Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Nước Cho Voi - Sara Gruen

Cuốn sách cũng thể hiện tình yêu động vật vô bờ bến của nhà văn. Mỗi con vật xuất hiện trong tác phẩm đều trở thành một nhân vật có tình cảm với những biểu hiện đầy nhân tính. Có lẽ vì thế mà “Nước cho voi” của Sara Gruen được nhiều tờ báo có tiếng trên thế giới đánh giá cao. Tờ “The New York Times” đánh giá về “Nước cho voi” như sau: “Bằng sự tính toán thời điểm lão luyện của một ông bầu gánh xiếc, Sara Gruen đã để dành bí mật khủng khiếp nhất đến tận cùng những trang cuối cùng, đã biến một nét văn hoá Mỹ thành cả một câu chuyện cổ tích đầy mơ mộng và lôi cuốn.” . Còn tờ People thì nhận xét: “Gruen khai quật cả một thế giới đã mất bằng sự khắc hoạ phong phú và đáng kinh ngạc về cuộc sống của một gánh xiếc rong trong những năm 30. Một câu chuyện cảm động chắc chắn sẽ làm hài lòng độc giả yêu thích lịch sử - và cả những người khác nữa.” *** Thành công đến với tác giả Sara Gruen khá bất ngờ và ngẫu nhiên. Hai tiểu thuyết đầu tiên của Sara Gruen Riding Lessons và Flying Change chỉ nhận được những lời đánh giá chung chung không khen, không chê của giới phê bình. Cuốn sách thứ ba, Nước cho voi, đã bị nhà xuất bản làm việc với cô trước đó thẳng thừng từ chối và nhà xuất bản tiếp theo chỉ trả cho cô 55.000USD tiền nhuận bút. Tuy nhiên, “Nước cho voi” đã đứng 12 tuần liên tục trong danh sách best-seller của “The New York Times” và trở thành một trong những cuốn sách bán chạy nhất trong năm 2006 và 2007. Cuốn sách đã được hãng Fox 2000 mua bản quyền làm phim và dự định sẽ ra mắt vào năm 2010.   Tính nhân văn của câu chuyện “Nước cho voi” đã làm rung động hàng triệu trái tim bạn đọc trên thế giới. Thông qua đôi mắt của Jacob – một sinh viên thú y, người sống gắn bó với những con vật biểu diễn trong gánh xiếc, Sara Gruen đã cho người đọc thấy, nếu bạn có trái tim đủ đa cảm, bạn có thể nhận ra loài vật cũng có xúc cảm và cách giao tiếp riêng của chúng. Và kì diệu thay, trái tim của những loài vật trong gánh xiếc dường như chính là liều thuốc giữ cho tâm hồn con người mãi mãi ở lại với lãnh địa của cái thiện.   Từ dòng hồi ức của Jacob Jankowski về những tháng năm tuổi trẻ, câu chuyện được hé lộ dần dần. Trong giai đoạn đầu tiên thời kỳ Đại suy thoái của nước Mỹ, Jacob buộc phải rời khỏi trường đại học Cornell, nơi anh đang theo đuổi ngành học thú y bởi gia đình anh phá sản, bố mẹ qua đời trong một tai nạn giao thông. Trong nỗi tuyệt vọng, Jacob tình cờ gặp một gánh xiếc rong – nơi anh sẽ được thuê làm bác sỹ chăm sóc cho những con thú biểu diễn.  ***   Jacob bước vào thế giới của những nghệ sỹ xiếc đầy rẫy sự xấu xa, khắc nghiệt và cũng là nơi anh tìm thấy tình yêu của cuộc đời mình - Marlena - cô diễn viên xinh đẹp với tấm lòng nhân hậu. Nhưng, Angust, chủ gánh xiếc, đồng thời cũng là chồng của Marlena, sớm phát hiện ra mọi chuyện, và bản tính tàn bạo của hắn đã có đích nhắm tới. Tấm lòng của Jacob dành cho những con vật trong gánh xiếc và khát vọng tình yêu là thứ vũ khí duy nhất anh có để chống lại những kẻ tàn bạo…   Lấy bối cảnh của giai đoạn Đại suy thoái, Sara Gruen cùng lúc thông qua “Nước cho voi” miêu tả lại thời đại khủng hoảng lịch sử của nước Mỹ và sự khủng hoảng đạo đức và nhân tính trong mỗi con người. Tất cả các nhân vật của Sara Gruen cùng lúc được đẩy vào vòng xoáy của sự rối loạn, ảo tưởng, thất vọng, đớn đau và ở đó, họ phải tìm cách để giữ lại tâm hồn của chính mình.   Qua "Nước cho voi", Sara Gruen còn mang tới cho độc giả những trải nghiệm tuyệt vời về cuộc sống của những gánh xiếc rong ở cả phần ánh sáng và bóng tối. *** Chỉ còn lại ba người dưới tấm bạt sọc đỏ trắng của gian hàng đồ rán: Grady, tôi và tay đầu bếp rán. Grady và tôi ngồi bên cái bàn gỗ mòn vẹt, trước mặt mỗi người là chiếc bánh mì kẹp đặt trên đĩa thiếc méo mó. Tay đầu bếp ở sau quầy đang cạo vỉ nướng bằng cạnh bàn xẻng. Anh ta đã tắt chảo rán được một lúc, nhưng mùi mỡ vẫn còn vương lại. Phần còn lại của lô giữa - mới đây còn oằn lên toàn người là người - đã vắng tanh, chỉ còn một dúm người làm và một nhóm đàn ông đang chờ được dẫn tới lều thoát y. Những gã đó cứ bồn chồn liếc hết bên này đến bên kia, mũ sụp xuống và tay thọc sâu trong túi. Họ sẽ không phải thất vọng: đâu đó ở phía sau Barbara và vẻ quyến rũ phì nhiêu của cô ta đang chờ đợi. Đám dân thị trấn khác - bọn dân quê, như Bác Al gọi - đã tiến qua lều thú vào lều chính, nơi đang rung chuyển trong một thứ âm nhạc điên cuồng. Ban nhạc đang lướt qua vốn tiết mục của mình với âm lượng thủng màng nhĩ thường ngày. Tôi biết rõ cái lệ đó - vào chính lúc này, phần chót của Màn trình diễn Lớn đang hồi hấp dẫn và Lottie, nghệ sĩ đu bay, đang trèo lên giàn treo trong vòng diễn trung tâm. Tôi nhìn Grady chăm chú, cố gắng phân tích xem anh ta đang nói cái gì. Anh ta liếc quanh rồi ngả người lại gần tôi. “Vả lại,” anh ta nói, nhìn thẳng vào mắt tôi, “xem ra ngay bây giờ cậu đang có nhiều thứ để mất đấy.” Anh ta nhướng mày để nhấn mạnh. Tim tôi thót lại. Tiếng vỗ tay vang như sấm bùng lên từ lều chính, và ban nhạc chuyển nhẹ nhàng sang điệu van Gounod. Theo bản năng, tôi quay về phía lều thú vì đây là tín hiệu cho tiết mục voi. Marlena hoặc là sắp trèo lên hoặc đã yên vị trên đầu Rosie. “Tôi phải đi đây,” tôi nói. “Ngồi đó,” Grady nói. “Ăn đi. Nếu cậu đang nghĩ đến chuyện bỏ đi thì chắc là sẽ còn lâu nữa cậu mới lại được nhìn thấy đồ ăn đấy.” Đúng lúc đó, âm nhạc rít lên rồi ngừng bặt. Có tiếng va chạm kinh khủng của kèn đồng, lưỡi gà, và bộ gõ - tiếng kèn trombon và sáo piccolo luyến vào nhau thành một thứ nhạc điệu chối tai, tiếng tuba pè pè và tiếng vang rền trống rỗng của chũm chọe lan ra ngoài lều chính, lơ lửng trên đầu chúng tôi rồi chìm vào quên lãng. Grady cứng người, cúi gằm xuống chiếc bánh mì kẹp của mình, hai ngón út duỗi thẳng và cặp môi bành ra. Tôi nhìn hết bên này đến bên kia. Không ai nhúc nhích - mọi con mắt đều đổ dồn về phía lều chính. Vài búi cỏ khô lờ đờ cuốn qua mặt đất cứng. “Cái gì thế? Chuyện gì đang xảy ra vậy?” tôi hỏi. “Suỵt,” Grady rít lên. Ban nhạc lại bắt đầu, họ chơi bài “Sao và sọc vĩnh viễn”. “Ôi Chúa ơi. Ôi mẹ nó chứ!” Grady quẳng đồ ăn của mình xuống bàn và nhảy dựng lên, đẩy đổ băng ghế. “Sao? Cái gì vậy?” tôi hét lên, vì anh ta đã chạy biến ra xa. “Hành khúc Thảm họa!” anh ta hét lên qua vai. Tôi quay phắt sang tay đầu bếp rán đang lột tạp dề. “Anh ta đang nói về cái quái gì vậy?” “Hành khúc Thảm họa,” tay đầu bếp đáp, kéo chiếc tạp dề qua đầu. “Nghĩa là có gì đó đã trở nên tồi tệ - thật sự tồi tệ.” “Như là gì?” “Có thể là bất cứ thứ gì - cháy trong lều chính, đám thú chạy loạn, bất cứ chuyện gì. Ôi Chúa lòng lành. Đám dân quê tội nghiệp có lẽ còn chưa biết điều này.” Anh ta chui xuống dưới cái cánh cửa có bản lề rồi biến mất dạng. Hỗn loạn - những người bán kẹo nhảy qua các quầy, đám người làm cố định loạng choạng đi ra từ dưới các vạt lều, lao động tự do hấp tấp phi như bay qua khu đất. Tất cả và bất cứ ai dính dáng đến Đoàn xiếc Ngoạn mục nhất Quả đất của Anh em Benzini đều lao bổ về phía lều chính. Diamond Joe phóng qua tôi với tốc độ tương đương ngựa phi nước đại. “Jacob - là lều thú đó,” anh ta hét lên. “Bọn thú bị xổng ra rồi. Đi, đi, đi ngay!” Anh ta không phải nhắc đến lần thứ hai. Marlena đang ở trong cái lều đó. Một tiếng động ầm ầm vụt qua người tôi khi tôi tới gần, và nó làm tôi sợ chết khiếp vì quãng âm của nó thấp hơn cả tiếng ồn. Mặt đất đang rung chuyển. Tôi lảo đảo đi vào trong và bắt gặp một con bò Tây Tạng sừng sững như cả bức tường - một vùng ngực mênh mông đầy lông xoăn tít, những móng guốc khua khoắng, hai lỗ mũi đỏ chót nở rộng và đôi mắt long sòng sọc. Nó phi qua gần đến mức tôi phải nhảy bật ra sau trên đầu ngón chân, ngập trong đống vải bạt để tránh bị một trong những cái sừng cong vút của nó xuyên qua. Một con linh cẩu đang hoảng sợ bám chặt lấy vai con bò. Quầy ăn uống ở chính giữa lều đã bị san phẳng, thay vào đó là một khối rúng động những chấm và sọc - những bắp đùi, gót móng, đuôi, và vuốt, tất cả đang gầm, rít, rống, hoặc hí vang. Một con gấu Bắc Cực vượt hẳn trên tất cả, mù quáng phạt chém bằng những bàn chân to cỡ cái chảo. Nó bắt gặp một con lạc đà không bướu và lao thẳng vào con vật - RẦM. Con lạc đà đập xuống đất, cổ và chân dang ra như năm đỉnh của một ngôi sao. Bọn tinh tinh gào thét và kêu ca luôn mồm, đánh đu trên những sợi dây để tránh xa lũ mèo. Một con ngựa vằn ánh mắt hoang dại chạy ngoằn ngoèo quá gần con sư tử đang thu mình, con sư tử vồ tới nhưng vồ trượt, rồi nó chạy biến đi, bụng ép sát đất. Tôi đảo mắt khắp lều, tuyệt vọng tìm Marlena. Thay vì thấy nàng, tôi lại nhìn thấy một con mèo đang lướt qua đường nối dẫn tới lều chính - đó là một con báo, và khi thân hình đen trũi uyển chuyển của nó biến mất trong đường ống vải bạt, tôi chuẩn bị tinh thần. Nếu đám dân quê chưa biết gì thì họ cũng sắp phát hiện ra rồi. Phải mất vài giây nữa nó mới tới, nhưng nó đã tới mất rồi - một tiếng thét kéo dài, nối tiếp bởi một tiếng khác, rồi lại một tiếng nữa, và rồi toàn bộ lều chính bùng lên âm thanh ầm ầm của những cơ thể chen lấn xô đẩy nhau hòng thoát khỏi khán đài. Lần thứ hai ban nhạc rít lên rồi ngừng bặt, và lần này thì im luôn. Tôi nhắm mắt lại: Cầu Chúa hãy để họ chạy ra ở cửa sau. Cầu Chúa đừng để họ chạy qua đây. Tôi lại mở mắt nhìn lướt qua lều thú, điên cuồng tìm kiếm nàng. Vì Chúa, tìm một cô gái và một con voi có thể khó đến mức nào đây? Lúc thoáng thấy những đồng xê quin hồng của nó, tôi gần như thét lên vì nhẹ nhõm - có thể tôi đã hét lên thật. Tôi không nhớ nữa. Nó đang ở phía đối diện, đứng dựa vào vách, điềm tĩnh như một ngày mùa hạ. Chuỗi xê quin của nó sáng lóa lên tựa những viên kim cương trong trẻo, như một chiếc đèn hiệu tỏa sáng lung linh giữa những mảng da đủ màu. Nó cũng nhìn thấy tôi, và giữ lấy ánh nhìn của tôi tưởng như không dứt. Nó rất bình tĩnh, từ tốn. Thậm chí còn mỉm cười nữa. Tôi bắt đầu tiến về phía nó, nhưng có gì đó trong biểu hiện của nó khiến tôi dừng khựng lại. Thằng chó đẻ đó đang đứng quay lưng lại phía nó, mặt đỏ gay, gào rống, quật tay vun vút và vung vẩy cây gậy đầu bạc. Cái mũ lụa chóp cao của hắn nằm trên nền rơm bên cạnh. Nó với lấy cái gì đó. Một con hươu cao cổ băng qua giữa chúng tôi - cái cổ dài đung đưa một cách duyên dáng ngay cả trong cơn hoảng loạn - và khi con hươu đi khỏi tôi nhận ra nó đã nhổ lên một cái cọc sắt. Nó hờ hững giữ cái cọc, đặt đầu cọc lên nền đất cứng. Nó lại nhìn tôi, hơi hoang mang. Rồi nó chuyển ánh nhìn tới phía sau cái đầu trần của hắn. “Ôi Chúa ơi,” tôi thốt lên, chợt hiểu ra. Tôi loạng choạng bước về phía trước, gào lên dù cho chẳng hy vọng giọng mình tới được tai nó. “Đừng làm thế! Đừng làm thế!” Nó nâng cao cái cọc trong không trung rồi bổ xuống, chẻ đầu hắn ra như một quả dưa hấu. Sọ hắn toác ra, đôi mắt trợn tròn, còn mồm há cứng thành hình chữ O. Hắn quỳ sụp rồi đổ người xuống nền rơm. Tôi quá sững sờ đến nỗi không cử động được, kể cả khi một con đười ươi con quàng cánh tay mềm dẻo của nó quanh chân tôi. Cách đây rất lâu rồi. Lâu lắm rồi. Nhưng đến giờ nó vẫn ám ảnh tôi. TÔI KHÔNG NÓI NHIỀU về những ngày đó. Chưa từng. Tôi không biết vì sao - tôi đã làm việc ở các đoàn xiếc trong gần bảy năm, và nếu đó không phải là chủ đề cho các cuộc chuyện trò thì tôi không biết cái gì mới là chủ đề nữa. Thật ra tôi biết tại sao: tôi chưa bao giờ tin tưởng vào bản thân mình. Tôi đã sợ mình sẽ để lộ chuyện đó. Tôi biết việc giữ bí mật cho nó quan trọng đến nhường nào, và tôi đã giữ bí mật - trong suốt phần còn lại của cuộc đời nó, và cả sau đó nữa. Trong bảy mươi năm, tôi chưa từng kể cho bất cứ một người nào. ... Mời các bạn đón đọc Nước Cho Voi của tác giả Sara Gruen.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nợ Đời - Hồ Biểu Chánh
Một buổi trưa, trời ui-ui, gió mát-mẻ, có một cái xe-hơi ở phía dưới Mỹ Thuận chạy lên, qua khỏi chợ Cai-Lậy một đổi rồi rề-rề ngừng ngay cái xóm nhà dựa lộ, bên mé tay trái. Nhơn-dân trong xóm chạy túa ra đứng dài theo lề đường mà coi, đờn-ông có, đờn-bà có, bà-già có, con-nít có, song ai nấy đều đứng xa xa mà ngó chớ không dám lại gần, không hiểu tại họ sợ cái mầu-nhiệm của món cơ-xảo lạ lùng, hay là tại họ kiêng hơi oai nghiêm của người chủ xe sang trọng. Cái xe còn mới tinh nên kèn cản chói sang lòa, lại sơn màu lá cây sậm nên coi mặn-mòi đẹp-đẽ. Người sớp -phơ mở cửa xe leo xuống, mặc đồ tây trắng, mang giày tây trắng, đội kết cũng màu trắng, giơ tay ngoắt đám dân làng và kêu mà nói rằng: “Ê! mấy người lại đây đặng hỏi thăm một chút coi nào”. *** Hồ Biểu Chánh là một nhà văn lớn của Nam Bộ, người có công mở đường cho nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Người đương thời và nhiều thế hệ về sau đã đón nhận tác phẩm Hồ Biểu Chánh với tất cả sự nồng nhiệt, trân trọng. Lịch sử văn học Việt Nam không thể phủ nhận đóng góp to lớn của Hồ Biểu Chánh. Một trong những yếu tố làm nên sự thành công ấy chính là tác phẩm của ông có được một hình thức ngôn ngữ đầy ấn tượng, thể hiện phong cách ngôn ngữ văn xuôi Nam bộ những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Hồ Biểu Chánh sinh năm 1884 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ. Tháng 8 năm 1941, sau khi ông về hưu, được Pháp mời làm cố vấn với danh hiệu Nghị viện Hội đồng Liên bang Đông Dương và Phó Đốc lý thành phố Sài Gòn, đồng thời làm giám đốc những tờ báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Pháp-Việt. Sau khi tái chiếm Nam Bộ năm 1946, Cộng hòa tự trị Nam Kỳ được thành lập, ông được mời làm cố vấn cho chính phủ Nguyễn Văn Thinh. Nhưng chỉ được mấy tháng, khi chính phủ Nguyễn Văn Thinh sụp đổ, ông lui về quê ở ẩn và giành trọn những năm tháng còn lại cho sự nghiệp văn chương. Ông mất ngày 4 tháng 9 năm 1958 tại Phú Nhuận, Gia Định; thọ 74 tuổi. Lăng mộ ông hiện nay được đặt ở đường Thống Nhất, phường 11 quận Gò Vấp. Tác phẩm: Nợ Đời Bỏ Chồng Bỏ Vợ Dây Oan Đóa Hoa Tàn Đoạn Tình Nặng Gánh Cang Thường Cay Đắng Mùi Đời Con Nhà Giàu ... Mời các bạn đón đọc Nợ Đời của tác giả Hồ Biểu Chánh.
Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn - Phạm Lữ Ân
“Nếu biết trăm năm là hữu hạn, cớ gì ta không sống thật sâu…” Chỉ xuất hiện vỏn vẹn trong hơn bốn mươi bài viết trên chuyên mục Cảm thức của Bán nguyệt san 2! (số Chuyên đề của báo Sinh Viên Việt Nam), Phạm Lữ Ân là một tác giả đã âm thầm tạo nên hiện tượng đặc biệt trong văn hoá đọc của giới trẻ Việt nam hiện nay. Các bài viết của Phạm Lữ Ân được đăng tải, trích dẫn rất nhiều lần trên các trang web, trên blog cá nhân, đươc đọc trên Youtube, thành cảm hứng cho sáng tác ca khúc và cả kịch bản phim với những lời bình ưu ái. Với nhiều bạn trẻ, những bài viết này như đã thưc tỉnh trái tim và nhận thức của họ về cuộc đời, vốn chứa đựng nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đầy ắp lo toan. Bằng giọng văn dung dị, thân mật, giàu cảm xúc và có khi rất quyết liệt, tác giả dẫn dắt người đọc đi sâu vào những cảm nhận khác nhau về cuộc đời, về tình yêu trong góc nhìn tỉnh táo và không ngộ nhận (Hãy nói yêu thôi, đừng nói yêu mãi mãi), về tình bạn (Dư vị từ những tình bạn nhạt nhoà), về sự thành bại trong cuộc đời (Còn thời cưỡi ngựa bắn cung), về sự chờ đợi một cơ hội ngắn ngủi và cả một vận hội trong sự an nhiên và điềm tĩnh (Như chờ tình đến rồi hãy yêu)...  Không ít người cho rằng mình đã tìm thấy điều gì đó lạ lẫm và tươi mát trong nhận thức từ những bài viết này. Một số thú nhận mình đã đọc đi đọc lại những bài viết của Phạm Lữ Ân và mỗi lần đọc đều tìm thấy một ý nghĩa mới mẻ tiềm ẩn trong đó. Với hiệu ứng của các bài viết, cái tên Phạm Lữ Ân luôn khiến bạn đọc tò mò. Và thật thú vị khi biết được bút danh này là sự kết hợp của hai nhà báo viết cho giới trẻ, cũng là một đôi vợ chồng. Nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế và sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài Cảm thức này đã đưa ra được những kiến giải đầy thú vị và vô cùng sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai trong chúng ta, ở bất kỳ lứa tuổi nào. Có đôi khi những bộn bề của cuộc sống cuốn ta đi như dòng nước hững hờ cuốn trôi chiếc lá. Cứ thế, ta vội vã làm, vội vã ăn, vội vã ngủ, vội vã yêu và vội vã…để sống! Chắc hẳn đã không ít lần mỗi chúng ta đều thốt lên “giá như…” Nếu biết trăm năm là hữu hạn, đưa người đọc đến nhiều tầng của cung bậc cảm xúc, đến nhiều không gian tưởng chừng ta không thể quay về. Vừa hoài niệm, sâu sắc, vừa giản dị, chân thành, vừa quá khứ, hiện tại. Nếu biết trăm năm là hữu hạn cứ thế cuốn ta đi một cách nhẹ nhàng và đầy sâu lắng… Với tập hợp 40 truyện ngắn, chắc hẳn đâu đó xung quanh những câu chuyện ấy, ta sẽ vô tình bắt gặp chính ta. Nếu biết trăm năm là hữu hạn là một quyển sách dành cho nhiều người. “Người ta gọi tuổi mới lớn là “tuổi biết buồn”. “Biết buồn” tức là chạm ngõ cuộc đời rồi đó. Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của những khoảng trống trong tâm hồn. Biết buồn là khi nhận ra rằng có những lúc mình cảm thấy cô độc. Khi đó, hãy dành cho sự cô độc một khoảng riêng, hãy đóng khung sự cô đơn trong giới hạn của nó, như một căn phòng  trống trong ngôi nhà  tâm hồn. Mỗi lần vào căn phòng ấy, dù tự nguyện hay bị xô đẩy, thì bạn vẫn có thể điềm tĩnh khám phá bản thân trong sự tĩnh lặng. để rồi sau đó, bạn bình thản bước ra, khép cánh cửa lại và trở về với cuộc sống bề bộn thường ngày, vốn lắm nỗi buồn nhưng cũng không bao giờ thiếu niềm vui...” (Trích "Những khoảng trống không phải để lấp đầy") *** "Nếu biết trăm năm là hữu hạn" đưa bạn đọc đến nhiều cung bậc cảm xúc, những không gian tưởng chừng không thể quay về, vừa hoài niệm, sâu sắc, lại giản dị, chân thành... Phạm Lữ Ân là bút danh chung của 2 tác giả đồng thời là một cặp vợ chồng được rất nhiều bạn đọc trẻ yêu mến: Đặng Nguyễn Đông Vy và Phạm Công Luận. Nhờ kết hợp giữa cái nhìn trong trẻo, tinh tế, sắc sảo với sự từng trải, thương yêu và khoan dung, những bài viết của tác giả được những kiến giải đầy thú vị và sâu sắc về cuộc đời, không chỉ cho giới trẻ mà cho bất cứ ai, ở bất kỳ lứa tuổi nào. Nếu biết trăm năm là hữu hạn là cuốn sách đưa bạn đọc đến nhiều cung bậc cảm xúc, những không gian tưởng chừng ta không thể quay về, vừa hoài niệm, sâu sắc, vừa giản dị, chân thành, vừa quá khứ, hiện tại. Cuốn sách cứ thế cuốn ta đi một cách nhẹ nhàng và đầy sâu lắng… Đôi khi giữa bộn bề cuộc sống, bạn không nhận ra bản thân đã lãng phí thời gian, tiền bạc, công sức... vào những thứ vô bổ. Nhiều lúc bạn vội vàng chạy đua cùng thời gian mà quên cảm nhận những thay đổi, điều thú vị, hạnh phúc xung quanh ta. Cứ thế, ta vội vã làm, ăn, ngủ, yêu và vội vã… sống. "Người ta gọi tuổi mới lớn là 'tuổi biết buồn'. 'Biết buồn' tức là chạm ngõ cuộc đời rồi đó. Biết buồn tức là bắt đầu nhận ra sự hiện hữu của những khoảng trống trong tâm hồn. Biết buồn là khi nhận ra rằng có những lúc mình cảm thấy cô độc. Khi đó, hãy dành cho sự cô độc một khoảng riêng, hãy đóng khung sự cô đơn trong giới hạn của nó, như một căn phòng trống trong ngôi nhà tâm hồn. Mỗi lần vào căn phòng ấy, dù tự nguyện hay bị xô đẩy, thì bạn vẫn có thể điềm tĩnh khám phá bản thân trong sự tĩnh lặng. Để rồi sau đó, bạn bình thản bước ra, khép cánh cửa lại và trở về với cuộc sống bề bộn thường ngày, vốn lắm nỗi buồn nhưng cũng không bao giờ thiếu niềm vui...". Cuốn sách với cách viết nhẹ nhàng, giọng văn như thủ thỉ, khiêm nhường khiến người đọc như được đắm mình trong những dòng cảm xúc. Đọc 40 truyện ngắn, độc giả có thể bắt gặp bản thân ở những câu chuyện ấy. Những điều ấy khiến ta phải dừng lại suy ngẫm, chiêm nghiệm lại bản thân mình để sống tốt hơn cho mình và mọi người xung quanh. “Có những món quà mà bạn không cần phải tốn tiền mua. Có những món quà mà bạn luôn muốn được nhận. Có những món quà mà người khác chờ đợi bạn tặng”. Bạn hãy sống trọn vẹn cho ngày hôm nay, sống thật và dành cho nhau những gì tốt đẹp nhất để cảm nhận cuộc sống từ chính tâm hồn mình vì “Ngày mai bắt đầu từ ngày hôm nay”. Có thể nói, Nếu biết trăm năm là hữu hạn là quyển sách dành cho những người đang mất phương hướng trong cuộc sống. Bởi cuốn sách là các chân lí, quan niệm nhân sinh của người từng trải viết về tình yêu, tình bạn, gia đình... giúp bạn suy nghĩ lạc quan, xác định được hướng đi đúng đắn cho cuộc đời.   Mời các bạn đón đọc Nếu Biết Trăm Năm Là Hữu Hạn của tác giả Phạm Lữ Ân.
Mộ Bia Giữa Biển - Mảnh Đất Cuối Cùng Nơi Người Cha Nằm Lại - Nakamoto Teruo
Quyển sách ghi chép lại việc chuẩn bị và hoàn thành cuộc tế lễ vong linh trên biển “Mảnh đất cuối cùng nơi người cha nằm lại” mà tôi viết nhằm an ủi những kỷ niệm đầy nuối tiếc về cha mình đã được xuất bản ở Nhật Bản hơn năm năm. Tôi đã được rất nhiều người giúp đỡ trong việc chuẩn bị buổi lễ tế vong linh trên biển ngoài khơi tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Những người bạn thân thiết đã giúp tôi tìm kiếm vị trí tàu chìm, xin giấy phép Hải quân cũng như chuẩn bị thuyền để ra đến nơi. Chủ tịch tỉnh Quảng Ngãi và những người liên quan đã tổ chức tiệc đón tiếp cũng như chuẩn bị vòng hoa cho buổi tế lễ vượt ngoài mong đợi của tôi khiến tôi cảm động vô cùng sâu sắc. Sau khi hoàn thành buổi lễ tế và quay trở về Nhật Bản, tôi luôn day dứt muốn làm một điều gì đó để cảm tạ người dân Quảng Ngãi. Tôi bàn với những người ở Hiệp hội hữu nghị Việt Nam – Nhật Bản và quyết định xây một trường Mầm non cho tỉnh Quảng Ngãi. Sau đó, trong một năm tôi đã quyên góp được ba trăm năm mươi vạn yên (tương đương bảy trăm triệu đồng) từ hơn ba trăm người và trao số tiền này cho đơn vị thi công. Vào tháng 12 năm 2015, việc xây cất trường mầm non ở xã Tịnh Ấn Đông, tỉnh Quảng Ngãi hoàn thành và tôi cũng tham dự lễ khánh thành. Mặc dù trời mưa nhưng có rất đông người đến tham dự. Trên băng khánh thành có ghi “Trường Mầm non này được xây dựng trong tình yêu thương hữu nghị Việt – Nhật. Tôi mong những em bé học ở đây tương lai sẽ trở thành những người bắc nhịp cầu hữu nghị Việt Nam và Nhật Bản” và trường được lấy tên là trường “Nhịp cầu” (架け橋 Kakehashi). Phòng ốc rộng rãi như sẵn sàng đợi chờ các em vào nhập học. Trường được hoàn thành nhờ vào thiện ý quyên góp của nhiều người dân Nhật Bản, sự giúp đỡ của nhiều người tình nguyện và ý tưởng của các thầy cô giáo trong trường. Tôi thực sự mong mỏi các em sẽ được nuôi dạy mạnh khỏe, trở thành người bắc nhịp cầu hữu nghị hai nước trong tương lai. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt thành của ông Hoàng Long mà quyển sách này được dịch sang tiếng Việt để nhiều người có thể tìm đọc, khiến tôi rất lấy làm vui mừng. Nhân dịp tái bản, cùng với việc đưa vào các tư liệu hình ảnh buổi khánh thành trường Mầm non, tôi cũng mong muốn sẽ có nhiều người tìm đọc quyển sách để suy ngẫm về sự tàn khốc của chiến tranh cũng như cầu nguyện cho hòa bình. Viết tại Nhật Bản Nakamoto Teruo Mời các bạn đón đọc Mộ Bia Giữa Biển - Mảnh Đất Cuối Cùng Nơi Người Cha Nằm Lại của tác giả Nakamoto Teruo.
Con Kỳ Lân Cuối Cùng - Peter S. Beagle
Đầu xuân năm nay, (1973), tôi được anh bạn thân trao cho cuốn THE LAST UNICORN với lời giới thiệu trước rằng đây là một trong những best-sellers hiện thời. Tôi vốn không tin cẩn những best-sellers nên cũng chỉ hững hờ đọc mươi trang đầu, nhưng rồi kế đó tôi đọc miết mải và đọc kỹ. Peter S. Beagle là một trong những tác giả Tây Phương hiếm hoi thấu hiểu tinh thần Dịch lý âm trung chi dương, dương trung chi âm, và tinh thần phá chấp, vô cầu cực kỳ thanh thoát của Thiền. Tôi dịch THE LAST UNICORN với một tinh thần tri kỷ. Hãy xin ghi chú rất nhanh quan điểm dịch của tôi. Tôi muốn tác phẩm được thật gần gũi với độc giả Việt Nam, nên chủ trương dịch thật thoát nghĩa. Rất nhiều khi tôi phải thêm lời vào cho tròn trịa ý của nguyên tác, và cũng đôi khi tôi tước bỏ đi một vài ý nhỏ xét ra chỉ làm rườm lời tối nghĩa với độc giả Việt Nam. Đặc biệt những bài thơ, những bài đồng dao trong tác phẩm, hầu hết tôi chỉ giữ lấy ý chính, còn hoàn toàn sáng tác lại theo lời Việt, tinh thần Việt. Tất cả những thay đổi nhào nặn nhỏ đó chỉ để phục vụ nguyên tác, luôn luôn theo sát nguyên tác về ý, cũng như về giọng điệu. Đặc biệt cách viết và trình bày đối thoại, tôi cố ý giữ đúng theo dáng dấp nguyên bản, vì đó là nét đặc biệt của văn chương Anh ngữ mà tôi muốn chúng ta làm quen dưới hình thức Việt ngữ. Còn về nội dung CON KỲ LÂN CUỐI CÙNG - THE LAST UNICORN ra sao đây? Tôi không dại gì tiết lộ trước tình tiết câu truyện ra đây để các độc giả mất thú bất ngờ, chỉ xin ghi mấy cảm nghĩ nhân đọc và dịch CON KỲ LÂN CUỐI CÙNG mà nẩy sinh. Những cảm nghĩ rất rời rạc, tôi cố ý vậy và cũng chẳng thể nào khác hơn, nhưng khi các bạn đọc xong tác phẩm những cảm nghĩ rời rạc đó sẽ kháp lại thành một hệ thống tô đậm mang nhiều ý nghĩa hơn. Xin được tuần tự nêu như sau đây: - Kỳ lân, lý tưởng chân thiện mỹ, nay với người đời chỉ còn là một huyền thoại thôi hay sao? Có thực người đời ngày nay sa đọa đến nỗi không những quay đi, mà còn cười mũi vào những gì là lý tưởng chân thiện mỹ, nhìn con kỳ lân cuối cùng mà cho là con ngựa cái trắng? Biết kính trọng kỳ lân, mỉa mai thay, lại là lũ gà, vịt, ngan, ngỗng, và bất kỳ con vật lớn nhỏ nào. Nhận được ra kỳ lân chỉ có mấy người: Schmendrick và Molly vốn yêu kỳ lân; Bà Má Định Mạng và Vua Haggard, kẻ thì muốn dùng kỳ lân như phương tiện, kẻ thì muốn độc quyền kỳ lân. Kể ra giữa đám người trần mắt thịt nhìn kỳ lân ra ngựa cái, thì kẻ nhận ra kỳ lân, dù với tâm trạng nào, cũng vẫn là những cặp mắt tri kỷ. Có điều Bà Má Định Mạng ở vào trường hợp tài bất cập chí, thực tội nghiệp, như đứa trẻ cố sử dụng cây trùy lớn hơn mình và bị trùy đè bẹp. Giá trị phù phép của Bà Bá Định Mạng nhẹ như hình nộm mà lại nhốt giữ hai trái núi Thái Sơn của Thiện (lân) và của Ác (ác điểu Celaeno). Bùa phép chỉ là thứ bụi phấn vô cùng mong manh phủ ngoài, khi được tự do, những thứ thiệt cỡ lớn đó chỉ sẽ rùng mình là phủi đi hết, có còn gì nữa đâu. Sự thực nung chảy tà thuyết. Bi kịch của những kẻ tài bất cập chí, đi vào tà đạo lừa người và tự lừa mình bằng ảo thuật là ở đó. Chúng ta há chẳng đương sống trong thời đại yêu thuật của tuyên truyền chính trị? Vua Haggard mới đích thực là phù thủy thứ thiệt đại diện cho Ác, kẻ muốn độc quyền kỳ lân, kẻ có một chính sách vô úy, dùng Con Bò Mộng Đỏ làm phương tiện khủng bố, đẩy hiệu năng tới mức vô tiền tuyệt hậu. Chỉ còn chút xíu nữa, bắt nốt con kỳ lân cuối cùng, là ông ta làm bá chủ, dìm cả thế giới vào vùng ảo thuật đen của ông, trong đó tất cả những vì sao lý tưởng đều bị dập tắt ngấm. Trong thế cheo leo chỉ còn đường tơ kẽ tóc đó, phải làm thế nào để cứu mình và cứu người? Thực ra chẳng ai cứu nổi mình, nếu mình không có ý chí tự cứu mình trước. Điều này chẳng mới lạ gì, nhưng không vì thế, mà chúng ta không nhắc nhở luôn, khi có dịp. Trí nhớ con người nào hơn gì thỏ, dao năng mài mới sắc. Vai trò của chàng ảo thuật gia tưởng như nửa mùa, Schmendrick là ở đó. Chàng là hiện thân của nếp sống nghệ sĩ, chân thành trong thiên nhiên, tiên tri tiên giác dưới hình thức lẩm cà lẩm cẩm, đã dạy ta một cách trọn vẹn nhất về cái nhìn toàn diện và nếp sống vô cầu. Kỳ lân tiếc nuối khi phải trở về với bất tử, Schmendrick tràn trề hạnh phúc khi được trở lại kiếp phù du có sống có chết, nhưng chính vì có sống có chết mà trở thành sống động và quyến rũ muôn vàn, trong đó thiện ác đều có vai trò của chúng. Cái nhìn sâu sắc nhất của Peter S. Beagle chính là ở điểm này. Tình yêu tất nhiên có sự hiện diện và đóng giữ vai trò tích cực lớn lao của nó. Nếu như con kỳ lân cuối cùng không qua kinh nghiệm làm người có sống có chết, có tình yêu trong cõi vô thường, con kỳ lân tất cũng bị dồn nốt xuống biển để cho vua Haggard hoàn toàn làm chủ thế giới bằng thứ ảo thuật đen của ông, dưới trướng là thứ phương tiện vô biên, sự khủng bố của Con Bò Mộng Đỏ. Chính tình yêu là điểm le lói cuối cùng nổ tung thành cả một vùng hào quang cứu lấy thế giới chỉ còn cách sự diệt vong có đường tơ kẽ tóc. Lý tưởng đơn thuần cao vòi vọi của kỳ lân vẫn có thể bị con Bò Mộng Đỏ dễ dàng nhận chìm, nhưng tình yêu thì không, dù là chỉ là một điểm nhỏ. Tình yêu thắp bừng ngọn đèn bất úy, điều kiện cần và đủ để thắng Khủng Bố dưới mọi hình thức mà cứu lấy thế giới này. Cái Ác luôn luôn còn đó. Cái Ác không bao giờ bị tiêu diệt. Chỉ có chúng ta là có thể bị tiêu diệt nếu để mất tình yêu. Đó là bức thông điệp tác giả CON KỲ LÂN CUỐI CÙNG muốn để lại cho chúng ta. Tất cả tình tiết truyện, nhân vật truyện, đối thoại, đều như xuất hiện trong một giấc mộng bàng hoàng, không hẳn là ác mộng mà chìm đắm miên man trong suy tư cho tới khi bừng tỉnh giữa ánh sáng, âm thanh, và hình ảnh quen thuộc thường nhật. Thoạt vào truyện, quả tình, chúng ta có cảm tưởng như thế giới ngày nay hết chỗ cho kỳ lân, sau đó mới hay chẳng phải thế đâu. Mê có thể trải nhiều kiếp, nhưng ngộ có thể chỉ trong sát na liền. Thiện - Ác, Phúc - Tội chẳng hai! Như nước kia, gió thổi động thì thành sóng, gió dứt, sóng vẫn là nước, cũng là ý trong Pháp Bảo Đàn kinh mà ra. Nhưng tuổi trẻ nào cũng khao khát được chiêm ngưỡng lý tưởng tuyệt đối, được ôm ấp, được thờ phụng cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ tuyệt đối. Đành vậy chứ biết sao bây giờ. Tam thập nhi lập, tứ thập nhi bất hoặc, ngũ thập tri thiên mạng. Đường đời là thế, chẳng thể đốt giai đoạn được. Điều thành công - điểm cuối cùng tôi muốn ghi nhận nơi đây - của tác giả CON KỲ LÂN CUỐI CÙNG là đã khiến chúng ta phải lúng túng một cách đáng yêu khi đọc truyện này, lúng túng trong việc loay hoay tìm cách đặt những hình ảnh tượng trưng trong truyện sao cho khít khao với những hình ảnh ngoài đời. Ta cứ phải loay hoay hoài, nghĩa là phải suy nghĩ hoài, vì có cái gì trong lý tưởng tìm được chỗ nằm khít khao ngoài thế giới thực tai đâu. Tìm tòi, suy nghĩ hoài, thấy được một ít, tiếp tục tìm tòi suy nghĩ... Một tác phẩm mà đặt được những câu hỏi, những vấn đề vừa đứng đắn vừa ỡm ờ, vừa rõ ràng, vừa huyền ảo như vậy, ta còn đòi hỏi gì hơn? DOÃN QUỐC SỸ *** Peter S. Beagle sinh tại New York năm 1939. Ông tốt nghiệp Đại học Pittsburgh năm 1959 và hành nghề viết báo chuyên nghiệp. Suốt một thập niên viết báo và tiểu luận cho các tạp chí, ông chuyên trách nhiều lĩnh vực, từ đá gà tại Bắc Carolina cho đến Chiến dịch người nghèo ở Washington D.C. Từ giữa thập niên 1970, ông viết kịch bản cho điện ảnh và truyền hình, trong đó có một phần của bộ phim khoa học viễn tưởng nổi tiếng Cuộc du hành giữa các vì sao (Star Trek) và phim hoạt hình dựa theo tiểu thuyết Chúa nhẫn (Lord of the Rings). Hai tiểu thuyết đầu tay của ông vẫn tiếp tục được in lại cho đến nay và xếp vào loại “kinh điển” của thể loại truyện bestseller. Tiểu thuyết Con kỳ lân cuối cùng (The Last Unicorn) được chuyển thành phim hoạt hình năm 1982, còn Một nơi đẹp đẽ riêng tư (A Fine and Private Place) được chuyển thành nhạc kịch. Năm 1993, vở opera Thiên thần nửa đêm (Midnight Angel) được dựng dựa theo truyện ngắn Khiêu vũ với thần Chết (nguyên tác: Come Lady Death) của ông. Mời các bạn đón đọc Con Kỳ Lân Cuối Cùng của tác giả Peter S. Beagle.