Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Thuyết Tán Tỉnh Cậu

“Lăng nhăng như mày mà cũng muốn kết hôn hả?” “Thì tao hết lăng nhăng rồi nên mới muốn kết hôn, từ lúc đẻ ra đến giờ chưa kết hôn lần nào nên muốn thử. Mà đám cưới phải có cô dâu thiệt là dễ thương nè, tổ chức tiệc mời cả nghìn bàn luôn, nếu mời được Thủ tướng đến làm chủ hôn thì còn oách hơn nữa.” “Mày ảo tưởng nó vừa thôi.” “Không thích hả?” “Không.” “Thích đám cưới theo phong cách nào?” “Đơn giản, có lẽ chỉ tổ chức trong gia đình thôi?” “Ok, để tao gọi điện báo cho mẹ.” Bộ phim ăn khách Theory of Love đã làm mưa làm gió bao nhiêu trái tim người xem thì nay tiểu thuyết đã chính thức được ra mắt. Chàng trai ăn chơi cũng phải dừng lại trước người mà cậu yêu. Nhưng đó không phải chuyện dễ dàng. Yêu mà không biết mình yêu, thương mà cứ băn khoăn... *** Nói rằng yêu đơn phương là một loại hạnh phúc, đúng. Nhưng nói yêu đơn phương là đau khổ tột cùng, cũng chẳng sai. Đối với Third, đơn phương một người vừa là ngọt ngào cũng vừa là đắng cay. Được người ấy quan tâm là vui, biết người đã bên người khác là đau, và điều làm Third đau lòng hơn hết thảy là cậu lại mang thứ tình cảm ấy dành cho người không nên. Kai là tri kỷ, là bạn chung chí hướng, là người đã hứa cùng cậu thực hiện ước mơ và là người Third yêu đơn phương đã hơn hai năm. Đến khi vận mệnh giữa họ dịch chuyển, Third cũng biết rằng tình bạn giữa cậu và Kai không thể nào tiếp tục được nữa. Nếu một ngày người ta yêu cũng quay lại nhìn chúng ta như cách chúng ta mong muốn, liệu có thật là tốt?   “Xin chào, chúng ta lại gặp nhau vào tối thứ năm hàng tuần, đúng tám giờ tối không hơn không kém. Có lẽ nhiều người đã thắc mắc sao dạo này tôi ít trả lời tin nhắn trên fanpage, thật xin lỗi mọi người. Dạo gần đây việc học của tôi khá lu bu nhưng giờ thì dễ thở hơn rồi.” Giờ mới để ý, ống kính bị lệch. Nhưng lười xuống giường chỉnh lại mất thời gian nên thôi kệ, cứ để vậy đi. “Chúng ta bắt đầu thôi nào. Tuần trước, mấy em khóa dưới và cả bạn bè tôi đều đề cử cho tôi một bộ phim.” Tôi ngừng lại một lúc để tạo chút không khí hồi hộp cho khán giả. Tích tắc, tích tắc… “Đúng vậy, bộ phim này chính là… The girl that never stopped laughing 2 hay tựa đề Thái mà mọi người quen thuộc là Cô bé hay cườiphần hai.” Vỗ tay đi chứ, chết tiệt! Không thì nhạt chết. Mở màn câu view bằng cái ‘đầu voi’ rõ to rồi chết máy bằng cái cái ‘đuôi chuột’ đầy yên tĩnh và ngại ngùng, tôi đành nhanh chóng đổi chủ đề. “Ban đầu tôi cũng không có hứng thú với bộ này lắm, mà mọi người còn nói nội dung nó chẳng liên quan gì đến phần đầu, ủa, vậy làm phần tiếp theo làm gì không biết? Nhưng xem xong rồi mới hiểu. Phim kể về câu chuyện của một nữ sinh Trung học năm cuối tên Amy, cô bé mắc bệnh bẩm sinh, mỗi lần cười sẽ không ngừng lại được. Thật ra thì gọi nó là bệnh liên quan đến quai hàm cũng không sai. Nhưng tôi sẽ không tiết lộ nội dung đâu, mọi người phải tự mình trải nghiệm mới thấy thú vị chứ. Nào, giờ thì chúng ta cùng bàn luận về kịch bản, hình ảnh và nhạc phim nào…” Sau đó là một loạt nhận xét lan man không đầu không đuôi của tôi. À, chắc mọi người đang thắc mắc không biết là tôi là ai đúng không? Vậy để tôi nhắc lại lần nữa nhé. Tôi, “Third”, một Youtuber nghiệp dư. Nói là nghiệp dư thì cũng không đúng lắm, vì tôi đã tạo tài khoản này gần một năm rồi, coi như cũng có chút thành tựu với hơn ba mươi nghìn người xem. Fanpage mà tôi đã nhắc đến lúc trước hiện tại có chẵn ba mươi tư nghìn người theo dõi. Đúng là có cảm giác người nổi tiếng ghê luôn. Sau khi quay xong clip bàn luận về phim thì đến khâu chỉnh sửa, ghép lời, ghép nhạc rồi đăng tải lên Youtube, đây là sở thích của tôi. Và người quan trọng luôn có mặt giúp đỡ tôi lúc này chính là cậu ta, bạn thân của tôi… “Mày, clip trước có quá trời người xem luôn.” Hỏi xem nó giúp gì được cho tôi á, ừ thì tất cả đó, nhưng đa phần là ngồi nghe tôi lảm nhảm như hôm nay. “Ba trăm lượt xem.” “Hả?” “Ba trăm lượt xem, tao mới mở ra kiểm tra mười lăm phút trước.” “Youtube của mày chắc có vấn đề, thử vào lại xem.” “Tên kênh của mày nè, review phim Cô bé hay cười, lượng người xem hiện tại, ba trăm mười bốn là nhiều của mày đấy à?” Bố khỉ, tôi còn tưởng nó chưa bấm vào xem. “Nếu muốn có chục nghìn lượt xem thì lần sau mày phụ tao đi, lần nào mày xuất hiện là lần đó lượt xem tăng đột biến luôn.” Câu này thật sự luôn luôn đúng. Cả hai chúng tôi đều là sinh viên khoa Nghệ thuật truyền thông, chuyên ngành Điện ảnh, mọi người thường hay gọi chúng tôi là “nhóc phim”. Hiện giờ tôi đang học năm ba, vừa học vừa tham gia các hoạt động ngoại khóa, gần như không kiếm đâu ra thời gian rảnh, nhưng cũng lạ là… Dù bận cỡ nào, tôi với thằng bạn thân này luôn cùng nhau dành thời gian mua vé ra rạp xem phim. Ngồi xem đến hết cả phần danh đề, màn hình đổi màu đen xì một cục, hai đứa mới chịu rời khỏi rạp, cùng nhau bình luận, chia sẻ cảm nhận. Cũng chính vì thế nên tôi mới mở kênh youtube này, chủ yếu để trao đổi kinh nghiệm với người xem. Tôi chỉ muốn biết mọi người xem xong bộ phim đó có nghĩ giống tôi không, nghe thì hay đấy nhưng, ờ thì, lắm lúc cũng chẳng đâu vào đâu. Thường chẳng mấy ai quan tâm đến video của tôi, cái nào lắm lượt xem đều vì có sự góp mặt của thằng bạn. Hễ nó thò mặt vào cùng tôi review phim nào, lượt xem chắc chắn luôn vượt quá mười nghìn. “Kênh của mày, mày tự đi mà review đi chứ thằng quần.” “Thêm mày càng nổi chứ sao.” “Đừng lợi dụng mình để nổi tiếng nha bạn Third. Tao không phải anh chàng đẹp trai tốt bụng dành cho mày đâu.” Đầu tôi bị bàn tay lớn dúi mạnh một cái trước khi thằng bạn thân hùng hổ bước nhanh về phía hành lang làm tôi phải vội vàng chạy theo mới đuổi kịp nó. “Rồi mày đẹp trai với ai không biết.” “Đẹp trai với bạn gái tao chứ ai.” Hự? Một nhát xuyên tim, đau thấu trời xanh. “Rồi hôm nay mày rảnh không, đi xem phim không?” Tôi vội chuyển chủ đề ngay lập tức. “Không rảnh. Tao có hẹn đưa Jam đi ăn. Mày muốn xem phim gì thì đi xem trước đi.” Lạc lõng. Có lẽ đó là từ duy nhất có thể diễn tả tâm trạng tôi ngay lúc này. Đối với tôi, hai chữ ‘bạn thân’ này là cái tên tôi đặt cho bức tường dựng lên để che giấu tình cảm thực sự của mình. Kỳ thật là tôi ghét nó, ghét bức tường này, ước chi nó biến luôn khỏi thế giới này càng tốt. Bởi vì tôi… đang yêu đơn phương chính thằng bạn thân của mình. Mà nó cũng chẳng giống người bình thường, lắm điểm khác người và tôi cũng biết rõ tất cả mọi thứ liên quan đến nó. Thằng bạn thân này của tôi tên ‘Kai’, tên đầy đủ là Khunpol Krichpirom, sinh ngày thứ năm mùng bảy tháng chín. Năm sinh không cần quan tâm đâu nhưng năm mất chắc chắn là năm nay, vì tôi thề sẽ giết nó. Kai là một đứa vô cùng đáng ghét với vô số thói quen quái thai như phải ăn cơm vào đúng mười hai giờ trưa vì dạ dày nó là cơ quan hoạt động chính xác nhất thế giới này. “Ông chủ! Như cũ nhé.” “Kai, đợi chút, hôm nay đông khách.” “Bụng em réo ầm ĩ rồi, mười hai giờ rồi ông chủ ơi.” “Vậy hôm nay chú mày ăn quán khác đi, miễn chen ngang.” “Ông chủ còn thừa gì không? Kiểu mà bỏ vào chén được luôn khỏi cần xào nấu gì thêm cho mất thời gian ấy.” “Hơ…” “Có không ông chủ?” “Kimhuai, lấy cơm trắng chan nước mắm cho thằng Kai đi.” “Lại nữa hả, tháng này anh Kai ăn hết hai chai nước mắm rồi bố ơi.” Tôi nhìn nó ăn cơm chan nước mắm bao lần cũng chưa từng thấy nó than lấy một câu không ngon, chỉ toàn thấy nó bảo may còn được ăn cơm đúng giờ. Nói thật, tôi rất sợ, sợ nó hỏng thận chết sớm trước khi kịp chết già cùng tôi. Thằng Kai là hotboy. Dù chưa có bằng chứng nhận nhưng sự đào hoa cộng thêm cái mặt oppa khiến danh sách bạn gái của nó rải đều xuống gần như tất cả các khoa. “Mày, hỏi thật, từ lúc quen nhau đến giờ mày có bao giờ thử đếm xem từng có bao nhiêu cô bạn gái rồi không?” “Không, quá nhiều.” “Một chút cũng không nhớ?” “Rồi mày đi tọc mạch chuyện bồ tao làm cái gì hả thằng Third.” “Ơ, bạn thân như tao không có quyền biết à?” “Bố không nhớ.” “Hay thế này đi, tao nói tên khoa nào, mày nói xem đã có bạn gái ở khoa đó chưa, ok không?” Chẳng biết nó còn thậm thụt bồ bịch với ai không nữa. Hẹn hò công khai đã đếm không xuể rồi, thêm chỗ mập mập mờ mờ nữa chắc kín vài dãy phố. “Nói đi.” “Quản trị kinh doanh?” “Ba người, thích nhất Noina.” Tự dưng cảnh “Jeab, sao lại cắt dây thun của tớ?” lại hiện lên trong đầu. “Kiến trúc?” “Nhỏ AR, có cá tính mỗi tội hay dỗi, không thích.” “Giáo dục?” “Hoa khôi của khoa tên Poy đó.” “Vậy Nông nghiệp thì sao? Nông nghiệp đó.” Từ lúc quen biết nó đến giờ tôi chưa từng thấy nó hẹn hò với nữ sinh khoa này luôn. “Hoa hậu trồng trọt năm ngoái.” Hơ! Cỡ hoa hậu trồng trọt mà mày cũng cưa đổ được hả? “Vậy y khoa thì sao? Y khoa? Nha khoa? Khoa dược? Điều dưỡng? Y tá?” “Chắc là đủ hết rồi.” “Luật? Xã hội? Kỹ thuật? Khoa học?” “Ừm.” “Ừm là cái quái gì cơ.” “Từng hẹn hò qua hết rồi.” “Thằng Kai, mày muốn làm lâm tặc, cưa hết cả cái trường này hả đồ khốn?” “Nhưng có duy nhất một khoa và một ngành tao sẽ không bao giờ động đến nhé.” “Ngành nào?” Tôi vừa hỏi vừa hồi hộp, vì tôi thật sự hy vọng rằng nó không phải người tùy tiện hẹn hò với bất cứ ai… “Ngành Điện ảnh, quy tắc của tao là không hẹn hò với bạn bè cùng ngành, hiểu không?” Đối phương vỗ vỗ vai tôi cùng nụ cười quyến rũ như bao lần. Muốn hiểu gì đây? Hiểu rằng cho dù tình cảm đơn phương của tôi có cố trèo qua được bức tường “bạn thân” thì cũng chỉ toàn công dã tràng đó hả? Đau thật sự. Nhưng cũng chẳng thể làm gì ngoài gật đầu, tỏ vẻ thấu hiểu, trong nước mắt. Thằng Kai là người không biết giữ gìn đồ đạc, nhưng có một thứ nó vô cùng nâng niu, ngoài mấy cô bạn gái thì ai cũng không được đụng vào. Đó là chiếc BigBike KTM 1190 RC8, đứa con yêu quý của nó, tên Charl. “Rốt cuộc hôm nay có đi xem phim với tao không?” “Đi chứ.” “Đi xe ai đây?” “Mày lái xe mày, tao sẽ lái Chawee.” “Chawee nào?” “Chari là biệt danh, Chawee là tên thật.” “Mày đùa hả?” “Tao nghiêm túc mà.” “Tao ngồi sau Chawee nhà mày được không?” “Không được đâu, chỗ đó chỉ dành cho bạn gái thôi nhá, mày hiểu tao mà bạn hiền.” Ờ có vẻ hơi khó hiểu, mà tao cũng không muốn hiểu lắm đâu. Thằng Kai từng nói với tôi rằng trong tình yêu, nếu người đó thật sự thích mình thì họ nhất định sẽ đến tìm mình. Đây chính là lý do mà từ trước đến giờ, nó chưa bao giờ chủ động theo đuổi người khác, chỉ có đối phương tự chạy theo nó không ngớt mà thôi. “Vợ tao like bài, mày ạ.” “Like cái gì?” “Hình gái tao đang tán.” “Kìa, khung chat kìa. Trả lời đi.” Mint Supreeya: Anh, đây là ai thế? Like hết ảnh của anh, còn có bạn chung với anh nữa. Khunpol Krichpimon: À, anh cũng không biết. Thiên hạ đệ nhất dối trá, lươn lẹo, xảo trá là đây chứ đâu xa. Quan trọng, nó cũng là người rũ bỏ mọi thứ rất dễ dàng. Dễ dàng đến nỗi tôi nghĩ cả cái trường này, nó xưng thứ hai cũng không ai dám trèo lên đứng nhất. Rrrrr…! “Rồi, anh đang đi rồi đây.” Tiếng chuông điện thoại của thằng bạn thân kéo tôi khỏi mớ suy nghĩ xa xôi, trở về thực tại. Đúng vậy. Giờ chúng tôi đang đi trên đoạn hành lang nối dài, phía trước chừng mười mét là bãi đỗ xe. Tôi và Kai sẽ tách nhau ra, mỗi đứa một đường. “Jam, có chuyện gì không?” “…” “Thật không? Đừng có đùa.” “…” “Đừng cố tình gây sự nữa. Phiền lắm.” Ủa, rồi sao, cảnh này trông quen quen, diễn đi diễn lại không lệch đi đâu được. Chắc tôi phải chứng kiến cảnh này hơn chục lần rồi, mỗi lần “bấm máy” là thần thái của “diễn viên” Kai lại không chút sai biệt… “Lại dọa chia tay. Ờ, vậy luôn đi, anh không ý kiến.” Sau đó nó cúp máy. Giờ đến lượt tôi bước tới vỗ vai an ủi nó như mọi lần. “Mày, ổn không?” “Cũng không ổn lắm.” Giọng nó có vẻ buồn. Không sao đâu mày, tao vẫn ở đây, tao không đi đâu cả. Nếu mày không có ai thì vẫn còn tao luôn an ủi mày. Tao… Yêu… Mày. Ting! Tiếng tin nhắn Line vang lên. Đừng nha mày, đừng cầm điện thoại lên nha thằng bạn chết tiệt. Đừng! “Em Milk khoa Kế toán.” Giờ khỏi cần soi gương tôi cũng biết sắc mặt mình sượng hơn thằng Kai cả trăm lần, đến bàn tay an ủi đặt trên vai nó còn chưa kịp lấy xuống. “Rồi… rồi sao?” “Đang để ý.” “Nhưng mày vừa chia tay với Jam, đừng nói là…” “Nói trước là tao không bắt cá hai tay nha, còn chưa kịp tán em nó cơ mà. Nhưng giờ lại độc thân thì tán được rồi.” “…!” “Tao đi trước đây, theo đuổi tình yêu mới cái đã, sáng mai gặp. Mua giùm tao gói mì vị Tom Yum Kung nữa nhá. Tao yêu mày chết đi được.” “Khoan đã Kai, thằng khốn nạn.” Cuối cùng vẫn chỉ còn lại mình tôi. Tôi không nhớ nổi mình đã đối diện với tình huống thế này bao nhiêu lần. Trong suốt gần hơn hai năm thích nó, chưa lần nào nó quay lại nhìn tôi dù chỉ một lần. Có thể vì tôi chưa một lần đủ dũng khí thổ lộ, nên kết cục nào thì người duy nhất tổn thương cũng chỉ mình tôi. Ngày mai sẽ như mọi ngày, chỗ ngồi sau xe nó sẽ dành cho người mới. Ngày mai sẽ chỉ có tôi ôm đống đồ ăn nó thích, chủ động đi tìm nó, còn nó đến giờ vẫn chưa từng biết đến cảm nhận của tôi. Ngày mai bí mật vẫn là bí mật. Nếu không muốn mất nó, tôi sẽ phải tiếp tục vai diễn bạn hiền này, chôn giấu tình cảm đơn phương trong yên lặng. Buồn thật nhưng cũng chẳng thể làm gì khác, tôi chán nản quay về bãi đậu xe. Và mỗi lần cảm giác phiền muộn này tìm tới, tôi đều trở về phòng, mở cái laptop cũ, bật nhạc, sau đó đi thẳng vào phòng tắm. Hòa cùng tiếng nhạc buồn, tôi bật khóc, không đến nỗi nức nở nhưng đau lòng này là thật. Một tay đấm tường, tay còn lại vặn vòi hoa sen để cái lạnh xua bớt đi nỗi buồn. Âm nhạc cất lên! “Chết tiệt, mất nước!” Đúng cụt hứng mà. Tôi vội vàng chạy ra mở lại bản nhạc cũ rồi quay sang lấy chai nước trong tủ lạnh. Nước máy không chảy thì khui chai nước uống, dội xuống cho lòng này tan nát luôn đi. Ào!!! Thằng Kai, nhẽ ra mày phải biết vì mày mà tao tốn biết bao nước uống, lãng phí tài nguyên nhiều lắm, biết không… Mời các bạn đón đọc Thuyết Tán Tỉnh Cậu của tác giả Jittirain & Yang Yang (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Trong Gia Đình - Hector Malot
Trong Gia Đình là một câu chuyện đẹp dành cho những em thiếu nhi và những ai đã trưởng thành. Đến với Trong Gia Đình chúng ta sẽ thấy được rằng nghịch cảnh có khó khăn đến mấy thì chỉ cần chúng ta có niềm lạc quan và biết lao động chăm chỉ thì cũng có thể vượt qua. Cách hành văn của Hector Malot có đôi chút hóm hỉnh, trong sáng, cách xây dựng nhân vật có cá tính rất riêng đã mang đến cho Trong Gia Đình một hơi thở độc đáo và tuyệt vời. Cùng với Không Gia Đình, Trong Gia Đình là một tròng hai tác phẩm nổi triếng nhất cuat Hector Malot và đã từng đoạt giải thưởng của viện hàng lâm văn học Pháp. *** Hector Malot (20 tháng 5, 1830 – 17 tháng 7, 1907) là nhà văn nổi tiếng người Pháp, các tiểu thuyết của ông được nhiều thế hệ độc giả trên thế giới yêu mến. Ông sinh năm 1830 tại La Bouille, miền Bắc nước Pháp. Tác phẩm đầu tay Những người tình (Les Amants) của ông xuất bản năm 1859 đã gây được tiếng vang lớn. Trong sự nghiệp của mình ông đă viết trên 70 tác phẩm. Các tác phẩm Romain Kalbris (1869), Trong gia đình (En Famille 1893) và đặc biệt là Không gia đình (Sans Famille 1878) được các độc giả nhỏ tuổi yêu thích. Ông mất năm 1907 tại Fontenay sous Bois.  *** - Phabry về đó! Ông Vunphran nói bằng một giọng khác thường, trong đó có sự lo ngại chen lẫn với sung sướng nữa. Đúng thế! Phabry đi nhanh vào trong buồng giấy. Ông ấy cũng thế, hình như đang ở trong một trạng thái lạ lùng! Ông ta đưa mắt nhìn Perin trước làm em bối rối, mà chẳng hiểu vì sao. - Xe hỏng máy nên tôi về chậm. – Ông nói. - Anh về, đó mới là cái chính! - Tôi đã đánh điện báo cho ông. - Bức điện của anh ngắn và lờ mờ quá. Khó đem hy vọng lại cho tôi. Cái tôi cần là những khẳng định chắc nịch kia! - Tôi có được phép báo cáo trước mặt cô? - Được chứ, nếu những tin ấy vẫn như anh đã nói. Đây là lần đầu, Phabry báo cáo một nhiệm vụ đặc biệt, mà lại hỏi ông chủ, có thể làm việc ấy khi có mặt Perin không? Em đang bối rối, thì câu chuyện giữa ông Vunphran và Phabry, qua giọng nói cảm động, dáng điệu khác thường của họ chỉ làm tăng thêm nỗi lo lắng cho em. - Như lời dự đoán của vị thám tử của ông, - Phabry nói, và không nhìn Perin. – Cái con người nhiều lần không để lại dấu vết, đã đến Paris. Tại đây, trong lúc đọc cái bản khai tử, người ta đã tìm thấy vào tháng sáu năm ngoái, một bản mang tên Mari Đôrétsany, quả phụ của Étmông Vunphran Panhđavoan. Đây là một bản sao. ... Mời các bạn đón đọc Trong Gia Đình của tác giả Hector Malot.
Một Đứa Con Đã Khôn Ngoan - Nguyễn Công Hoan
Trong truyện Một đứa con đã khôn ngoan, nhà văn giáo dục trẻ em đức tính yêu lấy tiếng Việt. "Ta có tiếng nói riêng. Bổn phận ta là phải giữ lấy tiếng ta, vì tiếng ta tức là tinh thần nước ta". Cậu bé Chỉ trong truyện này chỉ mê tiếng Pháp và cho rằng tiếng Việt không đủ để diễn tả hết mọi suy nghĩ và sự vật. Ngay cả lúc viết thư cho bạn, cậu cũng phải dùng thêm tiếng Pháp. Cậu (bố) của cậu bé Chỉ không đồng ý và phân tích cho cậu rằng: "Con thấy thiếu chứ tiếng ta không thiếu. Nếu thiếu chăng, thì nó thiếu ở ý mới, vật mới xưa kia không có. Còn những ý cũ vật cũ thì tiếng nước ta vẫn đủ như thường. Xem ngay như về gia đình, ta có biết bao nhiêu tiếng: kỵ, cụ, ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, chắt, chút, bác, cậu, mợ, dì, cô, thím, âu yếm, thân, hiếu, đễ, từ và biết bao nhiêu tiếng nữa. Lại nói như cách mang đồ đạc, ta có đội, gánh, xách, vác, cầm, khênh, ôm, cõng, bẽ, tải, cắp, khuân, bế, mỗi tiếng một nghĩa riêng" và "Cậu dám đánh cược với ông cử, ông nghè Tây dùng tiếng Pháp mà dịch nổi tiếng "lôi thôi" của ta đấy". Dù được phân tích thấu đáo như thế nhưng cậu bé Chỉ vẫn không tin. Và cậu chỉ thật sự tin khi mợ (mẹ) của cậu bị ốm và nhờ cậu đọc giùm tiểu thuyết tiếng Việt. Cậu bất ngờ là không ngờ nó lại hay đến thế! "Truyện Tây cũng đến thế là cùng". Thật bùi ngùi khi đọc lại những lời của người mẹ nói với con: "Mợ mua sách Quốc văn, được sách hay đã đành, dù phải sách dở mợ cũng vui lòng. Mình không có tài làm cho Quốc văn hay đẹp hơn lên, thì phải có chút khuyến khích những người có công quý hóa ấy vậy". *** Nguyễn Công Hoan sinh ngày 6 tháng 3 năm 1903, tại thôn Xuân Cầu, xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay là tỉnh Hải Hưng, trong một gia đình Nho học. Chính nơi sinh cũng là quê hương ông. Ông bắt đầu viết văn rất sớm, ngay từ khi còn đương học ở trường Bưởi. Tập truyện ngắn đầu tiên của ông là Kiếp hồng nhan xuất hiện năm 1923, khi ông tròn hai mươi tuổi. Từ đó ông viết nhiều truyện ngắn và truyện dài đăng trên các báo đương thời. Năm 1932 ông bắt đầu được bạn đọc chú ý khi cuốn truyện dài Những cảnh khốn nạn ra đời và nổi tiếng sau khi ra tập Kép Tư Bền (1935). Ông viết văn vừa dạy học cho đến Cách mạng tháng Tám. Do tham gia hoạt động trong phong trào Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học rồi Đảng xã hội Pháp, và bắt liên lạc được với những người cộng sản Đông Dương, ông luôn luôn bị Sở mật thám theo dõi. Hai lần ông bị bắt giữ rồi lại được thả vì không đủ chứng cớ kết tội. Lần cuối cùng, ông bị Nhật bắt giam cho đến ngày khởi nghĩa tháng Tám. *** Một buổi sáng, Tâm vừa ngủ dậy, chợt có hai người bịt mặt, lại gần Tâm. Một người giơ lưỡi dao sáng quắc, nói: — Hễ nói, ta đâm chết. Tâm sợ hết hồn, không dám nhúc nhích. Tức thì một người lại ôm lấy Tâm, lấy khăn buộc ngang mắt. Thế là Tâm không trông thấy gì nữa. Tâm hiểu biết rằng lần này ông Bẩy sai đem Tâm đi một nơi khác, mà không muốn cho Tâm biết đường. Tâm im lặng, thì thấy một người lấy cái gậy, gõ vào đầu Tâm, nghiến răng nói: — Bé mà bé hạt tiêu, liệu hồn! Đau nhưng Tâm không dám kêu. Một lát, Tâm ra dáng hiền lành, hỏi: — Các ông định đưa cháu đi đâu? Khốn nạn, Tâm chẳng được một câu trả lời; trái lại, một cái tay có năm ngón như năm quả chuối ngự đã tát mạnh vào má Tâm, khiến Tâm điếng người đi. Một người đắc chí, cười khanh khách, nói: — Rồi cháu đi đâu, cháu khắc biết. Cháu định đưa các ông đi chỗ nào, thì các ông cũng đưa cháu đi chỗ ấy. Tâm vơ vẩn nghĩ mãi câu ấy mà không hiểu. Nào Tâm có định đưa đảng Rổ Bẫy đi đâu đâu. Một người nói: — Kẻo rồi lại hiện làm ma về kêu oán nhé. Tâm giật nẩy mình. Rồi họ nói chuyện cùng nhau: — Tôi đã bảo cứ bẻ cổ nó đi có hơn là dìm xuống sông không? Tâm hết hồn. Đích là họ giết Tâm rồi. Tâm sực nhớ lại ngày trước ông Bẩy có giao hẹn với Tâm. Thì ra nay ông định cho Tâm chết, chứ không phải ông chỉ cho Tâm đi chỗ khác mà thôi. Bỗng Tâm rớt nước mắt, thút thít khóc, thì thình lình một cái bạt tai thật mạnh làm Tâm ngã dúi dụi. Nhưng may quá, Tâm đã nghe rõ ràng tiếng ông Bẩy quát: — Không được thế. Rồi ông Bẩy lại, nắm lấy tay Tâm, dắt đến ghế ngựa, bảo Tâm ngồi đó, rồi hỏi: — Con có oán gì thày không? Tâm không đáp, vì cho là đáp cũng vô ích. — Bất đắc dĩ thày mới xử con tàn nhẫn, con đừng oán thày nhé. Tâm cũng chẳng đáp, bởi vì Tâm cho rằng đến nông nỗi này thì còn mong gì sống nữa. Tâm có mỗi một mình, lại là trẻ con. Đảng Rổ Bẫy làm gì chẳng nổi. Thôi đành vậy, biết làm thế nào? Một lát, Tâm ngửi thấy mùi đồ ăn thơm ngào ngạt. Rồi dễ đến năm bảy người kéo nhau tới. Họ mời nhau ăn uống no say. ... Mời các bạn đón đọc Một Đứa Con Đã Khôn Ngoan của tác giả Nguyễn Công Hoan.
Địa Ngục hay Thiên Đường - Mark Twain
Gia đình bà góa Margaret, đứa con gái Helen, cùng hai người dì Hester và Hannah Gray luôn tôn sùng sự trung thực. Dù chỉ một lần nói dối rồi thú nhận ngay lập tức của Helen cũng đủ khiến hai người dì thấy hổ thẹn. Nhưng để Margaret khỏi chịu thêm đau khổ vì bệnh tật đau đớn, hai người dì đã nói dối Margaret về tình trạng sức khỏe của con gái bà - Helen. Và sau sự ra đi của hai mẹ con Margaret, một thiên thần đã xuất hiện hỏi tội hai người dì. Thiên đường hay địa ngục đang chờ đợi cả hai? *** Samuel Langhorne Clemens, thường được biết tới với bút danh Mark Twain (30/11/1835 – 21/4/1910) được vinh danh là nhà văn khôi hài vĩ đại nhất nước Mĩ – từ lời khuyên bỗ bã dành cho các bé gái, lập trường quái gở về sự sáng tạo và kiệt tác của ông xoay quanh vấn đề thủ dâm. Nhưng đằng sau sự hài hước đầy quyến rũ ấy là sự chiêm nghiệm sâu sắc về tinh thần con người cùng với những rối rắm của nó. Trong The Autobiography of Mark Twain: Volume 1 (tạm dịch: Cuốn tự truyện của Mark Twain: tập 1) (public library) – nơi Twain bàn về sự tương phản, kiềm hãm lẫn nhau của hai khía cạnh đạo đức và trí tuệ – ta bắt gặp câu chuyện cảm động về cách mà mẹ ông đã dạy ông về tầm quan trọng của lòng vị tha. Nếu bạn chưa từng đọc The Autobiography of Mark Twain (tạm dịch: Cuốn tự chuyện của Mark Twain), thì xin hãy cân nhắc – Twain đã dành nhiều thập kỷ để viết nó, nhưng tác phẩm chưa bao giờ được hoàn tất và ông đã cấm con cháu của mình xuất bản bản thảo cho đến 100 năm sau ngày ông mất. Một thế kỉ chờ đợi cũng đáng lắm cho một tác phẩm như vây. *** N ửa đêm, hai bà lão còn ngồi bên nhau, than khóc thì họ tưởng chừng trông thấy một thiên thần hiện ra giữa vầng hào quang chói loà. Thiên thần bảo hai bà: — Những kẻ nói dối sẽ bị đày xuống hoả ngục đời đời. Hai người hãy hối cải đi! Hai bà lão quỳ xuống dưới chân thiên thần và cúi đầu, tỏ lòng tôn kính. Nhưng lưỡi của hai bà cứng lại nên họ đành ngậm câm. — Nói đi, - thiên thần bảo, - nói lên để cho ta có thể mang lời giải đáp ra trước toà án của Thiên Chúa và mang lại cho hai người phán quyết tối hậu. Hai bà vẫn quỳ, hai mái đầu bạc vẫn cúi rập xuống, một người nói — Tội chúng tôi lớn lắm, và chúng tôi rất nhục nhã, tủi hổ. Chỉ có một sự ăn năn, hối cải triệt để mới cứu rỗi được chúng tôi. Chúng tôi là những kẻ khốn khổ đã biết rõ sự yếu đuối của loài người là vô hạn và chúng tôi biết nếu chúng tôi còn bị đẩy vào những tình thế nghiệt ngã thì chúng tôi cũng sẽ phạm tội như trước. Những người cương nghị có thể chống chọi và được cứu rỗi, còn chúng tôi, chúng tôi sẽ sa ngã và đánh mất linh hồn. Hai bà lão ngẩng đầu lên để van xin. Nhưng thiên thần đã biến mất. Trong lúc họ ngạc nhiên và than khóc, thiên thần trở lại và cúi xuống hai bà, nói nhỏ phán quyết. Mời các bạn đón đọc Địa Ngục hay Thiên Đường của tác giả Mark Twain.
Giữa Lòng Tăm Tối
Khép lại những tranh cãi, Giữa lòng tăm tối vẫn luôn và sẽ mãi là tuyệt phẩm văn chương đáng đọc của mọi thời đại. Joseph Conrad (1857 - 1924) là một trong những tác gia vĩ đại nhất của nền văn học Anh quốc. Ông là bậc thầy của nghệ thuật tạo tổng thể văn xuôi, phong cách tự sự, xây dựng nhân vật và mô tả tâm lý của ông có ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều cây bút khác sau này như TS Eliot, F. Scott Fitzgerald, Ernest Hemingway hay George Orwell. Thế nhưng tác giả của những áng văn đầy chất thơ Shakespeare này lại là một người gốc Ba Lan tới định cư tại xứ sở sương mù, và đến tận năm hai mươi tuổi mới nói trôi chảy tiếng Anh. Là người ngoại quốc, từng trải qua những năm tháng lênh đênh trên những con tàu thương gia của Anh và Pháp, Conrad đã truyền tải được xúc cảm của những miền đất khác vào nền văn học Anh, phản ánh một thế giới hoàn toàn bị thống trị bởi người châu Âu. Giữa lòng tăm tối là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Joseph Conrad, là kiệt tác văn học mà giới mộ điệu văn chương đều đã quen thuộc. Cuốn tiểu thuyết bao trọn câu chuyện phiêu lưu hải hồ của Marlow dựa trên hành trình có thật của chính tác giả vào năm 1890. Là người của biển cả, Marlow nghe theo tiếng sóng vẫy gọi, khao khát đi tới những miền đất chưa định danh trên địa đồ - “những khoảng trống của niềm hân hoan”, “một vạt trắng cho giấc mơ huy hoàng”, dấn thân vào “vùng tăm tối vô phương thấu hiểu”, cùng với tính hiếu kỳ thản nhiên của một trí óc tế nhị và trạng thái điềm tĩnh của một con tim sắt đá. Trên một con tàu hơi nước vá víu xập xệ thiếu thốn đủ đường, cùng thủy thủ đoàn là mấy tay da đen của bộ tộc ăn thịt người lúc nào cũng bốc mùi thịt hà mã thiu, Marlow ngược dòng con sông Congo hùng vĩ, bí hiểm mà mê hoặc để hoàn thành một nhiệm vụ tưởng chừng như bất khả thi. Ông phải đi cứu Kurtz - người được ca tụng khắp nơi là “thiên tài toàn năng”, kiếm được nhiều ngà voi nhất Công ty, được cả dân da đen yêu kính hết mực và đang ốm thập tử nhất sinh ở vùng thượng nguồn - về với văn minh, trước khi gã lìa đời. Sau bao nhiêu gian khổ, hiểm nguy của chốn rừng thiêng nước độc, Marlow tới được nơi, gặp được người, nhưng chỉ trở về với một tập tài liệu và lời tuyệt mệnh: “Nỗi kinh hoàng! Nỗi kinh hoàng!” Miền hoang dã Phi châu tạo ra bao nhiêu trở ngại cho con tàu của Marlow thì Giữa lòng tăm tối cũng gây ra bấy nhiêu sóng gió trong giới văn chương thậm chí cả giới phân tâm học, hoạt động nhân quyền hay nghiên cứu châu Phi cũng nhảy vào cuộc. Người ta bàn ra tán vào, khẩu chiến rồi cả bút chiến với nhau về cách hành văn của tác giả, cấu trúc, ý nghĩa của tác phẩm và vô vàn những thứ khác. Một trong những chủ đề được tranh cãi quyết liệt nhất chính là vấn đề phân biệt chủng tộc. Chinua Achebe - nhà văn, nhà thơ người Nigeria từng chỉ trích tác phẩm này là “phân biệt chủng tộc một cách khủng khiếp” với những hình ảnh miêu tả người da đen như những kẻ mọi rợ ngu đần, như những con vật chịu đòn roi. Những tình cảnh đáng thương, những vụ tra tấn kinh hoàng đều được kể lại bằng chất giọng lạnh lùng, vô cảm. Thế nhưng những lập luận khác lại cho rằng tại thời điểm Conrad viết cuốn tiểu thuyết này, khái niệm “phân biệt chủng tộc” vẫn chưa thành hình, quan niệm về khác biệt chủng tộc vẫn còn in đậm. Đó là thời người da đen bị trưng bày như thú lạ tại những nước đế quốc, và bị đối xử như súc vật, nô lệ tại những vùng thuộc địa. Vì thế, không thể trách cứ Conrad được. Tuy vậy, chính nhà văn cũng từng khẳng định rằng Giữa lòng tăm tối ngầm ý chỉ ra “tội ác của sự kém hiệu quả và ích kỷ thuần túy khi khai hóa văn minh ở châu Phi”. Thật vậy, hãy đọc những dòng này trong truyện: “Tôi ngờ rằng với họ cai trị chỉ đơn thuần là bóp nghẹt, không hơn. Họ là kẻ chinh phục, mà chinh phục thì chỉ cần vũ lực - vốn chả có gì đáng huênh hoang, vì sức mạnh của anh chỉ là ngẫu nhiên phát sinh từ cái yếu của kẻ khác. Họ vơ vét được bao nhiêu hay bấy nhiêu, vơ vét để mà vơ vét. Đó chẳng qua là cưỡng đoạt bằng bạo lực, sát nhân có tình tiết tăng nặng trên diện rộng...” Như thế, Giữa lòng tăm tối, ở một chừng mực nào đó, có thể coi là một bản cáo trạng về lòng tham, thói ưa hủy diệt và quyền lực chuyên chế của chủ nghĩa thực dân, “một bài phân tích về sự suy nhụt nhuệ khí của người da trắng, khi anh ra thoát khỏi vòng kiềm tỏa của châu Âu, bám rễ ở miền nhiệt đới với vũ khí trang bị đến tận chân răng, để thu lợi từ tầng lớp bị trị”. Và con sông dẫn tới “trái tim của một vùng tăm tối khôn cùng” không phải là con sông Congo cuộn xoáy ở lục địa Đen mà là con sông Thames êm đềm, dưới bầu trời hôn ám của “đế chế nơi mặt trời không bao giờ lặn”. Khép lại những tranh cãi, Giữa lòng tăm tối vẫn luôn và sẽ mãi là tuyệt phẩm văn chương đáng đọc của mọi thời đại. Bằng ngôn từ mơ hồ mà dứt khoát, huyền bí mà hữu hình, Joseph Conrad đã viết nên một áng văn đậm chất thơ, hấp dẫn, ám ảnh và đầy tính biểu tượng - một kiệt tác của của nghệ thuật phân tích tâm lý bậc thầy, của phiêu lưu, của thiên nhiên hoang dại, hùng vĩ, và ảo tưởng của cả thời đại. *** Nellie, chiếc thuyền hai buồm, buông neo không một tiếng buồm lật phật, lặng lẽ nghỉ ngơi. Nước đã xuống, gió cơ hồ đã lặng; được buộc dưới sông, nó chỉ còn một việc là đậu đó đợi triều lên. Cửa sông Thames trải dài trước mắt chúng tôi, như khởi đầu của một thủy lộ dài bất tận. Ngoài khơi xa biển và trời liền thành một tấm áo không thấy đường may, và trong không gian lung linh này, những cánh buồm rám nắng vẫn dập dờn trên ngọn thủy triều như đứng yên thành từng cụm vải bạt đỏ chóp nhọn, lấp lánh ánh vécni từ những cột buồm. Sương lan trên những bãi bồi phẳng lì chạy dài tít tắp về phía biển. Bầu trời trên Gravesend[1] tăm tối, còn phía xa dường như vẫn ngưng tụ thành một quầng u ám thảm sầu, âm trầm bất động trùm lên đô thành lớn nhất và vĩ đại nhất trên trái đất. Tay Giám đốc Công ty là thuyền trưởng và chủ nhà của chúng tôi. Bốn người bọn tôi[2] trìu mến nhìn bóng lưng gã đứng trên mũi thuyền, nhìn về phía biển. Cả sông không có hình ảnh nào đại dương bằng nửa gã. Nhìn gã như một hoa tiêu, niềm tin của người đi biển được nhân cách hóa. Khó mà nhận ra, nghề của gã không phải ngoài kia, nơi giang khẩu lung linh, mà ở sau lưng, giữa vùng âm trầm u ám nọ. Giữa chúng tôi, như đã có lần tôi từng nói[3], có sự gắn bó của biển khơi. Ngoài việc neo đậu lòng nhau sau những quãng dài xa cách, nó còn giúp chúng tôi chịu đựng được những huyên thuyên, thậm chí là định kiến, của nhau. Tay Luật sư - loại bạn già chơi rất được - bởi tuổi cao đức trọng nhất hội, sở hữu cái đệm duy nhất trên boong, và nằm trên tấm thảm duy nhất. Tay Kế toán ôm theo hộp domino và đang lẩn mẩn xây nhà với những mảnh ngà. Marlow ngồi xếp bằng ở đuôi tàu, lưng dựa vào cột buồm lái. Má hóp, da vàng, lưng thẳng, dung mạo khắc khổ, đôi tay buông xuôi, lòng bàn tay ngửa ra trước, gã nhìn như một bức ngẫu tượng. Tay giám đốc, yên tâm là neo đã chắc, xuống đuôi tàu nhập bọn với chúng tôi. Cả bọn uể oải trò chuyện đôi lời. Rồi boong tàu chìm trong im lặng. Bởi lẽ gì đó, chúng tôi không bắt đầu ván domino ấy. Chúng tôi thấy trầm tư, chẳng có hứng làm gì ngoài tĩnh tâm quan sát. Ngày tàn dần trong cái bình lặng của ánh quang huy thanh tĩnh và tú lệ. Nước tỏa sáng một cách bình yên; vòm trời, không một gợn mây, như một khoảng mênh mông ôn nhuận ngập tràn thứ ánh sáng vô nhiễm; màn sương trên đầm lầy miền Essex[4] giống một tấm sa mỏng phát quang, rủ xuống từ những triền cao cây phủ trong nội địa, buông từng lớp trong mờ lên những bãi bồi. Chỉ riêng vùng ảm đạm phía tầy, vần vũ trên thượng lưu, là mỗi lúc một thêm u ám, như thể phẫn nộ trước sự lấn tới của mặt trời. Và cuối cùng, trong một đường lặn hình cung không thể cảm nhận được, mặt trời chìm dần, và từ màu trắng rực đổi sang sắc đỏ đục không phát quang và tỏa nhiệt, như thể sắp đột ngột tắt lịm, bị hạ sát khi chạm phải quầng u ám đang vần vũ trên một vùng người. Lập tức mặt nước bắt đầu thay đổi, và vẻ bình lặng kia bớt xán lạn nhưng lại nồng đậm hơn. Con sông lâu đời an tĩnh nghỉ ngơi giữa dòng nước mênh mang lúc ngày tàn, sau bao thuở phục vụ đắc lực chủng tộc định cư hai bên bờ, trải rộng trong vẻ tôn nghiêm bình đạm của một thủy lộ dẫn đến những chốn tận cùng trái đất. Bọn tôi quan sát dòng chảy khả kính này, không phải dưới hồng quang rực rỡ của một ngày ngắn ngủi một đến rồi đi không trở lại, mà trong ánh sáng uy nghi của ký ức trường tồn. Và quả thực, với kẻ từng, như người ta vẫn nói, “đi theo tiếng gọi biển khơi” với niềm đam mê và sùng kính, không gì dễ dàng hơn việc triệu hoán những anh linh quá khứ trên hạ lưu sông Thames. Con nước thủy triều vẫn miệt mài, tận tụy xuống lên, tràn ngập ký ức về người và thuyền từng được nó đưa về lại cố hương hoặc đem vào hải chiến. Nó từng quen biết và phục vụ tất cả những con người mà dân tộc này hằng tự hào, từ Sir Francis Drake tới Sir John Franklin, đều là Hiệp sĩ, có tước hiệu và không tước hiệu[5] - những hiệp khách giang hồ của biển cả. Nó từng vận chuyển những con tàu với cái tên lấp lánh như ngọc trong đêm tối thời gian, từ chiếc Golden Hind trở về với hai mạn tròn chất đầy châu báu và được ngự giá Nữ hoàng đến thăm, rồi từ ấy rời xa dòng chảy huyền thoại này[6], đến chiếc Erebus và Terror, theo đuổi những cuộc chinh phục khác - và không bao giờ quay lại[7]. Nó biết rõ cả hải thuyền và hải khách. Họ giong buồm từ Deptford, Greenwich và Erith[8] - kẻ phiêu lưu lẫn người lập nghiệp; tàu Hoàng gia cùng thuyền thương khách; thuyền trưởng, đô đốc, đám hắc thương[9] vùng Viễn Đông, các “tướng lĩnh tự phong của Hải đội Đông Ấn. Săn vàng hay cầu danh, ai nấy đều khởi hành theo dòng chảy ấy, mang gươm, và thường là cầm đuốc, sứ giả của quyền uy từ lục địa, hộ tống một điểm tinh hỏa từ ngọn lửa thiêng. Có sự vĩ đại nào không từng theo con nước của dòng sông ấy đến với bí ẩn của một miền đất lạ!... Giấc mơ của con người, hạt giống của thịnh vượng chung, mầm mống của đế quốc. Mặt trời lặn; hoàng hôn trùm lên dòng sông, và ánh đèn bắt đầu xuất hiện ven bờ. Hải đăng Chapman, một vật thể ba chân mọc lên từ bãi lầy, chiếu sáng rực rỡ. Ánh đèn từ những con tàu di chuyển trên thủy đạo - một dòng ngược xuôi tấp nập của những ngọn đèn. Và xa hơn về tây, trên thượng lưu, vùng trời phía trên thành phố khổng lồ kia vẫn mang dấu hiệu bất tường, một vầng âm trầm u ám trong ánh tịch dương, một tia nhìn giận dữ chói gắt dưới trời sao. “Nơi đây,” Marlow đột ngột lên tiếng, “cũng từng là một trong những chốn tối tăm trên trái đất.”[10] Gã là người duy nhất trong cả hội còn “đi theo tiếng gọi biển khơi.” Nếu có nói xấu được gã điểm gì thì đó là gã không đại diện cho tầng lớp của mình. Gã là hải khách nhưng cũng là lãng khách, trong khi phần lớn những người đi biển khác sống một cuộc đời, ta tạm gọi là, yên vị. Đầu óc họ mang tâm thức tại gia, và nhà của họ luôn đi cùng họ - con tàu; và tổ quốc của họ cũng vậy - biển cả. Tàu nào cũng giống tàu nào, và biển cả thì muôn đời vẫn thế. Trong sự bất biến của môi trường quanh họ, những duyên hải xa xôi, những mặt người xứ lạ, những bao la biến động của cuộc đời, tất cả lướt qua, được che phủ không phải bởi cảm giác huyền bí mà dưới một thái độ vô tri ít nhiều khinh thị; bởi đối với người đi biển, chẳng có gì huyền bí trừ bản thân biển cả, người tình của sự hiện tồn của y, và khó nhìn thấu như chính số mệnh. Với họ, sau giờ lao động, một cuộc dạo chơi hoặc truy hoan tùy tiện trên bờ là đủ khám phá bí mật của cả một lục địa, và nhìn chung họ thấy bí mật này chả có gì đáng biết. Chuyện của dân đi biển có một sự giản đơn trực diện, toàn bộ ý nghĩa của nó chỉ gói gọn trong một cái vỏ lạc vỡ[11]. Nhưng Marlow không phải dân đi biển điển hình (không kể xu hướng huyên thuyên ở gã), và với gã, ý nghĩa của sự kiện không nằm trong hạt lạc, mà ở ngoài, bao quanh sự tích phát sinh ra nó giống như nguồn sáng nhiệt phát sinh hồng quang, tương tự như những quầng sáng đôi khi ta vẫn quan sát thấy nhờ quang phổ của ánh trăng. Bình luận của gã không làm ai ngạc nhiên. Marlow là như thế. Phát ngôn ấy được đón nhận trong im lặng. Thậm chí chẳng ai buồn lầm bầm; và lúc này gã đang nói, rất chậm rãi... “Tôi đang nghĩ về thời xa xưa, khi quân La Mã lần đầu đặt chân đến đây, một ngàn chín trăm năm trước[12] - như mới hôm qua... Ánh sáng đã phát xuất từ dòng sông này từ... thời các Hiệp sĩ, nhỉ? Phải; nhưng nó như một lưỡi lửa chạy trên đồng cỏ, một vệt chớp giữa trùng mây. Chúng ta sống dưới ánh sáng bập bùng ấy - cầu cho nó bền lâu như vòng quay của trái đất này! Nhưng hôm qua bóng tối vẫn ở đây. Thử tưởng tượng, cảm giác của viên chỉ huy một chiếc... gọi là gì nhể? – Trireme[13] ưu tú trên Địa Trung Hải, đột nhiên bị điều lên phương bắc; vội vàng đi đường bộ băng qua Gauls; và được giao một con thuyền, loại vẫn được các quân đoàn La Mã - hẳn toàn những kẻ khéo tay ghê gớm - đóng cả trăm chiếc trong một, hai tháng, nếu những gì ta vẫn đọc là đáng tin. Thử hình dung ra gã ở đây - nơi tận cùng thế giới, biển màu chì, trời màu khói, kiểu thuyền vững chãi như cây đàn concertina[14] - bơi ngược sông đem theo quân nhu, hoặc mệnh lệnh, hoặc gì cũng được. Bờ cát, đầm lầy, rừng rú, man dân - cơ hồ không có gì vừa miệng người văn minh, không có gì để uống ngoài nước sông Thames. Ở đây chẳng có rượu Falernian[15], và cũng chẳng có chuyện lên bờ. Thi thoảng lại thấy một doanh trại thất tung trong hoang dã, như cây kim mất tích giữa đụn rơm - giá, sương, bão táp, bệnh dịch, lưu đày và chết chóc - cái chết lởn vởn trong không khí, dưới nước, trong bụi rậm. Binh sĩ chắc hẳn chết ở đây như ngả rạ. Phải rồi - gã sống sót. sống tốt là đằng khác, sống mà không nghĩ ngợi gì nhiều, có chăng chỉ đủ để sau này khoác lác về những gì đã trải qua. Họ đủ nam nhi để đối mặt với bóng tối. Mà có lẽ gã đã phấn chấn hơn khi tơ tưởng đến cơ hội được đề bạt lên hải đội ở Ravenna[16] trong ngày một ngày hai, nếu gã có bạn bè thân cận ở Rome và sống sót qua mùa lam chướng này. Hoặc hãy nghĩ tới một công dân trẻ tử tế, khoác toga - chắc hẳn cháy túi vì cờ bạc - theo gót thái thú, hoặc thuế quan, thậm chí thương gia, đến đây mong kiếm chác được chút gì. Đặt chân lên đầm lầy, cuốc bộ xuyên rừng, và khi đến dịch trạm trong nội địa, thì cảm thấy cái man di, man di cùng cực, vây bủa lấy mình, - tất cả sự sống hoang dã bí hiểm sục sôi trong rừng rậm, trong rừng già, trong tim đám man dân. Chẳng có thời gian để làm quen với những bí ẩn ấy. Gã phải sống giữa chốn vô minh, vốn dĩ là điều đáng hận. Song nó cũng tỏa ra sức dụ hoặc, tác động lên gã. Thứ dụ hoặc nảy sinh từ oán hận - hãy tưởng tượng nỗi hối hận, cơn khát khao đào tẩu, sự ghê tởm trong bất lực, tâm lý buông xuôi, cảm giác căm ghét ngày một dâng cao.” Mời các bạn đón đọc Giữa Lòng Tăm Tối của tác giả Joseph Conrad.