Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Đánh Cắp Khát Khao Em

Gabrielle Brooks biết rằng tìm được một người chồng hoàn hảo là việc không dễ dàng. Thậm chí với sự thật rằng cha nàng đã nhờ tới sự giúp đỡ của người đàn ông đầy ảnh hưởng - James Malory, người mà - cùng với vợ mình Georgina, sẽ bảo trợ cho nàng trong lần đầu ra mắt, vào lúc mùa vũ hội đã trôi qua được nửa đường rồi, nhưng hầu như những người đàn ông thích hợp đã bị “săn bắt” bởi những quý cô có ý định kết hôn khác. Và nếu mọi người biết rằng Gabrielle là con gái của một tên cướp biển, nàng có thể sẽ phải ngay lập tức đóng gói đồ đạc và trở về nhà mà vẫn là một bà cô không chồng. Mặc kệ những trở ngại đó, Gabrielle đã tìm được một người đàn ông có tiềm năng: thuyền trưởng người Mỹ Drew Anderson. Nhưng Drew lại không có quan điểm rõ ràng việc kết hôn và cả những tên cướp biển. Khi Gabrielle bất ngờ phải quay lại Caribbean, nàng quyết định chứng minh chính xác mình có bao nhiêu phần cướp biển bằng cách ăn trộm thuyền của Drew và bắt giữ anh. Lindsey đã thêm một ít những pha hành động kịch tính và phiêu lưu vào cuộc bắt cóc mới nhất này, cùng với sự hài hước dí dỏm nhưng cũng thật quyến rũ gợi cảm – đặc trưng của Malory series… *** Johanna Lindsey, tên thật là Johanna Helen Howard, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1952 tại Đức, nhưng lại là một trong những nhà văn nổi tiếng ở Mỹ. Bà được mệnh danh là một trong những tác giả thành công nhất trên thế giới về tiểu thuyết lịch sử lãng mạn. Các tác phẩm của bà thường xuyên lọt vào danh sách bán chạy nhất do New York Times bình chọn.   Lindsey xuất bản cuốn sách đầu tay vào năm 1977, với tựa đề Captive Bride, và ngay lập tức đưa tên tuổi của bà đến với các độc giả yêu văn học. Đó chính là độc lực để bà tiếp tục cho ra đời rất nhiều cuốn tiểu thuyết ăn khách khác.   Tính đến năm 2006, những tác phẩm của bà đã bán được trên năm mươi tám triệu ấn bản và dịch ra mười hai ngôn ngữ trên toàn thế giới.   Bằng lối kể chuyện hài hước song cũng không kém phần lãng mạn và bất ngờ, Johanna đã không hề khiến người đọc thất vọng với những câu chuyện của mình. Bà đã gắn kết những con người với hoàn cảnh và số phận hoàn toàn khác biệt, tưởng chừng như không bao giờ có thể ở bên nhau, và cho hộ một kết thúc viên mãn.   Không chỉ có vậy, giọng văn tinh tế và vô cùng đặc trưng của Johanna cũng là điều luôn hấp dẫn độc giả. Mỗi nhân vật của bà luôn được khắc họa với cá tính nổi bật. Ngoài ra, chính sự kiên cường của họ trong tình yêu cũng góp phần tạo ra nét đặc sắc cho ngòi bút của bà.   Mời độc giả đọc các tác phẩm của Johanna Lindsey đã và sẽ được Bách Việt xuất bản: Ma lực tình yêu (2012), Nàng công chúa lưu lạc (2012), Gã cướp biển quý tộc (2012), Em là của anh (2012), Hãy nói yêu em (2013), Người thừa kế (2015), The devil who tamed her, A rogue of my own, Let love find you. *** Nàng đã được dặn là phải trốn, và trốn kỹ như thế. Đó cũng là suy nghĩ đầu tiên của Gabrielle Brooks ngay sau khi tiếng ồn đã kéo nàng lên boong tàu. Dù vậy, không phải thuyền trưởng là người đã đưa ra lệnh đó với nàng. Anh ta không có gì ngoại trừ sự ngạo mạn cái mà làm anh có thể mất đang trong chuyến hành trình thuận buồm xuôi gió. Anh thậm chí còn cười vào việc đó và dứ dứ nắm đấm vào cờ Jolly Roger bay trên cột buồm chính của con tàu đang tấn công (Jolly Roger – là thuật ngữ hay tên dành cho cờ của cướp biển), điều mà có thể trông thấy rõ ràng bây giờ bằng mắt thường. Sự nồng nhiệt của anh ta – mà nàng dám nói là sự vui sướng chăng? – chắc chắn giúp cho tâm trí nàng dịu bớt. Cho đến khi vị thuyền phó boong kéo nàng sang một bên và bảo nàng trốn đi. Không giống như thuyền trưởng, Avery Dobs dường như không háo hức cho lắm với cuộc chạm trán sắp tới. Da anh trắng bệch như những cánh buồm phụ đang được cuốn lên nhanh chóng bởi toàn bộ thủy thủ trên tàu, anh cũng chẳng nhẹ nhàng khi xô nàng về phía những bậc thang.  “Sử dụng những chiếc thùng rỗng đựng thức ăn trong khoang. Có rất nhiều ở đó. Với bất kỳ may mắn nào, bọn cướp biển sẽ không mở nhiều hơn một hay hai, và thấy chúng trống không, chúng sẽ rời đi nhanh chóng. Tôi đã báo cho người hầu của cô trốn đi ngay rồi. Bây giờ đi đi! Và dù cô nghe thấy bất cứ điều gì thì cũng không được rời khỏi khoang tàu cho đến khi người nào cô quen giọng đến chỗ cô”. Anh không nói gì cho đến khi anh đến chỗ nàng. Sự hoảng sợ của anh đang lan dần nhưng sự thô lỗ của anh mới đáng ngạc nhiên. Cánh tay nàng hầu như chắc chắn bị thâm nơi mà anh đã nắm chặt. Đó quả thật là sự thay đổi từ cách đối xử lịch sự của anh với nàng kể từ khi cuộc hành trình bắt đầu. Anh gần như đã tán tỉnh nàng, hay trông có vẻ như thế, dù cho nó không phải vậy. Anh mới đầu 30 tuổi, còn nàng thì mới rời trường học. Đó chỉ là cách cư xử tôn trọng, giọng nói lịch sự của anh, và sự chú ý quá mức mà anh dành cho nàng trong suốt 3 tuần kể từ khi họ rời London, điều đó đã gây ấn tượng vời nàng rằng anh thích nàng nhiều hơn những gì anh nên. Anh đã truyền sự sợ hãi của mình tới nàng, mặc dù, nàng vẫn chạy hướng về phía lòng thuyền. Thật dễ dàng tìm được những chiếc thùng đựng thức ăn mà Avery đã bảo, gần như tất cả đã rỗng, khi giờ đây, họ đã gần đến điểm dừng chân ở Caribbean. Thêm vài ngày nữa, và họ sẽ đến cảng của St. George ởGrenada, chỗ ở cuối cùng của cha nàng mà người ta biết, và nàng có thể bắt đầu tìm kiếm ông. Nathan Brooks không phải là người đàn ông mà nàng biết rõ, mặc dù tất cả những ký ức của nàng về ông quá đỗi đẹp đẽ, nhưng giờ đây ông là tất cả những gì mà nàng có kể từ khi mẹ nàng mất. Trong khi nàng chưa từng một lần nghi ngờ rằng ông yêu bà, ông không bao giờ ở lại gia đình với nàng trong thời gian dài. Một tháng, có thể là vài tháng, và, một năm, ông đã ở lại toàn bộ mùa hè, nhưng sau đó vài năm trôi qua mà ông không trở về thăm. Nathan là thuyền trưởng của chiếc tàu buôn của chính ông với nhiều lợi nhuận buôn bán trên các tuyến đường vùng Tây Ấn. Ông gửi tiền cùng những món quà xa xỉ về nhưng lại hiếm khi tự mình về nhà.  Ông đã cố gắng dời gia đình đến gần nơi ông làm việc, nhưng Carla, mẹ của Gabrielle, thậm chí không thèm cân nhắc đến nó. Nước Anh đã trở thành quê hương của bà trong suốt cuộc đời. Gia đình bà không ở đó, nhưng tất cả những người bạn của bà cũng như những thứ mà bà quý trọng thì có, và bà cũng sẽ không bao giờ tán thành những chuyến đi biển của Nathan với bất cứ giá nào. Buôn bán. Bà luôn nói từ đó với vẻ ghê tởm. Bà đã có đủ dòng máu quý tộc từ tổ tiên mình, thậm chí khi bà buồn chán vì bản thân bà không mang tước hiệu gì, thì bà vẫn coi thường bất kỳ thương nhân nào, thậm chí cả chồng mình. Thật đáng kinh ngạc khi họ đã kết hôn. Họ hoàn toàn trông chẳng thích gì người kia khi họ ở gần nhau. Và Gabrielle sẽ không đời nào đề cập đến chuyện vắng mặt lâu dài của ông đã làm cho Carla… Thôi được, nàng thậm chí không thể để bản thân mình nghĩ đến từ đó chứ đừng nói tới chuyện thốt ra nó. Nàng quá xấu hổ bởi kết luận của mình. Nhưng Albert Swift đã từng là một vị khách thường xuyên ở căn nhà riêng hai tầng vùng ngoại ô của họ ở Brighton trong vài năm trước, và Carla đã cư xử như một cô nữ sinh trẻ tuổi bất cứ khi nào ông ta ở trong thị trấn. Khi ông ta không còn đến nữa và họ nghe người ta đồn rằng ông ta đang ve vãn một nữ thừa kế ở London, mẹ của Gabrielle đã trải qua một sự thay đổi đáng kể. Chỉ qua một đêm, bà biến thành một người đàn bà đau khổ ghét cả thế giới và những thứ trong nó, và khóc vì một người đàn ông thậm chí chưa từng là của bà. Liệu ông ta đã khiến cho Carla hứa hẹn những gì, hay Carla có định li dị chồng hay không, không ai biết, nhưng trái tim bà như đã tan vỡ khi Albert chuyển sự quan tâm của mình sang một người đàn bà khác. Bà đã có đủ tất cả những biểu hiện của một người phụ nữ bị phản bội. Khi bà bị ốm vào đầu mùa xuân và tình trạng xấu hơn, bà chẳng nỗ lực chút nào để vượt qua nó, lờ đi lời khuyên của bác sỹ và chẳng ăn uống gì mấy. Bản thân Gabrielle rất đau lòng. khi nàng phải nhìn thấy sự suy sụp của mẹ. Nàng có thể không tán thành sự ám ảnh của mẹ với Albert, hay là sự miễn cưỡng trong việc cố gắng duy trì cuộc hôn nhân của bà, nhưng nàng vẫn yêu quý mẹ mình sâu sắc và làm tất cả mọi thứ mà nàng nghĩ ra để vực tinh thần bà dậy. Nàng lấp đầy căn phòng của mẹ với những bông hoa mà nàng đã sục tìm trong khu xóm, đọc cho mẹ nàng nghe, thậm chí khăng khăng bắt người quản gia của họ, Margery, dành ra một lượng thời gian đáng kể trong ngày của bà để thăm mẹ cùng nàng, vì bà là người phụ nữ thích tán gẫu và thường xuyên khá hóm hỉnh trong những lời bình luận của mình. Margery đã ở với họ vài năm vào thời điểm đó. Bà khoảng trung niên với mái tóc màu đỏ sáng, cặp mắt xanh đầy sức sống, có đầy tàn nhang, bà ta cứng đầu, thẳng thắn và trên tất cả là bà không bị dọa nạt bởi bất kỳ người quý tộc nào. Nhưng bà cũng là một người phụ nữ biết quan tâm săn sóc, và coi gia đình Brooks như thể họ là gia đình của bà. Gabrielle nghĩ rằng nàng đã dồn hết mọi nỗ lực của mình vào làm những việc giúp ý chí sống của mẹ nàng quay lại. Mẹ nàng đã ăn trở lại và ngừng việc đề cập đến Albert. Vì vậy Gabrielle đã bị suy sụp khi mẹ nàng ra đi vào lúc nửa đêm. “Chết vì buồn bã” là kết luận cá nhân của nàng, bởi vì mẹ nàng đang phục hồi lại sức khỏe sau trận ốm, nhưng nàng sẽ chẳng bao giờ đề cập điều đó với cha. Nhưng cái chết của mẹ đã làm cho Gabrielle cảm thấy hoàn toàn cô đơn. Mặc dù nàng được để lại khá nhiều tiền, vì Carla sống khá sung túc nhờ vào khoản thừa kế của gia đình, Gabrielle lại chẳng được động vào số tiền đó cho đến khi nàng trưởng thành lúc 21 tuổi, đó quả là một thời gian dài. Cha nàng vẫn gửi tiền đều đặn, và vẫn còn một khoản tiền tiết kiệm có thể trang trải trong một khoảng thời gian, nhưng nàng chỉ vừa mới 18 tuổi. Nàng cũng bị thay đổi người giám hộ tài sản. Cố vấn pháp luật của Carla, William Bates, đã đề cập đến điều đó lúc đọc chúc thư. Chìm trong đau khổ, nàng thậm chí chẳng để tâm đến, nhưng khi biết được cái tên đó, nàng đã bị khiếp sợ. Gã đó là một kẻ tán gái và ai cũng biết chuyện đó. Những tin đồn kể rằng hắn đã tán tỉnh tất cả những cô hầu gái dưới mái nhà hắn, và thậm chí hắn còn véo mông Gabrielle một lần tại một bữa tiệc vườn, khi nàng chỉ mới mười lăm tuổi! Người giám hộ tài sản, đặc biệt là hắn sẽ chẳng phải làm gì đặc biệt cả. Cha nàng vẫn còn sống. Nàng chỉ là cần phải tìm ra ông, vì vậy nàng lên đường để thực hiện điều đó. Nàng đã chế ngự được một chút sợ hãi ban đầu việc ngồi trên tàu đi nửa vòng trái đất bỏ lại đằng sau mọi thứ nàng đã từng thân thuộc. Nàng gần như đã đổi ý hai lần. Nhưng cuối cùng, nàng cảm thấy chẳng còn sự lựa chọn nào khác. Và ít nhất thì Margery đã đồng ý đi cùng với nàng. Cuộc hành trình đã trôi qua rất suôn sẻ. Không ai thắc mắc gì về chuyến đi của nàng chỉ với người hầu. Nàng ở dưới sự bảo vệ của thuyền trưởng, sau tất cả, ít nhất là trong khoảng thời gian này, và ngụ ý nàng rằng cha nàng sẽ gặp nàng sau khi tàu cập bến chỉ là một lời nói dối nhỏ để né tránh bất kỳ sự quan tâm nào trong lúc này. Bây giờ, nghĩ về cha nàng và việc tìm kiếm ông giữ cho nàng bình tĩnh được một lúc. Chân tay nàng tê cóng, cuộn tròn trong chiếc thùng như bây giờ nàng đang làm. Nàng không gặp bất cứ rắc rối nào để đưa toàn bộ cơ thể mình vào trong chiếc thùng này. Nàng không phải người phụ nữ to lớn, cao khoảng năm foot 4 inches(1m62), và có một thân hình mảnh dẻ. Một mảng gỗ vụn đâm vào lưng nàng, mặc dù, khi nàng lục đục chui vào chiếc thùng chỉ trước khi đậy lại nắp lên trên nó, và chẳng có cách nào để với tới nó thậm chí cả khi nàng có đủ chỗ để thử.   Mời các bạn đón đọc Đánh Cắp Khát Khao Em của tác giả Johanna Lindsey.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Độc Chiếm Hoa Khôi - Tam Ngôn Nhị Phách
"Tam ngôn", "Nhị phách" có nét mộc mạc của loại văn học thông tục song đọc rất hấp dẫn. Các tác phẩm ưu tú đều có cốt truyện hoàn chỉnh, tình tiết khúc chiết, chi tiết phong phú, khắc họa cá tính nhân vật rất rõ. Về thủ pháp nghệ thuật, hai bộ sách này rõ ràng là tinh tế hơn loại thoại bản nhiều, có thể thấy sự gọt giũa kỹ lưỡng khi miêu tả hoàn cảnh, động tác, đối thoại, chi tiết, đặc biệt là có chú ý miêu tả tâm lý. Nhiều chỗ miêu tả hoạt động tâm lý rất sinh động. Như chàng Tần Trọng trong "Độc chiếm hoa khôi", gặp người đẹp thấy mê mẩn tâm thần, thấy nàng thân ái, bụng cũng tự tin, song nghĩ thân phận mình lại thấy tự ti rất muốn cầu thân lại lo cầu chẳng được, cứ băn khoăn khắc khoải mãi, bao rối rắm phức tạp trong tận đáy lòng được khắc họa tường tận vừa hợp lý vừa hợp tình... Nghệ thuật miêu tả tâm lý là một bước tiến triển rất quan trọng, vì trước kia, các loại truyền kỳ, chí quái, các loại sử truyện, thoại bản thường chỉ chú trọng miêu tả ngôn hình bên ngoài, ít tả hoạt động tâm lý của các nhân vật. "Tam ngôn", "Nhị phách" đã mở ra một hướng khai thác mới cho nghệ thuật tiểu thuyết phát triển sau này. *** TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC Tinh hoa văn học của nhân loại nào cũng cần được khám phá và tái khám phá. Mỗi tác phẩm lớn là một xứ sở kỳ diệu và mỗi lần ta tìm đến là thực hiện một cuộc phiêu lưu hoan lạc. Dịch thuật, giới thiệu và biên khảo về những tác phẩm tinh hoa sẽ mở ra các lối cổng dẫn vào những cảnh tượng văn chương khác nhau, qua những không gian và thời gian vừa hiện thực vừa kỳ ảo. Khát vọng hiểu biết và vui thú trong đời là bản tính của con người ở mọi nơi và mọi thời. Các tác phẩm văn chương thật sự vĩ đại đều mang lại hai điều đó: vui thú và hiểu biết. Nhưng hiểu biết là niềm vui hiếm khi tự đến một cách dễ dãi. Cần đón đợi và hồi đáp. Mọi tác phẩm tinh hoa cần được đón đợi và hồi đáp trong niềm hân hoan có tên là “ĐỌC”. ĐỌC. Cầm sách lên và đọc. Trong sách có bạn hiền, có người đẹp, có mọi thứ. Do vậy, chúng tôi chủ trương TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC, xem đó như cửa ngõ của hiểu biết và niềm vui. CÓ NĂM CỬA: • Kiệt Tác: Mỗi Kiệt tác sẽ được dịch trọn vẹn và giới thiệu cả tác giả lẫn tác phẩm trong phối cảnh văn hóa những đặc điểm thiết yếu. • Tuyển: Tuyển chọn những tác phẩm ngắn của một tác giả, một nền văn học hay một chủ đề mang tính điển mẫu (thuộc vòng đời hay vòng mùa) • Kiến Thức: Những kiến thức mà người đọc hiện đại cần có: trào lưu văn học, các nền văn học, thể loại... được trình bày gọn nhẹ, dễ tiếp nhận. • Nghiên Cứu: Các công trình chuyên sâu về một vấn đề văn học, một tác giả thiên tài, lý luận phê bình... • Mới: Về các hiện tượng văn học mới xuất hiện của nước ngoài đang gây chú ý hoặc đoạt các giải thưởng lớn... Mong ước chúng tôi là TỦ SÁCH TINH HOA VĂN HỌC sẽ tiến bước bền vững và được đón nhận thân tình. Tủ sách được biên soạn và dịch thuật từ những nhà giáo, dịch giả và nhà nghiên cứu có uy tín và tâm huyết với văn chương. Mời các bạn đón đọc Độc Chiếm Hoa Khôi của tác giả Tam Ngôn Nhị Phách.
Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập - Alexandre Dumas
Ba chàng lính ngự lâm (tiếng Pháp: Les trois mousquetaires) là một tiểu thuyết của nhà văn người Pháp Alexandre Dumas cha, là cuốn đầu tiên của bộ ba tập truyện gồm: Ba Chàng Lính Ngự Lâm Hai Mươi Năm Sau Cái Chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm eBook Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập này gồm trọn bộ ba cuốn trên. Bộ tiểu thuyết kể về những cuộc phiêu lưu của chàng lính ngự lâm d'Artagnan, từ lúc anh còn trẻ cho đến lúc già. "Ba người lính ngự lâm" là cuốn nổi tiếng nhất và cũng là hay nhất trong bộ ba, đã được dựng thành phim nhiều lần, cũng như phim truyền hình, phim hoạt hình Pháp, và hoạt hình Nhật Bản. *** Lời người làm ebook:   Hiện tại ebook và đọc online của bộ ba tác phẩm này trên tất cả các trang web đều sai nhiều (đều cop bản đánh máy bên Vnthuquan). Bản ebook này đã được sửa lại các sai sót dựa theo sách in, và điều khác sách in là các từ phiên âm đã được trả về theo nguyên tác. P/s: Trước đây tôi đã sửa cho 2 cuốn đầu, nhưng khi làm cuốn 3 tôi đã sửa thêm lỗi. Nếu ai đọc phát hiện sai sót, hãy thông báo, tôi sẽ sửa tiếp. - A Còng Văn Càng. • Đã sửa: - Thay thế toàn bộ từ phiên âm - Bổ sung các đoạn thiếu và gõ sai câu văn - Sửa lỗi chính tả - Sắp xếp lại các lời thoại lộn xộn - Chỉnh danh từ, địa danh, tước vị sai • Nguồn text: Vnthuquan • Ebook: @inno14  • Bìa: @inno14 & @Ngọc Sơn • Thay từ phiên âm: @V/C & @chichi.myluckycharm • Soát sửa & Biên tập: @V/C *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Dumas nức tiếng là người thay nhân tình như thay áo. Quả thật, ông cưới vợ chỉ một lần, gia đình này tan vỡ rất nhanh. Ông dan díu với 25 người đàn bà, có nhiều con hoang, mỗi con của một mẹ. Chỉ 3 con được công khai, trong đó con trai, cũng tên Alexandre Dumas, thường được gọi Alexandre Dumas con, trở nên một nhà văn lừng danh. Con gái thứ hai thì cuộc đời lỡ làng, con gái út - mà mẹ cô trẻ hơn Dumas đến gần 40 tuổi - thì chết cô đơn năm 1936 ở một làng quê trong nghèo khổ và không được ai biết đến là con gái cưng của một trong những vĩ nhân của nước Pháp. Mãi gần đây, người ta mới vỡ lẽ rằng Dumas đến với nhiều phụ nữ là do thương họ. Ông đồng thời chu cấp tiền nong đầy đủ cho vài người. Alexandre Dumas Dumas là người hết sức quý trọng tình bạn. Trừ Balzac và Musset, các nhà văn cùng thời đều chơi với ông, thân nhất là Victor Hugo, người đã đánh giá chính xác vai trò của ông ngay khi ông qua đời. Hugo viết: “Trong thế kỷ này, không ai được dân chúng yêu mến sâu rộng và thắm thiết bằng Alexandre Dumas. Các thành công của ông đều tầm cỡ hơn thành công nói chung nhiều. Đó là những đại thắng lợi. Đó là những ngọn đèn pha”. Ông cũng là người đại lượng, năm 1831, do ghen tức với thành công của vở Antony của ông, Hugo cho người viết báo chê bai. Hai người giận nhau. Song năm 1834, ông chủ động giảng hòa. Để hoàn toàn chủ động trong hoạt động sân khấu, ông bỏ ra một món tiền lớn để xây dựng Nhà Hát Kịch Lịch Sử của riêng ông. Khán giả rất nồng nhiệt, song không bù đắp nổi chi phí bỏ ra, nên cuối cùng nhà hát đóng cửa. Từ năm 1848, ông đã ra tờ báo đầu tiên. Sau đó, ông còn ra nhiều tờ báo nữa. Nhưng do quản lý kém, bị kiểm duyệt gây khó dễ, các tờ báo ấy tồn tại không bền, và ngốn của ông rất nhiều công sức và tiền bạc. Ông cũng hai lần ứng cử vào Nghị Viện đều thất bại, ứng cử vào Hội Quốc Ước thì chỉ được 261 phiếu, trong khi các đối thủ được 220.000, rồi phải sang Bỉ lưu vong năm 1851, sau cuộc đảo chính của Napoléon III. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) Mời các bạn đón đọc Ngự Lâm Pháo Thủ Toàn Tập của tác giả Alexandre Dumas.
Dạ Khúc: Năm Câu Chuyện Về Âm Nhạc Và Đêm Buông - Kazuo Ishiguro
Dạ khúc là một chuỗi năm truyện ngắn không liên quan về tình tiết, nhưng hợp lại thành tổng thể quanh một chủ đề chung: “âm nhạc và đêm buông”. Xuất hiện trong Dạ khúc là một dàn nhân vật toàn cầu với những câu chuyện đặt trong những bối cảnh khác nhau. Một nhạc công ghi ta quê Đông Âu chật vật tìm chỗ đứng ở quảng trường Venice. Một nhóm bạn bè đại học gặp lại nhau ở London khi tuổi trẻ đã gần cạn, nhớ lại thời sinh viên xa xôi giữa tình yêu âm nhạc và những say mê lý tưởng. Một nhạc sĩ trẻ trốn nền công nghiệp âm nhạc London về khu đồi Malvern của tuổi thơ mình, tình cờ gặp gỡ cặp vợ chồng nhạc công Thụy Sĩ. Một tay kèn saxo Mỹ tài cao nhưng phận thấp, đụng độ giới giao tế trong khách sạn ở Beverly Hills. Một nghệ sĩ cello Hungary ôm mộng thiên tài giữa lúc dùng tiếng đàn kiếm miếng ăn. Những con người thuộc những giai tầng xã hội rất khác, được kết nối với nhau, và với người đọc, bằng âm nhạc - thứ ngôn ngữ quốc tế chung cho mọi tâm hồn. Nhưng đó không phải thứ âm nhạc công cộng hoành tráng hay âm nhạc thính phòng sang trọng, mà là âm nhạc vào thời khắc lặng lẽ, chiêm nghiệm riêng tư. Trong mỗi câu chuyện có sự đụng chạm rất khẽ giữa hai thế giới: thế giới cá nhân nhỏ bé nhưng chân thực, nơi các ước vọng hoài bão còn ấp ủ, và thế giới của thành công, hào nhoáng, nơi các ước vọng đã thành hiện thực, nhưng cũng có quá nhiều điều có thể mất đi. Nỗi lưu luyến của mỗi nhân vật với thế giới thứ nhất, và khao khát nhưng e dè trước thế giới thứ hai, khiến ta nhớ lại bài hát của cô bé trong Mãi đừng xa tôi, và khiến mỗi câu chuyện đều nhuốm một vẻ buồn rầu dịu ngọt. Ishiguro từng theo đuổi âm nhạc thời trẻ, chơi nhạc đường phố trong ga điện ngầm ở Paris và gửi băng thu thử cho các hãng đĩa, khi đã thành nhà văn nổi tiếng, ông còn tham gia sáng tác cho một album nhạc jazz. Trong các tiểu thuyết của ông, âm nhạc vẫn thường xuất hiện làm bối cảnh phụ, hoặc một chi tiết quan trọng trong cốt truyện. Nay với Dạ khúc, Ishiguro được dịp khám phá trọn vẹn nỗi đam mê ngày trước, và ý nghĩa của nó trong đời sống của những con người hàng ngày mà mỗi độc giả đều có thể thấy mình trong đó. Về tác giả Kazuo Ishiguro Kazuo Ishiguro là một trong những nhà văn hàng đầu trong nền văn chương Anh đương đại. Sinh 8/11/1954 tại Nagasaki, gia đình ông chuyển tới Anh sống năm 1960, nơi ông lấy bằng cử nhân rồi thạc sĩ về sáng tác văn học. Năm 1982, Ishiguro chính thức nhập tịch Anh, cho ra đời tiểu thuyết đầu tay A Pale View of Hills, trở thành một cây bút trẻ sáng giá “ngang với Martin Amis, Salman Rushdie và Ian McEwan” (The Guardian). Hai cuốn sách đầu tiên của ông đều lấy bối cảnh ở Nhật, cuốn thứ hai, An Artist of the Floating World (1986), bắt đầu chuỗi giải thưởng dồn dập đổ xuống ông. Bốn trên sáu tiểu thuyết của Ishiguro đã được đề cử Booker, gần nhất là Never Let Me Go (2005, Nhã Nam ấn hành 2008 dưới tên Mãi đừng xa tôi) chỉ đứng sau cuốn Biển của John Banville. Cuốn sách được giải thực sự là The Remains of the Day (1989), được dựng thành phim năm 1993 có Anthony Hopkins và Emma Thompson đóng với 8 đề cử Oscar. Kazuo Ishiguro có viết truyện ngắn rải rác trên các báo, nhưng Dạ khúc là tập truyện ngắn đầu tiên của ông. Đây cũng là cuốn sách mới nhất ông xuất bản năm 2009.
Bị Thiêu Sống - Souad
Một cô gái quê sống ở ngôi làng hẻo lánh xứ Cisjordaine, Palestine, bị đánh đập dã man hàng chục năm, bị gia đình tẩm xăng đốt cháy vì không chồng có con. Tác phẩm 'Bị thiêu sống' là hồi ký rung động lòng người về tội ác với phụ nữ. Cuốn hồi ký khá đặc biệt, bởi nhân vật chính không muốn nêu tên thật, không tiết lộ nơi ở hiện tại vì mối lo sợ bị truy đuổi và trả thù. "Một nơi nào đó ở châu Âu" và cái tên giả Souad là hai điều riêng nhất của người phụ nữ trong cuốn sách mà độc giả có thể hình dung. Như phần lớn các cô gái sống ở vùng nông thôn hẻo lánh của Palestine, Souad chỉ được xem như là nô lệ trong gia đình. Cô cùng mẹ, các chị em gái phải làm việc quần quật từ sáng đến tối trên cánh đồng, trên vườn nhà, trong xó bếp, chuồng cừu... Chỉ cần cô gái nói chuyện với người đàn ông ngoài gia đình, cô ta sẽ bị kết tội là charmuta (con đĩ) và mang nỗi nhục suốt đời. Khi nhận thức được cuộc sống quanh mình, Souad biết, sinh ra là con gái, điều đó có nghĩa là suốt đời phải cúi đầu vâng lệnh, nghe theo mọi chỉ dẫn, sai khiến của cha, anh em trai và sau này là người chồng. Sống trong tuổi thơ khiếp hãi và bị ám ảnh về cái chết chỉ vì mình "không có cái ấy giữa hai chân", Souad từng chứng kiến mẹ ruột của mình, vì trót sinh quá nhiều con gái nên những lần vượt cạn sau phải giết ngay đứa con lọt lòng, để chúng không trải qua nỗi tủi hổ khi lớn lên. Đến độ tuổi vừa chín của người con gái, Souad không thể nào lấy được chồng chỉ vì người chị trước của cô chưa có ai ngỏ lời cầu hồn. Tuyệt vọng, cô tìm mọi cách quyến rũ một người đàn ông với mong mỏi anh ta giải thoát mình khỏi cuộc sống hiện tại. Nhưng kết quả cô gái mười bảy tuổi nhận được là: ba lần bị buộc làm tình trong sợ hãi, một bào thai, bị người tình bỏ rơi và sự trừng phạt "vì danh dự" của dòng tộc. Jacqueline, một nhân viên của tổ chức nhân đạo Surgir (Thụy Sĩ) vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm để giải thoát cô gái bị chính gia đình tẩm xăng đốt cho kỳ chết. Souad được đưa ra khỏi Palestine và cô là một trong những nạn nhân ít ỏi còn giữ được mạng sống, dù phải từ bỏ quê hương vĩnh viễn. Bên cạnh sức hấp dẫn đặc biệt từ thực tế rùng mình áp đặt lên người phụ nữ, Bị thiêu sống còn thu hút độc giả qua giọng văn giản dị, truyền cảm. Những đoạn miêu tả nội tâm của nhân vật lẫn miêu tả phong tục, sinh hoạt, nét văn hóa riêng của một làng quê Ảrập rất sống động, giàu hình ảnh. Nhà văn Marie Thérèse Cuny, người cộng tác với nhân chứng Souad thực hiện cuốn Bị thiêu sống, nhận xét: "Souad là người phát ngôn cho tất cả phụ nữ trên toàn thế giới là nạn nhân của thứ luật hà khắc do đàn ông đặt ra. Cô chính là vị anh hùng. Tôi rất vinh hạnh là người chấp bút cho cô". *** Tôi là một đứa con gái, và là con gái thì phải bước nhanh, đầu lúc nào cũng phải cuối xuống đất như thể đang đếm bước. Mắt không được nhìn lên, không được liếc sang phải hay sang trái trên đừờng đi. Vì nếu lỡ để ánh mắt mình bắt gặp ánh mắt của một người đàn ông thì sẽ bị cả làng gọi là “charmuta[1]” Nếu để một chị hàng xóm đã có chồng, một cụ già hoặc bất cứ một người nào khác bắt gặp cô gái đi một mình trong hẻm nhỏ, không có mẹ hay chị đi kèm, không dắt cừu, không đội bó rơm hay sọt đựng quả vả thì cũng bị gọi là “charmuta”. Con gái phải có chồng mới được phép nhìn thẳng về phía trước, mới được phép bước vào hàng quán, mới được phép tự nhổ lông và đeo nữ nữ trang. Khi bước sang tuổi mười bốn mà chưa có chồng như mẹ tôi thì người con gái bắt đầu bị cả làng chế nhạo. Nhưng muốn được lấy chồng thì phải đợi đến lượt mình. Chị cả trong nhà lấy trước, sau đó mới tuần tự đến các cô em. Trong nhà bố tôi có quá nhiều con gái, bốn đứa lớn đều đến tuổi lấy chồng. Ngoài ra còn có hai đứa em gái cùng cha khác mẹ do bà vợ hai của cha tôi sinh ra. Chúng vẫn còn nhỏ. Đứa con trai duy nhất trong gia đình mà ai cũng yêu quí là thằng Assad đã chào đời trong vinh quang giữa bấy nhiêu đứa con gái, nó là đứa thứ tư trong nhà. Tôi là đứa thứ ba. Cha tôi (ông tên là Adnan) vẫn tỏ ý không bằng lòng với mẹ tôi (bà tên Leila) bởi bà đã sinh cho ông quá nhiều con gái. Ông cũng không ưa bà vợ hai Aicha, vì bà này đẻ toàn con gái. Noura, chị cả tôi lấy chồng muộn, lúc tôi khoảng mười lăm tuổi. Chị thứ Kainat thì chẳng được người đàn ông nào hỏi đến.Tôi có nghe nói có người gặp cha tôi để dạm hỏi tôi nhưng tôi còn phải đợi chị Kainat đi lấy chồng thì mới dám nghĩ đến chuyện cưới xin của mình. Nhưng chị Kainat có lẽ không có nhan sắc mấy hoặc giả chị làm việc gì cũng chậm chạp....Tôi không rõ tại sao chị không được ai hỏi đến nhưng nếu chị ế chồng và trở thành gái già thì chị sẽ bị cả làng chế giễu và tôi cũng sẽ bị như vậy. Từ ngày đầu óc tôi ghi nhớ được sự việc, tôi nhận ra mình chưa một lần được sung sướng, được chơi đùa. Sinh ra là con gái trong làng tôi là một điều bất hạnh. Niềm mơ ước tự do duy nhất là lấy chồng. Rời nhà cha mẹ đẻ để về nhà chồng và không bao giờ được phép quay lại dù có bị chồng đánh đập. Con gái có chồng mà trở về nhà cha mẹ là một điều sỉ nhục. Cũng không được phép xin một nhà nào khác che chở.Gia đình người con gái có nghĩa vụ đưa con gái trở lại nhà chồng. Chị cả tôi bị chồng đánh đập dám quay về thở than khóc lóc khiến cả nhà tôi mang nhục. Có được một tấm chồng là cái may của chị. Tôi vẫn mơ ước được như thế. Từ hôm nghe có người đến gặp cha tôi xin cưới tôi, tôi đâm ra vừa tò mò vừa bồn chồn. Tôi biết anh ấy chỉ cách nhà tôi ba bốn bước chân. Thỉnh thoảng khi lên sân thượng phơi quần áo tôi vẫn thoáng thấy anh. Tôi biết anh có một chiếc ôtô, mặc âu phục, tay lúc nào cũng xách cái cặp nhỏ đựng giáy tờ và anh làm việc ngoài thành phố, một công việc khá tốt vì anh không bao giờ ăn mặc như công nhân mà luôn luôn chỉnh tề, sang trọng. Tôi rất muốn được nhìn mặt anh rõ hơn nhưng lại sợ bị gia đình bắt gặp tôi đang ngóng anh. Vì thế, khi đi lấy rơm cho một con cừu ốm ở ngoài chuồng, tôi bước thật nhanh trên đường với hy vọng nhìn thấy anh gần hơn. Nhưng anh lại đỗ xe xa quá. Nhờ quan sát, tôi đại khái biết được mấy giờ anh đi làm. Bảy giờ sáng, tôi giả vờ lên sân thượng thu quần áo hay nhặt một quả vả chín hoặc giũ tấm chăn để được, trong một thoáng chốc không đầy một phút, nhìn thấy anh bứơc lên ôtô đi làm. Tôi phải thật nhanh để không ai chú ý. Tôi lên cầu thang, băng qua mấy gian phòng để ra tới sân thượng, vừa cầm một tấm thảm giũ mạnh vừa đưa mắt nhìn qua bức tường xi măng, liếc nhẹ sang phải. Từ xa nếu có ai trông thấy cũng không thể ngờ là tôi đang ngó xuống đường. Thỉnh thoảng tôi cũng có đủ thời gian nhìn thấy anh. Tôi đâm ra phải lòng anh cùng chiếc ôtô của anh! Đứng trên sân thượng, tôi tưởng tượng ra khối chuyện: tôi kết hôn với anh và như hôm nay, tôi nhìn theo chiếc ôtô cho đến khi khuất bóng nhưng đến chiều, khi mặt trời lặn, anh sẽ trở về từ nơi làm việc. Tôi sẽ cởi giày cho anh và tôi sẽ quì xuống lau chân cho anh như mẹ tôi vẫn thường làm cho cha tôi. Tôi sẽ pha trà mời anh, sẽ nhìn anh ngồi oai vệ như một ông vua phì phà chiếc tẩu dài ngay trước cửa nhà. Tôi sẽ là một phụ nữ có chồng! Và thậm chí tôi có thể trang điểm, dạo phố mua hàng, cùng chồng ngồi vào xe và lên thành phố. Tôi sẵn sàng chịu đựng mọi điều tệ hại nhất, miễn là khi nào thấy muốn, tôi được tự do một mình bước qua cánh cửa kia để đi mua bánh mì! Nhưng tôi sẽ không bao giờ là một “charmuta”. Tôi sẽ không nhìn những người đàn ông khác, tôi sẽ tiếp tục bước nhanh, giữ người thẳng, vẻ kiêu hãnh, nhưng không đếm bước, mắt vẫn nhìn xuống và cả làng không ai còn có thể nói xấu tôi bởi lẽ tôi đã có chồng. Câu chuyện kinh khủng của tôi bắt đầu ngay trên cái sân thượng ấy. Tôi đã nhiều tuổi hơn chị cả tôi nếu so với ngày chị ấy lấy chồng, và tôi đã hy vọng để rồi thất vọng. Dạo ấy tôi khoảng mưới tám tuổi hay hơn. Tôi cũng không biết nữa. Ký ức tôi đã tan thành mây khói ngay hôm hoả hình ập xuống đầu tôi. Chú thích [1] Charmuta (Tiếng Ả Rập): Đồ lăng loàn, con đĩ. ... Mời các bạn đón đọc Bị Thiêu Sống của tác giả Souad.