobutaka rên rỉ nhìn hai món đồ trước mắt. Nước gừng có ga phục thù và Bánh xốp có nhân án giấc mơ, mình buộc phải chọn một trong hai sao? Nước gừng có ga phục thù khiến Nobutaka không cưỡng lại được. Anh không thể kìm được ý nghĩ hung bạo muốn trả thù kẻ đã nguyền rủa Marie. Chỉ cần có Nước gừng có ga phục thù này, ước muốn đó sẽ thành hiện thực. Vậy nhưng... Nobutaka cố nén lòng căm hận, nhìn về phía Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ. Thứ Marie cần là Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ. Nước gừng có ga phục thù có thể thay mình trừng trị kẻ đã nguyền rủa Marie, nhưng chưa chắc đã giúp con bé hết gặp ác mộng. Phải mua Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ thôi. Cuối cùng Nobutaka cũng hạ quyết tâm. “Cho tôi Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ.” “Vâng. Nó có giá năm mươi yên. Xin hãy trả bằng đúng đồng năm mươi yên.” Nobutaka nhìn vào chiếc ví đựng tiền xu. Vừa hay chỉ còn sót lại đúng một đồng năm mươi yên, anh liền đưa nó cho bà chủ tiệm. “Đúng là đồng xu của ngày hôm nay rồi, đồng năm mươi yên năm Chiêu Hòa thứ sáu mươi. Ta xin nhận. Bánh này giờ là của quý khách.” Bà chủ tiệm gói món Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ vào tờ giấy màu hoa anh đào tuyệt đẹp rồi đưa nó cho Nobutaka. Sau khi Nobutaka cẩn thận cất chiếc bánh xốp vào trong cặp, bà chủ tiệm liền nói. “Quý khách vẫn còn lưỡng lự gì chăng?” “Sao cơ ạ?” “Có phải quý khách vẫn hơi lăn tăn, lẽ ra mình nên chọn Nước gừng có ga phục thù thì hơn?” Bị nói trúng tim đen rồi. Bà chủ tiệm mỉm cười với Nobutaka đang đỏ bừng mặt. “Lời nguyền hoặc bùa chú một khi bị phá giải sẽ yểm lại chính chủ nhân của nó. Kẹo của tiệm ta nhất định sẽ phá giải được lời nguyền yểm lên con gái quý khách. Sau đó chuyện thế nào. Chắc quý khách cũng hiểu rồi chứ. “Ồ!” “Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ là một sự lựa chọn đúng đắn rồi. Cảm ơn quý khách đã mua hàng ở tiệm ta.” Bà chủ tiệm vừa cúi đầu, nơi ấy chợt tối om. Rầm. Sau một cơn rung lắc nhẹ, Nobutaka tỉnh lại. Rồi anh giật mình. Thế nào mà anh lại đang ở trên xe buýt rồi. Vội nhìn ra ngoài cửa sổ, bệnh viện nơi Marie nhập viện đã ở trong tầm mắt. Vậy vừa rồi là mơ chăng. Tuy hơi thất vọng nhưng Nobutaka vẫn mở cặp ra xem thử. Song lần lày anh thật sự nhảy dựng lên. Trong cặp anh vẫn có gói nhỏ bọc giấy màu hoa anh đào. Đúng là Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ rồi! Đó không phải là mơ! Vừa tới điểm dừng trước bệnh viện, Nobutaka liền phi xuống xe, phóng như bay tới phòng bệnh. Marie đang nằm rũ ra trên giường. Trông con bé còn tệ hơn cả sáng nay. Mắt con bé thâm tím lại, mặt thỉ trắng bệch như tờ giấy. Vợ anh, Sayomi đang ngồi bên cạnh dỗ dành con bé ngủ, song con bé mếu máo mà rằng “Con sợ ngủ lắm”. Nhìn thấy cảnh đó Nobutaka chỉ chực khóc. Song anh cố nặn ra một nụ cười rồi tới bên Marie. Vừa thấy Nobutaka, Marie liền tươi tỉnh hẳn lên. “Bố!” “Anh tới đấy à?” Sayomi cũng cất giọng như thể đã nhẹ nhõm được đôi phần. “Ừ, phải đến chứ. Marie, con ổn không?” “Ổn sao được! Họ tiêm con bé hai lần rồi đấy!” “Thế à, khổ thân con tôi quá. Nhưng không sao, bố mua bánh đến đây rồi. Một loại bánh vô cùng đặc biệt chỉ dành riêng cho Marie. Con ăn cái này rồi nhất định sẽ không gặp phải những giấc mơ đáng sự nữa.” “Bố nói dối.” “Thật đấy, bố hứa... Con cứ ăn thủ mà xem?” “... Vâng.” Nobutaka đưa Bánh xốp có nhân ăn giấc mơ cho Marie. Vừa cắn một miếng, mắt Marie đã sáng lên. “Ngon quá!” “Vậy hả. Tốt rồi. Của Marie cả đấy, con ăn hết đi.” “Cảm ơn bố ạ.” Marie nhồm nhoàm đầy một miệng bánh xốp, nức nở khen ngon quá, ngon quá. Lâu lắm rồi con bé mới lại ăn ngon miệng thế này... Nhìn bộ dạng ấy của cô con gái, Sayomi cũng phải tròn mắt. “Bánh gì... vậy mình?” “Bánh có phép thuật đấy. Nó chỉ dành riêng cho Marie thôi.” Marie nhanh chóng chén sạch cái bánh xốp. Thế rồi mắt con bé bắt đầu lờ đờ, chẳng mấy chốc đã nghe thấy cả tiếng ngáy khe khẽ. Cả Nobutaka và Sayomi đều nín thở nhìn con gái. Liệu con bé ngủ được bao lâu sẽ lại hét toáng lên, choàng dậy đây? Bao lâu nữa con bé sẽ lại vừa khóc vừa kêu la? Thế nhưng hai vợ chồng Nobutaka đợi mãi cũng không thấy động tĩnh gì cả. Marie vẫn ngủ ngon lành. Thỉnh thoảng con bé còn cười khúc khích, hẳn là đang mơ gì vui lắm. Sayomi bật khóc, nắm chặt lấy tay Nobutaka. “Con bé ngủ rồi! Marie đang ngủ kìa... Đúng là chiếc bánh có phép thuật sao? Chuyện này là thế nào vậy? Sao anh có được thừ đó?” “Anh mua đấy. Trả tiền hẳn hoi.” Nobutaka bảo với Sayomi sẽ kể đầu đuôi câu chuyện cho cô sau, rồi lại hướng mắt về phía Marie đang ngủ. Bây giờ anh chỉ muốn ngắm nhìn gương mặt say ngủ đó thôi. Marie được xuất viện ngay hôm sau. Nhờ ngủ được đẫy giấc nên má con bé đã hồng hào trở lại, quầng thâm dưới mắt cũng biến mất sạch. Chẳng những thế hình như con bé còn có một giấc mơ tuyệt vời lắm. Marie hào hứng kể cho Nobutaka. “Con được cưỡi lên một bạn thú hiền ơi là hiền rồi cùng bay trên trời đêm đấy! Bạn thú lạ lắm nhé! Bạn ấy có chiếc mũi như mũi voi nhưng lại không phải là voi, thân mình đầy lông màu vàng mềm mại lắm!” “Vậy sao. Giấc mơ tuyệt vời quá con nhỉ.” “Vâng! Thích lắm ạ! Bạn thú còn bảo từ giờ trở đi sẽ thường xuyên tới chơi với Marie trong mơ và bảo vệ Marie nữa cơ. Bạn ấy hứa vậy đấy!” Trước nụ cười của con gái, Nobutaka vừa vui mừng vừa nhẹ nhõm, cả người cả tim đều như muốn tan ra. Mọi chuyện chắc ổn cả rồi. Nobutaka yên tâm đi tới công ty. Anh vừa bước vào văn phòng, đồng nghiệp đã liên tục hỏi thăm. “A, anh Yokote. Hôm qua có chuyện gì thế?” “Con gái anh không sao chứ?” Mời các bạn đón đọc Thiên Đường Tiền Xu Tập 1 của tác giả Hiroshima Reiko.
Dám Hạnh Phúc
Triết gia Ai cũng có thể hạnh phúc ngay từ giây phút này. Chỉ có điều, chúng ta không thể hưởng thụ hạnh phúc nếu chỉ đứng yên tại chỗ. Cần phải tiếp tục tiến bước trên con đường mình đã đặt chân lên. Cậu đã tiến một bước đầu tiên. Đã tiến một bước dài. Tuy nhiên, cậu đang nhụt chí, định thoái lui chứ không chỉ dừng lại. Cậu có biết tại sao không?  Chàng thanh niên Thầy bảo tôi không có khả năng chịu đựng?  Triết gia Không hề. Cậu chỉ chưa đưa ra được “lựa chọn lớn nhất của cuộc đời” thôi.  Chàng thanh niên Lựa chọn lớn nhất của cuộc đời? Thầy bảo tôi lựa chọn gì cơ?  Triết gia Tôi nói vừa nãy rồi đấy. Là “tình yêu”.  Chàng thanh niên Trời, một từ đó thì làm sao mà tôi hiểu được! Đừng nói một cách trừu tượng để tránh né nữa!!  Triết gia Tôi nghiêm túc mà. Những vướng mắc trong lòng cậu bây giờ đều được gói gọn trong một từ “tình yêu”. *** Vậy là bản dịch tiếng Việt cuối cùng cũng được xuất bản! “Dám Hạnh Phúc”. Đây là phần tiếp theo của cuốn sách bán chạy mà có thể mọi người đã từng nghe đến: “Dám Bị Ghét”. Đợt ở bên Nhật mình đã có cơ hội được cầm trên tay cả 2 cuốn bằng tiếng Nhật nhưng chỉ đọc kĩ cuốn phần 1. Được cầm trên tay bản dịch tiếng Việt phần 2, mình đã dành 2 ngày để đọc nó, và công nhận là cuốn sách rất hay nhưng vẫn có nhiều chỗ khó hiểu, hoặc do não mình chậm. Cuốn sách Dám Bị Ghét    Nói một chút về cuốn sách này. Cuốn sách này giới thiệu với người đọc về tâm lý học Adler thông qua cuộc trò chuyện giữa một chàng thanh niên và triết gia. Các bạn có thể search google “review sách Dám bị ghét” và có rất rất nhiều trang web cũng như blog đánh giá và tóm tắt cuốn sách này.    Cá nhân mình thấy cuốn này rất hay bởi mình không hề biết một tí gì về tâm lý học cũng như tư tưởng Adler. Có những quan điểm mà lần đầu đọc khiến mình chỉ muốn thốt lên “WTF?!”, ví dụ như “sang chấn tâm lý không hề tồn tại”. Bên cạnh đó, cũng có những quan điểm mà mình đồng tình ngay khi đọc được nó, ví dụ như “hạnh phúc chính là cảm giác cống hiến”, hay “sống hết mình ngay tại đây, vào lúc này”. Nhìn chung, cuốn sách dẫn tới một kết luận là: nếu muốn sống hạnh phúc thì phải biết chấp nhận việc bị ghét. Nếu ai chưa đọc cuốn này thì mình super recommend. Hay cơ mà hơi hack não, đến mình bây giờ vẫn chưa thể hiểu được hết nữa là. Review sách Dám Hạnh Phúc    “Dám Hạnh Phúc” là phần tiếp theo của cuốn “Dám Bị Ghét”. Chàng thang niên đã được thầy triết gia “thông não” tư tưởng Adler, nhưng 3 năm sau anh chàng quay lại gặp ông thầy và than phiền rằng những quan điểm này không hề thực tế và gần như không thể áp dụng được. Và thế là 2 người lại có một đêm không ngủ để ngồi tranh luận với nhau về tư tưởng Adler.    Chàng thanh niên than phiền về việc anh đã áp dụng tư tưởng Adler khi dạy học ở trường, ví dụ như “không được khen ngợi cũng không được mắng mỏ”, và kết quả là lớp học trở nên náo loạn hơn. Và anh cho rằng, tư tưởng của Adler chỉ là lý thuyết suông trên giấy, không giúp ích gì trong xã hội hiện đại.    Triết gia lắng nghe chàng thanh niên, đồng thời giải thích cụ thể hơn về những hiểu nhầm về tư tưởng Adler. Mời các bạn đón đọc Dám Hạnh Phúc của tác giả Koga Fumitake & Kishimi Ichiro.