Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Hoa Tulip Đen - Alexandre Dumas

Câu chuyện tình yêu lồng trong bối cảnh chính trị và sở thích trồng hoa, trong đó nhân vật chính là một chàng trai với nhiều ưu điểm bị số phận đưa đẩy phải trải qua ngục tù và nhiều thử thách. Chỉ vì giữ một văn bản chính trị mà chính mình không hề biết nội dung, bị gã hàng xóm cũng là dân chơi trồng hoa như chàng lén lút tố cáo, mà chàng bị bắt giam vào ngục. Con gái người quản tù đã cảm mến chàng trai và giúp chàng tìm lại tự do. Hoa tu-lip đen là loài hoa mà tất cả những nghệ nhân trồng hoa đều ao ước có thể ươm thành công một lần. Câu chuyện về tình yêu giữa chàng trai trồng hoa bị bỏ tù và con gái người cai ngục cũng đẹp như chính loài hoa huyền thoại ấy. *** Dumas Davy De La Pailleterie (sau này là Alexandre Dumas) sinh năm 1802 tại Villers Cotterêts trong khu Aisne, ở Picardy, Pháp. Ông có hai chị gái là Marie Alexandrine (sinh năm 1794) và Louise Alexandrine (1796 - 1797). Cha mẹ ông là bà Marie Louise Élisabeth Labouret, con gái của một chủ nhà trọ và ông Thomas Alexandre Dumas. Ông Thomas Alexandre được sinh ra tại thuộc địa Saint Domingue của Pháp (nay là Haiti), là con lai ngoài giá thú của Hầu Tước Alexandre Antoine Davy De La Pailleterie, một quý tộc Pháp, Cao Ủy Trưởng về pháo binh trong khu thuộc địa với Marie Cessette Dumas, nữ nô lệ da đen có nguồn gốc từ Afro Caribbean. Không ai biết rõ bà được sinh ra tại Saint Domingue hay ở Châu Phi (dù thực tế bà đã có một tên họ bằng tiếng Pháp nên có lẽ bà là người thiểu số Creole) và cũng không biết rằng cội nguồn của bà là ở đâu. Được cha đem về Pháp và cậu bé Thomas đã sống tự do một cách hợp pháp tại đây, Thomas Alexandre Dumas Davy theo học một trường quân đội và gia nhập quân ngũ khi còn thiếu niên. Khi trưởng thành, Thomas Alexandre lấy tên của mẹ là Dumas làm họ sau khi cắt đứt quan hệ với cha. Dumas được thăng cấp tướng năm 31 tuổi, người lính đầu tiên có gốc gác Afro Antilles đạt được cấp bậc này trong hàng ngũ quân đội Pháp. Ông đã tham gia trong Chiến Tranh Cách Mạng Pháp. Ông trở thành Tổng Chỉ Huy Trưởng trong Quân Đội Pyrenees, người đàn ông da màu đầu tiên đạt được cấp bậc đó. Dù là một vị tướng dưới trướng của Napoléon Bonaparte trong các chiến dịch ở Ý và Ai Cập nhưng Thomas Dumas không còn được tín nhiệm vào năm 1800 nên đã yêu cầu nghỉ phép để quay về Pháp. Trên đường về, tàu của ông phải dừng lại ở Taranto thuộc Vương quốc Napoli, tại đây ông và những người khác bị giữ làm tù binh. Trong hai năm bị giam giữ, sức khỏe ông đã bị yếu đi. Tại thời điểm Alexandre Dumas được sinh ra, cha ông bị suy kiệt nặng nề. Ông Thomas qua đời vì ung thu năm 1806 khi Alexandre lên 4. Người mẹ góa phụ Marie Louise không đủ sức lo cho việc học hành của con trai nhưng Dumas tập đọc mọi thứ trong khả năng và còn tự học tiếng Tây Ban Nha. Những câu truyện kể của mẹ về lòng dũng cảm của người cha trong các trận đánh đã truyền cảm hứng cho trí tưởng tượng sinh động của cậu bé. Mặc dù trở nên nghèo túng, gia đình vẫn có danh tiếng lỗi lạc của người cha để lại và thứ hạng quý tộc để trợ giúp con cái thăng quan tiến chức. Năm 1822, sau khi triều Bourbon phục hưng, Alexandre Dumas 20 tuổi chuyển đến Paris. Ông đã có được một vị trí trong văn phòng thuộc Cung Điện Hoàng Gia của Công Tước Orléans - Louis Philippe. Ông lớn lên với sự chăm sóc và giáo dục của mẹ Dumas học hành chểnh mảng, khi học xong ông làm thư ký cho một phòng công chứng, và bắt đầu viết những vở kịch đầu tiên cùng với một người bạn, Tử Tước Adolphe Ribbing De Leuven. Nhưng những tác phẩm đầu tay đó thất bại. Năm 1823, nhờ viết chữ đẹp, ông được tới làm việc cho Công Tước Orléans với công việc giao gửi hàng ở Paris. Dumas tiếp tục viết kịch và cuối cùng cũng tìm được thành công với vở diễn Henri III và triều đình tại nhà hát Comédie Française, công diễn lần đầu ngày 10 tháng 2 năm 1829. Sự nghiệp văn chương của ông tiếp tục thành công, đặc biệt trong hai thể loại ông ưa thích: Kịch và tiểu thuyết lịch sử. Alexandre Dumas là một nhà văn có sức sáng tác mạnh mẽ. Ông để lại khoảng 250 tác phẩm, gồm 100 là tiểu thuyết, số còn lại là 91 vở kịch, rồi bút ký, phóng sự, hồi ký. Dumas có cả một đội ngũ cộng sự, đặc biệt là Auguste Maquet, người góp phần vào nhiều thành công của Dumas. Trong những tiểu thuyết của ông, nổi tiếng hơn cả là Ba Người Lính Ngự Lâm, còn được dịch Ba Chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (Trois Mousquetaires) và Bá Tước Monte Cristo (Le Comte de Monte Cristo) năm 1844. Đương thời, Dumas bị chê trách là người ham ăn, ham chơi. Ông thường xuyên thết đãi thịnh soạn bạn bè, người thân, công chúng hâm mộ, với những bữa tiệc sang trọng khiến ngay cả Paris cũng loá mắt, trầm trồ. Ông còn để lại một công trình đặc biệt: Cuốn Đại Từ Điển Ăn Uống, mà ông muốn được hậu thế coi là đỉnh cao sự nghiệp văn chương của mình. Trong đời mình Dumas kiếm được 18 triệu franc vàng, song ông luôn luôn nợ nần, nhiều lần trốn nợ, thậm chí ra nước ngoài, những năm cuối đời, phải đến tá túc ở nhà con. Ông mất năm 1870 ở Puys, vùng Dieppe. Thi hài của ông được chuyển về Điện Panthéon năm 2002, bất chấp ý nguyện cuối đời của ông: “Trở về bóng đêm của tương lai cùng nơi tôi ra đời” (rentrer dans la nuit de l'avenir au même endroit que je suis sorti De La vie du passé), “nơi một nghĩa địa đẹp (Villers Cotterêts) trong mùi hoa của rào quanh...” (dans ce charmant cimetière qui a bien plus l'air d'un enclos de fleurs où faire jouer les enfants que d'un champ funèbre à faire coucher les cadavres) • Các Tác Phẩm Những Tội Ác Trứ Danh (1839 -1841); Ba Người Lính Ngự Lâm (1844); Hai Mươi Năm Sau (1845); Những Quận Chúa Nổi Loạn (1845); Bá Tước Monte Cristo (1845 - 1846); Hoàng Hậu Margot (1845); Kỵ Sĩ Nhà Đỏ (1845 - 1846); Tử Tước De Bragelonne (Cái chết Của Ba Người Lính Ngự Lâm, Mười Năm Sau Nữa - 1848); Hoa Tulip Đen (Bông Uất Kim Hương Đen - 1850) *** Ngày 20 tháng tám 1672, ở La Haye, thủ đô của bảy Tỉnh Hợp nhất, các công dân tràn xuống các ngả đường lớn thành một dòng người đen kịt. Họ vai vác súng, tay cầm gậy vội vàng, hổn hển -bụng dạ không yên, chạy về phía nhà tù Buytenhof, nơi giam giữ Corneille de Witt, anh ruột của ông cựu thủ tướng vĩ đại Hà Lan. Từ khi bị nhà phẫu thuật Tyckelaer buộc tội giết người, ông bị bắt giam và đang sống leo lắt ở nhà tù nói trên. Nếu lịch sử của thời kỳ đó, nhất là vào cái năm chúng tôi bắt đầu kể câu chuyện dưới đây, không gắn liền mật thiết với hai tên gọi nói trên thì một vài dòng chúng tôi giải thích sau đây chỉ có thể coi như một món "hors-d’Âuvre" mà thôi. Nhưng chúng tôi xin báo trước bạn đọc rằng cái điều cảnh báo ấy cũng cần thiết để hiểu rõ câu chuyện chúng tôi kể chẳng khác gì để hiểu biết sự kiện lịch sử to lớn xảy ra trong đó chuyện của chúng tôi đã được lồng vào. Vào năm Corneille hoặc Cornélius de Witt 49 tuổi, nhân dân Hà Lan đã thấy chán nản nền cộng hòa theo kiểu Jean de Witt, ụi toàn quyền vĩ đại của Hà Lan. Họ rất thích chế độ xtatudera đã bị sắc lệnh của Jean de Witt buộc phải bãi bỏ vĩnh viễn trong bảy Tỉnh Hợp nhất ở Hà Lan rồi. Vì ít có trường hợp dân chúng thấy đằng sau một nguyên lý lại không có bóng dáng một con người nên họ thấy nét mặt trang nghiêm của anh em dòng họ De Witt là thấy bóng dáng của nền cộng hòa. Hai ông là cha sinh không khoan nhượng của một nền tự do có khuôn phép và một nền thịnh vượng không thừa thãi xa hoa. Cũng vậy, đằng sau chế độ stathoudérat, họ thấy có Guillaume d’ Or-ange trai trẻ với vầng trán nghiêng nghiêng, trang trọng và suy tư được những người đương thời gọi là ông Trầm Mặc, sau này ông cũng được hậu thế gọi y như thế. Hai anh em nhà de Witt kiêng nể Louis XIV vua nước Pháp vì cảm thấy uy tín của ông càng ngày càng lớn trên khắp châu Âu. ông vừa thắng trận trong chiến dịch kỳ diệu sông Ranh: sau ba tháng giao tranh ông đã chế ngự được sức mạnh của bảy Tỉnh Hợp nhất. Từ lâu Louis XIV là kẻ thù của nhân dân Hà Lan. Nay họ mong có một người khác đứng lên cứu đất nước họ thoát khỏi cảnh tan nát và tủi nhục. Người đó đã sẵn sàng xuất hiện và có đủ khả năng để chống lại Louis XIV. Đó là Guillaume d’Orange, con vua Guillaume II, cậu bé trầm mặc như trên đã nói, người ta thấy bóng dáng của cậu thấp thoáng đằng sau chế độ stathoudérat. Năm 1672, cậu hai mươi hai tuổi. Jean de Witt đã từng là thái phó của cậu và ông muốn dạy cậu sau này trở thành một công dân tốt. Đặt quyền lợi của tổ quốc lên trên quyền lợi của trò mình, ông đã ban bố sắc lệnh bãi bỏ vĩnh viễn chế độ stathoudérat, làm tắt hy vọng khôi phục chế độ này, nhưng dân Hà Lan mong muốn lập lại chế độ cũ. Ông thủ tướng vĩ đại chiều theo ý muốn của toàn dân; nhưng Corneille de Witt bướng bỉnh hơn. Ông không chịu ký vào bản chứng thư tái lập chế độ cũ. Sau cùng chiều ý do bà vợ khóc lóc van xin, ông đành ký, có điều ông ghi thêm vào dưới chữ ký của mình hai chữ: V.C. vi coactus, có nghĩa là: chịu ký vì áp lực. Nhưng những người theo phái orangistes không cần biết điều ấy. Chính hai anh em De Witt mới là vật cản chính của họ. Để đạt được mục đích của mình, họ dùng mưu vu khống và trong hoàn cảnh đó họ đã tìm được một tên khốn nạn sẵn sàng vào cuộc chơi với họ. Tên này, chúng tôi hình như đã có lần nói rồi, gọi là Tyckelaer, làm nghề phẫu thuật. ... Mời các bạn đón đọc Hoa Tulip Đen của tác giả Alexandre Dumas.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Đường Mòn - Chris Womersley
Một tên tội phạm vặt, Lee, thức dậy trong một nhà trọ tồi tàn với bên mạng sườn bị dính đạn và một vali tiền bị đánh cắp. Hắn mơ hồ nhớ lại làm thế nào mà lại đến được đây. Không lâu sau, hắn gặp Wild – một bác sĩ đang cố thoát khỏi cuộc sống bất hạnh của chính mình, và hai người đàn ông bắt đầu một cuộc sống mới an toàn ở vùng ngoại ô. Khi rời bỏ thành phố, họ có một thói quen khó chịu là nhớ lại quá khứ quen thuộc trước đây dẫu họ cố tìm mọi cách lẩn tránh. Lee bị ám ảnh bởi việc kiện tụng ở trong tù trước đây, trong khi Wild lại chạy trốn khỏi vụ kiện tụng của việc cho nhầm thuốc. Nhưng Lee và Wild không đơn độc: họ bị tên gangster già Josef, người đang tìm cách lấy lại số tiền bị đánh cắp và thương lượng với Lee về sự an toàn của chính mình, bám đuôi khắp các vùng đất xa lạ. Cuối cùng, cả ba người đàn ông đó đều buộc phải đương đầu với những bi kịch mà họ đã tìm cách trốn chạy. *** Lee dần thoát khỏi cơn mộng mị, tâm trí hệt như người chết đuối trồi lên từ đáy đại dương. Cơn ác mộng hắn vừa trải qua đầy rẫy cảnh náo loạn, kích động và những pha bủn rủn chân tay. Căn phòng lặng im như tờ, như thể đang chờ hắn mở mắt. Lee nằm cứng đờ, bất động như tượng đá sau vườn, tròng mắt động đậy sau mi mắt khép hờ. Hồi bé, đêm nằm trên giường Lee cũng sợ đủ thứ. Trong bóng tối, cậu bé Lee cố thở thật khẽ để thứ ẩn mình trong bóng đêm ngoài kia không phát hiện ra cậu. Lee chỉ hít vào rồi thở ra thật nhanh, những tưởng bầy ma quỷ lẩn quất ngoài đường lớn hẻm nhỏ chuyên rình bắt trẻ con ăn thịt không thể nhìn thấy mình. Thậm chí hồi lên mười bốn tuổi, có thời kỳ Lee thức suốt đêm với cảm giác sợ sệt ấy. Cậu vật vã, lăn lộn suốt. Thấy thế, Claire, chị gái cậu lại đến bên giường, ôm chặt hai vai em, chờ cho đến khi thằng bé nín khóc. Cô chị chẳng nói chẳng rằng. Hai chị em đều biết nói gì cũng bằng thừa, nhất là sau những gì chúng đã phải trải qua. Lúc này, Lee cố hết sức nằm yên. So với thế giới bên ngoài, hắn muốn mình thật nhỏ bé. Hắn e rằng cảm giác khó chịu khi thức giấc sẽ tác động đến cả ngày dài đang chờ hắn. Hắn cần ngày bình yên. Lee nằm yên thêm giây lát. Bọt khí ấm nóng lục bục trong phổi hắn. Lee lặng lẽ liếm cặp môi khô nẻ. Lát sau, hắn thả lỏng cho nhịp thở đều hơn và mở mắt. Căn phòng lạ trải ra trước mắt hắn như được phủ bằng tấm màn đỏ máu. Nắng mai lọc qua tấm màn cửa mỏng nhẹ như sa. Kia là tường nhà sơn màu vàng nhạt, kia là mấy khung cửa sổ bằng nhôm. Chỉ cần nhìn qua cũng biết đây là phòng trọ. Hình như da và xương không còn là thứ tạo nên cơ thể hắn. Người hắn bây giờ chắc ghép từ vật liệu vô cơ, như vải bạt, dây kẽm, gỗ vụn... ai đó lấy trộm ngoài đường mang về dùng băng keo bó lại một cách tạm bợ. Các khớp xương hắn ê ẩm và một cơn đau nhức nhối dai dẳng nằm ở đâu đó trong cơ thể mà ngay lúc này hắn chưa thể định vị chính xác. Lee nhớ đã có lần hắn mặc áo quần dính máu nằm trên giường chờ hồn về với xác, chờ đầu óc tỉnh táo để hiểu hoàn cảnh hắn đang lâm vào. Từ đó đến bây giờ đã mấy tiếng đồng hồ hay mấy ngày trôi qua rồi? Thi thoảng, tiếng một phụ nữ trung niên lại vang lên ở đâu đó trong căn phòng vắng. Bà ta cúi xuống nghe xem hắn còn thở hay chăng. Chắc bà ta tưởng hắn đã về chầu diêm vương rồi. Lee ngửi thấy mùi thuốc lá và phấn sáp rẻ tiền thoảng từ cơ thể bà. ... Mời các bạn đón đọc Đường Mòn của tác giả Chris Womersley.
Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại - Hành Trần
Lẩu - Chú Mèo Ở Nông Trại là câu chuyện kể về một chú mèo sinh ra ở thành phố bị bán về nông thôn. Từ đó mèo con phải làm quen với cuộc sống ở quê, và cũng từ đó chú kết bạn được với nhiều người bạn mới như gà, chó, chim sâu, cây khế... Xuyên suốt cuốn sách là những bài học về tình bạn và cuộc sống mà mèo con học được. *** Lẩu là một con mèo thành phố. Nó nhớ rõ như vậy. Nó vẫn nhớ như in ngôi nhà mà nó được sinh ra cùng bốn anh chị em khác. Mèo mẹ là một con mèo lai lông dài và có cái lưỡi mềm mại ấm áp. Mèo mẹ là người duy nhất không phân biệt Lẩu và các anh em khác. Bởi lẽ, mèo mẹ vẫn âu yếm và vuốt ve nó. Tất nhiên Lẩu còn quá bé để hiểu vì sao con người lại phân biệt nó với các anh em khác như vậy. Nhưng nhiều lần đang lim dim thưởng thức bầu sữa mẹ, nó thấy một bàn tay thô bạo tóm gáy nó lên soi mói, nó biết chắc đấy là bà giúp việc. Bà chép chép miệng: “Tự nhiên lại nảy nòi ra cái con mèo ta này…” Hình như người ta chê nó xấu. Khi uống nước ở bát nước to màu tím, có lúc Lẩu len lén soi mình, nó thấy mình cũng không đến nỗi nào. Lông vàng như tia nắng, đôi mắt to và cái tai rộng, nó hài lòng với bộ lông ngắn vì nó là con mèo duy nhất mèo mẹ không phải nhắc nhở cẩn thận khi đi vệ sinh để khỏi dây bẩn vào bộ lông như bốn anh chị em lông dài và trắng muốt khác. Một tối se se lạnh, Lẩu đang co người rúc vào mèo mẹ, lim dim giấc mơ ngọt ngào thì nghe tiếng khe khẽ. Đấy là tiếng của bà chủ. Bà bảo bà giúp việc cần giải quyết bớt lũ mèo con, trước khi cô chủ nhỏ trở về vào tuần sau. Bà giúp việc cười khùng khục. Lẩu không biết giải quyết bớt là gì, nó cũng không nghe được gì thêm, vì nó đã buồn ngủ lắm rồi. Lẩu định bụng sẽ hỏi mèo mẹ vào sáng hôm sau khi ngủ dậy. Cứ thế nó thiếp đi vào giấc ngủ ngọt ngào. ... Mời các bạn đón đọc Lẩu Chú Mèo Ở Nông Trại của tác giả Hành Trần.
Mong Manh Tình Đầu - Born
Tình đầu, đẹp như một đóa hoa tầm xuân chớm nở vào một sớm cuối đông. Nhưng, chỉ một cơn gió nhẹ thôi cũng khiến những cánh hoa rụng rơi, tản mác. Thiên Vi và Duy Phong - hai trái tim thuần khiết thuở nào trước những con sóng dữ cuộc đời, không biết từ bao giờ đã chắp vá đầy những vết sẹo mãi chẳng lành. Quá khứ luôn không ngừng bị đào xới, sai lầm luôn không ngừng lặp lại và những vết cứa trong tim luôn không ngừng rỉ máu. Nhưng, còn rỉ máu nghĩa là còn ấm nóng, còn ấm nóng nghĩa là còn thương yêu. Là sẽ có một ngày sau cơn giông bão, bầu trời bỗng sáng trong và cõi lòng chợt bừng tỉnh. Thì ra, yêu thương vẫn ở ngay đó thôi. Thật gần! "Phía sau lưng họ là những cơn gió, thế nhưng chẳng ai thấy lạnh lẽo. Bầu trời sau cơn mưa xuất hiện một cầu vồng rực rỡ, đẹp như một giấc mơ." *** Nắng vàng rộn rã giữa sân trường, từng lớp từng lớp học sinh dắt xe ra khỏi cổng trường, ai nấy đều hớn hở. Trên bệ đá dưới tán cây bàng, một nữ sinh đang ngồi ngẩng đầu nhìn bầu trời đầy nắng qua kẽ lá. Đôi mắt trong trẻo, gương mặt ngây thơ của nữ sinh khiến khung cảnh xung quanh trở nên tươi đẹp lạ thường. Vẻ đẹp tinh khiết của cô khiến nhiều nữ sinh ghen tị, mấy bạn nam muốn đến bắt chuyện nhưng dường như chưa đủ dũng khí. Bỗng một nam sinh đến gần cô, tươi cười hỏi: - Đang chờ xe à? - Không. Mình đang chờ Dạ Thảo – Cô nhỏ nhẹ đáp lời. - Vậy mình về trước đây. Mai gặp nhé – Nam sinh vẫy tay tạm biệt rồi rời đi. Cô cũng mỉm cười vẫy tay với cậu bạn cùng lớp. Nụ cười của cô bạn khiến mấy nam sinh khác ngẩn ngơ. Phía sau mấy nam sinh bỗng vang lên tiếng nói nhẹ nhàng nhưng cũng đủ để khiến họ giật mình quay đầu nhìn lại. Một gương mặt tròn đang đanh lại, ánh mắt nhìn họ giễu cợt, giọng cao vút: - Cho qua coi. Vừa nói cô bạn mặt tròn vừa ung dung bước qua họ một cách kiêu căng, còn hất tung mái tóc dài cột đuôi gà của mình về phía sau. Đám con trai nghẹn họng, lặng lẽ bỏ đi. Thiên Vi đang định lấy sách ra đọc thì thấy bạn mình bước tới, vẻ mặt rõ là chảnh chọe. Cô phì cười, khẽ hỏi: - Sao thế? Trưng vẻ mặt này cho ai xem vậy? - Thì mấy cái tên lóc chóc đó chứ ai? – Dạ Thảo hí hửng đáp. - Ai? - Thiên Vi ngơ ngác nhìn quanh. - Mấy cái đuôi – Dạ Thảo hững hờ đáp. - Oa oa… Không ngờ đó nha – Thiên Vi reo lên – Đã chọn được anh nào chưa? Dạ Thảo khẽ lườm Thiên Vi rồi thở dài đáp: - Ai mà thèm ngó tới mình chứ?! - Sao lại nói thế? – Thiên Vi tròn mắt nhìn Dạ Thảo. - Mình như vầy thì… – Dạ Thảo nhìn lại bộ dạng tròn trịa béo tốt của mình, vẻ mặt càng buồn bã hơn. Thiên Vi thấy bạn tủi thân như vậy cũng buồn, Dạ Thảo hơi mập nhưng gương mặt tròn trịa của cô vẫn mang nét dễ thương đáng yêu, hơn nữa Dạ Thảo rất tốt bụng, chẳng ai trong lớp vì ngoại hình của cô mà chán ghét cô cả. ... Mời các bạn đón đọc Mong Manh Tình Đầu của tác giả Born.
Ngựa Chứng Đầu Xanh - S. E. Hinton
Ponyboy mười bốn tuổi, gai góc và hoang mang, nhưng đằng sau vẻ bất cần là một tâm hồn nhạy cảm. Theo Ponyboy, thế giới này chỉ có hai loại người, Mỡ và Soc – dân Soc có tiền, có thể thoát khỏi hầu như mọi tội, với thái độ ngạo mạn khó ưa; dân Mỡ, ngược lại, sống ở khu ổ chuột và luôn phải cẩn thận đề phòng. Ponyboy là Mỡ, luôn tự hào về điều đó – cho tới một đêm khủng khiếp khi Johnny giết chết một thằng Soc. Cơn ác mộng bạo lực bắt đầu, bạo liệt cuốn Ponyboy vào một vòng xoáy hỗn loạn của sự kiện và cảm xúc, khiến hình ảnh về thế giới hai cực trong mắt cậu tan rã như bụi tro. Và rồi, trước khi thời niên thiếu kết thúc, Ponyboy đã nhận ra: sự đau đớn luôn giống nhau, dù là với Soc hay Mỡ đi chăng nữa.   Câu chuyện đầy sức mạnh về những chú ngựa chứng trẻ tuổi này được viết khi tác giả mới 17 tuổi và kể từ lần xuất bản đầu tiên năm 1967, Ngựa chứng đầu xanh đã trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất lịch sử ngành xuất bản với 14 triệu bản tính đến 2005, và mỗi năm lại có nửa triệu bản nữa thêm vào con số đó. Một tác phẩm kinh điển dành cho tuổi thiếu niên. *** Khi từ bóng tối của rạp chiếu phim bước ra ngoài ánh nắng rực rỡ, tôi chỉ có hai thứ trong đầu: Paul Newman và một cuốc xe về nhà. Tôi ước gì mình trông giống Paul Newman - anh trông gai góc còn tôi thì không - nhưng tôi nghĩ bề ngoài của mình cũng chẳng đến nỗi nào. Tóc tôi màu nâu nhạt, hoe hoe đỏ còn mắt thì có màu xám ánh xanh lá. Tôi ước gì mắt mình xám hơn, vì tôi ghét hầu hết mấy gã mắt xanh lá, nhưng tôi phải bằng lòng với cái mình có thôi. Tóc tôi dài hơn tóc nhiều thằng con trai khác, cắt vuông vắn sau đầu, để dài phía trước và hai bên, nhưng tôi là một thằng Mỡ(1) và hầu hết hàng xóm tôi chẳng mấy khi nghĩ đến chuyện cắt tóc. Hơn nữa, tôi trông hay hơn khi để tóc dài. Tôi phải đi bộ về nhà một quãng dài mà không người đi cùng, nhưng dù gì thì tôi cũng thường đi một mình, chẳng vì lý do nào ngoại trừ vì thích được yên ổn xem phim, để có thể thả hồn vào trong bộ phim và sống với nó cùng diễn viên. Xem phim với một ai khác làm tôi có chút không thoải mái, cứ như có người nhìn qua vai khi ta đọc sách vậy. Tôi thì khác như vậy đó. Ý tôi là, anh ba tôi, Soda, mười sáu tuổi sắp lên mười bảy, chưa bao giờ giở lấy một cuốn sách, còn anh hai Darrel, mà bọn tôi gọi là Darry, làm việc muộn và vất vả đến độ chẳng còn đâu thời gian mà quan tâm đến đọc truyện hay vẽ tranh, vậy nên tôi chẳng giống hai anh. Và chẳng có đứa nào trong băng bọn tôi cảm hiểu phim ảnh và sách vở như tôi cả. Có lúc tôi đã nghĩ rằng mình là kẻ duy nhất trên đời này hiểu. Nên tôi làm việc đó một mình. Ít nhất Soda cũng cố hiểu, và cảm hiểu được nhiều hơn Darry. Nhưng nghĩ kỹ thì anh khác với bất cứ ai; anh hiểu mọi sự, gần như vậy. Ví dụ như anh chẳng bao giờ hò hét với tôi suốt như anh Darry, hay đối xử với tôi như thể một đứa lên sáu chứ không phải đã mười bốn tuổi rồi. Tôi quý Soda hơn bất cứ ai, kể cả là bố mẹ. Lúc nào anh cũng vô tư lự và cười toe toét, trong khi anh Darry lại nghiêm khắc, cương nghị và chẳng mấy khi nở miệng cười. Nhưng mặt khác, Darry đã trải qua rất nhiều thứ trong hai mươi năm cuộc đời, anh trưởng thành quá nhanh. Sodapop sẽ chẳng bao giờ chịu lớn cả. Tôi chẳng biết thế nào thì hay hơn nữa. Tôi sẽ sớm biết ra thôi. ... Mời các bạn đón Ngựa Chứng Đầu Xanh của tác giả S. E. Hinton.