Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Ai Làm Được

Tóm tắt & Review (Đánh Giá) tiểu thuyết Ai Làm Được của tác giả Hồ Biểu Chánh. Nguyễn Thanh Liêm   Văn học chữ Quốc Ngữ đã được thành hình ở Miền Nam ngay từ hạ bán thế kỷ XIX với Petrus Trương Vĩnh Ký và Paulus Huỳnh Tịnh Của. Nhờ công của hai ông, chữ Quốc Ngữ bành trướng nhanh chóng trong dân gian. Với sự bành trướng của chữ Quốc Ngữ và phương tiện in ấn mới, phong trào đọc tiểu thuyết càng ngày càng lan rộng. Tiểu thuyết trở thành món tiêu khiển rất ăn khách ở Miền Nam vào đầu thế kỷ XX. Các báo chí, các nhà in, và nhà xuất bản đều đói tác phẩm tiểu thuyết. Khởi đầu là những tiểu thuyết dịch, phần lớn là truyện Tàu, rồi đến những sáng tác của người Việt. Một trong những tiểu thuyết gia nổi tiếng trong thời kỳ mở đầu này là Hồ Biểu Chánh. So với các tiểu thuyết khác cùng thời thì tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh có tính cách mới mẻ hơn và hấp dẫn hơn.  Với tác phẩm đầu tiên, „U Tình Lục“, thành hình năm 1909 và xuất bản năm 1913, Hồ Biểu Chánh còn chịu ảnh hưởng truyện Nôm trong cách dùng thể văn lục bát trường thiên như Ðoạn Trường Tân Thanh hay Lục Vân Tiên. Tuy vậy mầm mới mẻ của tiểu thuyết của ông cũng đã khởi sắc qua bối cảnh (câu chuyện xảy ra ở Việt Nam, nhất là ở quê hương Gò Công của ông ở Miền Nam), qua cách dàn dựng cốt truyện (plot) cũng như qua văn tự (dùng chữ Quốc Ngữ). U Tình Lục chỉ củ ở thể văn (thể lục bát trường thiên) và ở một số các từ ngữ và lối diễn tả trong một số câu thơ mà nghe qua ta thấy tương tự như truyện Kiều, như trong hai câu sau đây:                         „Cúc-Hương trở gót trướng hoa,                         Ruột gò chín khúc, lụy sa đôi hàng.“       Nhưng đến tác phẩm „Ai Làm Ðược“, ra đời liền sau U Tình Lục, thì Hồ Biểu Chánh đã là một tiểu thuyết gia loại mới hẳn.  Ai Làm Ðược  là quyển tiểu thuyết đầu tiên viết theo thể văn xuôi bằng chữ Quốc Ngữ. Bản thảo đã thành hình hồi năm 1912 lúc Hồ Biểu Chánh còn làm ký lục ở Cà Mau, nhưng phải đến năm 1922 tác phẩm tiểu thuyết đầu tay này mới chính thức ra đời sau khi đã được ông nhuận sắc. Ai Làm Ðược là tiểu thuyết viết theo kỷ thuật mới, nghĩa là viết theo cách viết tiểu thuyết của Pháp, chớ không viết theo kiểu truyện Tàu (chương hồi tiểu thuyết), hay kiểu truyện Nôm của các nhà nho Việt Nam xưa (viết theo thể lục bát trường thiên) như Nguyễn Du hay Nguyễn Ðình Chiểu. Hồ Biểu Chánh thành công ngay với tác phẩm đầu tiên theo loại mới này. Liền sau Ai Làm Ðược là một loạt 15 quyển tiểu thuyết khác của ông được xuất bản trong những năm kế tiếp trong thập niên1922-29. Ðiều này cho thấy độc giả rất ưa thích loại tiểu thuyết mới này của ông. So với truyện Tàu còn rất ăn khách trong thời gian này thì Ai Làm Ðược tỏ ra mới lạ và hấp dẫn hơn nhiều. Trước hết là mới trong bối cảnh của câu chuyện. Ðây là câu chuyện xảy ra ở Miền Nam Việt Nam, ở ngay tại Cà Mau, chớ không phải ở một nơi xa xôi nào bên Trung Quốc. Và chuyện xảy ra ngay trong thời gian gần đây chớ không phải chuyện xảy ra hồi xửa hồi xưa nào, với những nhân vật là người Việt Nam, và những sinh hoạt quen thuộc trong xã hội Miền Nam (Nam Kỳ Lục Tỉnh) vào khoảng thập niên cuối cùng của thế kỷ XIX. So với truyện Tàu dịch ra tiếng Việt, và với các truyện Nôm xưa, bối cảnh của Ai Làm Ðược hoàn toàn mới mẻ với tính cách phong tục (hay môi trường văn hóa/xã hội) của nó. Và đó là điểm hấp dẫn đầu tiên của quyển tiểu thuyết mới này.  Kế đó và quan trọng hơn nữa là cách dàn dựng cốt chuyện của Hồ Biểu Chánh. Phần đông truyện Tàu đều theo mẫu dựng mấu chốt chung của câu chuyện tựa trên những thử thách (challenges) bên ngoài để cho người anh hùng (nhân vật chánh) phải đương đầu và vượt qua những thử thách đó. Thử thách càng nhiều, càng lớn thì sự chiến thắng của người hùng càng vẻ vang và câu chuyện càng lôi cuốn hấp dẫn. Kết thúc câu chuyện là sự chiến thắng của người anh hùng, của người quân tử, của lẽ phải và luân lý đạo đức, với sự thỏa mãn của đọc giả. Loại chuyện tạo xúc động tựa trên những thử thách bên ngoài đó (loại melodrama) có cái hay của nó nhưng chưa nói hết được tấn kịch sâu sắc của con người trong loại drama. Ở đây không những có thử thách bên ngoài mà còn có xung đột giữa những tính tình khác nhau của các nhân vật và những mâu thuẫn bên trong tâm lý của các nhân vật chính. Từ những xung đột, những mâu thuẫn đó câu chuyện thường ẩn chứa nhiều ngang trái, éo le, gây nhiều xúc động trong lòng độc giả. Cũng từ những xung đột, mâu thuẫn ngang trái, éo le đó mà câu chuyện xảy ra, và diễn tiến một cách hợp tình, hợp lý, đưa dần đến đỉnh cao nhất (climax) của câu chuyện để kết thúc. Mấu chốt của câu chuyện trong Ai Làm Ðược là những xung đột, mâu thuẫn đó, những xung đột, mâu thuẫn dẫn đến những éo le ngang trái trong đời. Xung đột giữa mẹ ghẻ độc ác và con chồng cương quyết trả thù cho mẹ ruột. Mâu thuẫn trong bổn phận làm con đối với cha và bổn phận trả thù cho mẹ. Xung đột giữa luân lý về danh dự, tiết hạnh và về chữ hiếu, v.v. . . Qua những mâu thuẫn, xung đột trong tâm lý nhân vật, Hồ Biểu Chánh đã khéo léo kích thích và gây nhiều cảm xúc mạnh trong lòng người đọc khiến họ bị lôi cuốn vào câu chuyện từ đầu đến cuối. Câu chuyện diễn tiến như sau: Có một phú ông tên Bạch Khiếu Nhàn, nhà ở gần chợ Cà Mau, góa vợ, sống một mình trong ngôi nhà to lớn với mấy người gia nhân. Ông có một người con gái độc nhất đã gả cho ông Tri Phủ Lê Xuân Thới ở tại đó. Nhưng con gái ông không may đã lìa đời sau khi sinh được một cô con gái đặt tên là Bạch Tuyết. Ông Tri Phủ thì đã có thêm một người vợ lẽ là bà Nguyễn Thị Phường con của ông hương thân ở Ðầm Dơi trước khi mẹ Bạch Tuyết chết. Bạch Tuyết sống với cha là ông Tri Phủ và bà mẹ ghẻ bây giờ đã chính thức trở thành bà Tri Phủ sau cái chết của mẹ cô. Bà này có nhan sắc, lanh lẹ, ở với ông Tri Phủ có một đứa con trai tên là Lê Xuân Sắc. Bạch Tuyết thường hay qua lại nhà ông Bạch Khiếu Nhàn để thăm viếng ông ngoại.  Câu chuyện bắt đầu vào một buổi chiều năm 1894 khi ông Nhàn vào quán cơm chú Lỳ ở chợ Cà Mau. Ở đây ông có dịp gặp một thanh niên, người ở Vĩnh Long, mồ côi cha mẹ, tên Phan Chí Ðại, người thông minh, có chút học vấn, nhưng nghèo khổ đang muốn tìm việc làm ở Cà Mau. Mến tài Chí Ðại và cũng thương cho tình cảnh của người thanh niên này, ông Nhàn đem Chí Ðại về ở nhà mình và xin cho Chí Ðại một chân thơ ký trong văn phòng ông con rể là quan Tri Phủ. Chí Ðại rất có tư cách, làm việc mẩn cán, được mọi người thương mến, kính nể. Ban ngày Chí Ðại đi làm bên phủ, buổi tối thì về ở nhà Bạch Khiếu Nhàn. Chí Ðại xem ông Nhàn như sư phụ của mình, còn ông Nhàn thì thương mến Chí Ðại như cháu ruột của ông. Bạch Khiếu Nhàn là người gốc ở Thừa Thiên. Từ ngày con gái chết ông buồn rầu không đi về Trung thăm mồ mả ông bà. Bây giờ có Chí Ðại ông muốn nhờ Chí Ðại trông coi nhà cửa để ông đi về nguyên quán chơi chừng vài tháng. Nhưng ông Tri Phủ Lê Xuân Thới thì đề nghị nên để Chí Ðại qua ở bên phủ trong thời gian ông Nhàn đi chơi, để tiện dạy thêm cho con trai ông chớ để Chí Ðại ở một mình bên đó thì buồn chết chịu gì nổi. Ông Nhàn chìu ý ông Tri Phủ và từ đó Chí Ðại sang ở luôn bên phủ. Chí Ðại thường thấy Bạch Tuyết nhưng không hề dám nhìn hay đến gần nói chuyện.  Bà Phủ là người tham lam, độc ác nhưng bề ngoài rất khôn khéo với chồng và con ghẻ. Bà luôn khéo léo chìu chuộng, phục vụ cho ông chồng ghiền thuốc phiện, và lúc nào cũng tỏ vẻ thương yêu lo lắng cho cô con gái con riêng của chồng. Bà thấy ngày nào ông Nhàn, ông ngoại Bạch Tuyết, chết đi thì gia tài đồ sộ của ông sẽ thuộc về Bạch Tuyết. Bà thèm muốn gia tài đồ sộ đó nên muốn xui chồng gả Bạch Tuyết cho cháu ruột của bà. Bà nhỏ nhẹ, thiệt hơn với chồng, khuyên chồng sớm làm theo ý muốn đó của bà. Bà muốn đặt ông Nhàn trước một sự đã rồi để khi trở về dù ông Nhàn có không bằng lòng đi nữa thì cũng không còn làm gì được. Ông Phủ nghe lời vợ, cho Bạch Tuyết biết là ông đã quyết định gả Bạch Tuyết cho anh Ðồ, cháu ruột của bà Phủ. (Câu chuyện trở nên gay cấn bắt đầu từ đây).  Bạch Tuyết mạnh dạn phản đối quyết định của cha, không chịu về làm vợ anh Ðồ, cô cũng nói rõ là cô chê chỗ đó. Thật ra thì Bạch Tuyết từ chối vì một lý do quan trọng hơn là chê chỗ đó nhưng mà cô không thể nói ra lý do đó được. Cô thầm biết âm mưu sang đoạt gia tài của người kế mẫu. Cô cũng biết là trước đây mẹ cô chết không phải vì bệnh mà là vì bị bà kế mẫu tráo thuốc độc giết chết. Việc ác độc này cha cô không hề hay biết gì cả. Cha cô lại rất thương yêu, rất nghe lời bà kế mẫu độc ác này. Cô ôm mối hận thù trong thâm tâm và quyết chí chờ cơ hội trả thù cho mẹ ruột. Ðó là lý do thầm kín quan trọng khiến cô cương quyết từ chối cuộc hôn nhân. Thấy việc ép gả Bạch Tuyết chưa có kết quả tốt, bà phủ xoay qua cách khác. Bà nói với chồng là vì Bạch Tuyết đã có tư tình với người nào rồi nên mới từ chối cuộc hôn nhân do cha định đoạt. Bà tạo cơ hội để cho Bạch Tuyết phải có dịp đem thuốc cho Chí Ðại uống, và nói chuyện với Chí Ðại trước mắt đám gia nhân. Từ đó có tiếng xì xầm về việc Bạch Tuyết lo thuốc men cho Chí Ðại và hai người trò chuyện riêng với nhau. Chắc là họ có tư tình gì với nhau rồi. Từ tin đồn đó bà xui chồng đuổi Chí Ðại đi. Ông phủ lúc nào cũng thấy bà có lý, luôn nghe lời bà. Chí Ðại bị đuổi không một lời giải thích. Bị đuổi vô cớ, Chí Ðại sợ ở lại Cà Mau sẽ còn nhiều chuyện không hay nên biên thơ cám ơn Bạch Khiếu Nhàn và đi về Sài Gòn tìm việc làm. Chí Ðại đi là bà Phủ đã thành công một bước trong mưu tính của bà. Bà phải làm sao cho ông Phủ thấy là con gái mình đã bị hư và muốn che dấu sự hư hỏng đó để người ngoài đừng biết thì chỉ có cách là phải gả nó cho cháu bà càng sớm càng tốt. Chí Ðại đi rồi thì việc cho rằng Bạch Tuyết đã hư hỏng với anh chàng này càng được dễ dàng dựng nên. Ông Phủ liền nghe theo bà Phủ, chỉ thị thuộc hạ gắp rút chuẩn bị làm đám cưới cho Bạch Tuyết.  Bạch Tuyết cương quyết từ chối thì bị ông Phủ đánh cho một trận đòn đích đáng về tội hư hỏng. Bạch Tuyết không cách gì minh oan dược. Nhờ bà mẹ ghẻ can thiệp, xin cho cô, ông Phủ mới không đánh nữa. Bạch Tuyết chẳng những không mang ơn bà mẹ ghẻ mà còn căm hận nhiều hơn. Bạch Tuyết khổ sở quá mà không biết làm sao, không còn biết cầu cứu với ai được. Cô định tự tử, nhưng nghĩ lại nếu chết rồi thì còn ai để lo trả thù cho mẹ. Cô nghĩ đến việc thà trốn đi theo trai, thà mang tiếng xấu mà còn có thể trả thù được chớ ở lại đây thì chắc sẽ chết vào tay bà mẹ ghẻ mà thù nhà không trả được. Nhân một hôm ông bà Phủ đi xa, cô lén trốn nhà ra đi. Trước khi đi cô có qua nhà ông ngoại định viết thơ để lại nhưng chỉ mới viết có mấy chữ ông ngoại rồi bỏ dở. Nhưng cô đã có cơ hội đọc thơ Chí Ðại để lại cho Bạch Khiếu Nhàn. Qua thơ này cô biết Chí Ðại đi về đâu, và do đó cô quyết lòng đi theo Chí Ðại. Bạch Tuyết tìm gặp được Chí Ðại ở Sài Gòn. Cô kể rõ tình cảnh đớn đau, nguy hiểm, cô đơn, bơ vơ của cô cho Chí Ðại nghe, cô nói cho Chí Ðại biết tâm sự thầm kín của cô trong vấn đề trả thù cho mẹ, cô mong ước được sự giúp đỡ của Chí Ðại. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo này cô chỉ còn biết trông cậy vào Chí Ðại mà thôi, và cô mong được sống chung với Chí Ðại. Thương cho thân phận của Bạch Tuyết lại đã từng mang ơn Bạch Khiếu Nhàn, tất nhiên Chí Ðại phải hết lòng lo cho Bạch Tuyết nhưng để cho Bạch Tuyết đi theo ở chung với mình thì thật là khó coi nếu không nói là tội lỗi. Chí Ðại phân tích lợi hại, tốt xấu cho Bạch Tuyết nghe và khuyên nàng nên trở về Cà Mau để bảo toàn danh tiết. Nhưng Bạch Tuyết quả quyết thà tự tử chết chớ không thể về Cà Mau được. Cuối cùng Chí Ðại đành phải để Bạch Tuyết theo, sống chung với mình. Hai người sống với nhau và trở thành vợ chồng dù không chánh thức cưới hỏi. Nhưng cuộc sống của hai người vô cùng khổ cực. Chí Ðại không tìm được việc làm vững chắc, vợ chồng thiếu trước hụt sau, nợ nần không trả nổi. Bạch Tuyết có thai, sinh con, nhưng con đau và chết đi vì không tiền thuốc thang chạy chửa. Hoàn cảnh của họ thật vô cùng bi đát. Sau gần bốn tháng đi chơi ở Huế, Bạch Khiếu Nhàn trở về Cà Mau mới hay việc Chí Ðại bị đuổi và Bạch Tuyết đã trốn đi rồi. Ông đọc thơ Chí Ðại và Bạch Tuyết và nghĩ có thể Bạch Tuyết đã theo Chí Ðại lên Sài Gòn thành ra ông vội vã đi ngay lên Sài Gòn tìm cháu. Sau một thời gian khó nhọc tìm kiếm ông đã đến được chỗ ở đậu tồi tàn của hai người. Ông cho tiền trả nợ, mua sắm áo quần, giúp hai người làm hôn thú, rồi đưa hai người về Cà Mau. Ông hùn vốn với một người khách trú mua tàu lớn sang Ấn Ðộ Dương vớt ngọc điệp đem về bán ở bên Trung Quốc. Ông cho Chí Ðại theo tàu điều hành công việc để Chí Ðại có cơ hội gầy dựng sự nghiệp. Còn Bạch Tuyết thì ở nhà với ông. Nhưng bà Phủ đâu có để yên, bà lại xúi ông Phủ sang xin cho Bạch Tuyết về ở với ông bà. Trước lời cầu xin tuy hợp tình hợp lý của ông Phủ, ông Nhàn vẫn chưa chấp thuận. Nhưng Bạch Tuyết lại sợ rồi đây thế nào bà kế mẫu độc ác kia cũng tìm mọi cách ám hại nàng cho nên nàng phải một lần nữa trốn lên Sài Gòn để xa lánh bà mẹ ghẻ độc ác này.  Lần này thì Bạch Tuyết phải sống một mình ở Sài Gòn, nhưng cũng may là cô có mang theo được chút ít tiền và cô đã biết rành cuộc sống ở đây. Lần này cô cũng có cơ hội quen biết và giúp đỡ cho hai người bạn mà sau này họ sẽ trở thành đôi vợ chồng. Họ là những người bạn rất thân của cô, hết lòng giúp đỡ cô trong cơn hoạn nạn về sau. Một người là Băng Tâm, một cô gái quê ở Vĩnh Long, nghèo khổ, bơ vơ lần đầu đến Sài Gòn, và một người là Lý Trường Khanh, nhà giàu có, và là chỗ quen biết với chồng cô từ trước. Cuộc sống của Bạch Tuyết ở Sài Gòn lần này tuy có đỡ hơn lần trước nhưng cũng vẫn rất khổ cực. Cô lại bị đau yếu phải nhờ đến sự chăm sóc tận tụy của Băng Tâm và Trường Khanh. Bà Phủ thì không bao giờ chịu để cho Bạch Tuyết yên thân. Cái gia tài đồ sộ của ông Nhàn lúc nào cũng ám ảnh bà. Không cưới được Bạch Tuyết cho cháu bà thì phải làm sao giết được Bạch Tuyết để may ra ông Phủ và con trai bà còn được hưởng phần nào cái gia tài đồ sộ đó. Bà đích thân lên Sài Gòn tìm gặp Bạch Tuyết, dùng lời ngon ngọt dụ Bạch Tuyết về Cà Mau sống với ông bà. Bạch Tuyết nhất định không chịu. Bà Phủ lật đật về Cà Mau xúi ông Phủ lên Sài Gòn bắt Bạch Tuyết về. Biết thế nguy, Bạch Tuyết nhờ Trường Khanh tìm chỗ ở khác để trốn lánh. Nhưng Trường Khanh chưa tìm được chỗ thì ông Phủ đã lên tới. Lúc này Bạch Tuyết đau nhiều. Ông Phủ thuê ghe đưa Bạch Tuyết về Cà Mau với ông. Bạch Tuyết không trốn tránh nữa được, đành phải để cho ông Phủ bắt về thôi. Sợ Bạch Tuyết bị hại nên Băng Tâm nài nỉ xin được theo bên cạnh để săn sóc cho Bạch Tuyết. Bà Phủ không thích nhưng cũng không làm sao ngăn cản được. Khi Bạch Tuyết và Băng Tâm theo ông bà Phủ đi rồi thì Trường Khanh cũng hối hả xuống Cà Mau tìm gặp ông Nhàn để thông báo mọi việc. Ông Nhàn và Trường Khanh hết sức lo lắng cho số phận của Bạch Tuyết. Trường Khanh nghĩ kế đem Bạch Tuyết ra khỏi nhà ông bà Phủ, nhưng mưu kế bị bại lộ. Bà Phủ biết được bèn tương kế tựu kế cho gia nhân bao vây bắt Trường Khanh và Băng Tâm, vu cáo cho hai người thông đồng ăn trộm đồ nhà bà, kêu ông Phủ phải làm tờ trình gắp rút giải họ lên tòa để Bạch Khiếu Nhàn không kịp can thiệp, giúp đỡ. Giải quyết được Băng Tâm và Trường Khanh, bà Phủ bây giờ đã có đủ điều kiện và cơ hội để giết Bạch Tuyết. Bà tráo thuốc độc cho Bạch Tuyết uống cũng như bà đã làm trước đây cho mẹ ruột Bạch Tuyết. Biết thuốc của bà Phủ bưng vào là thuốc độc nên Bạch Tuyết không chịu uống. Bà Phủ bèn đóng chặt cửa phòng, đè Bạch Tuyết xuống, định đổ thuốc vào miệng. Bạch Tuyết chống cự mãnh liệt nhưng vì đau yếu lâu ngày thành ra không chống nổi sức mạnh của bà Phủ. Nhưng vừa lúc bà Phủ đè được Bạch Tuyết để sắp sửa đổ thuốc vào thì có người tông mạnh cửa phòng, nhào tới kéo bà Phủ ra, giải thoát cho Bạch Tuyết. Người đó là Chí Ðại, vừa về kịp đúng lúc để cứu Bạch Tuyết. Chí Ðại không quên giữ kỷ chén thuốc độc để làm tang chứng tố cáo bà Phủ.  Chí Ðại lên tòa giải oan cho Trường Khanh và Băng Tâm, và nhờ trạng sư đầu đơn tố cáo bà Phủ. Bà Phủ bị tòa tuyên án 8 năm cấm cố về tội giết người. Tri Phủ Trần Xuân Thới thì bị bắt phải về hưu sớm. Ông hết sức ăn năn. Chí Ðại đã thành công lớn lao trong chuyến đi vớt ngọc điệp ở Ấn Ðộ dương. Bạch Khiếu Nhàn vô cùng mừng rỡ. Trường Khanh và Băng Tâm làm lễ thành hôn ở đây với sự giúp đỡ của ông Nhàn. Chí Ðại và Bạch Tuyết vui mừng sum họp, nhưng niềm vui chưa trọn thì Chí Ðại bỗng thấy bức thơ tuyệt mạng của vợ viết cho mình mà chưa ký tên. Ðọc thơ xong Chí Ðại sợ quá nhưng may mà Bạch Tuyết chưa kịp tự tử. Chí Ðại phải hết lời khuyên giải, cắt nghĩa thiệt hơn, Bạch Tuyết mới bỏ ý định đó. Câu chuyện kết thúc ở đây với cảnh mọi người vui vẻ sống hạnh phúc bên nhau.    Ngoài sự hấp dẫn của câu chuyện, tâm lý các nhân vật cũng được khéo léo xây dựng để góp phần quan trọng vào tính logic của câu chuyện. Bà Phủ đẹp đẽ, lanh lợi, rất khéo léo bên ngoài nhưng bên trong vô cùng thâm độc, lúc nào cũng mưu tính giết người, đoạt của. Bên ngoài bà là người vợ hiền thục, hết sức lo lắng, chìu chồng, là người mẹ ghẻ tốt lúc nào cũng để ý lo lắng cho con riêng của chồng, nhưng bên trong bà là người hết sức tham lam và vô cùng ác độc, có thể mưu tính làm bất cứ cái gì, kể cả giết người, để đoạt lấy sự sản gia tài của người khác. Ông Phủ thì hiền từ nhưng lôi thôi, chỉ biết hưởng thụ (hút thuốc phiện), lúc nào cũng nghe lời bà Phủ, không hề biết những mưu toan và hành động gớm ghê của vợ. Vì chỉ biết nghe theo bà Phủ nên ông không biết được những đớn đau, khổ sở của con gái, ông không thấy và cũng không ngờ được sự nguy hiểm đến tính mệnh của Bạch Tuyết trước mưu toan hiểm độc của bà Phủ. Lại là người có học, biết trọng đạo lý Nho giáo nên ông phải nghe lời vợ mạnh dạn trừng trị đứa con gái bất hiếu, không nghe lời cha dạy lại mang tiếng hư hỏng, tư tình với trai.  Bạch Khiếu Nhàn là người giàu có, rất thương con cháu, nhất là thương Bạch Tuyết và sau này thêm Chí Ðại. Ông cũng biết con gái ông bị bà Phủ thuốc chết nhưng ông không nuôi ý định trả thù mà lại muốn tha thứ hết. Khi Bạch Tuyết bày tỏ với ông ý muốn trả thù cho mẹ ruột của cô thì ông cũng khuyên nên tha thứ chớ không tích cực giúp Bạch Tuyết trong vấn đề này. Ông rất thương yêu cháu ngoại và cũng rất thương Chí Ðại. Thấy Chí Ðại có học, có tài, có đức, nhưng không gặp thời ông đem về ở nhà, giúp Chí Ðại tìm việc, và có ý thầm muốn gả Bạch Tuyết cho Chí Ðại nhưng chưa tiện nói ra. Khi gặp được Chí Ðại và Bạch Tuyết ở Sài Gòn, ông không hề có một lời trách móc hay phê phán gì về hành động của hai người. Ông lại vui vẻ, hết lòng giúp đỡ hai người. Sợ Chí Ðại có mặc cảm nghèo khó trước cô vợ giàu ông tìm cách giúp Chí Ðại lập nên sự nghiệp. Chỉ tiếc là ông quá nhân từ và không có đủ thủ đoạn để giúp cháu ngoại đương đầu với mẹ ghẻ độc ác, tội lỗi. Bạch Tuyết, nhân vật chính của truyện, là một thiếu nữ thông minh, khá trí thức, biết lễ nghi, đạo lý, có ý thức và rất có ý chí. Biết mẹ bị dì ghẻ giết, cô âm thầm mang mối thù trong tâm, quyết chí tìm cơ hội trả thù. Cô không độc ác, không đủ bản lĩnh làm chuyện hung dữ, không dự tính hại bà Phủ bằng những hành vi ám muội. Cô chỉ mong có cơ hội đưa vấn đề ra trước pháp luật để luật pháp trừng trị tội phạm một cách công minh. Nhưng điều kiện sinh sống của cô không cho phép cô làm theo như cô muốn. Ngược lại cô bị đặt trong hoàn cảnh thật éo le ngang trái. Cô bị bắt buộc phải sống dưới bàn tay vô cùng độc ác của bà Phủ. Là người sẽ có gia tài đồ sộ, cô là miếng mồi ngon của bà mẹ ghẻ tham lam. Hằng ngày sống bên cạnh bà Phủ chẳng khác nào sống dưới tay tử thần. Ai có thể bảo vệ được cho cô? Người thứ nhất là ông ngoại cô. Ông rất thương cô nhưng ông không ở cạnh bên, không có quyền gì đối với ông bà Phủ, lại quá nhân từ, không có đủ thủ đoạn để đối phó, đương đầu với một người khôn lanh độc ác như bà Phủ. Người thứ nhì là cha cô. Cha cô chắc cũng thương cô nhưng lại rất nghe lời bà Phủ. Ở gần bên nhưng thật sự rất cách xa. Ông cha này không hề hiểu biết gì về cô thành ra vô tình ông trở thành đồng lõa với bà Phủ trong kế hoạch hãm hại cô. Tệ hơn nữa vì quá nhu nhược trước bà Phủ, ông bị bà biến thành một công cụ trong mọi dự tính thực hiện ý định độc ác của bà. Vô cùng cô đơn trước những hiểm nguy, Bạch Tuyết phải vớ vào cái phao cuối cùng là Chí Ðại. Theo trai là hư hỏng, là mất danh tiết, nhưng đó là con đường sống sót còn lại cho người thiếu nữ này. Theo trai để không chết, để còn có thể có cơ hội trả thù cho mẹ. Nàng là đứa con có hiếu, nhưng không phải vì thế mà dễ dàng để cho cha mẹ sai khiến lẽ nào cũng được. Ðặt trong cảnh ngặt nghèo nàng dám liều. Nàng chống lại quyết định của cha. Nàng quyết định trốn ra khỏi nhà. Nàng liều lĩnh ra đi, phiêu lưu chẳng kể, miễn sao tránh được bàn tay ác độc của bà mẹ ghẻ. Khi gặp Chí Ðại nàng liều lĩnh bày tỏ ý muốn sống với Chí Ðại một cách không mấy ngại ngùng. Thật ra Bạch Tuyết không mù quáng, điên rồ khi quyết định theo sống với Chí Ðại. Nàng cũng không phải chỉ có ý định dùng Chí Ðại như một công cụ hay một phương tiện để trả thù nhà. Trong thâm tâm, Bạch Tuyết rất kính nể mến yêu Chí Ðại. Có thể là cô thầm yêu Chí Ðại.  Khi trở thành vợ Chí Ðại nàng là người hết sức lo lắng thương yêu chồng. Con người liều lĩnh này vẫn trọng danh tiết cho nên mới có cái màn viết thơ tuyệt mạng để lại cho chồng trong phần kết thúc. Cô định tự tử để chứng tỏ rằng cô là người trọng danh dự, muốn bảo toàn danh tiết chớ không phải là người theo trai hư hỏng. Sở dĩ cô phải theo Chí Ðại là vì mối thù phải trả mà thôi. Bây giờ thù đã trả xong cô muốn tự tử chết đi để chứng tỏ lòng trọng danh tiết của cô. Chí Ðại rất xứng đáng là người yêu, là người chồng lý tưởng của Bạch Tuyết. Có học thức, rất đạo đức, có khả năng, làm việc tận tụy, rất trung thành, ngay thẳng, Chí Ðại là một chàng trai lý tưởng trong xã hội bấy giờ. Nghèo nhưng không bao giờ ham muốn nhận tiền của của người khác, dù đó là của vợ hay của bên vợ. Gặp cơn túng thiếu thì làm bất cứ việc gì dù là những nghề tay chân cực khổ bị người ta coi thường hay khinh khi, miễn có chút tiền nuôi vợ con. Chí Ðại rất xứng đáng với tình thương của Bạch Khiếu Nhàn, và càng xứng đáng hơn nữa với tình yêu và sự trao thân gởi phận của Bạch Tuyết. Phần đông người ta đọc tiểu thuyết là để được thích thú với câu chuyện, để quên cuộc sống thực tế mệt nhọc của mình trong phút chốc. Ðọc tiểu thuyết là để tiêu khiển, để „mua vui một vài trống canh“ như một nhà văn xưa đã nói. Thành ra tiểu thuyết phải có câu chuyện, và câu chuyện càng gay cấn, càng có nhiều động tác (actions) thì tiểu thuyết càng hấp dẫn đối với phần đông đọc giả. Câu chuyện phải có phần tưởng tượng ly kỳ nhưng cái ly kỳ tưởng tượng đó đừng quá xa cuộc sống thực tế. Câu chuyện phải có những bất ngờ mà người đọc không quá dễ dàng đoán trước sự việc, nhưng những bất ngờ đó đừng trái ngược tính hợp tình, hợp lý hay logic ở đời. Và câu chuyện phải sít sao với tâm lý các nhân vật, những động tác không trái ngược với tâm lý nhân vật. Phần đông độc giả đều có ý hướng đạo đức, phần đông đều mong đến một kết thúc có hậu, ơn đền oán trả, thiện thắng ác, người ngay/người tốt được thưởng, kẻ ác/kẻ gian phải bị trừng trị. Cái ý hướng luân lý đó thiếu thì đa số đọc giả sẽ rất phiền, sẽ ngại đọc những tác phẩm khác nữa của tác giả, nhưng nếu luân lý đó được đặt lên hàng đầu để buộc câu chuyện phải uốn nắn theo, thì câu chuyện sẽ trở nên nhàm chán, không còn đủ lôi cuốn, hấp dẫn. Câu văn cầu kỳ, khó hiểu cũng không mấy hấp dẫn đối với đa số độc giả, nên giản dị, nên nói cái ngôn ngữ của người đọc để cho họ dễ đọc. Ðó là những điều kiện để tiểu thuyết được nhiều người ưa thích. Ai Làm Ðược và nhiều tiểu thuyết khác của Hồ Biểu Chánh có đủ những điều kiện đó, ông đã đáp ứng đúng nhu cầu đọc tiểu thuyết để tiêu khiển của đa số độc giả Miền Nam trong các thập niên 1920- 1940 của thế kỷ XX.   ***   Tóm tắt Câu chuyện kể về cuộc đời của Bạch Tuyết và Chí Đại, hai nhân vật chính trong tiểu thuyết "Ai Làm Được" của Hồ Biểu Chánh. Bạch Tuyết là con gái của ông Tri Phủ Lê Xuân Thới và bà vợ cả, nhưng sau khi mẹ cô mất, bà Phủ, vợ lẽ, đã giết mẹ cô để chiếm đoạt gia tài. Bạch Tuyết ôm mối hận thù, quyết tâm trả thù cho mẹ. Chí Đại là một thanh niên nghèo, mồ côi cha mẹ, được ông Tri Phủ nhận về làm thơ ký. Chí Đại và Bạch Tuyết gặp nhau và yêu nhau, nhưng bà Phủ tìm cách chia rẽ hai người. Bà vu oan cho Bạch Tuyết hư hỏng và ép ông Tri Phủ đuổi Chí Đại đi. Bạch Tuyết đau khổ, bỏ nhà theo Chí Đại. Hai người sống với nhau ở Sài Gòn, nhưng cuộc sống rất khó khăn. Bà Phủ tiếp tục tìm cách hãm hại Bạch Tuyết. Bà dụ Bạch Tuyết về Cà Mau, rồi cho thuốc độc giết cô. Chí Đại kịp thời ngăn cản, cứu sống Bạch Tuyết. Cuối cùng, bà Phủ bị bắt vì tội giết người. Chí Đại và Bạch Tuyết đoàn tụ, sống hạnh phúc bên nhau. Review Tiểu thuyết "Ai Làm Được" được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Hồ Biểu Chánh. Tác phẩm có nhiều điểm hấp dẫn, trong đó có thể kể đến: Cốt truyện hấp dẫn, lôi cuốn Cốt truyện của "Ai Làm Được" được xây dựng chặt chẽ, hợp lý, có nhiều tình tiết bất ngờ, gây cấn, hồi hộp. Câu chuyện xoay quanh những xung đột, mâu thuẫn trong cuộc sống của các nhân vật, đặc biệt là xung đột giữa thiện và ác, giữa chính nghĩa và phi nghĩa. Nhân vật được xây dựng sinh động, có tính cách riêng Các nhân vật trong "Ai Làm Được" được xây dựng sinh động, có tính cách riêng, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc. Bà Phủ là nhân vật phản diện điển hình, với những thủ đoạn độc ác, mưu mô. Ông Tri Phủ là một người hiền lành, nhưng nhu nhược, dễ bị bà Phủ lừa gạt. Bạch Tuyết là một cô gái xinh đẹp, có cá tính mạnh mẽ, quyết tâm trả thù cho mẹ. Chí Đại là một chàng trai hào hoa, phong nhã, có tình yêu thủy chung, son sắt. Tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc "Ai Làm Được" là một tác phẩm có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Tác phẩm lên án những thế lực tàn ác, độc ác, đồng thời ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người như lòng yêu thương, sự kiên cường, ý chí trả thù. Kết luận Tiểu thuyết "Ai Làm Được" là một tác phẩm văn học có giá trị, góp phần làm phong phú thêm nền văn học Việt Nam. Tác phẩm đã để lại trong lòng người đọc nhiều ấn tượng sâu sắc. Mời các bạn mượn đọc sách Ai Làm Được của tác giả Hồ Biểu Chánh.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Gửi Asuka Và Đứa Con Chưa Chào Đời Của Bố
Tác giả Kazukiyo (1947-1979) là một bác sĩ nội khoa 31 tuổi, đang ở vào 4 tháng cuối cùng của cuộc đời do ung thư di căn. 11/1977, bác sĩ Kazukiyo phát hiện ra khối u ở đầu gối nên đã quyết định cắt bỏ chân phải. Anh lạc quan và can trường luyện tập phục hồi chức năng tới 5/1978 để quay lại bệnh viện làm việc. Nhưng số phận nghiệt ngã, tới cuối 8/1978, Kazukiyo thấy đau ngực và phát hiện ra tế bào ung thư đã di căn lên phổi. Không đầu hàng số phận, anh bắt đầu tự thực hiện liệu pháp miễn dịch mà không nói cho ai hay kể cả vợ và cha mẹ, ngoài 4 người giúp anh thực hiện liệu pháp. Anh đã kiên trì điều trị và gắng gượng làm việc được đến 12/1978 rồi đành nghỉ việc vì kiệt sức và về quê tĩnh dưỡng. Anh đã ngoan cường chiến đấu với bệnh tật tới giây phút cuối cùng và ra đi vào 21/1/1979. Từ khoảnh khắc biết ung thư đã di căn vào phổi và tự tính được thời gian còn lại, Kazukiyo đã quyết định viết cuốn sách để tặng cho trước hết là hai con của mình, Asuka 2 tuổi và con thứ hai đang trong bụng mẹ, và thứ nữa là cho vợ, cha mẹ, bạn bè đồng nghiệp, bệnh nhân cùng những ai đang giúp họ chiến đấu với bệnh tật. *** [REVIEW] GỬI ASUKA VÀ ĐỨA CON CHƯA CHÀO ĐỜI CỦA BỐ   Cuốn sách kể lại câu chuyện có thật về quá trình chiến đấu với căn bệnh ung thư của bác sĩ nội khoa Kazukiyo Imura dành tặng cho cô con gái nhỏ Asuka, và đứa con còn chưa chào đời. Cuốn sách best-seller đã bán được một triệu năm trăm nghìn bản, được chuyển thể thành movie và phim dài tập. Sự tử tế, trái tim nhân ái và lòng trân trọng cuộc sống của vị bác sĩ đã truyền động lực, niềm tin cho những người đang sống. Một cuốn sách lay động đến trái tim của hàng triệu độc giả tại xứ sở hoa anh đào và được chuyển ngữ tại Việt Nam. Cuốn sách là những chiêm nghiệm của tác giả về cuộc sống từ ngày còn nhỏ đến khi trở thành một bác sĩ nội khoa. Từ những sai lầm thủa ấu thơ để rồi sửa chữa mà lớn lên với tấm lòng đầy bao dung và ấm áp. Trong suốt quá trình làm việc tại bệnh viện, bác sĩ Kazukiyo Imura đã gặp rất nhiều trường hợp khi con người đứng giữa sự sống và cái chết. Và anh đã nhận ra rằng mọi người lựa chọn sống hay chết, nỗ lực từng ngày hay tuyệt vọng buông xuôi đều có lý do của nó. Đừng buông những lời cay đắng khi bạn chưa biết được người khác đã phải trải qua những gì. Anh viết “ Người ta thường nói rằng những kẻ tự sát là những kẻ yếu đuối. Bố không nghĩ thế. Bố tự hỏi, liệu nỗi đau phải lớn tới mức nào mới dồn ép họ tới hành động đòi hỏi dũng khí như tự tử.”   Khi biết mình mang căn bệnh quái ác, bác sĩ Kazukiyo Imura đã chiến đấu với nó thật can trường. Sau khi cắt bỏ một chân, anh vẫn tiếp tục đến bệnh viện làm việc với cái chân giả. Dù khó khăn hơn những bác sĩ khác nhưng điều đó không cản được mong muốn chữa bệnh cho bệnh nhân trong anh. Anh hiểu rằng không ai hiểu người bệnh hơn một bác sĩ cũng đang bị căn bệnh giống họ. Với tinh thần lạc quan ấy, cuốn sách dù viết về quá trình chiến đấu với căn bệnh ung thư, có những đoạn khiến người đọc nghẹt thở vì thương cảm, xót xa nhưng lại không mang đến cảm giác u buồn, tuyệt vọng. Bởi khi đối diện với cái chết đến gần, bác sĩ Kazukiyo Imura vẫn luôn mang lòng biết ơn đối với cuộc sống, với những người đã giúp đỡ, yêu thương mình trong cuộc đời ngắn ngủi. Bên cạnh đó cũng có những phút giây vị bác sĩ dũng cảm ấy yếu lòng khi nghĩ đến việc phải rời xa gia đình thân yêu, đặc biệt là Asuka bé nhỏ và đứa con còn chưa chào đời. Những phút giây ấy cũng khiến độc giả thấy tim mình trùng xuống vì đọc những lời nghẹn ngào “Bố có thể ở cùng Asuka đến khi nào? Bố còn có thể ôm Asuka đến khi nào? Nhìn Asuka, nước mắt bố cứ trào ra”. Cũng chính tình yêu thương ấy đã là động lực to lớn để giúp tác giả hoàn thành cuốn sách để giành tặng hai đứa con bé nhỏ trong khi phải chiến đấu với những cơn đau bởi khối u di căn sang phổi. Người đàn ông 31 tuổi nhắn gửi các con rằng: “Khi lớn lên, hãy trở thành những đứa trẻ tốt bụng và có lòng vị tha. Thêm vào đó, hãy biết trân trọng mẹ các con. Để nuôi dạy các con, mẹ đã phải chịu đựng bao nhiêu là khổ cực. Và ngay cả với bố, mẹ cũng dốc hết tâm can mà hết mực dịu dàng”. Một cuốn sách không lời văn hoa sáo rỗng, vì đó là tất cả tấm lòng của người bố viết cho con mình vì sợ khi chúng lớn lên không có chút ký ức nào về người bố đã mất sớm. Đó là tình yêu đã đi cùng vợ và hai con trong suốt quãng thời gian sau này, khi không có anh ở bên... *** Lời nói đầu Chồng tôi, Imura Kazukiyo, qua đời vào ngày 21 tháng 1 năm 1979, thấm thoắt cũng đã hai mươi sáu năm. Thời gian gần đây, quyển sách này đã trở thành ấn phẩm bán chạy, thường xuyên xuất hiện trên đài NHK và còn được dựng thành phim, giúp cho rất nhiều quý vị biết đến người chồng quá cố của tôi. Chúng tôi cũng nhận được vô số lời động viên khích lệ từ khắp nơi trên cả nước. Từ đáy lòng tôi cảm thấy vô cùng biết ơn. Thực tình, tôi rất muốn hồi đáp từng vị một, nhưng việc đó là quá sức nên tôi thành thật ngỏ lời xin lỗi. Khi chồng tôi mất, con gái đầu Asuka của chúng tôi mới được hai tuổi, giờ cháu đã hai mươi tám. Còn “đứa con chưa chào đời” mà chồng tôi đã không thể gặp mặt vào ngày hạ sinh - thứ nữ Seiko cũng đã bước sang tuổi hai mươi sáu. cho tới nay, điều duy nhất tôi ngóng trông là sự trưởng thành của hai con, và may thay chúng đều khỏe mạnh, bình yên vô sự mà nên người. Cũng giống như tôi và chồng, cả hai cháu đều làm công việc liên quan tới lĩnh vực y tế. Bản thân tôi, nhờ các con gái, cũng được trau dồi thêm về khái niệm đời sống thời nay và sự đổi thay, cải thiện của môi trường chăm sóc sức khỏe. Ngoài ra, mùa xuân vừa rồi, con gái thứ hai Seiko của tôi đã nên duyên và kết hôn. Chú rể cũng là người làm trong ngành Y. Nhân cơ hội đó, nhà xuất bản Shodensha đã nói chuyện với tôi về việc tái bản sách. Ngẫm ra thì, tôi cảm thấy chưa có thời đại nào mà câu hỏi về sức nặng của sinh mệnh lại được đặt ra nhiều như bây giờ. Tôi quyết định chấp nhận lời đề nghị tái bản, bởi tôi mong muốn rằng, càng nhiều người càng tốt có thể thấu hiểu lòng biết ơn vô vàn mà người chồng quá cố của tôi đã dành cho những điều rất đỗi hiển nhiên. Tôi cũng mượn dịp này để gửi lời cảm tạ chân thành tới những người đã luôn giúp đỡ chúng tôi bấy lâu nay. Thực sự cảm ơn mọi người. Một ngày đẹp trời tháng 7 năm 2005 Imura Michiko *** Vì biết rằng mình chẳng còn sống được bao lâu nữa, nên tôi đã luôn suy nghĩ về một chuyện. Tranh thủ những ngày tháng ít ỏi còn lại, tôi muốn viết một quyển sách. Đó sẽ là bằng chứng cho thấy tôi đã sống trên đời này hơn ba mươi năm, là lời cảm ơn từ tận trong tâm dành cho những người đã vì tôi mà rơi lệ, cũng là món quà duy nhất của một người bố dành tặng hai đứa con thơ ngây cờn chưa hiểu sự đời, và là kỉ vật của lòng tôi. Bởi vậy, tôi muốn viết lời đề tặng cho quyển sách này như sau: Xin dành tặng quyển sách nhỏ này cho hai con đáng yêu của bỗ; cho vợ - người tới tận những giây phút cuối cùng vẫn hết lòng yêu thương anh; cho bố mẹ đáng kính - hai người đã đau buôn vì bệnh tật của con hơn bất kì ai; cho những người bạn tuyệt vời; cho các em, họ hàng, đồng nghiệp, người thân quen đã dùng thương yêu mà bao bọc giúp đỡ tôi; cho các bệnh nhân vẫn luôn chờ đợi tôi trở về; cho những người đang thống khổ vật lộn trên giường bệnh và cho những ai mang trái tim thiện lương đang chung nỗi đau cùng họ trên toàn thế giới. Imura Kazukiyo Mời các bạn đón đọc Gửi Asuka Và Đứa Con Chưa Chào Đời Của Bố của tác giả Kazukiyo Imura & Thùy Dương (dịch).
Cô Gái Người Anh
Madeline Hart là ngôi sao đang lên trong đảng cầm quyền ở Đảo quốc Anh: xinh đẹp, thông minh, đã vượt lên tuổi thơ khốn khó để có được chỗ đứng trong xã hội. Tuy nhiên Madeline đang mang một bí mật đen tối: cô là nhân tình của Thủ tướng Jonathan Lancaster. Biết chuyện, những kẻ bắt cóc cô quyết tâm buộc nhà lãnh đạo Anh phải trả giá đắt cho tội lỗi của mình. Lo sợ vụ bê bối sẽ làm tiêu tan sự nghiệp, Lancaster muốn giải quyết vấn đề này một cách âm thầm thay vì giao phó cho cảnh sát. Đúng là một nước bài đầy rủi ro, không chỉ đối với Thủ tướng mà còn cho những ai dấn thân vào nhiệm vụ này. Bảy ngày – Một cô gái – Không có cơ hội thứ hai. Gabriel Allon – sát thủ bậc thầy, nhà phục chế nghệ thuật trứ danh và là điệp viên kỳ cựu của Israel, không còn lạ lẫm gì với các nhiệm vụ hiểm nguy hay rắc rối chính trị – chấp nhận đương đầu với thử thách. Trong từng tiếng tích tắc của đồng hồ, Gabriel không ngừng tìm cách giải cứu Madeline. Nhiệm vụ đã đưa ông đi từ thế giới ngầm tội ác của Marseilles đến vùng thung lũng biệt lập của Provence, đến các hành lang sang trọng nhưng đã lu mờ của chốn quyền lực London – và cuối cùng, là đến nơi tột cùng kinh hoảng – Moscow, thành phố của bạo lực và gián điệp, nơi có cả một danh sách dài những kẻ muốn Gabriel phải chết. *** LÀNG PIANA, ĐẢO CORSE BỌN CHÚNG ĐẾN tìm cô cuối tháng Tám trên đảo Corse*. Thời gian chính xác sẽ không bao giờ xác định: dù đã cố hết sức, bất cứ người bạn nào ở chung nhà với cô cũng chỉ biết là thời điểm nào đó từ lúc mặt trời lặn đến giữa trưa ngày hôm sau. Mặt trời lặn là lúc họ nhìn thấy cô lần cuối, đang phóng nhanh trên chiếc xe máy scooter* màu đỏ ra khỏi lối vào biệt thự, một chiếc váy bằng vải bông mỏng tang phấp phới trên cặp đùi rám nắng. Đến giữa trưa là lúc họ nhận thấy giường cô trống không, chẳng có gì ngoài một cuốn tiểu thuyết bìa giấy rẻ tiền đang đọc dở dang thơm mùi dầu dừa và thoang thoảng mùi rượu rum. Hai mươi bốn giờ nữa trôi qua rồi họ mới quyết định đi gọi hiến binh* Pháp tới. Đã có một mùa hè như thế, và Madeline là một cô nàng như thế. Họ đã tới đảo Corse nửa tháng trước, bốn cô nàng xinh đẹp và hai anh chàng đứng đắn, tất cả đều là công chức mẫn cán của chính phủ Vương quốc Anh, hoặc là đảng viên đảng cầm quyền dạo ấy. Họ có một chiếc xe hơi đơn sơ, một chiếc hatchback hiệu Renault của cơ quan vừa đủ lớn để sắp xếp cho năm người ngồi không được thoải mái, và một chiếc scooter màu đỏ là độc quyền của riêng Madeline mà cô vốn cứ cưỡi nó rồi phóng đi bạt mạng gần như là tự sát. Biệt thự màu đất son của họ tọa lạc ở rìa phía Tây ngôi làng trên một mỏm đá nhìn ra biển cả. Nó ngăn nắp gọn gàng và vững chắc, một kiểu cơ ngơi mà các nhân viên môi giới bất động sản vẫn luôn mô tả là “quyến rũ”. Còn có một hồ bơi và một khu vườn có tường rào đấy những bụi hoa hương thảo và những cây mát tít; và trong hàng giờ đồng hồ đổ bộ lên đảo, họ đắm mình trong một tình trạng bán khỏa thân cháy nắng thật sung sướng, điều mà các du khách Anh luôn khát khao mong mỏi, bất kể chuyến lữ hành đưa họ đến đâu. Mặc dù Madeline trẻ nhất trong nhóm, nhưng lại là người chỉ huy không chính thức của họ, một gánh nặng mà cô chấp nhận chẳng hề phản đối. Chính Madeline đã lo thuê biệt thự, và Madeline đã sắp xếp các bữa ăn trưa kéo dài, các bữa ăn tối muộn màng và chuyến đi một ngày vào nội địa hoang dã của đảo Corse, lúc nào cô cũng dẫn đầu dọc theo con đường đầy bất trắc trên chiếc scooter của cô. Không chỉ một lần cô bực bội vì phải dừng xe tham khảo bản đồ. Kiến thức thuộc hàng bách khoa toàn thư của cô về hòn đảo này trên các phương diện địa lý, lịch sử, văn hóa và ẩm thực được tích lũy trong suốt quá trình nghiên cứu và chuẩn bị kỳ công trong những tuần lễ trước ngày lên đường. Dường như Madeline chẳng hề phó mặc cho may rủi bất cứ việc gì. Nhưng rồi hiếm khi cô làm những việc đã chuẩn bị kỹ. Cô đã đến làm tại trụ sở của đảng tại tòa phức hợp Millbank hai năm trước, sau khi tốt nghiệp Đại học Edinburgh với tấm bằng cử nhân kinh tế và các chính sách xã hội. Mặc dù cô thụ hưởng một nền giáo dục hạng hai - hầu hết đồng nghiệp của cô đều được đào tạo từ các trường công dành cho giới thượng lưu và Oxbridge - cô thăng tiến nhanh chóng qua một loạt chức vụ ở văn phòng trước khi được thăng chức Giám đốc Bộ phận Hỗ trợ cộng đồng. Công việc của cô, như cô thường mô tả, là sục sạo tìm kiếm phiếu bầu trong các tầng lớp người dân Đảo quốc Anh chưa từng làm gì để ủng hộ đảng, cương lĩnh hay các ứng cử viên của đảng. Tất cả đều đồng ý chức vụ đó chẳng qua chỉ là một trạm dừng chân trên hành trình tiến tới những công việc tốt hơn. Tương lai của Madeline thật sáng chói - “rực sáng như mặt trời,” theo lời của Pauline, cô gái từng theo dõi sự thăng tiến của đồng nghiệp trẻ hơn mình với không ít ghen tỵ. Theo lời đồn đại lan truyền, Madeline đã được một nhân vật cao cấp trong đảng bảo bọc che chở. Ai đó thân cận với Thủ tướng. Thậm chí có lẽ chính Thủ tướng. Với ngoại hình ăn ảnh truyền hình, khả năng lập luận sắc bén và tiềm năng vô hạn, Madeline đang được chuẩn bị để ngồi vào một ghế an toàn trong Nghị viện và một bộ của riêng cô. Chỉ là vấn đề thời gian. Hay là người ta đã nói như vậy. Điều càng kỳ quặc hơn nữa là đã hai mươi bảy tuổi mà Madeline Hart, vẫn chưa bị tình cảm lãng mạn ràng buộc. Khi được yêu cầu giải thích về đời sống tình ái khô khan của mình, cô thường tuyên bố vì quá bận rộn nên không thể cặp đôi với đàn ông. Fiona, một người đẹp tóc đen hơi ác mồm ác miệng ở Văn phòng Nội Các, thấy lời giải thích đó thật đáng ngờ. Hơn nữa về điểm này, cô tin rằng Madeline vẫn hay lừa dối - tính hay lừa dối là một trong những tính cách mà Fiona cho là dễ chấp nhận nhất, vì vậy cô mới ưa thích các quan điểm chính trị của đảng. Để chứng minh lập luận của mình, cô thường chỉ ra rằng Madeline, trong khi vẫn nói huyên thuyên về hầu như mọi đề tài có thể nghĩ ra, lại đề phòng thủ thế một cách bất thường khi đề cập tới cuộc sống riêng tư. Đúng thế, Fiona nói, nó sẵn lòng tung ra những chuyện vặt vãnh vô hại thỉnh thoảng xảy ra trong thời thơ ấu không yên lành của mình - ngôi nhà hội đồng*buồn thảm ở Essex, ông bố mà khuôn mặt nó hoàn toàn không thể nào nhớ lại, người anh nghiện rượu cả đời chưa bao giờ làm việc một ngày nào - nhưng mọi chuyện khác nó vẫn giấu kín sau một con hào sâu và những bức tường bằng đá. “Có thể Madeline của chúng ta từng là sát thủ trên tình trường hoặc là gái hạng sang,” Fiona nói, “và bọn mình chả có đứa nào khôn hơn nó.” Nhưng Alison, một nhân viên cấp dưới ở Bộ Nội vụ đã có nhiều đổ vỡ, từng có một lập luận khác. “Con cừu non đáng thương đang yêu,” cô tuyên bố vào một buổi chiều khi ngắm Madeline như một nữ thần hiện lên từ biển cả trong một cái vũng nhỏ xíu bên dưới biệt thự. “Rắc rối là người đàn ông có liên quan không đáp lại ân tình ấy.” “Sao lại không nhỉ?” Fiona hỏi một cách đờ đẫn từ bên dưới cái vành mũ che nắng to tướng. “Có lẽ hắn ở một vị thế không thích hợp.” “Có vợ rồi ư?” “Lẽ đương nhiên là thế.” “Đồ khốn nạn.” “Cô chưa bao giờ sao?” “Từng có quan hệ với đàn ông có vợ ư?” “Phải.” “Chỉ có hai lần thôi. Nhưng tôi đang dự tính làm tiếp tập ba đấy.” “Cô sắp bị hỏa thiêu dưới địa ngục, Fi ạ.” “Tôi thực sự mong như thế đấy.” Chính là lúc đó, vào buổi chiều ngày thứ bảy, và dựa trên chứng cứ mong manh nhất, ba cô gái và hai chàng trai đang lưu trú với Madeline Hart trong biệt thự được thuê ở ven làng Piana đã tự đảm nhiệm việc tìm cho cô ấy một bạn tình. Pauline nói không phải chỉ là bất cứ tình nhân nào. Chàng ta phải phù hợp về tuổi tác, có ngoại hình đẹp và xuất thân thật tốt, tài chính và sức khỏe tâm thần phải ổn định, không có chuyện xấu xa nào phải giấu giếm và không có ả đàn bà nào khác trên giường chàng ta. Fiona vốn giàu kinh nghiệm nhất khi đề cập đến vấn đề của con tim, tuyên bố đấy là một sứ mệnh bất khả. “Hắn không tồn tại,” cô giải thích với nỗi chán chường mệt mỏi của một người đàn bà từng bỏ nhiều thời gian đi tìm tình nhân. “Còn nếu hắn tồn tại thì hoặc là đã có vợ, hoặc quá say mê công việc đến nỗi chả có thời gian trong ngày dành cho Madeline đáng thương.” Mặc cho những nghi ngại của mình, Fiona vẫn cứ đâm đầu vào thách thức, chẳng vì lý do nào khác ngoài việc thêm vào một chút mưu đồ cho kỳ nghỉ hè. May mắn là cô ta không hề thiếu các mục tiêu tiềm tàng, vì dường như một nửa dân số vùng Đông Nam nước Anh đã rời bỏ hòn đảo ẩm thấp của họ để đến với ánh nắng trên đảo Corse. Có một đoàn các nhà tài phiệt ở Khu Trung tâm thành phố London đã thuê một khu vực sang trọng ở đầu phía Bắc của Vịnh Porto. Và một đám họa sĩ đang sống như dân Gypsy trong một thị trấn trên đồi ở Castagniccia. Một đoàn làm phim tiếp tục lưu trú trên bãi biển Campomoro. Và một phái đoàn các chính khách đối lập đang mưu toan trở lại nắm lấy quyền lực trong một biệt thự trên đỉnh các mỏm đá ở thị trấn Bonifacio. Dùng danh nghĩa của Văn phòng Nội Các, Fiona đã nhanh chóng sắp xếp một loạt các cuộc gặp gỡ xã giao ngẫu hứng. Và trong mỗi dịp như thế - dù là một bữa tiệc tối, một cuộc đi bộ đường trường trên vùng rừng núi hoặc một buổi chiều say sưa túy lúy trên bãi biển - cô đều gài bẫy một anh chàng hiện diện đủ tư cách nhất và xếp đặt chàng ta bên cạnh Madeline. Tuy nhiên chả có ai vượt qua nổi cửa ải của cô nàng, ngay cả anh chàng diễn viên trẻ tuổi vừa mới hoàn thành thắng lợi cuộc đua vào vị trí dẫn đầu làng âm nhạc của khu Tây London với những bài hát được ưa thích nhất mùa hè này. “Rõ là cô ấy cho rằng việc này không hay,” Fiona thừa nhận khi họ quay đầu xe trở về biệt thự vào một đêm muộn nọ, với Madeline dẫn đường xuyên qua bóng tối trên chiếc scooter màu đỏ của cô. “Cô đoán xem anh ta là ai?” Alison hỏi. “Chả biết,” Fiona đáp, kéo dài ra với vẻ ghen tỵ. “Nhưng hắn ta chắc hẳn là ai đấy hoàn toàn đặc biệt.” Chính vào thời điểm này, khi chỉ còn khoảng chưa đấy một tuần trước khi họ trở về London như dự định, Madeline bắt đầu dành khá nhiều thời gian cho riêng mình. Mỗi buổi sáng cô ra khỏi biệt thự rất sớm, thường trước khi những người khác thức giấc, và trở về lúc đã xế chiều. Khi được hỏi đã đi những nơi nào, rõ là cô chỉ đáp mập mờ, và vào bữa ăn tối cô thường buồn rầu hay lo lắng. Alison lẽ tự nhiên đã lo sợ điều tệ hại nhất, rằng tình nhân của Madeline, dù là ai cũng vậy thôi, đã gửi tới cô ấy lời nhắn rằng sự quan tâm của cô là điều không cần thiết nữa. Nhưng ngày hôm sau, lúc trở về biệt thự sau một chuyến tham quan mua sắm, Fiona và Pauline vui vẻ tuyên bố rằng Alison đã nhầm. Dường như tình nhân của Madeline đã đến đảo Corse. Và Fiona còn có hình ảnh làm bằng chứng. Chuyện họ trông thấy đã xảy đến lúc hai giờ mười phút trong nhà hàng Les Palmiers, trên Bến cảng Adolphe Landry ở thị trấn Calvi. Madeline ngồi ở một cái bàn kê dọc theo mép bến tàu, đầu hơi quay về phía biển như thể không biết đến người đàn ông ngồi ở ghế đối diện. Cặp kính đen to lớn giấu kín đôi mắt. Một cái mũ rơm rộng vành thắt nơ con bướm màu đen thật khéo phủ bóng mát xuống khuôn mặt hoàn mỹ của cô. Pauline đã cố tiến sát lại gần cái bàn đó, nhưng Fiona cảm thấy có chuyện riêng tư căng thẳng trong khung cảnh ấy nên đã đề nghị một cuộc rút lui vội vã thay vào đó. Cô đã tạm dừng một thời gian vừa đủ để lén chụp thật nhanh tấm ảnh đầu tiên nhằm buộc tội bằng chiếc điện thoại di động của cô. Madeline có vẻ chẳng biết gì về vụ xâm phạm đời tư này, nhưng người đàn ông thì không. Ngay giây phút Fiona bấm nút chụp hình, đầu anh ta quay ngoắt đi, như thể cảnh giác bởi một bản năng động vật nào đó khi hình ảnh của mình bị bắt giữ trong một thiết bị điện tử. Sau khi tạm lánh sang một quán bia ngoài trời gần đó, Fiona và Pauline xem xét kỹ người đàn ông trong ảnh chụp. Mái tóc màu vàng khói, phất phơ trong gió và đầy nam tính. Nó xõa xuống trước trán, chỉnh lại một khuôn mặt góc cạnh bị chi phối bởi một cái miệng nhỏ trông có vẻ khá tàn bạo. Trang phục tựa như người miền biển: quần dài trắng, một cái áo sơ mi bằng vài oxford sọc xanh, một đồng hồ đeo tay to của thợ lặn, một đôi giày vải đế bằng phẳng không để lại dấu vết nào trên boong tàu. Hắn ta là hạng đàn ông kiểu ấy đấy, họ quả quyết. Một người đàn ông không bao giờ để lại dấu vết. Họ đoán hắn là thần dân Vương quốc Anh, mặc dù vẫn có thể là người Đức hay Bắc Âu, hoặc có lẽ như Pauline nghĩ, là hậu duệ của quý tộc Ba Lan. Tiền tài rõ ràng chẳng phải là vấn đề, minh chứng bởi chai rượu champagne đắt tiền đang đọng những giọt sương trong cái xô đá bằng bạc neo chặt vào cạnh bàn. Tài sản do hắn kiếm được chứ chẳng phải nhờ thừa kế, họ quả quyết, và không hoàn toàn trong sạch. Hắn là một con bạc. Có tài khoản ngân hàng ở Thụy Sĩ. Hắn thường du hành đến những nơi nguy hiểm. Chủ yếu là người biết suy xét cẩn trọng. Các công việc của hắn cũng giống như đôi giày vải đi trên tàu bè chẳng để lại một dấu vết nào. Nhưng chính hình ảnh của Madeline khiến họ bận tâm suy nghĩ nhiều nhất. Cô ấy chẳng còn là cô gái họ từng quen biết từ lúc còn ở London, hay thậm chí cô gái hai tuần qua từng ở chung trong một biệt thự. Dường như cô nàng đã xử sự theo một cách hoàn toàn khác hẳn. Một nữ diễn viên trong một cuốn phim khác. Người phụ nữ khác. Giờ đây, Fiona và Pauline đang suy đoán trên điện thoại di động như một cặp nữ sinh trung học, hai người tự viết lời thoại rồi thêm thắt phần xương thịt vào để dựng nên các nhân vật. Trong phiên bản câu chuyện này của họ, vụ việc đã bắt đầu một cách vô tội vạ với cuộc gặp gỡ tình cờ trong một cửa hàng dành riêng cho giới thượng lưu ở Phố New Bond. Cuộc tán tỉnh đã kéo dài, việc đạt mục đích mỹ mãn được hoạch định thật chu đáo. Nhưng đoạn kết của truyện tạm thời họ không nắm bắt được, vì trong đời sống thực nó vẫn chưa được viết ra. Cả hai cô đều đồng ý kết cục sẽ bi thảm. “Đấy là cách những truyện như thế này vẫn luôn kết thúc,” Fiona nói từ kinh nghiệm bản thân. “Con gái gặp con trai. Con gái phải lòng con trai. Con gái bị tổn thương và làm hết sức mình để hủy hoại con trai.” Fiona nhanh tay chụp thêm hai tấm hình của Madeline và tình nhân chiều hôm đó. Một tấm cho thấy họ đang dạo bước dọc theo bến cảng dưới bầu trời rực nắng, những khớp ngón tay len lén chạm vào nhau. Tấm hình thứ nhì chụp cành họ chia tay chẳng có một nụ hôn nào. Người đàn ông sau đó leo xuống một cái xuồng nhỏ hiệu Zodiac và bơi ra bến cảng. Madeline lên chiếc scooter màu đỏ của mình và nổ máy trở về biệt thự. Lúc về tới nơi cô không còn sở hữu cái mũ rộng vành thắt nơ con bướm màu đen thật khéo. Đêm hôm ấy khi điểm lại những sự việc vào buổi chiều của mình, cô chẳng hề đề cập đến một chuyến viếng thăm thị trấn Calvi, hoặc một bữa tiệc trưa với một người đàn ông có vẻ sung túc ở nhà hàng Les Palmiers. Fiona nghĩ đó là một màn trình diễn khá ấn tượng. “Madeline của chúng ta là một đứa nói dối tài giỏi phi thường,” cô nói với Pauline. “Có lẽ tương lai của nó xán lạn như người ta bảo. Ai biết được chứ? Thậm chí một ngày nào đấy nó có thể làm Thủ tướng ấy chứ.” Đêm hôm ấy bốn cô nàng xinh đẹp và hai anh chàng đứng đắn dự định ăn tối ở thị trấn Porto gần đó. Madeline đặt chỗ trước bằng thứ tiếng Pháp của các nữ sinh trung học và thậm chí còn bắt chủ nhà hàng giữ lại bàn tuyệt vời nhất của ông ta, đặt trên sân thượng có thể nhìn thấy toàn cảnh con đường đầy sỏi đá vòng quanh vịnh. Họ cứ tưởng sẽ tới nhà hàng theo như dự định của đoàn, nhưng trước bảy giờ một chút, Madeline lại thông báo sẽ đến thị trấn Calvi để uống rượu với một người bạn cũ từ thành phố Edinburgh tới. “Tôi sẽ gặp các bạn ở nhà hàng,” cô ngoái đầu lại la lớn rồi phóng nhanh ra khỏi lối vào biệt thự. “Trời đất ơi, cố gắng để đến đúng giờ là điều không thể.” Rồi sau đó cô đi mất. Chẳng ai nghĩ là kỳ quái khi cô không thể xuất hiện để dùng bữa đêm hôm đó. Họ cũng chẳng hề hốt hoảng khi thức giấc và thấy giường cô trống không. Đã có một mùa hè như thế, và Madeline là một cô nàng như thế.   Mời các bạn đón đọc Cô Gái Người Anh của tác giả Daniel Silva & Hoài Ngọc (dịch).
Phục Hồi
???????????????????????? “????????????̣???? ????????̂̀????” - Câu chuyện về những hộp nhạc và con người cần được sửa chữa Đúng như cái tên của nó, “Phục hồi” là một món quà tinh thần dành cho những tâm hồn bị tổn thương, vụn vỡ. Một câu chuyện về một chàng trai bị trầm cảm lại cố gắng chữa lành trái tim cho người khác. Nhân vật chính của cuốn sách này là Hagane – một chàng trai mắc chứng trầm cảm lo âu. Anh đã chạy trốn thực tại bằng cách sống ở một ngôi nhà cổ mượn được cùng một chú chó hoạt bát tên Stella. Hạn chế giao tiếp hết mức với những người khác, chỉ quanh quẩn với công việc phục chế hộp nhạc, Hagane tưởng chừng sẽ sống cô độc vĩnh viễn cùng thuốc trầm cảm và ý tưởng tự tử ập đến mỗi ngày. Nhưng một ngày, khi nhận lời sửa chữa cho Mutsuki – cô tiểu thư xinh xắn hoạt bát và tốt bụng nhà Iimura, Hagane đã từng bước bước ra khỏi ngôi nhà “an toàn” của mình, anh mở lòng với những người xung quanh nhiều hơn, tìm hiểu những câu chuyện bí mật đằng sau những hộp nhạc và chủ nhân của chúng: Một mối tình bị chia cắt nhưng những người yêu nhau chưa từng quên được nhau, một người mẹ cùng cực của đau khổ tội lỗi, một người anh trai với dày vò về tội lỗi của mình,… Dù cho luôn phủ nhận về những việc tốt của mình làm, nhưng những hành động Hagane làm lại khác hẳn với vẻ dửng dưng, vô tâm được khắc họa trong đầu chuyện. Tuy nhiên, dù Hagane có thể sửa chữa được hộp nhạc cho mọi người, phần nào mang lại cái kết có hậu cho chủ nhân của chúng, nhưng còn câu chuyện của chính anh thì sao? Bên cạnh những điều tích cực mà Tadashi Ohta muốn truyền tải, rất còn những người không hiểu được bản chất của căn bệnh trầm cảm, họ cho rằng : Trầm cảm vốn do bản thân người bệnh nội tâm yếu đuối, luôn tìm cách trốn trách thực tại hay không đủ mạnh mẽ để vượt qua những khó khăn gặp phải. Cuốn sách đã mang đến cái nhìn đầy bao dung và thông cảm với người bệnh, đồng thời giúp độc giả thấu hiểu được khối cảm xúc khổng lồ mà những người trầm cảm luôn phải gánh trên lưng mình. Với một kết thúc có hậu, “Phục hồi” là một liều thuốc chữa lành cho những ai đang mang trong mình những cảm xúc nặng nề, luôn luôn dằn vặt và tự trách bản thân những lỗi lầm trong quá khứ. “Mẹ anh thật đáng thương, nhưng có lẽ lúc đó mẹ anh đã oán hận cả thế giới này. Ít nhất mẹ cũng không hận mỗi mình anh. Vậy mà anh định một mình đón nhận hết nỗi hận của mẹ sao?” Người review: Đoàn Thảo. *** Anh dùng ngón trỏ để kéo cần gạt. Chiếc đĩa hát đường kính 30 centimét với vài vết xước trên bề mặt bắt đầu quay, tiếng nhạc khẽ vang lên. Là đĩa nhạc Traumerei. Đĩa nhạc chậm rãi quay, vô số những chiếc kim âm dựng đứng trên mặt đĩa cuốn theo trục quay hình sao, trục quay này truyền động tới chiếc lược. Bằng cách đó, âm thanh sẽ làm không khí chuyển động, và truyền tới màng nhĩ. Hagane nhắm mắt lại. Anh lắng tai nghe như muốn kiểm tra từng âm từng âm một. Khi đĩa quay hết một vòng, bản nhạc đã kết thúc, anh mở mắt. Anh khẽ thở dài. Anh hơi vươn vai rồi đứng dậy khỏi ghế, rót cà phê từ chiếc bình để bên cạnh vào cốc, đoạn uống một ngụm. Đây là nghi thức anh luôn thực hiện mỗi khi xong việc. Anh đặt một chiếc đĩa khác vào để hộp nhạc chơi thêm lần nữa. Đó là đĩa nhạc Yêu tinh Polka. Lần này anh không để ý tới từng âm riêng lẻ nữa, mà lắng nghe xem nhạc có trôi chảy không. Chú chó Stella nãy giờ ngủ lăn lóc dưới chân anh giờ đang ngáp lớn. Nó ngẩng mặt lên nhìn Hagane, rồi liếm mũi bằng chiếc lưỡi rất dài. Chân sau nó đưa lên gãi phía sau đôi tai hình tam giác nhọn, đuôi vẫy vẫy. “Ngồi không nên chán hả?” Khi Hagane hỏi chuyện, Stella bèn đứng dậy, dụi dụi mũi vào chân anh. Nó to hơn giống chó Shiba, lông trên người cũng dài hơn. Dù phòng rất mát do có bật điều hòa, nó vẫn há miệng thè lưỡi ra ngoài. “Chú mày chịu nóng kém nhỉ. Thế mà vẫn muốn ra ngoài chơi à?” Như thể muốn đáp lại, Stella đập đập chân trước xuống nền nhà. “Thế thì chờ thêm chút nhé.” Bản nhạc Yêu tinh Polka đã kết thúc. Hagane tháo đĩa ra, đóng nắp hộp nhạc lại. Chiếc hộp bằng gỗ được chạm trổ với những họa tiết uy nghiêm. Trông giống như một loại đồ nội thất. Symphonion Rococo. Một hộp nhạc dùng đĩa * được sản xuất vào những năm 1890 ở Đức. Với chất lượng tốt như thế này, giá của nó trên thị trường phải lên tới mấy triệu yên. * Về mặt cấu tạo, hộp nhạc có hai loại là dùng đĩa hoặc dùng trục quay để phát nhạc. Khi anh kéo rèm cuốn cửa sổ lên, ánh nắng tháng Bảy rọi vào nhuộm trắng vỏ ngoài chiếc Symphonion Rococo. Anh chuyển hộp nhạc vào chỗ không có ánh nắng chiếu đến. Ánh mặt trời dệt nên nhiều họa tiết trên những dụng cụ nằm lăn lóc nơi bàn làm việc. Hagane bỏ kìm và giũa vào ngăn kéo bàn, đặt chiếc mỏ cặp cỡ nhỏ lên giá đồ sau lưng. Trên giá chất vô số hộp đựng dụng cụ và hộp đựng linh kiện. Thứ chiếm cứ phần lớn diện tích của căn phòng 8 chiếu này cũng chính là những thứ dụng cụ và linh kiện ấy. Điện thoại chợt reo vang. “A lô, Kou-chan* ơi?” * Ký tự tên “Hagane” có thể đọc theo 2 cách là Kou và Hagane. “Chan” là một hậu tố đặt sau tên của một người, thể hiện sự yêu quý, trìu mến của người nói đối với người đó. Một giọng phụ nữ phát ra từ ống nghe. “Dạ.” Hagane đáp không chút hồ hởi. “Công việc của cháu tiến triển thế nào?” “Cháu vừa sửa xong một cái ạ.” “Thế à, sớm quá nhỉ. Là chiếc Rococo hả?” “Chỉ có một chiếc răng lược bị gãy thôi. Không tốn nhiều thời gian lắm.” “Kou-chan giỏi quá! Cô sẽ bảo Mochiduki tới nhận về ngay.” “Nếu tới lấy thì để sau năm giờ hãy tới được không ạ?” “Cô hiểu rồi. Mà này, ngày mai cháu rảnh không?” Hagane im lặng. “Sao thế? Cô vừa hỏi điều gì không nên hỏi à?” “Là vì cháu không biết trả lời cô thế nào. Mai cháu không có việc gì bắt buộc phải làm, nhưng nếu bị cô giao cho việc gì đó thì rắc rối lắm.” “Khó nhỉ. Nhưng cô chỉ là muốn cháu gặp một người thôi.” “Xin lỗi, cháu từ chối.” “Cô biết cháu sẽ nói thế mà. Nhưng mà người ta đến vì chuyện công việc.” “Nếu có hộp nhạc nào cần sửa thì cô hãy gửi nó tới đây. Cháu đâu cần gặp chủ nhân hộp nhạc làm gì.” “Lần này không như vậy. Chuyện họ cần nhờ có chút khác thường, nên họ muốn gặp trực tiếp để trao đổi với cháu.” “Cháu không thích mấy chuyện phiền nhiễu. Cô từ chối đi. Hơn nữa hiện giờ cháu cũng đã bận tối mắt tối mũi để sửa những hộp nhạc cô gửi tới rồi.” “Mấy hộp nhạc đó cháu để sau cũng được. Cô cũng sẽ không làm gì phiền đâu. Thế nên tới nhà cô đi nhé. Mười một giờ ngày mai nhé. Nhờ cả vào cháu đấy.” Hagane định phản đối nhưng đã bị đầu dây bên kia cúp máy trước. Anh nhìn chăm chăm ống nghe một lúc, rồi vừa thở dài vừa đặt nó xuống. Khi anh ngoảnh lại, đã thấy Stella đứng chờ. “Thật là, hết bà ấy lại tới mày.” Hagane vừa vươn tay ra, Stella đã nhảy lên, đuôi vẫy tít. Anh tròng vòng cổ và dây dắt cho nó ở cửa vào, rồi bước ra ngoài. Ánh nắng chiều nhuộm trắng cảnh sắc trên con phố. Vừa kéo dây giữ lại Stella đang phấn khởi muốn chạy nhào đi, Hagane vừa đi bộ ra công viên trẻ em ở gần nhà. Tiếng ve kêu râm ran, trên sân chơi trong công viên bị tia tử ngoại chiếu rọi, không có bóng dáng một đứa trẻ nào. Trở về sau khoảng hai mươi phút, trước cửa nhà anh đã thấy đậu một chiếc PT Cruiser đen. Hagane và Stella vừa tiến lại gần thì cửa xe phía người lái mở ra, một cậu thanh niên bước xuống. Mái tóc nhuộm màu xanh khói, cằm nuôi một chỏm râu mỏng. Cậu ta mặc sơ mi nền đen in họa tiết paisley, quần màu be. Trên ngực cậu ta lấp lánh mặt dây chuyền hình thánh giá của hãng Chrome Hearts. “Tôi nhớ đã dặn là hơn năm giờ hãy tới rồi mà?” Nghe Hagane nói, cậu thanh niên cúi đầu lễ phép. Nhìn nét mặt thì có vẻ mới chừng hai mươi tuổi. Nhưng Hagane không biết chính xác tuổi của cậu ta. “Xin lỗi anh. Em định tới sớm rồi đợi.” “Đợi ba tiếng liền ư?” “Vâng.” Hagane không nói gì, định đi ngang qua cậu ta vào trong. Nhưng Stella không nhúc nhích. Khi cậu thanh niên ngồi xuống, Stella vẫy đuôi và nhào vào lòng cậu. Được vuốt ve đầu, nó càng vẫy đuôi tợn. “Stella!” Hagane vừa gọi, Stella lập tức tới cạnh anh. Cậu thanh niên cũng đứng dậy. “Tôi mang nó ra cho cậu đây. Cậu có thể chở nó an toàn với cái xe kia được không?” “Em có mang theo mấy cái chăn. Cũng có thể cố định nó lại nữa.” Hagane cho Stella vào nhà rồi mang chiếc Symphonion Rococo ra. Nhận lấy hộp nhạc, cậu thanh niên cho nó vào băng ghế sau, khéo léo cuộn những tấm chăn xung quanh và dùng đai an toàn để cố định nó lại, không cho xê dịch. “Cảm ơn anh.” Cậu thanh niên nói lời cảm ơn rồi mở cánh cửa phía ghế lái. “Ngày mai anh sẽ tới nhà Madam nhỉ? Để em tới đón anh nhé?” “Tôi sẽ tự đi.” Hagane trả lời. Cậu thanh niên lại cúi mình lần nữa, đoạn chui vào trong xe. Hagane không đứng tiễn. Anh lập tức vào nhà, ngồi bệt xuống bậc thềm cửa. Stella tới gần, liếm mặt anh. “Chú mày ai cũng thân thiết ngay được nhỉ. Thế thì còn làm chó giữ nhà sao được.” Hagane vừa dứt lời, Stella bèn dụi mặt vào chân anh.   Mời các bạn đón đọc Phục Hồi của tác giả Tadashi Ohta.
Bên Dòng Sông Hằng
Một quá trình cuốn hút bằng đậm đặc câu chuyện, đậm đặc trải nghiệm. Cái kết hay cụ thể hơn là câu trả lời cho trường hợp của từng nhân vật đều rất hay, ý nghĩa nhưng có phần hơi ngắn gọn. Khi đọc về cuối, thoáng qua mong muốn tác giả sẽ viết kĩ hơn, sâu hơn về tâm lí, cảm xúc từng nhân vật như ở phần đầu. Nhưng có thể đấy là dụng ý của Endo Shusaku. Nhiều khi cách mà chúng ta đi qua mỗi trải nghiệm đã là một câu trả lời rồi, nên đến cuối cùng không cần phải diễn giải quá nhiều chăng? Đặc biệt yêu thích cấu trúc của cuốn sách. Cách tác giả sắp xếp để từng nhân vật, từng câu chuyện xuất hiện rất thú vị. Các giá trị văn hoá, tôn giáo, tâm linh được truyền tải tinh tế, vừa vặn, không gây sự choáng ngợp hay cảm giác khó tiếp nhận cho độc giả. *** Bên dòng sông Hằng, lẫn vào giữa những khách thập phương hoặc hiếu kỳ hoặc bàng quan, là một tốp du khách Nhật. Họ lặn lội đến đây, đều đang chôn sóng ở trong lòng. Người đi tìm bóng hình người vợ quá cố, kẻ mong chữa lành chấn thương nhân tính thời chiến tranh, người muốn tạ ân vì một cơ hội sống, kẻ lại muốn đắp bồi cho trái tim đang trống rỗng... Họ soi vào những dàn thiêu rừng rực, soi vào nhau, soi vào cái chết, hầu tìm lời giải đáp cho cõi sống, bên dòng sông Hằng. Trĩu nặng dưới những ưu tư thần học, triết học về lẽ sống, về định mệnh, đây vẫn là một cuốn tiểu thuyết đầy ắp những chi tiết đời thường tinh tế và nét khôi hài lấp lánh.Giống như sông Hằng “không chỉ là của tín đồ Ấn giáo, mà còn là dòng sông sâu thẳm cho tất cả mọi người”, cuốn sách viết từ cảm quan Công giáo này vẫn thấm đượm những khắc khoải cùng lòng yêu tha nhân nối liền mọi nền văn hóa, và là minh chứng tuyệt vời để hiểu tại sao Endo Shusaku lại được cả Nhật Bản lẫn phương Tây cùng mến mộ. *** [REVIEW SÁCH HAY] BÊN DÒNG SÔNG HẰNG: CHÚNG TA TÌM LẼ SỐNG Ở NƠI NÀO? Bằng những trang văn suy tư, chậm rãi nhưng cũng đầy biến chuyển, Endo Shusaku cuốn hút người đọc vào cuộc hành trình thú vị với Bên dòng sông Hằng. Ký ức của trẻ con luôn bền bỉ hơn người lớn, tôi luôn tin như vậy. Ở tập hợp chắp nhặt vô vàn ký vãng trong đời sống của một con người, những mảnh ký ức của tuổi thơ luôn chiếm lấy tâm trí của họ nhiều hơn hết thảy. Tôi cũng không là ngoại lệ. Tuổi thơ tôi gắn liền với miền Trung, miền đất của nắng hạn mưa nguồn, của tận cùng khắc nghiệt và khó khăn, nhưng cũng là nơi chốn mà thiêng và phàm dung hòa làm một. Ở quê hương ấy, tuổi thơ của bao đứa trẻ băng qua những lời kinh cầu ngân vang quyện giữa mùi trầm hương bảng lảng. Lời kinh được dẫn nhịp bằng tiếng mõ ấm áp, những đôi tay khô gầy tre trúc của mẹ của bà chắp lại thành kính dâng lên một cõi vàng son xa xăm nào đó mà lũ trẻ con ngày đó không thể hiểu hết. Trẻ con chúng tôi lại càng chẳng thể hiểu vì sao những người lớn đang còn sống lại tụng mãi những lời cầu khẩn một đời sống trường cửu ở cõi an vui nào đó sau khi nhắm mắt lìa đời, vượt ngoài thế giới của chúng tôi, vượt khỏi mấy cái vương quốc bé tí trên sân trường mà biên giới được các ông hoàng con vạch vội bằng phấn để đánh trận giả. Đất nước Phật kia Nhẹ làn gió thổi Cây cành châu báu Chạm dây leo ngọc Tuyệt vời vang ngân. Những lời kinh trầm ấm ấy đã dìu lũ trẻ chúng tôi vào giấc ngủ ngon lành giữa xào xạc lá cành, thoảng đưa vào nhà cùng tiếng thằn lằn tặc lưỡi trong đêm yên vắng. Cho đến khi lần giở Bên dòng sông Hằng, tôi bắt gặp lại những lời kinh ấy, trong một hành trình khác, hành trình bằng câu chữ, đi vào thế giới huyền hoặc sâu thẳm của tâm hồn Đông phương. Endo Shusaku cho ra đời cuốn tiểu thuyết Bên dòng sông Hằng vào năm 1993. Đến năm 1995, ông qua đời. Đây là cuốn tiểu thuyết cuối cùng của ông, cũng là một trong hai cuốn tiểu thuyết mà ông muốn đặt cạnh mình trong quan tài khi giã từ cõi sống. Là một nhà văn Công giáo, chịu phép rửa tội từ năm 11 tuổi, vậy nhưng, suốt cuộc đời, Endo Shusaku lại chọn bước đi trên ranh giới giữa hai nền văn hóa Đông – Tây. Là người Nhật, ông thấm đẫm tinh thần và cá tính hướng nội của dân tộc này. Chúng ta không khó để tìm được những dòng tóm tắt như vậy về cuộc đời Endo Shusaku trên mạng. Nhưng tôi chỉ cảm nhận được rõ nhất điều đó khi bước vào Bên dòng sông Hằng. Hơn ba trăm trang của cuốn tiểu thuyết vẽ nên hành trình của năm con người, mỗi con người lại mang một câu chuyện, một băn khoăn, nỗi ưu tư và u hoài khác nhau về lẽ sống. Họ gặp nhau trong chuyến đi bắt đầu từ Nhật Bản sang tận Ấn Độ, với điểm dừng cũng là đích đến: sông Hằng. Sông Hằng là dòng sông của nước Ấn đầy sắc màu, hỗn độn nhưng cũng tràn đầy sức sống. Dòng sông xuất hiện muôn vạn lần trong kinh điển, trong tụng ca ngân vọng suốt cõi nhân gian. Dòng sông mẹ, dòng sông thánh thiêng, mang hết mọi ngưỡng vọng của con người tìm tới và gửi gắm, bất phân giữa sự sống và cái chết. Dòng sông ấy hiện lên sống động trong tiểu thuyết của Endo Shusaku như nó vốn dĩ. Ở nơi ấy, những nhân vật của ông truy tầm lời giải đáp cho cuộc đời mình. *** Khoai nướng nóng hổi đây... Khoai nướng nóng hổi đây... Mỗi khi ông Isobe nhớ lại lúc người bác sĩ báo cho biết vợ ông mắc phải bệnh ung thư vô phương cứu chữa, tiếng rao hàng phía ngoài khung cửa sổ phòng xét nghiệm hôm đó lại văng vẳng trong tai như đang chế giễu nỗi kinh hoàng của ông. Giọng rao buồn tẻ của một người đàn ông vô tâm. Khoai nướng nóng hổi đây... Khoai nướng nóng hổi đây... - Cái ung nó nằm... ở đây này. Nó đang nhảy qua chỗ này nữa. - Ngón tay người bác sĩ từ từ bò trên tấm hình chụp X-quang như theo nhịp của tiếng rao ngoài kia; vẫn giọng đều đều, ông giải thích: - Tôi nghĩ khó có thể dùng phẫu thuật được nữa. Chúng tôi sẽ thử dùng thuốc kháng ung thư và tia xạ... - Thế nhà tôi còn sống được bao lâu nữa, thưa bác sĩ...? ' Ông Isobe nghẹn ngào hỏi. Người bác sĩ không nhìn vào ông: - Khoảng ba tháng, nhiều nhất là bốn. - Nhà tôi có phải đau đớn nhiều không? - Chúng tôi có thể dùng moóc phin để làm giảm đau một phần nào đó. Hai người yên lặng một lúc. Ông Isobe lại hỏi: - Nhà tôi có nên dùng vắc-xin Maruyama, cả thuốc bắc nữa...? - Được chứ! Ông cứ dùng bất cứ loại thuốc dân gian nào mà ông cho là có thể giúp cho bà nhà. Cái kiểu người bác sĩ Tây y nhanh chóng tán thành đề nghị dùng thuốc bắc như thế, cho thấy bệnh tình của vợ ông thực sự vô phương cứu chữa. Hai người lại rơi vào yên lặng. Ông Isobe không chịu đựng được nữa, đứng dậy. Người bác sĩ xoay người về phía tấm phim X-quang; chiếc ghế xoay kêu ken két khó chịu như báo cho ông biết về cái chết cận kề của vợ mình. “Mình... đang mơ...” Ông Isobe nghĩ. Trên đường đi ra thang máy, ông vẫn có cảm giác như không thực. Ông chẳng bao giờ nghĩ là vợ mình sẽ chết. Ông có cảm tưởng như đang xem một cuốn phim, thì đột nhiên người ta lại chiếu một phim khác lên màn ảnh. Ông buồn bã nhìn bầu trời chiều đông xám lạnh, vẫn còn tiếng rao bán khoai nướng ngoài kia: “Khoai nướng nóng hổi đây...” Ông băn khoăn kiếm câu nói dối với vợ. Ông nghĩ với trực giác bén nhạy vốn có của người bệnh, chắc vợ ông sẽ biết ông đang toan tính gì. Ông ngồi sà xuống ghế cạnh thang máy. Có hai người y tá đi qua trước mặt ông chuyện trò vui vẻ. Tuy họ làm việc ở bệnh viện nhưng bệnh tật cũng như những bất hạnh xảy ra trong bệnh viện không làm mất đi vẻ mạnh khỏe, tươi trẻ của họ. Ông hít một hơi thật sâu, nắm chặt núm cửa phòng bệnh. Vợ ông đang ngủ, một tay để trên ngực. Ông ngồi lên chiếc ghế độc nhất trong phòng, và lại một lần nữa, nghiền ngẫm câu nói dối ông đã sắp sẵn trong đầu. Người vợ mở mắt buồn bã, nhìn chồng mình, bà mỉm cười yếu ớt: - Mình đã nói chuyện với bác sĩ chưa? - Rồi... - Bác sĩ... đã nói gì với mình? - Bác sĩ nói là mình sẽ phải nằm viện một thời gian nhưng sẽ không quá ba hoặc bốn tháng, rồi mình sẽ khỏe lại. Vì vậy mình chịu khó một chút. Tự biết mình nói dối không xuôi, ông cảm thấy như mồ hôi đang rịn trên trán. - Vậy à... Người vợ nhìn thẳng vào cái trán đẫm mồ hôi của ông. Ông thấy phải coi chừng trực giác bén nhạy của người bệnh. - Như vậy là mình phải khổ trong ba bốn tháng trời! - Mình đừng có nói vậy! Có gì đâu mà khổ! Vợ ông lại mỉm cười. Từ trước đến bây giờ bà mới nghe ông nói câu tình cảm như vậy. Nụ cười đặc thù của vợ ông. Hồi mới lấy nhau, khi ông trở về nhà sau những mệt mỏi vì các mối quan hệ trong công việc, mở cửa ra, bà luôn đứng đón ông với nụ cười bao dung, âu yếm. Cảm thấy mình lâu nay quả có thiếu quan tâm đến vợ, ông nói dối thêm một lần nữa: - Khi được ra viện, mình cứ tạm thời tĩnh dưỡng một thời gian. Rồi tôi sẽ đưa mình đi suối nước nóng dưỡng sức. - Không việc gì mà phải phí tiền như vậy vì em đâu. “Không việc gì...” Câu nói nghe đượm vẻ cô đơn lẫn bi ai, giống với tiếng rao của người bán khoai ngoài kia một cách lạ lùng. Chẳng lẽ vợ ông đã mon men biết sự thật? Đột nhiên, bà như lẩm bẩm một mình: - Lúc nãy em đã nhìn cái cây. - Vợ ông hướng mắt ra ngoài cửa sổ nhìn cây ngân hạnh lá cành sum suê như đang ôm ấp một thứ gì đó. - Cây đó sống được bao lâu rồi mình nhỉ? - Dám cả hai trăm năm. Có lẽ nó là cây cổ thụ sống lâu nhất ở khu này. - Cây cổ thụ đó đã nói đó mình. Rằng sinh mệnh không bao giờ biến mất. Hồi vợ ông chưa bệnh, bà vẫn có thói quen nói chuyện với hoa cỏ như những cô gái xuân thì mỗi khi tưới các chậu hoa trước hành lang. “Hoa xinh đẹp kia ơi, nở cho tôi vài đóa!” “Cảm ơn hoa nhé!” Kiểu chuyện trò với hoa như thế, bà học theo người mẹ vốn yêu hoa của mình, và sau khi lấy chồng, bà vẫn giữ thói quen đó. Nhưng cái kiểu bà nói chuyện với cây cổ thụ lần này cho thấy Mời các bạn đón đọc Bên Dòng Sông Hằng của tác giả Shūsaku Endō.