Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Cát Cháy

"Cát cháy" viết trực diện về chiến tranh, về cuộc chiến đấu của quân ta với quân địch, mà quân ta ở đây là những đứa trẻ của đội du kích thiếu niên ở Cô Sơn. Từ đây, tác giả đã viết nên một câu chuyện cảm động về sự can đảm, lòng quyết tâm, về tình bạn, tình đồng đội, tình thân vô cùng chân thực, dung dị. Chiến tranh còn nóng hổi mùi bom đạn, với những cuộc càn quét, dồn dân ráo riết của quân địch, nhưng ở đó có những đứa trẻ không sợ đánh giặc. Từ nhỏ đã ý thức được cần phải tham gia vào chiến tranh, phải bền gan bền chí chiến đấu với kẻ thù, để không bị bạn bè chê cười, và để cùng giúp sức với các chú bộ đội lớn hơn. Tuổi nhỏ mà kiên gan, như Ba, như bé Một, như Thấn... và rất nhiều những đứa trẻ khác nữa. Theo dõi hành trình hàng ngày giữa bom đạn ác liệt của những đứa trẻ này, người đọc vừa cảm phục vì sự thông minh, dũng cảm của chúng, lại vừa thót tim, lo lắng mỗi khi thấy chúng đối diện với hiểm nguy. Sự hy sinh của bé Một, cô bé giao liên tháo vát, nhanh nhạy và can đảm đã khiến cho mỗi đứa trẻ sững sờ. Chứng kiến cái chết của cô bạn nhỏ thân thiết, cô đồng chí anh hùng, mỗi đứa trẻ đều như lớn lên, trong đó người chịu tác động nhiều nhất là cậu bé Ba. Ba và Một đã cùng lớn lên và có những kỷ niệm thân thiết với nhau. Tác giả đã dành cho Ba và Một những trang văn vô cùng thơ mộng giữa bom đạn, để dệt nên những khoảnh khắc kỷ niệm đẹp đẽ của hai người bạn, hai người anh em, và đâu đó, tưởng như đã nhen nhóm những rung cảm sâu kín lạ lùng. “Từ phía bờ sông, có một mùi hương như mùi hương hoa dủ dẻ phảng phất theo làn gió bay vào. Mùi hương như tâm hồn con người, qua chiến tranh còn bền vững hơn chính bản thân sự sống của mỗi con người”. Mùi hương ấy, có lẽ Ba sẽ còn giữ mãi, để nhớ về Một. Và sự ra đi của Một khiến Ba trưởng thành hơn, và càng vững tin hơn nữa vào lý tưởng mà mình đang đi. Trong buổi lễ kết nạp thành viên mới của đội du kích thiếu niên, những đứa trẻ để tưởng nhớ về người đồng chí nhỏ nhắn Huỳnh Thị Một đã quyết định lấy tên cô bé đặt cho Đội. Câu chuyện ấy buồn bã nhưng cảm động đến chừng nào. Những đứa trẻ chiến đấu trong Cát cháy của nhà văn Thanh Quế, gợi nên biết bao nhiêu hình ảnh trẻ thơ đẹp đẽ kiên ngang trong chiến trường, như Lượm, Mừng, Quỳnh sơn ca trong Tuổi thơ dữ dội của Phùng Quán, hay cậu bé Gavroche trong Những người khốn khổ của văn hào Victor Hugo, hay cậu bé Ivan trong bộ phim Ivan's Childhood của đạo diễn nổi tiếng người Nga Andrei Tarkovsky... Chiến tranh và trẻ thơ vốn dĩ là hai phạm trù hoàn toàn trái ngược nhau. Trẻ thơ, với sự hồn nhiên, thơ ngây đáng lẽ nên được hưởng một đời sống yên bình, hạnh phúc, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy ra, và mỗi đứa trẻ, vẫn có thể trở thành những người anh hùng. Như những chú lính chì dũng cảm, chúng vượt qua sợ hãi, vượt qua mất mát, để sống cuộc đời phải sống. Mỗi nhà văn khi viết về trẻ con trong chiến tranh, đặc biệt khi chứng kiến khoảnh khắc ngã xuống của chúng, đều như trầm lại, ngậm ngùi, và đầy đau thương. Tác giả Thanh Quế đã có được những trang văn vô cùng cảm động, chân thành và dung dị về những đứa trẻ sống trong thời đại khói lửa buồn thảm ấy. Dù viết về một cuộc chiến trực diện, nhưng văn của Thanh Quế, vốn cũng là một nhà thơ, lại vô cùng mềm mại, uyển chuyển, và đầy những tâm tư. Ông đi sâu vào suy nghĩ trăn trở của mỗi đứa trẻ, như Ba, dù rất dũng cảm, luôn quyết tâm hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ, nhưng trong lòng luôn đau đáu một nỗi buồn về người mẹ của mình. Như Thấn, vô cùng thông minh, nhưng lại luôn lo lắng sẽ thua kém bạn bè, bị bạn bè coi thường.... Và hơn hết, tác giả đã viết nên một khúc ca đẹp về tình bạn, tình đồng chí, tình thương mến giữa những đứa trẻ với nhau. Chúng tự đến bên cạnh nhau, an ủi, khích lệ, vun đắp và giúp nhau trưởng thành. Tác phẩm của Thanh Quế hôm nay đọc lại còn thấy vẫn nguyên cảm giác rùng mình vì sự phá hủy của chiến tranh, và vẫn thấy rưng rưng lòng bởi những mất mát, những khổ cực và chân tình mà những đứa trẻ dành cho nhau. Chuyện chiến tranh khép lại được chưa? Có lẽ, ở xứ sở đã chìm trong chiến tranh lâu đến thế, mất mát nhiều đến thế, chuyện chiến tranh vẫn chưa thể khép lại. Tiểu thuyết Cát cháy của Thanh Quế  được lấy chất liệu từ những hoạt động chân thật của Đội du kích thiếu niên Hòa Hải, vùng chân núi Ngũ Hành Sơn, giàu truyền thống cách mạng và văn hóa, vào những năm kháng chiến chống Mĩ ác liệt. Tập sách đã được giải nhì (không có giải nhất) của Hội Nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981 và là một trong hai tác phẩm đoạt giải thưởng Nhà nước năm 2012 của nhà văn Thanh Quế… Nhà văn Thanh Quê vốn quê gốc ở Phú Yên. Tại đây ông còn mẹ già và các em gái. Nhưng ngay sau chiến tranh ông sống ở thành phố Đã Nẵng, nơi ông đã gắn bó và cầm bút gần nửa thế kỉ qua. Đà Nẵng chính là quê hương thứ hai nơi lưu giữ những hồi ức sống động bi thương và đẹp đẽ nhất của cuộc đời nhà văn. Ông từng là học sinh miền Nam ra Bắc học ở trường học sinh miền Nam số 24 Hà Đông, rồi vào học khoa sử Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1969 ông vào công tác ở chiến trường khu V. Hiện nay ông là Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam, Tổng thư ký Hội Nhà văn Đà Nẵng. *** Thân tặng đội thiếu niên du kích Hòa Hải NHÀ THƠ THANH QUẾ Tên thật: Phan Thanh Quế. Sinh ngày 26/2/1945, tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên, trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha là bác sĩ, lão thành cách mạng. Mẹ và các em đều tham gia cách mạng, có người là liệt sĩ, có người là thương binh nặng. Hồi nhỏ học ở trường làng. Từ năm 1955 đến năm 1963  tập kết ra Bắc, học tại các trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Từ 1963 đến 1967, học khoa sử, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Từ năm 1967 đến năm 1969 là cán bộ Nghiên cứu, Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương. Từ 1969 đến 1975 là phóng viên chiến trường, tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung trung bộ. Từ năm 1975 đến năm 1980 là cán bộ sáng tác, Trại sáng tác văn học Quân khu V. Từ năm 1980 đến năm 1983 là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ quân đội (Tổng cục chính trị, Bộ Quốc phòng). Từ năm 1983 đến năm 2009 là phó chủ tịch Hội văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng và Hội văn nghệ Đà Nẵng, Tổng biên tập tạp chí Đất Quảng và Non Nước, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (nhiệm kỳ 2000-2005). Từ năm 2009, nghỉ hưu và sáng tác tại Đà Nẵng. Là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1977 và hội viên Hội Nhà báo Việt Nam từ 1980.   TÁC PHẨM CHÍNH   Về thơ Tên em khuôn mặt em (2 tác giả), NXB Giải phóng-1975; Tình yêu nhận từ đất (3 tác giả) NXB Tác phẩm mới-1977; Trong mỗi ngày đời tôi, NXB Đà Nẵng-1986; Giãi bày, Hội Văn nghệ Quảng Nam-Đà Nẵng-1988; Khi ta giở sách ra (thơ thiếu nhi), Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên-1988; Hái tiếng chim (thơ thiếu nhi), NXB Đà Nẵng-1991; Những tháng năm vay mượn, NXB Đà Nẵng-1993; Mé biển đời tôi, NXB Hội nhà văn-2000; Người lính đi đầu (trường ca), NXB Quân đội Nhân dân-2003; Thơ Thanh Quế với tuổi thơ, NXB Kim Đồng-2004; Những tháng năm, NXB Quân đội nhân dân-2006; Một gạch và chuyển động, NXB Hội nhà văn-2006; Thơ Thanh Quế, NXB Hội nhà văn-2008; 72 bài thơ chọn, NXB Hội nhà văn-2012; Nơi phòng đợi, NXB Quân đội nhân dân-2006; Tuyển thơ; NXB Văn học-2016. Về văn xuôi Chuyện từ một truyền thuyết (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1978; Thung lũng Đắc Hoa (truyện ngắn 2 tác giả),NXB Phụ nữ-1980; Cát cháy (tiểu thuyết) NXB Kim Đồng -1983; Mai (truyện ngắn ), NXB Phụ nữ-1988; Người khách lạ (truyện ngắn), NXB Đà Nẵng-1990; 11 truyện ngắn, NXB Đà Nẵng-1994; Về Nam (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Đà Nẵng-1996; Những gương mặt thân yêu (chân dung văn học), NXB Kim Đồng-1996; Bếp lửa làng Tà Băng (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-1998; Hai người bạn (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-1998; Những kỷ niệm, những gương mặt (hồi ký, chân dung), NXB Đà Nẵng-2001; Từ những trang đời (hồi ký, chân dung văn nghệ), NXB Hội nhà văn-2001; Bà mẹ vui tính (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2002; Sao anh lại cảm ơn tôi (truyện ngắn), NXB Quân đội nhân dân-2002; Truyện và ký chọn lọc, NXB Hội nhà văn -2003; Dì Út (truyện ngắn), NXB Kim Đồng-2003, Thj trấn em kết nghĩa (truyện và ký), NXB Kim Đồng-2005; Ở giữa thời gian (truyện và ký), NXB Đà Nẵng-2007; Tuyển truyện Thanh Quế-chuyện ở miền Cát cháy, NXB Đà Nẵng-2009; Kẻ đào ngũ (tập truyện), NXB Quân đội nhân dân-2013; Tuyển truyện ngắn Thanh Quế, NXB Hội nhà văn -2011; Gương mặt và cảm nhận (chân dung văn học), NXB Đà Nẵng-2013; Ký và chân dung chọn, NXB văn học-2015; Hai người đàn ông và một người đàn bà (truyện), NXB Quân đội nhân dân-2016. Giải thưởng chính  Cát cháy (tiểu thuyết), giải nhì (không có giải nhất) của Hội nhà văn Việt Nam và Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh năm 1981; Những tháng năm vay mượn (tập thơ), giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994; Giải thưởng loại A hai lần (1975-1985) và (1985-1995) của UBND Quảng Nam-Đà Nẵng cho các tác phẩm trong giai đoạn. Bếp lửa làng Tà Băng (tập truyên), tặng thưởng của Bộ Quốc phòng năm 2000; Người lính đi đầu (trường ca), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (1997-2005) của UBND thành phố Đà Nẵng; Một gạch và chuyển động (tập thơ), giải nhì (không có giải nhất) giải thưởng văn học (2005-2010) của UBND thành phố Đà Nẵng; Tiểu thuyết Cát cháy và tập thơ Một gạch và chuyển động, giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012. *** B a đứng sững trước sân, ngó trân trân vào ngôi nhà tranh thủng dột quen thuộc của mình. Nhà vắng tanh, cửa khép hờ, bên ngoài dựng một chiếc nia cũ. Chắc ông nội và mẹ vừa đi đâu đó.Trong một phút, những tình cảm trái ngược bỗng ùa đến: Ba vừa muốn gặp ông, gặp mẹ ngay cho đỡ nhớ, vừa muốn hai người về chậm lại để mình có thời gian sắp xếp mọi ý nghĩ đang bề bộn trong đầu. Ba cảm thấy vừa vui vừa lo. Ba đứng thẫn thờ một chút, sau đó, run run mở cửa bước vào nhà, hồi hộp nhìn khắp lượt những đồ vật như bao người đi xa về. Mọi thứ trong nhà: từ chiếc ảnh cha ố vàng trên bàn thờ, đến cái ghế, cái bàn, chiếc giường ọp ẹp, cả cánh cửa mở thông vào buồng trong không đóng lại bao giờ, vốn có ở những nhà nghèo, vẫn như cũ, mà lại không phải như cũ. Một mùi mốc thường có ở những ngôi nhà vắng chủ lan ra phả vào mũi Ba. Ba đứng lặng một chốc, cố nhớ lại một điều gì đó đã quên bẵng đi từ lâu. Nhưng mọi ý nghĩ cứ bay tuột khỏi đầu Ba. Hai ngày đêm đi đường, ngủ bờ ngủ bụi làm cho Ba mệt đừ, người bã ra, không còn cảm giác chính xác nữa. Ba lần đến chiếc chõng tre ông vẫn nằm, đặt mình lên chiếc chiếu rách đầy cát. Một cái gì đó không rõ tên cứ chạy rần rần từ đầu ngón chân lên mí mắt. Ba nhắm mắt lại. Lập tức những âm thanh mơ hồ quen thuộc bỗng rì rào xung quanh. Có thể đó là tiếng rắc rắc của mối mọt đang ăn cột kèo trong bóng tối trên đầu mình; có thể là tiếng gió nhẹ nhàng thổi cát trên cồn Quy sau nhà, bước chân mẹ đi lại sắp đặt đồ đạc gì đó trong đêm, ông khục khặc ho, những tiếng mơ hồ lan lan trong giấc ngủ không ai cắt nghĩa nổi, chỉ có ở những miền quê yêu dấu.  Một tiếng động ở đầu hè làm Ba bừng tỉnh. Không kịp nghĩ, Ba bò ngay xuống gậm giường, nằm im. Chốc nữa, ông hay mẹ bước vào, Ba sẽ chồm ra hù lên một tiếng. Ông thế nào cũng cười khà khà, nói: “Tổ cha mày, tao già nhưng thần kinh tao vẫn còn vững lắm”. Còn mẹ đứng sững lại, tay sờ nơi tim như xưa nay mẹ vẫn vậy khi sợ hãi điều gì. Nhưng một lúc lâu, Ba chẳng thấy mẹ hay ông bước vào nhà. Có lẽ, phải tối mịt hai người mới về. Ba lại leo lên giường, nằm mường tượng ra lúc gặp gỡ. Hẳn lúc đó, ông hỏi: “Tại sao cháu về ?”. Ba nói: “Cháu thích đánh Mỹ”. Ông nói “được” rồi ngồi im như tảng đá. Mẹ chắc càu nhàu. Nhưng mẹ sẽ cho Ba ăn một bữa bánh tráng cá ngừ thật ngon. Mẹ vừa ngồi cuốn bánh đưa tới tấp cho Ba, vừa âu yếm nhìn đứa con trai có khuôn mặt bầu bầu da sạm đen, mắt sáng, người chắc nịch như cha nó mà thầm lo nay mai nó sẽ ra sao. Ba ngồi với ông và mẹ một chút rồi chạy đi tìm bọn thằng Thấn, con Một.Tụi nhỏ thế nào cũng xúm xít lại bắt Ba kể chuyện chiến khu cho chúng nghe. Tất nhiên, Ba sẽ thuật lại mọi chuyện mà chị Bốn cấp dưỡng đã kể cho Ba nghe. Đó là chuyện anh Năm Cần ở văn phòng huyện ủy. Năm 67, bọn Mỹ càn căn cứ. Bắn hết đạn, các anh các chị rút sâu vào hang đá. Chúng truy kích theo. Anh đã đứng nấp ở cửa hang. Cứ mỗi tên mò vào, anh lại dùng báng súng gõ một cái cốc vào đầu nó rồi hất xác ra. Đó là chuyện chị Sáu Úc làm quản lý ở hội phụ nữ. Một hôm, đi cõng gạo về, nước sông Trà Ly lớn quá, cuốn băng chị cùng gùi gạo. Chị em tìm suốt hai ngày không thấy, đã làm lễ truy điệu chị. Giữa chừng, chị trở về, người ướt át, đứng ở đầu hè ngó vào nhà, tưởng ai đó vừa mất, khóc òa. Chị em quay lại, “ồ” lên, rồi đang khóc, họ xông đến đấm vào lưng chị bình bịch, cười khúc khích. Đó là anh Tám Nghề ở cơ quan binh vận. Một lần, địch vây cơ quan, mọi người trốn vào rừng sâu, đói vàng mắt. Đêm đến, anh bò qua đầu giặc đi nhổ sắn. Khi mang gùi sắn nặng trở lại bìa rừng, anh bị vấp đá, gây ra tiếng động. Một thằng ngụy ngồi phục, hẳn đang ngủ gật, giật mình hỏi: “Ai đó”. Anh nói: “Ông tổ nội mày đây” rồi cười hê hê phóng nhanh vào rừng, mặc cho chúng nổ súng theo. Sau đó, Ba sẽ thêm vào: trên đó có nhiều cọp lắm, mặc dù Ba chưa từng thấy. Đêm đêm, nó gầm lên, núi đá chao qua chao lại như bị bom B.52. Một lần, bước ra cửa hang, gặp con cọp to bằng con bò ụ, Ba nổ một phát súng, nó gãy một chân, bỏ chạy, xô đổ tảng đá bằng cái nhà. Một con trăn to vung mình làm cho nước sông Trà Ly trước cơ quan Ba sủi ục ục. Nhưng Ba cùng chị Bốn dùng một sợi sắn dây, cột nó, kéo về nấu cháo bồi dưỡng cho cả cơ quan mấy ngày liền. Bạn bè nghe chuyện sẽ phục Ba lắm. Thằng Thấn hẳn xuýt xoa, chặc lưỡi, vỗ đôm đốp vào đầu vì nó không được biết những chuyện như Ba. Còn con Một thì khỏi phải nói. Ba kể tới đâu, nó sẽ “a” lên tới đấy, mắt trợn ngược. Ba bỗng thấy buồn cười trước những khuôn mặt ngơ ngác của bạn bè mà Ba đã tưởng tượng ra. Rồi Ba cười thật. Ba bụm miệng cười hặc hặc một mình .   Một lúc sau, Ba lại thiếp ngủ…Nước sông Trà Ly bỗng sôi lên, đổ ầm ào qua con thác kề bếp ăn của cơ quan. Ba thấy mình ngụp lặn trong dòng nước mát, vẫy tắm thỏa thích sau hai ngày đi đường trở về nhà. Chị Bốn cấp dưỡng bảo Ba tắm mau lên để đem cơm cho chú Chín. Bưng cơm, Ba vấp phải hòn đá, mâm cơm đổ nhào xuống đất, ông nội hiện ra bảo: “Người nào quẹo quẳng, họ chẳng ưa đâu”. Chính lúc đó, mẹ “á” lên vì một phát rốc két của thằng máy bay OVI0 bắn xuống bên kia bờ Trà Ly, khi thấy chị Bốn cầm một mụn măng. Máu loang đỏ… Khi Ba tỉnh dậy thì mặt trời đã lặn, chỉ để lại trên dãy núi phía căn cứ một vầng ráng đỏ. Ba nhảy ra sân, vươn vai mấy cái rồi như ngày nào, Ba vòng phía sau nhà, phóng lên cồn Quy. Đứng ở đây, Ba có thể nhìn khắp một vùng rộng lớn trong xã. Cồn cát giống chiếc mai rùa, rộng chừng nửa cây số vuông này ngăn xã ra làm đôi. Nửa phía nam là cánh đồng đất cát pha chạy từ mí đường tỉnh lộ (đường này làm ranh giới phía tây của xã với các xã bạn) xuống phía đông, giáp với một cái làng hoang người ta gọi là Cô Sơn. Bên kia cánh đồng là con sông Bãi Dài, làm ranh giới phía nam của xã với các xã bạn, chằng chịt những lạch nhỏ, sáng lấp lánh đang đổ về phía biển. Ở nửa xã phía bắc, xen giữa những xóm làng xanh biếc bóng dừa bóng dương là những cồn cát to nhỏ. Chẳng biết từ lúc nào, hẳn người ta đặt tên theo hình dáng hay những nhà ở gần chúng, mà chúng có tên: cồn Kinh, cồn Nhà Lập, cồn Thằn Lằn, cồn Du. Trên một số cồn cát ấy, bọn Mỹ đã dựng lên những ngôi nhà tôn, những trạm gác. Cứ chiều đến chúng bắn những phát pháo sáng nghe “phụp phụp” và tiếp liền sau đó là những quả cối nổ oạch oành. Tít xa kia, sau những làng xóm, năm ngọn núi của cụm Ngũ Hành Sơn nhô lên như năm mái nhà in trên nền trời chiều mờ tím. Ngày nào, Ba đã cùng các bạn leo lên núi Non Nước (một ngọn của Ngũ Hành Sơn) thăm chùa, chơi trò trốn tìm trong các hang đá vôi hoặc rủ nhau vào hang Âm Phủ thả những quả bưởi non, để rồi, sau đó nhảy ùm xuống biển nhặt lại. Ngày nào, Ba cùng các bạn giả người mang lễ vật lên chùa, gánh vũ khí cho đơn vị anh Phan Hành Sơn (1) diệt đại đội Mỹ đóng trên chóp núi. Bây giờ, những khẩu pháo Mỹ đứng nghễu nghện trên các đỉnh núi trông như những con quái vật khổng lồ. Lâu lâu, chúng rướn cái cổ dài ngoẵng lên hét ầm ầm. Một rừng dương như bức tường xanh chạy từ Đà Nẵng vào Hội An ngăn cách xã Ba với mép biển, làm cho mặt biển cứ lúc ẩn lúc hiện như chơi trò trốn tìm. Ba đứng nhìn khắp xã một lúc rồi cởi áo, vắt vai, ngồi bệt xuống cát, hướng mặt về phía biển đón những làn gió mát rượi. Bỗng nhiên, Ba đứng bật dậy nghiêng tai lắng nghe như có ai vừa khẽ gọi tên mình. Làn gió mát vừa đi qua mang đến cho Ba mùi hương thoang thoảng như mùi đào chín sau một ngày nắng to. Có một cái gì đó, cứ ẩn ẩn hiện hiện ở đâu đó, như đã từng quen thuộc lâu rồi, như mãi mãi mới lạ mà ta phải tìm kiếm để gặp. Ba hít mùi hương vào lồng ngực, thẫn thờ một chút và nhận ra, đó là mùi hương của hoa dủ dẻ, loài hoa đậu trên những thân cây bé nhỏ, lá dày và cứng, rễ bám chặt vào mặt cát nóng bỏng của quê hương… – Ê nhóc mày về lúc nào? – Một người nào đó có giọng oang oang hỏi Ba ở phía sau. Ba quay lại thì thấy một anh người thấp thấp, to ngang, đôi tay săn như cái bắp chuối, dáng đi khuỳnh khuỳnh đang sóng bước bên một chị bé nhỏ, tóc dày và dài. Trông hai người thật không xứng đôi tý nào. Thế mà họ mê nhau. Đó là anh Bảy Kim và chị Hai Soan. Bảy Kim đã trên ba mươi tuổi mà chưa có vợ, anh không thích trẻ con gọi là chú mà gọi bằng anh. Bảy Kim là xã đội phó đánh giặc rất hăng nhưng chẳng hiểu vì sao Ba không thích. Có lẽ anh hay véo tai bẹo má Ba và các bạn. Trong những lần đi tắm biển, hễ thấy Bảy Kim là bọn trẻ vù chạy. Anh thường đứng tắm cách xa bọn trẻ, biến mất trong những lớp sóng trùng điệp rồi đột nhiên hiện lên bên một đứa trẻ nào đó, kéo chân nó, dìm cho nó uống nước rồi tung nó ra cười hê hê. Ba trả lời cộc lốc: – Mới về. – Mày biết chuyện gì xảy ra trong nhà mày chưa? – Chưa. Tui mới về hồi xế đây mà. Anh ta cười hố hố: – Cái nhà mày có phúc thiệt. Chồng chết, cha bị bắt, vợ ngại ác liệt vào Đà Nẵng làm đĩ . . . hố hố. Anh ta ngúc ngoắc đầu rồi kéo chị Soan về phía rừng dương liễu. Ba muốn chạy theo hỏi cho rõ sự việc nhưng có cái gì níu chân Ba lại, chôn chặt xuống cát. Cái giọng cười nói sống sượng của anh Bảy Kim làm Ba vừa buồn tức vừa xấu hổ. Cách đây sáu tháng, vào một ngày mưa cuối năm 1968, cha Ba, xã đội trưởng nổi tiếng của xã này đã hy sinh. Trong nhà Ba mọi việc lâu nay ngỡ êm xuôi bỗng xáo trộn lên. Hình như lúc vui sướng, mọi điều thường đến từ từ, lúc đau khổ, mọi lo toan, phiền muộn lại ập đến một lúc. Mẹ Ba ủ rũ, khóc suốt ngày. Đột nhiên, mẹ cấm Ba không được ở trong tổ du kích thiếu niên tham gia đánh giặc với các bạn nữa. Mẹ nói với Ba: “Con ạ, cái nòi chơi với lửa, có ngày cũng bị lửa thiêu. Mẹ có mình con làm giống, con cứ ở nhà, không đánh chác gì nữa”. Mẹ gặp chú Năm Hà, Bí thư xã, chị Bảy phụ trách Đội, xin đừng cho Ba làm những công việc “nguy hiểm” nữa. Mẹ bàn với ông nội gửi Ba ra Đà Nẵng cho yên. Nhưng ông bảo: – Tụi nhỏ ở đây chết hết hay sao mà mày lo quíu vậy mày? Mẹ nói dịu ngọt: – Nhà người ta có nhiều con cái nối dòng nối giống, còn cha, cha chỉ có một đứa cháu đích tôn đó, cha nghĩ coi. – Kệ nó, tao không muốn nó là đứa hèn nhát. Mẹ khóc. Ông nội cầm gậy vừa chọc bình bịch xuống đất, vừa hát: Người nào quẹo quẳng Đứa nào quẹo quẳng Họ chẳng ưa đâu Hát xong, ông nội gọi Ba: – Ba đâu, ra đây, nhìn vô mắt ông đây coi thử mày là đứa được hay đứa nhát. Ba vừa bước ra với ông, vừa nhìn mẹ đang khóc, lúng túng không biết làm sao. Một hôm, ông nội đi ăn giỗ ở Hội An, Ba cùng các bạn đi gài mìn về nhà thì thấy một chú lạ mặt đang ngồi uống nước với mẹ. Mẹ chỉ Ba nói với chú: – Con tôi đây anh Đức ạ – Rồi mẹ quay sang phía Ba – Chào chú đi con. Người kia mỉm cười: – Nghe nói cháu muốn đi bộ đội lắm phải không? – Dạ muốn. Cháu thích lắm. Nhưng sợ mẹ cháu không ưng – Thấy mẹ cười, Ba tiếp – Sợ Đội không đồng ý. – Được mẹ cháu sẽ cho cháu đi. Còn Đội chú sẽ bàn với các anh các chị. Chú cần một người như cháu. Ba mừng rơn. Điều mơ ước lâu nay của Ba là được đi bộ đội đánh Mỹ để trả thù cho cha nay đã thành sự thật. Ba nhảy vọt ra cửa, phóng lên cồn Quy, băng vào xóm để tìm bạn. Ngay lúc ấy, trước mắt Ba, bỗng hiện lên một cậu bé cũng giống như Ba, nhưng oai vệ hơn, mặc quần áo quân giải phóng, đội mũ tai bèo, nằm dưới một hầm cát, vụt đứng dậy chĩa B.41 vào một chiếc xe tăng địch, chiếc xe cháy bừng bừng. Chị phụ trách đã từng kể cho Ba nghe về anh Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ châu mai. Sau này người ta sẽ kể cho bọn trẻ rằng: Ngày xửa ngày xưa có một cậu bé tên là… Bây giờ, trở về đây, việc anh Bảy Kim vừa nói như cái tát vào mặt Ba. Có phải trước đây mẹ lừa mình lên căn cứ để mẹ tự do vào Đà Nẵng sống sung sướng không? Câu hỏi ấy cứ xoáy vào lòng Ba đau nhói. Ba đứng lặng, nước mắt ứa ra. Có tiếng bước chân ai sào sạo trên cát. Ba ngẩng lên, thấy một đứa bé thấp lũn cũn, mái đầu húi cua, đang vác một khẩu súng dài quá người. Trời ơi, thằng Tượng. Nó dừng lại bên Ba hỏi: – Anh về hồi nào? Sao lại đứng buồn vậy? – Tao mới về. Không gặp ai, tao chán quá. – Về công tác à? – Tao về ở luôn với tụi bay đây.           Tượng nhìn Ba chăm chăm rồi nói nho nhỏ, vẻ ái ngại: – Em vừa ăn cắp của tụi Mỹ được cây súng. Bây giờ em đem tặng du kích đây – Nó nhìn Ba nói tiếp – Còn anh, giờ anh đi đâu? Có đi họp thì theo em, em chỉ chỗ cho. Tối nay, các anh các chị thiếu niên họp ở làng đó. Anh đến đấy mặc sức mà vui.   (1) Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân.   Mời các bạn đón đọc Cát Cháy của tác giả Thanh Quế.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Nếu Một Đêm Đông Có Người Lữ Khách - Italo Calvino
Một cái kết mở thì rất nhiều nhà văn giỏi đã làm, nhưng một cái mở không tiến lên, thậm chí không kết, thì hình như chỉ một người như Italo Calvino mới dám biến thành trò chơi tiểu thuyết của mình. Làm cho một cuốn tiểu thuyết "đi tới" trong sự tiến triển hợp lý và đẹp đã là khó, nhưng giữ cho một cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh đứng yên ở ngưỡng bắt đầu còn khó hơn nhiều lần. Nếu một đêm đông có người lữ khách nhốt câu chuyện ngập ngừng trong vẻ tươi mới của sự khởi đầu trong suốt mấy trăm trang sách, buộc người đọc liên tục hào hứng với không ngớt những bước chân đầu tiên, dự cảm đầu tiên, đoán định đầu tiên. Cuốn tiểu thuyết từ khi ra đời đã giữ chân bao độc giả lòng vui sướng thỏa mãn ở ngay điểm xuất phát, và cũng là nguồn khai thác dồi dào cho không ít lý thuyết gia văn học nhìn thấy ở đây một trò chơi tài tình và một suy tư sâu sắc về bản chất của tiểu thuyết và văn chương. *** Đây là một tác phẩm của những sự khởi đầu, là một tập hợp bao gồm mười sự khởi đầu của mười cuốn tiểu thuyết khác nhau mà bạn không bao giờ biết được phần kết. Mười mảnh rời này được nối lại với nhau thông qua một câu chuyện mà trong đó bạn như là một người lữ khách đang làm cái công cuộc đi tìm một tác phẩm hoàn chỉnh, một văn bản thực thụ mà nó có vẻ như đang lẩn khuất đâu đó. Bằng phong cách hậu hiện đại, Italo Calvino đã phá vỡ mọi quy củ, mọi nét quen thuộc có được trong một cuốn tiểu thuyết truyền thống. Bên trong cuốn tiểu thuyết này lại xuất hiện những cuốn tiểu thuyết khác, rồi lần lượt mỗi cuốn tiểu thuyết xuất hiện bên trong đó lại bị ngắt quãng, việc ngắt quãng đó có chức năng như là một lối ẩn dụ mở rộng cho cái mỏng manh của sự bỏ lửng trong giao tiếp văn chương.   “Nếu một đêm đông có người lữ khách” là một tác phẩm hư cấu, nhưng lại có lối hành văn như thể nó là tập hợp của những bài tiểu luận. Thông qua một câu chuyện hư cấu về những câu chuyện hư cấu khác, Italo Calvino còn lồng vào đó những đoạn triết lí thâm trầm về sự đọc, sự viết, về vai trò của độc giả, của tác giả, và của sách. Ở đây, cái lằn ranh phân chia giữa độc giả, tác giả, nhân vật gần như bị xoá bỏ, người đọc cũng chính là nhân vật chính, còn tác giả cũng chính là người đọc. Có thể nói tác phẩm “Nếu một đêm đông có người lữ khách” này của Italo Calvino là một ví dụ tiêu biểu cho ý niệm “tác phẩm mở” mà Umberto Eco đã nêu ra vào năm 1962 trong tác phẩm Opera aperta (Tác phẩm mở) của mình, rằng những thông điệp trong những tác phẩm hoàn toàn mập mờ và những người thưởng thức tác phẩm, tức những người đọc, phải tham gia một cách chủ động hơn vào quá trình diễn giải và sáng tạo. *** Italo Calvino (1923–1985) tại Santiago de Las Vegas (Cuba), là nhà văn hậu hiện đại người Ý. Ông là con của hai nhà thực vật học Mario Calvino và Evelina Mameli (cháu của Goffredo Mameli) và em trai của Floriano Calvino, nhà địa chất học nổi tiếng. Khi còn trẻ, ông chuyển đến quê hương nước Ý và ở đấy gần suốt đời. Italo Calvino qua đời ngày 19 tháng 9 năm 1985. Tác phẩm: Nam Tước Trên Cây - Italo Calvino Tử Tước Chẻ Đôi - Italo Calvino Hiệp Sĩ Không Hiện Hữu - Italo Calvino Những thành phố vô hình Nếu Một Đêm Đông Có Người Lữ Khách Giải thưởng: Năm 1976 ông được trao Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu.   Mời các bạn đón đọc Nếu Một Đêm Đông Có Người Lữ Khách của tác giả Italo Calvino.
Lời Hồi Đáp 1994 - Lee Woo Jung & Oh Seung Hee
Lời hồi đáp 1994 là cuốn sách đặc biệt dành tặng những người đã từng phải rời gia đình đến một nơi xa, tự mình bắt đầu một hành trình mới.   Nằm trong series Reply nổi tiếng Hàn Quốc cùng với Lời hồi đáp 1997, tiểu thuyết Lời hồi đáp 1994 do chính biên kịch Lee Woo Jung và Oh Seung Hee chấp bút tiếp tục được bạn đọc đón nhận nhiệt tình. Trọng tâm cuốn sách xoay quanh cuộc sống của một nhóm sinh viên lên thành phố học đại học. Duyên số đã đưa tất cả về ở cùng một nhà trọ. Lần đầu tiên rời quê hương mình đã gắn bó từ khi sinh ra đến một nơi hoàn toàn mới, là cả một hành trình hòa nhập đầy khó khăn và thử thách của những cô cậu tỉnh lẻ này.  Việc phải đi học hay đi làm xa gia đình là câu chuyện của nhiều người trẻ hiện nay. Lời hồi đáp 1994 chính là món quà đặc biệt dành tặng những con người dùng cả thanh xuân của mình để xây dựng một tương lai mới tốt đẹp hơn. Hành trang họ mang theo không chỉ có đam mê, tuổi trẻ và nhiệt huyết mà còn có hi vọng và niềm tin của người thân ở quê nhà. Dù nhiều chông gai và vất vả thì những ngày tháng đó luôn là thời gian tươi đẹp và đầy sức sống nhất. Đi qua rồi nhìn lại, ta đều sẽ bất giác mỉm cười: ai cũng từng có một thời tuổi trẻ như thế! *** Tháng Chín năm 2013, phường Sangam, quận Mapo, thành phố Seoul.   Phố lên đèn. Bóng tối lẩn khuất giữa những ánh sáng rực rỡ phát ra từ các cửa hàng cùng những biển hiệu quảng cáo liên tục nhấp nháy. Những tòa nhà sáng rực, những cây cầu vượt đông nghịt xe hơi, đoàn người liên tục di chuyển trên đường phố. Bóng tối như thể bị đè sâu xuống mặt đất, để những cái phao người và xe nổi lềnh bềnh bên trên. Có lẽ phải lấy giấy vẽ đè xuống, rồi dùng bút chì tô thật mạnh lên trên, thì những mảng hình khối loang lổ của thành phố mới dần dần hiện hình.   Bức phác họa ấy chính là đêm Seoul. Ở một nơi nào đó, một ngày mới đang bắt đầu, một tình yêu đang nảy nở, một thời khắc huy hoàng đang được mong chờ. Chẳng biết từ lúc nào trong quãng thời gian mười chín năm sống ở Seoul, Na Jung không còn cảm thấy bất kỳ điều gì lạ lẫm, mới mẻ ở nơi đây nữa. Từ nãy đến giờ, Na Jung bày đầy ra nhà những thùng các tông to tướng, mải miết tìm kiếm cái gì đó. Bên ngoài cửa sổ, cuộc sống thành phố quen thuộc vẫn đang trôi đi.   “Cậu tìm cái gì thế?”   Yoon Jin vừa hỏi vừa quệt ngón tay lên giá sách. Có đúng là nhà mới chuyển đến không đấy? Ôi mẹ ơi, không có lấy một tí bụi nào. Sung Na Jung vẫn y như ngày nào, sạch sẽ gọn gàng đến phát sợ. Yoon Jin ngắm một lượt giá sách, le lưỡi ngạc nhiên.   “Ôi, cậu vẫn còn giữ cái này cơ à?”   Thứ mà Yoon Jin vừa lôi từ cuối giá sách ra là cuốn album của đội bóng rổ trường Đại học Yonsei. Yoon Jin không giấu nổi nụ cười mừng rỡ. Trời đất ơi! Phải ngắm các cầu thủ một tí mới được. Trẻ quá, trẻ quá đi thôi, đẹp hơn cả hoa!   “Xem cẩn thận đừng có để dính nước miếng vào. Đồ quý hiếm nhà mình đấy.”   Đang nói dở, Na Jung lục tung cái thùng giấy, bàn tay chợt dừng sững lại.   “Tìm thấy rồi!”   Na Jung hét lên phấn khích khiến Yoon Jin phải quay lại nhìn. Đấy là cái gì? Na Jung lôi từ trong hộp ra một cuộn băng VHS. Có tiếng mở cửa. Sook Sook nói vọng vào, “Em ra ngoài một tí”, rồi đi thẳng ra cửa.   “Úi chà chà. Sook Sook lớn quá rồi nhỉ. Mới ngày nào sự xuất hiện của thằng bé còn làm cả nhà một phen bất ngờ. Nó học có giỏi không?”   Yoon Jin đưa mắt nhìn theo cậu bé mặc đồng phục.   “Không, học dốt lắm. Càng lớn càng khó bảo, lại còn bắt đầu mọc râu, kinh chết đi được.”   Na Jung trả lời ngắn gọn, vừa lắc đầu vừa đi đến ngồi trước chiếc ti vi treo trên tường.   “Ôỉ, lâu lắm mới thấy cuộn phim băng đen như thế này đấy. Nhưng video gì thế? Đừng nói là cuộn băng hôm cưới cậu đấy nhé?”   Na Jung ra điệu bộ dễ thương gật đầu cười.   “Gớm quá. Cậu vẫn còn là cô dâu mới cưới đấy à? Bây giờ mà vẫn còn xem cái đấy à?”   “Đâu mà. Mình cứ tưởng làm mất rồi. Hôm trước dọn nhà tự nhiên tìm thấy. Hồi đấy xấu hổ có dám xem đâu. Hôm nay mới bật lên lần đầu tiên đây.”   Na Jung cho cuộn băng vào đầu máy video. Tìm thấy cuộn băng đã bị quên lãng từ lâu giữa cuộc sống bận rộn hối hả khiến cô thực sự vui mừng như thể gặp lại người bạn cũ.   “Nhất định phải xem đúng hôm về nhà mới thế này à?”   “Thì làm sao. Mọi người cùng xem lại mình ngày xưa cũng vui mà.”   “Chắc trông cậu phải kinh nhất luôn đấy.”   Na Jung đang định bấm nút play chợt dừng lại, quay lưng nhìn Yoon Jin. Kiểu trang điểm cô dâu môi đỏ chót quê một cục, nụ cười gượng gạo cứng đờ, đôi môi run rẩy vì căng thẳng trước máy quay. Yoon Jin không thể nào quên được cô dâu Na Jung ngày ấy.   “Sung Na Jung hồi đấy mặc váy cưới kiểu Park Ju Mi, lại còn đội cả vương miện nữa cơ mà.”   “Hay thôi không xem nữa?”   Na Jung và Yoon Jin nhìn nhau, cả hai đều có chung một suy nghĩ. Bỗng điện thoại của Na Jung rung lên. Yoon Jin ngắm nhìn Na Jung giải thích trôi chảy qua điện thoại, giờ này thì đường nào tắc, đường nào đi nhanh. Giọng địa phương vùng Gyeongsangdo cũng hoàn toàn biến mất, thay vào đó là tiếng thành phố chuẩn mực, thành thạo. Đến cả đoạn dặn mua café, nhớ bỏ hạnh nhân ra khỏi sữa chua blueberry, rồi cho thêm hai thìa espresso, tiếng Anh như gió, nghe cũng thật là “Seoul”.   “Na Jung nhà mình thành người thành phố xịn rồi. Hơi bị ghen tị đấy nhé. Đường nào cũng biết, tên café cũng thuộc vanh vách, gọi không cần phải nghĩ. Thế này thì ai mà biết được đây lại là gái quê Masan cơ chứ.”   Na Jung đặt điện thoại xuống, thở một hơi dài thườn thượt.   “Bạn à. Năm nay là năm thứ mười chín mình sống ở Seoul rồi đấy. Một nửa cuộc đời sống ở thành phố, như thế chưa đủ để gọi là người thành phố hả?”   Nói đoạn, Na Jung cố tình chuyển sang giọng nhà quê.   “Cũng phải. So với hồi đó thì bây giờ hoàn toàn là người Seoul rồi.”   Yoon Jin hất cằm chỉ về hướng ti vi. Cuộn băng lễ cưới Na Jung do Yoon Jin quay bắt đầu chạy.   ***   Thứ Bảy ngày 22 tháng Sáu năm 2002. Chiếc máy quay đang rung lắc loạn xạ trong tay Yoon Jin dần dần được giữ ổn định lại, hình ảnh cô dâu Na Jung hiện ra. Trước khuôn mặt không thể giấu nổi vẻ đờ đẫn sau một đêm hồi hộp đến mất ngủ của cô dâu, giọng địa phương vùng Jeonlado nặng trình trịch của Yoon Jin vang lên.   “Na Jung à, cơ hội cuối cùng rồi đấy. Bỏ trốn đi. Chỉ cần bước ra ngoài cánh cửa này thôi là thế giới tự do sẽ lại về với cậu. ”   “Bây giờ là lúc nói như thế với cô dâu đấy à. Cậu định lấy chồng đẻ con sống hạnh phúc để một mình mình thành bà già cô đơn hả?”   “Cậu mà lấy chồng bây giờ là không đi Jeonju gặp anh Lee Sang Min được đâu.”   Từ trong phòng chờ của cô dâu, Na Jung nở nụ cười gượng gạo hướng ra ngoài chào khách, rồi nghiến chặt răng gầm ghè.   “Mình đã xin phép chú rể rồi. Chú rể bảo trận đấu vào ngày nghỉ sẽ cho mình đi xem.”   “Trước khi cưới thì nói thế nào chả được. Thế mà cậu cũng tin à?”   “Ờ. Tin. Cậu không tin thì đi mà hỏi chú rể đứng đằng sau cậu kia kìa.”   Từ lúc nào Na Jung đã chuyển ánh nhìn ra phía sau vai Yoon Jin. Gương mặt cô không giấu nổi sự rạng rỡ xen lẫn ngại ngùng. Chú rể dường như cũng cảm nhận được tình cảm của cô dâu dành cho mình. Nụ cười bẽn lẽn khiến Na Jung trở nên xinh đẹp hơn bất cứ lúc nào. Mặc dù toàn nói đùa từ nãy đến giờ, nhưng Yoon Jin hiểu ngay chính giây phút này, Na Jung đang hạnh phúc đến nhường nào.   Lễ cưới của Na Jung. Dù đã mười năm trôi qua nhưng trong trí nhớ của Yoon Jin, hình ảnh ngày hôm ấy vẫn rực rỡ, ấm áp. Ký ức về những ngày đầu họ gặp nhau cũng dần dần hiển hiện rõ ràng. Từng hình ảnh, từng kỷ niệm về những ngày thanh xuân gan góc, vui vẻ, và ngờ nghệch tràn lên sống động như câu chuyện của ngày hôm qua. Lâu lắm rồi Yoon Jin mới ngồi hồi tưởng lại chuyện ngày xưa như thế này. Quãng thời gian của tình yêu trong sáng và những tổn thương vụng về. Quãng thời gian khó khăn và hạnh phúc mà ai cũng phải trải qua trong đời.   Năm 1994. Khi đó, chúng tôi mới hai mươi tuổi.   Mời các bạn đón đọc Lời Hồi Đáp 1994 của tác giả Lee Woo Jung & Oh Seung Hee.
Ghềnh V - Nam Dao
“Ghềnh V” là câu chuyện của những con người đang trên hành trình đi tìm “cái Đẹp cứu rỗi”. Nhân vật Tôi từ bỏ công việc của một Giám đốc Kỹ thuật để thực hiện ước mơ được đi và được viết. Đam mê viết và nhu cầu tìm hiểu về cội nguồn cái Đẹp đã dẫn dắt Tôi tìm đến Ghềnh V -“Nơi để Chết trong cái Đẹp cứu rỗi” dù phải vượt qua rất nhiều khó khăn, thử thách “muốn hiểu thì cứ đi, nhưng đi là khó có bước về, và nếu về, người đi và kẻ về sẽ chẳng thể là một nữa.” Mai - một cô gái hiền lành, hiếu thảo nhưng cuộc đời lại không ít truân chuyên. Cô tìm đến ghềnh V những mong chuộc lại tội bất hiếu của mình. Rồi câu chuyện tình éo le giữa bà chủ quán và sư thầy… Họ gặp nhau ở ghềnh V, giãi bày những tâm tư, hé lộ những bí mật… để cuối cùng nhận ra ngọn nguồn của sự cứu rỗi: “ Em biết… Lời không cứu rỗi. Tình yêu cũng không cứu rỗi! Nhưng con người vẫn sống, lắm khi sống trong những hoàn cảnh thật ngặt nghèo! Đời sống, tự thân đã là cứu rỗi những con người đang sống rồi!” “Ghềnh V” mang lại cho người đọc không ít suy tư và chiêm nghiệm về bản thân hay cuộc sống quanh mình. Hãy sống, cảm nhận, và hòa nhịp cùng những yêu thương để mang đến cho đời cái Đẹp trọn vẹn nhất. *** Nam Dao tên thật là Nguyễn Mạnh Hùng. Hiện ông là giáo sư Kinh tế của trường Đại học Toronto, Canada. Ông tham gia giảng dạy tại nhiều trường Đại học danh tiếng trên thế giới như: Havard, Paris – Sorbonne, Toulouse, Montpellier, Paris10, CEPREMAP, National Australian University, University of New Southwales... Ông cũng là tác giả của nhiều nghiên cứu đã in trong những tờ báo tiếng tăm nhất trong ngành. Từng được giải có bài nghiên cứu kiệt xuất nhất của tờ Asian Pacific Economic Review năm 1999. Ông là thành viên của Hội Đồng Nghiên cứu Khoa Học Nhân Văn của Canada về Kinh Tế Học và nhiều Trung tâm Nghiên Cứu Kinh Tế tại Canada và Pháp, Úc. Không dừng lại ở đó, trong lĩnh vực văn học Nguyễn Mạnh Hùng còn là cây bút sáng tác rất sung sức và nổi bật trên nhiều lĩnh vực: truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, phê bình. Các tác phẩm của ông chủ yếu được xuất bản ở nước ngoài dưới 2 bút hiệu Nam Dao & Dã Tượng. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông: Cõi tình (tiểu thuyết), Trăng nguyên sơ (tiểu thuyết), Bể dâu (tiểu thuyết lịch sử), Khoảng chơi vơi(truyện và ký), Tiếng cồng, Trong buốt pha lê (tập truyện), Gió lửa (tiểu thuyết lịch sử), Dấu vết ngậm ngùi(Thơ), Tình phụ, Sân đền, Ta xô biển lại (kịch bản)… cùng rất nhiều tác phẩm khác. Mời các bạn đón đọc Ghềnh V của tác giả Nam Dao.
Dòng Thời Gian - Michael Crichton
Cuối thể kỷ hai mươi, Robert Doniger một nhà vật lý học tài năng cùng công ty nghiên cứu ITC của mình đã bí mật nghiên cứu và phát triển thành công công nghệ dịch chuyển tức thời giữa các vũ trụ tồn tại song song trên cơ sở lý thuyết lượng tử. Với khao khát độc quyền khai thác quá khứ, Robert Doniger đã đồng thời tiến hành đầu tư dựng lại khu di tích dọc theo con sông Dordogne vàthử nghiệm việc gửi người trở về Dordogne vào thời kỳ Trung Cổ. Giáo sư Edward Johnston, trưởng nhóm khảo cổ học tiến hành dựng lại khu di tích, khi được Robert giới thiệu về công nghệ dịch chuyển tức thời, đã vô tình bị mắc kẹt lại Dordogne giữa thời kỳ Trung Cổ. Các nhóm tìm kiếm được ITC gửi đi đều không đem lại kết quả do hiểu biết hạn chế của họ về thời kỳ này. Điều này buộc nhóm sinh viên tham gia vào dự án của giáo sư Johnston bao gồm André Marek, Kate Erickson và Christopher Hughes phải cùng trở về quá khứ và tham gia vào quá trình tìm kiếm. Tại Dordogne, vào thời điểm thế kỷ 14, giữa cuộc chiến tranh tàn khốc của Lãnh chúa Oliver và Đại tư tế Arnault, họ được chứng kiến một thời kỳ Trung Cổ không hề giống những gì mình từng đọc qua sách vở, đồng thời phát hiện nhiều hơn nữa những mặt trái. *** Nhận định “Những dòng thời gian kết hợp được tất cả những yếu tố đã làm nên sự hấp dẫn cho tiểu thuyết của Micheal Crichton: câu chuyện với diễn biến chóng mặt, những lập luận khoa học thuyết phục, và cấu trúc gần như một bộ phim...Một câu chuyện giàu hình ảnh và được đầu tư nghiên cứu...Crichton đã kết hợp hoàn hảo yếu tố hồi hộp, ly kỳ vào tiểu thuyết khoa học của mình và những tác phẩm của ông thực sự đã định nghĩa một thể loại cho riêng mình.” (Iain Pears theo Los Angeles Times) “Những dòng thời gian, tiểu thuyết kiếm hiệp của Crichton, có thể sẽ lại là một bom tấn phi thường nữa giống như Công viên kỷ Jura...Tác giả có một tài năng phi thường trong việc kết hợp yếu tố hồi hộp với những khái niệm khoa học vốn không ngừng cuốn hút trí tưởng tượng của người đọc.” (USA Today) *** Michael Crichton, sinh ngày 23 tháng 10 năm 1942 tiểu bang Chicago mất ngày 4 tháng 11 năm 2008 ở Los Angeles.  Ông là một người chuyên viết về những truyện khoa học,giả tưởng và đã có nhiều truyện đã được dựng lên phim. Tác giả Michael Crichton nổi tiếng trong giới truyền hình nhiều hơn là trong giới văn chương bởi đơn giản ông là một nhà viết kịch bản tài ba của nhiều bộ phim nổi tiếng. Điểm đặc biệt trong sự nghiệp văn chương của ông chính ở chỗ các truyện được viết dựa trên những nghiên cứu khoa học của ông sau khi tham gia học ngành y và ông có được một kiến thức y học tương đối rộng (ông tốt nghiệp khoa y Đại học Havard). Vì lý do đó, ông được gọi là "Cha đẻ của truyện giật gân Mỹ", các sáng tác của ông mang nặng tính giả tưởng, tính ly kỳ hoàn hảo và bằng tài năng hiếm có, ông đã sáng tạo ra những thiên truyện hoàn mỹ, ly kỳ và giật gân nhất thế kỷ XX.  *** Đây là một tác phẩm của Michael Chrichton. Nếu ai quan tâm thì ông cũng là người viết Công viên kỷ Jura và Thế giới nghịch. Và Dòng Thời Gian cũng đề cập đến một nhánh nghiên cứu trong khoa học: thuyết Lượng tử. Nói đơn giản và ngắn gọn thì tuyện đề cập đến một công ty nghiên cứu về thuyết này và ứng dụng nó cho việc di chuyển người từ nơi này đến nơi khác (hay còn gọi là Teleport) nhằm thao túng việc khai thác lịch sử. Công ty ITC đã dùng hiện tượng giao thoa ánh sáng để giải thích cho nghiên cứu của họ. Khi chiếu hai tia sáng qua khe, họ nhận được kết quả là những vệt sáng song song trên màn chắn, đó chính là kết quả của hiện tượng giao thoa ánh sáng mà ai cũng đã từng nghe qua. Thế nhưng điều thú vị không dừng lại ở đó. Khi các nhà khoa học ở ITC chỉ dùng một tia sáng duy nhất, được chiếu qua khe tương tự, họ cũng nhận được những vệt sáng tương tự trên màn chắn. Vậy câu hỏi đặt ra là, thứ gì đã giao thoa với tia sáng ấy? Và họ đưa ra lập luận: Hãy còn những vũ trụ khác tồn tại song song với vũ trụ chúng ta đang sống, những vũ trụ mà ta không nhìn thấy được. Chính những thứ tồn tại trong những vũ trụ ấy đã giao thoa với tia sáng duy nhất trong thí nghiệm của họ, và từ đó họ nhận được kết quả như trên. Chính từ lập luận ấy, ITC quyết định thành lập một nhóm nghiên cứu nhằm chế tạo ra những cỗ máy dịch chuyển, đưa con người từ vũ trụ này sang một vũ trụ khác. Thế nhưng, mọi hoạt động của họ đều được thực hiện trong bí mật. Họ đã chi một khoảng cực lớn vào hệ thống dịch chuyển, từ những miếng đệm nước đến những thiết bị tinh vi nhưng không một ai biết đến sự tồn tại của ITC và dự án táo bạo này. Nhưng đã đến lúc công ty không thể ém nhẹm quá lâu mọi việc. Một hôm, bệnh viện tiếp nhận một bệnh nhân ngất trên sa mạc với những triệu chứng khó giải thích. Sau khi điều tra, họ phát hiện ông là Giáo sư khoa học đang làm cho ITC. Đương nhiên họ không biết gì về công ty này, họ chỉ không hiểu tại sao một Giáo sư lại bị lạc ở Sa Mạc, cách quá xa trụ sở Công ty đến vậy. Quái lạ hơn, sau khi chụp MRI và các thứ khác, các bác sĩ còn nhận thấy, xương tay, xương chân của người đàn ông này như bị tách rời, không khớp vào nhau. Vụ việc đã làm dấy lên nghi ngờ và Robert Doniger, nhà vật lý học thiên tài, người sáng lập ITC, phải tìm cách bưng bít sự cố này. Sự việc tạm rơi vào quên lãng. Hiện nay, Robert Doniger đang đầu tư vào kế hoạch dựng lại khu di tích thời Trung Cổ Dordogne, đồng thời thử nghiệm việc đưa người của công ty trở lại thời kỳ này để khảo sát. Nhóm khảo sát của Giáo sư Edward Johnston chịu trách nhiệm dựng lại khu di tích Dordogne. Tuy nhiên, Johnston và những người học trò của ông không biết đến mục đích thật sự của Robert và sự tồn tại của những cỗ máy dịch chuyển. Bất thình lình, Robert nhận thấy đã đến lúc cần tiết lộ mọi việc với giới truyền thông. Giáo sư Johnston được gọi đến trụ sở Công ty và được giới thiệu về những cỗ máy dịch chuyển. Trong một lần thử nghiệm, ông đã đi quá xa cỗ máy và bị kẹt lại thời Trung Cổ. Những người được ITC gửi đi để tìm cách đưa ông trở về đều thất bại, vì họ không nắm được kiến thức trong thời kỳ đó. Chính vì vậy, Robert đã ra lệnh tập họp những người học trò của Johnston lại và yêu cầu họ đi cứu Giáo sư của mình. Những sự cố xảy ra và nhóm học trò này, gồm có André Marek, Kate Erickson và Christopher Hughes cũng bị kẹt lại thời Trung Cổ, thế kỷ 14. Tại đây họ đã chứng kiến cuộc chiến tranh tàn khốc giữa Lãnh Chúa Oliver và Đại Tư tế Arnaut. Quan trọng là… Họ chỉ có 36 tiếng để hoàn thành sứ mệnh. Rắc rối là… Phòng dịch chuyển đã bị hỏng hóc nặng do một vụ nổ. Họ không thể quay về được cho đến khi mọi thứ được sửa chữa… … Trong vòng 36 tiếng. Liệu họ có thể sống sót trở về? Liệu họ có thể tìm ra và cứu được Giao sư của mình? Dòng thời gian không ngừng chạy! Mời các bạn đón đọc Dòng Thời Gian của tác giả Michael Crichton.