Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Người Tuyết

“Vô cùng phức tạp và cực kì giải trí.” - The New York Times Book Review “Một tập trinh thám siêu hạng – thông minh, phong cách, tính toán tỉ mỉ và giữ nhịp hài hòa.” – Newsday “Nếu bạn còn chưa biết Jo Nesbø là ai, giờ đã đến lúc rồi.” - USA Today Với Người Tuyết, Jo Nesbø không dừng lại ở việc vạch ra một bản đồ tội ác hoàn hảo, mà còn đặt ra một hành trình cá nhân đầy thách thức cho nhân vật được ưu ái nhất của ông: Harry Hole. Giữa những sáng-tối, thiện-ác đối lập xuyên suốt quyển sách, khi thanh tra Hole lần theo những dấu chân trên tuyết để tìm kẻ thủ ác cũng chính là lần theo quá khứ và những mảnh vỡ của chính bản thân mình. TÓM TẮT: Năm 1980, một người phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi cô và tình nhân ân ái với nhau, họ cảm giác như ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi. Hai mươi bốn năm sau, thanh tra Harry Hole phải lần theo dấu vết của một kẻ sát nhân hàng loạt với những thủ đoạn anh chưa từng gặp. Khả năng suy luận nhạy bén, sự cứng đầu cộng với những kĩ năng học được từ khóa nghiệp vụ FBI thúc đẩy Harry tìm ra kết nối giữa các vụ án, anh nhận ra hai điểm chung: tất cả nạn nhân đều là những phụ nữ đã có gia đình và ở mỗi hiện trường vụ án đều có một người tuyết. *** JO NESBØ là nhà văn Na Uy, nhạc sĩ và cựu chuyên gia kinh tế. Tác phẩm của ông đã được dịch sang hơn 50 ngôn ngữ, bán 45 triệu bản. NESBØ chủ yếu được biết đến qua xê ri tiểu thuyết tội phạm về thanh tra Harry Hole, nhưng ông cũng là ca sĩ chính và nhà soạn nhạc cho ban nhạc rock Di Derre của Na Uy. Là một người thích vận động, JO NESBØ còn có sở thích leo núi. Các tác phẩm khác của JO NESBØ đã được Nhã Nam xuất bản: Chim Cổ Đỏ - Jo Nesbo Người Con Trai - Jo Nesbo Kẻ Báo Thù - Jo Nesbo Người tuyết Ngôi Sao Của Quỷ *** [Review Sách] “Người Tuyết”: Tuyết Rơi Lạnh Lẽo Hay Lòng Người Giá Băng? Năm 1980, một phụ nữ có gia đình chở theo con trai trên một chiếc Toyota Corolla chạy đến một căn nhà riêng ở miền quê. Cô dặn con mình chờ ở trong xe rồi vào nhà gặp người tình. Khi đang yêu nhau, họ cảm giác có ai đó đang nhìn lén từ ngoài cửa sổ. Họ nhìn ra ngoài và chỉ phát hiện một người tuyết to. Hôm cô đến cũng là ngày tuyết bắt đầu rơi... Những tinh thể tuyết rơi, trắng xóa. Những con đường phủ màu trắng toát bởi lớp tuyết dày, trơn trượt. Những căn nhà đóng kín cửa mờ ảo trong cơn bão tuyết ùa về, rét buốt. Vậy mà nào ai ngờ được rằng, đó chính là điểm khởi đầu của một chuỗi án mạng gây rúng động toàn Na Uy với kẻ sát nhân máu lạnh mang tên Người Tuyết. Kẻ thủ ác là ai? Động cơ nào khiến hắn ta gây án một cách liên tục xuyên suốt hơn hai chục năm? Tại sao trong ngần ấy năm không một ai nhận ra sợi dây xích móc nối giữa các vụ án mạng xảy ra rải rác vào mỗi mùa tuyết rơi? Tất cả chỉ được Jo Nesbø hé mở dần dần thông qua hơn 500 trang sách của Người Tuyết. Và với cuốn sách này, bạn chắc chắn sẽ phải giật thột cho tới trang sách cuối cùng. Được coi là cuốn trinh thám hay và thành công nhất của tác giả Jo Nesbø, cũng như rất nhiều các trang truyện trinh thám khác, Người Tuyết tái hiện lại hành trình phá án của vị thanh tra tài ba mang tên Harry Hole thông qua cả quá trình dài suy luận và lần theo từng dấu vết. Tuy nhiên, không chỉ dừng lại tại đó, Người Tuyết sẽ còn gây ấn tượng và để lại dư vị nơi người đọc bằng cách tác giả hé mở bức màn đen tối nơi góc khuất con người. Khi ấy, cuốn sách sẽ như tia sáng le lói giữa làn tuyết lạnh dày đặc, bóc tách từng tầng lớp của sự thật bị ẩn giấu để đưa độc giả tới tận cùng của chuyến hành trình tìm ra công lý. “Càng nhiều tuổi, tôi càng nghiêng về quan điểm cái ác dù thế nào đi nữa vẫn cứ là cái ác, bất kể anh có mất trí hay không. Phàm là con người, hầu như ai cũng có thể bị cái ác chi phối, nhưng không thể lấy lý do đó ra để biện minh cho hành động của mình. Thực sự mà nói, những bệnh rối loạn nhân cách đang ẩn náu trong mỗi chúng ta, và chính những việc ta làm sẽ nói lên mức độ nặng nhẹ của bệnh. Ai chẳng biết trước pháp luật mọi người đều bình đẳng, nhưng điều đó nào có nghĩa lý gì khi mà trong cuộc sống vốn dĩ không tồn tại sự bình đẳng. Vào thời Cái chết Đen hoành hành, thủy thủ chỉ cần ho vài tiếng là lập tức bị ném xuống biển. Cũng phải thôi, vì công lý là con dao cùn, xét theo cả khía cạnh triết học lẫn khía cạnh pháp luật. Những gì chúng ta có chỉ là viễn cảnh bệnh tình tươi sáng hay đen tối mà thôi, các bạn thân mến ạ.” Người Tuyết và hành trình 24 năm một tội ác âm ỉ Như một mạch máu lặng lẽ chảy sâu bên trong các tế bào, Người Tuyết là dòng chảy của một chuỗi án mạng kéo dài 24 năm với tổng cộng 6 người chết với các khoảng thời gian và tại các khoảng không gian khác nhau. Xuyên suốt hơn hai mươi năm, chẳng ai nhận ra sự tương đồng giữa các vụ án ấy cho tới khi thanh tra Harry Hole, người được gửi một bức thư nặc danh có bóng hình Người Tuyết, vào cuộc.  Nếu chỉ nhìn vẻ bề ngoài thì có lẽ khó ai nghĩ rằng toàn bộ cuốn sách dày tới hơn 500 trang này chỉ diễn ra vỏn vẹn trong hơn hai mươi ngày. Hai mươi hai ngày với hai điểm nhìn lại quá khứ nơi mọi sự bắt đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 và hiện tại, tháng Mười hai năm 2004. Lật giở từng trang của Người Tuyết, người đọc như đang được chứng kiến một bộ phim trinh thám xen lẫn hành động và kinh dị xuất sắc được đạo diễn bởi một người nghệ sĩ tài ba.  500 trang sách với tổng cộng 5 phần và 38 chương này sẽ là một hành trình theo vòng tròn khép kín nơi độc giả sẽ xuất phát tại điểm khởi đầu và sau một hành trình dài lại quay về lại chính điểm đó. Cái hay của Người Tuyết là ở chỗ nghệ thuật ngắt cảnh của tác giả Jo Nesbø. Tương tự như một bộ phim với các cảnh quay luân phiên một cách linh hoạt giữa vai chính diện và phản diện thì ở Người Tuyết, bạn đọc sẽ được trải nghiệm cảm giác sự thật như gần ngay trước mắt và tưởng rằng chỉ cần vươn tay là ta có thể chạm tới ngưỡng cửa của sự thật thì đột nhiên PHỤT..., ánh đèn sân khấu chợt tắt và nhường sàn diễn cho các cảnh quay khác.  Mình thực sự ấn tượng bởi cách ngắt cảnh của Jo Nesbø vì nó không những không khiến độc giả cụt hứng mà trái ngược lại còn thôi thúc người ta phải lật giở từng trang sách nhanh hơn nữa, đọc truyện và theo dõi câu chuyện với một nhịp điệu hồi hộp và dồn dập hơn nữa.  Khởi đầu bằng một mớ bòng bong và rời rạc Với cách chuyển cảnh và đan xen thời gian mà Jo Nesbø sử dụng trong Người Tuyết thì có lẽ phần đầu tiên của cuốn sách sẽ gây không ít bối rối cho độc giả.  Là phần mở màn của câu chuyện nhưng phần một lại là phần có dòng thời gian và tuyến nhân vật phức tạp nhất. Từ điểm khởi đầu, thứ Tư ngày 5 tháng Mười một năm 1980 nơi vụ án đầu tiên với người phụ nữ đầu tiên mất mạng, độc giả sẽ trở về với đất nước Na Uy thực tại với bối cảnh năm 2004, đến với sở cảnh sát nơi thanh tra Harry Hole quay trở lại làm việc sau chuỗi ngày chìm đắm trong bia rượu và lụy tình. Nhưng Jo Nesbø chẳng để độc giả có thời gian suy ngẫm và làm quen với bối cảnh, ngay lập tức ông đưa độc giả về 12 năm sau thời điểm bắt đầu, nơi những scandal và sự mất tích bắt đầu. Cột totem, điện thoại di động, số liệu ẩn, vực thẳm,... một chuỗi sự kiện và nhân vật rời rạc. Thế nhưng quả thực là sai lầm nếu như chỉ vì thế mà bạn gấp lại Người Tuyết tại đây.  Tên sát nhân và quá tam ba bận mừng hụt  Với Người Tuyết, Jo Nesbø chỉ thực sự làm khó độc giả ở phần đầu tiên vì với các phần còn lại ông tập trung vào quá trình điều tra tên tội phạm. Và bạn hãy yên tâm rằng từ phần hai trở đi dòng thời gian sẽ quay về đúng trật tự. Tuy nhiên, đây lại có thể coi như phần kinh dị nhất vì là đoạn tập trung nhiều thi thể và là nơi lật tẩy mánh khóe nhiều nhất.  Có hơn nửa số vụ án xảy ra với xác chết được tìm thấy khi hình hài không còn vẹn nguyên và sừng sững một nhân chứng duy nhất - một Người Tuyết -  gần hiện trường. Người Tuyết có máu, có thi thể thậm chí chỉ tìm thấy phần đầu, có hung khí gây án hoặc nằm lại hiện trường hoặc biến mất không dấu vết vào hư không. Nhưng còn hay hơn nữa khi ở Người Tuyết còn xuất hiện cả những đoạn đối thoại và hình dung giữa nạn nhân và hung thủ. Sẽ có lúc bạn cảm tưởng như bạn đang đứng nói chuyện trực tiếp với kẻ sát nhân. Cảm giác bị rình rập, thâu tóm, cảm giác có bóng đen phía sau đang rón rén bước tới gần bạn, cảm giác một giọng nói không rõ thực hay mơ đang vọng vào tai bạn,... Chắc chắn Người Tuyết sẽ khiến bạn phải nín thở.  Có thể nói đây là cuốn trinh thám mang tới cho mình nhiều “cú lừa” nhất trong số các cuốn sách cùng thể loại mình từng đọc vì có tới ba lần bạn tưởng chừng như đã tìm ra hung thủ. Các tình tiết, sự kiện và dấu vết trùng khớp tới mức dù bạn có tự mình suy luận hay lựa chọn dõi theo hành trình vị thám tử truy tìm kẻ thủ ác thì rất có thể bạn vẫn sẽ bị lừa.  Lần thứ nhất, tất cả chứng cứ và dòng suy luận đổ dồn vào một gã bác sĩ mang tên Idar Vetlesen. Khi ấy, kể cả tên sát nhân vẫn còn ẩn giấu cũng như tác giả Jo Nesbø, người đứng đằng sau tất cả đã thực sự thành công khi dẫn dắt được Harry Hole đi vào lối cụt đầu tiên của mê cung. Và lẽ dĩ nhiên, như một trò chơi tàu lượn siêu tốc, độc giả cũng bị cuốn theo guồng quay của câu chuyện mà không mảy may nghi ngờ.  Lần thứ hai, sự việc trở nên rối rắm và phức tạp hơn bởi đối tượng tình nghi có sự liên quan hết sức mật thiết và tương đồng với các nạn nhân, một tên chủ tòa soạn mang tên Arve Støp. Lối đi thứ hai này thuyết phục người đọc hơn ở chỗ tác giả đã lồng ghép các yếu tố tâm lý và sự đan xen giữa kí ức và thực tại. Tại đó, thay vì cuốn vào guồng quay của suy luận và chứng cứ thì độc giả lại được tiếp cận với những bức màn bí mật được ẩn giấu, nơi quá khứ của con người và những bí mật chưa hề (và có lẽ sẽ chẳng bao giờ) được bật mí. Thế nhưng, một lần nữa chúng ta lại bị tác giả xoay mòng mòng.  Lần thứ ba, khi cả độc giả và nhân vật chính đều trải qua hai lần mừng hụt vì tưởng như đã thâu tóm được kẻ thủ ác thì với các chứng cứ thu được kết hợp với kẽ hở từ hai lần trước, chúng ta đã có đối tượng lọt vào tầm ngắm mang tên Người Tuyết. Và đó không ai khác chính là nữ thanh tra Katrine Bratt, người cùng đội điều tra với thanh tra Harry Hole và bấy lâu vẫn luôn theo sát quá trình tìm ra kẻ thủ ác.  Đúng là con người thường vô tình phơi bày lời nói dối của chính mình thông qua những biểu hiện bề ngoài; thế nhưng đừng bao giờ hy vọng lật tẩy được một kẻ thấu cáy lão luyện trừ phi anh ta giữ được cái đầu lạnh và tính toán thật kỹ để sàng lọc ra tất cả những biểu hiện đó của từng người chơi.  Thế nhưng, tất cả mới chỉ như ba mảnh ghép còn thiếu của tấm bản đồ. Và thứ thực sự ẩn giấu đằng sau, để tìm ra kẻ sát nhân thực sự, chúng ta cần phải xâu chuỗi lại sự việc và nhìn nhận bức tranh ở góc nhìn tổng thể. Có lẽ chúng ta sẽ phải đồng tình thừa nhận rằng cả tên sát nhân và Jo Nesbø đều thực sự vô cùng tài tình với câu chuyện lần này. Có tới ba lần người ta phải bị thuyết phục và sau ba lần mừng hụt ấy, khi chân tướng cuối cùng lộ diện thì các chuỗi sự kiện, manh mối và câu chuyện vẫn trùng khớp nhau tới lạ lùng. Ba lần chúng ta bị đánh lạc hướng và đi chệch khỏi quỹ đạo nhưng sau cùng thì đường ray vẫn về lại tuyến đường chính, trơn tru và hết sức khéo léo, như chưa hề có chuyện gì xảy ra.  Dòng chảy của góc khuất con người Nếu ví Người Tuyết như một dòng sông thì có lẽ dòng chảy của nó sẽ là sự hòa lẫn của nhiều nguồn nước khác nhau, trong có và đục cũng có, hạ nguồn đổ về mà thượng nguồn cũng góp phần chảy vào.  Tại sao mình lại ví như vậy? Bởi lẽ nếu bỏ qua mạch truyện chính và các yếu tố trinh thám thì Người Tuyết như tập hợp của một loạt những góc khuất trong cuộc đời của mỗi người.  Với kẻ thủ ác, lẽ dĩ nhiên, những bí mật và tổn thương tâm hồn luôn đóng một vai trò lớn tác động tới hành động và nhận thức của hắn. Sẽ có lúc thay vì thù hằn, biết đâu bạn sẽ thương cảm cho hắn. Bạn kinh hoàng và hãi hùng tột độ về cách hắn nhớ lại hành vi tội lỗi của mình, nhưng khi bạn chứng kiến lý do ẩn giấu đằng sau, có khi bạn lại thương hại nhiều hơn.  Với thanh tra Harry Hole, thứ ám ảnh và giết chết tâm hồn anh hơn cả là tình yêu. Có thể nói, các yếu tố hồi tưởng và suy ngẫm về tình cảm của Harry Hole như một điểm sáng xoa dịu tâm hồn người đọc giữa bối cảnh đầy tàn bạo và chết chóc, mặc dù câu chuyện tình ấy, dẫu vấn vương và mãnh liệt thật đấy nhưng lại chẳng phải đẹp đẽ và màu hường như người ta vẫn tưởng.  “Vậy nguồn cơn nỗi bất hạnh của anh là gì hả Harry?” Câu trả lời thốt ra khi anh còn chưa kịp nghĩ kỹ. “Yêu một người yêu tôi.” Katrine bật cười. “Tội chưa. Thuở mới vào đời anh cũng ngây thơ yêu đời phơi phới nhưng sau này vỡ mộng à? Hay là ngay từ đầu anh đã thế rồi?” Harry đăm đăm nhìn chất lỏng màu nâu vàng trong ly của mình. “Đôi lúc tôi cũng tự hỏi như vậy. Nhưng không thường xuyên lắm. Tôi cố gắng nghĩ đến những điều khác.” Đối với các nhân vật khác cũng vậy, họ tưởng như những con người xa lạ, vì dòng đời xô đẩy mà câu chuyện và bí mật của họ giao nhau. Để sau cùng nếu gạt bỏ màu sắc đỏ thẫm của máu thì ai cũng là những con người đa cảm và thật đáng thương. Xã hội hào nhoáng và mặt trái của lương tâm Phía sau những câu chuyện kia, phía sau bóng đêm của tội ác và góc khuất của lương tâm, dưới góc nhìn tổng thể, Người Tuyết còn phản ánh một bức màn hào nhoáng của xã hội Na Uy lúc bấy giờ.  Một xã hội có tới “hơn 20 phần trăm đứa trẻ không phải con ruột của cha nó”, những gia đình mà cả vợ và chồng đều ngoài mặt hòa thuận nhưng sâu trong thâm tâm, mỗi người đều có những thù hằn, ghét bỏ và ham muốn vụ lợi ở đối phương. Một hệ thống nhà cầm quyền sẵn sàng kiếm tìm và biến một thanh tra tài năng thành một con tốt thí mạng để che mắt giới báo chí và dư luận vì hành vi của mình. Một thế giới hào nhoáng nơi báo chí và màn ảnh dần dần thâu tóm và dẫn dắt dư luận một cách quá đỗi dễ dàng.  Với Người Tuyết, người ta có thể thấy những cánh “diều hâu” săn tin khi trời rạng và đêm về thì rầu rĩ với guồng quay của deadline và công việc, người ta được nhập tâm vào một tên MC để trải cái cảm giác thâu tóm công chúng, người ta lụi dần trong nỗi khổ sở vì danh tiếng đã mất… Hơn cả một tiểu thuyết gia, Jo Nesbø thuyết phục người đọc bởi nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật mang chiều sâu tới lạ lùng. Cùng một cuốn sách nhưng độc giả được chứng kiến từ tên nhà báo cho tới vị thanh tra, từ chủ tòa soạn cho tới suy nghĩ vẩn vơ của một cậu bé lên 10. Tất cả đều được miêu tả rất chân thực và rất chậm. Mạch văn chậm như trêu ngươi nỗi lo sợ của kẻ ác khi bệnh tật diễn biến ngày càng nhanh, chậm để người đọc kịp ngẫm nhưng vẫn khiến người ta phải quay cuồng vì chính cái mớ hỗn loạn do tên tội phạm, hay nói đúng hơn là Jo Nesbø gây ra. Idar Vetlesen đã phải vật lộn với thứ ma quỷ gì? Anh ta mang theo chúng đến đây, hay căn phòng này là nơi trú ẩn, là thiên đường bình yên? Có lẽ anh đã tìm ra cho mình một vài câu trả lời, nhưng chừng đó vẫn chưa đủ. Không bao giờ là đủ. Chẳng hạn như sự điên rồ và cái các có phải hai phạm trù khác nhau, hay cứ khi nào không hiểu nổi mục đích của việc giết chóc thì ta mặc nhiên quy kết nó là điên rồ. Ta có thể hiểu lý do một người muốn ném bom nguyên tử xuống thành phố toàn những người dân vô tội, nhưng lại không hiểu vì sao kẻ khác muốn phanh thây những gái điếm reo rắc bệnh dịch và sự suy đồi trong những khu ổ chuột ở London. Bởi vậy ta mới gọi trường hợp thứ nhất là chủ nghĩa hiện thực còn trường hợp thứ hai là sự điên rồ. Thay lời kết Người Tuyết, thực chất, không phải một cuốn sách khó đọc nhưng cũng không nằm trong thể loại bạn có thể nuốt trọn từng chi tiết. Có quá nhiều thứ để người ta phải ngẫm thay vì chỉ đơn giản nhìn vào hay mong đợi về một câu chuyện trinh thám giật gân. Nếu ngoài trời đang có tuyết thì lời khuyên cho bạn là hãy đóng thật kín cửa lại, bởi chỉ mình Người Tuyết là quá đủ rồi. Tuyết rơi lạnh lẽo hay lòng người giá băng, câu hỏi này có lẽ bạn sẽ phải tự mình giải đáp. Người Tuyết của Jo Nesbø không phải là một cuốn sách để bạn có thể đọc ngấu nghiến trong ngày một ngày hai nhưng nếu bạn đọc và nhập tâm được cùng nhân vật thì xin chúc mừng bạn, thế giới này vốn không như bạn tưởng và chuyến hành trình lột bỏ lớp vỏ bọc hào nhoáng kia, từ giờ phút này, chính thức bắt đầu… “Không lâu nữa tuyết đầu mùa sẽ đến. Và lúc ấy hắn sẽ lại hiện ra. Người tuyết. Khi tuyết tan là lúc hắn bắt đi một kẻ khác. Hãy tự hỏi bản thân điều này: “Ai đã tạo ra người tuyết? Ai đã đắp nên những người tuyết? Ai đã sinh ra Murri?” Bởi điều ấy người tuyết nào có hay.” Tác giả: Annie - Bookademy Mời các bạn đón đọc Người Tuyết của tác giả Jo Nesbo & Matryoshka (dịch).

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương - Haruki Murakami
Aka trong Akamatsu nghĩa là Đỏ O trong Oumi nghĩa là Xanh lơ Shira trong Shirane nghĩa là Trắng Kuro trong Kurono nghĩa là Đen Và Tazaki Tsukuru Không màu Họ -  năm người bạn đã từng chơi rất thân với nhau. Họ - một ngày nọ, đã loại trừ một sắc thái màu mang tên Tazaki. Vì Không màu quá mơ hồ, nhợt nhạt hay quá khác biệt? Không có lời giải đáp nào cho câu hỏi trên. Đây là tác phẩm mới nhất của Murakami sau bộ tiểu thuyết “dài hơi” 1Q84. Cuốn sách được khởi nguyên từ một truyện ngắn như lời Mura tâm sự: "Ban đầu tôi định viết một truyện ngắn nhưng tôi càng viết, nó tự nhiên càng dài ra. Chuyện này không thường xảy ra với tôi lắm, có lẽ là lần đầu tiên kể từ khi viết Rừng Na Uy.” Tazaki cũng gặp phải cú sốc tinh thần đầu đời (một kiểu san chấn tâm lý) như nhiều nhân vật chính khác trong các tác phẩm trước đó của Murakami. Một vết thương lòng đớn đau ở tuổi hai mươi. Tazaki bị đẩy ra ngoài nhóm bạn với lời nhắn gửi cuối cùng “đừng gọi nữa”. Cô đơn trong kí ức, hoài niệm. Cô đơn nơi thực tại mơ hồ. Cô đơn trong nỗi đau, hoài nghi. Anh mặc định mình là một kẻ trống rỗng, không bạn bè. Ngay ngày hôm đấy, anh chết. Tuổi trẻ, tình yêu, khát vọng - tất cả chỉ còn là một màu trong suốt vô hình. Và mười sáu năm sau, ý niệm về cái chết như phương thức giải thoát duy nhất vẫn còn đeo đuổi trong tâm trí anh. Nếu như không có sự xuất hiện của cô gái Sara, có thể Tazaki đã mang theo những tuyệt vọng, ám ảnh triền miên vào giấc ngủ không bao giờ thức tỉnh. Anh quyết định quay về những năm tháng lãng quên để tìm ra sự thật và giải mã những phần đứt đoạn của giấc mơ. Xuyên suốt tác phẩm, chuyến hành hương ngập tràn trong âm nhạc - thanh âm êm dịu của đoạn khúc Le mal du pays (Hoài hương) mà cô gái tên Trắng thường chơi. Cái chết bí ẩn của Trắng. Những đớn đau giày vò của Xanh, Đen và Đỏ. Sự thật đã giải thoát Không Màu khỏi hồi ức vỡ vụn! Trong thời đại của công nghê, Google và Facebook, con người đã dần quen với việc kết nối với nhau bằng mạng lưới thông tin đa chiều. Và chúng ta dường như ngủ mơ trong thế giới ảo mà quên rằng: lòng người - nơi tận cùng thế giới mới là nơi khó nắm bắt nhất. Nó hiện hữu đấy nhưng cũng rất đỗi mong manh vô hình. Và Murakami đã khẳng định một cách chua xót rằng, “Nếu muốn, bất cứ lúc nào chúng ta cũng có thể dễ dàng lấy được những thông tin như thế. Dẫu vậy, chúng ta thật sự gần như chẳng biết gì về mọi người”. Suốt mười sáu năm, Tasuki trốn chạy nỗi đau bằng cách tự gây tổn thương bản thân. Nhưng điều đó không giúp anh thoát khỏi ám ảnh. Đối diện với nỗi đau và những vết cứa sắc lẹm của nó mới chính là cách giúp con người tồn tại và xích lại gần nhau. “Lòng người và lòng người không bao giờ gắn kết với nhau chỉ bởi sự hài hòa. Mà trái lại, gắn kết với nhau sâu sắc bởi tổn thương và tổn thương. Nối liền với nhau bởi niềm đau và niềm đau, bởi mong manh và mong manh. Không có sự tĩnh lặng nào mà không chứa đựng những tiếng kêu bi thống, không có sự dung thứ nào mà không đổ máu trên mặt đất, không có sự chấp nhận nào mà không phải vượt qua những mất mát đau thương. Đó là thứ nằm trong căn đế của sự hài hòa đích thực". Đọc cuốn sách, có thể bạn sẽ nhớ lại những câu trong Kafka bên bờ biển. Chuyến hành hương của Tazaki vô tình gợi nhắc đến cuộc hành trình của Kafka để thoát khỏi lời nguyền định mệnh: Anh ngồi bên rìa thế giới Em trên miệng núi lửa đã tắt Đứng khuất trong bóng cánh cửa Là những lời không còn chữ Phía bên kia những lời không còn chữ. Đó mới là thực tại vẹn nguyên, là lòng người sâu thẳm. Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương không quá siêu thực, mơ hồ và huyền bí như những kiệt tác trước đó của Murakami. Thế nhưng, nó vẫn có sức hút mãnh liệt đối với độc giả. Với 13000 bản trong lần đầu ra mắt, tiểu thuyết này đã phá vỡ kỉ lục lượng xuất bản đầu tiên của bất kì cuốn sách nào tính đến thời điểm hiện tại. Xin phép được tạm dừng mọi luận bàn tại đây. Tất cả vẫn là một bí mật. Tất cả không thể là khởi đầu. Cho đến khi bạn gặp Tazaki. Và hành hương cùng anh ấy… *** Nhận định “Sự kết hợp đầy cảm hứng giữa Murakami ‘cũ’ và Murakami ‘mới’.”- Amazon “Câu chuyện của Tsukuru sẽ còn âm vọng cùng bất kỳ ai cảm thấy mình đang trôi dạt giữa kỷ nguyên Google và Facebook này.” - San Francisco Chronicle "Đây là một cuốn sách rất thực tế, như Rừng Na Uy vậy. Nó, với tôi, có vẻ nặng nề, thậm chí là u buồn hơn so với những tác phẩm khác, nhưng quan trọng nhất, là nó có triển vọng" - Philip Gabriel, dịch giả tiếng Anh của cuốn sách *** Haruki Murakami là tác giả Nhật Bản nổi tiếng vào bậc nhất cả trong lẫn ngoài nước Nhật. Tác phẩm của ông đã được dịch ra khoảng 30 thứ tiếng trên thế giới. Ở những nước đồng văn như Trung Quốc, Hàn Quốc các lãnh thổ Đài Loan Hồng kông hầu như toàn bộ tác phẩm Haruki đã được dịch, xuất bản; các tác phẩm mới vừa ra mắt độc giả Nhật Bản thì vài tháng sau đã có ngay bản dịch tiếng Trung Quốc, Hàn quốc. Ở Nga và Mỹ cũng có nhiều độc giả nhiệt liệt hâm mộ tác phẩm Haruki, qua các bản dịch nghiêm túc và thành công. Những nhà phê bình và độc giả ái mộ còn nói đến chuyện Haruki sẽ có thể đoạt giải Nobel văn học, hay có hình in trên giấy bạc Nhật Bản. Murakami Haruki là tác giả Nhật Bản có khuynh hướng phản kháng đối với truyền thống. Tác phẩm Haruki đặc sắc cả trong thể loại truyện dài lẫn truyện ngắn. Chính ông cho biết không đặc biệt chú trọng hay ưa chuộng thể loại nào hơn. Nhiều truyện ngắn của ông đã trở thành hạt giống được. khai phát thành truyện dài thành công. và nhiều truyện dài của ông đã chia nhánh phát triển thành những truyện ngắn đặc sắc. Mời các bạn đón đọc Tazaki Tsukuru Không Màu Và Những Năm Tháng Hành Hương của tác giả Haruki Murakami.
Ôi Đàn Ông! - Bì Bì
Ôi Đàn ông là tiểu thuyết mang đầy tính tự sự và cũng không kém phần hài hước của tác giả Bì Bì. Nhân vật chính của chuyện là Hồ Đông. Anh có một tính cách không nổi bất và có phần nhàm chàn. Từ một phó chủ tịch phụ trách văn hóa, văn nghệ anh được nhận chức Viện trưởng một Viện nghiên cứu văn hóa. Từ khi nhận chức vụ mới, những công việc và hệ lụy từ công việc và gia đình bắt đầu đổ dồn vào anh, đưa anh đến cảm giác bức bí, khó chịu và bất an nhưng anh vẫn phải cố gắng hằng ngày để thể hiện được vai trò và sếp ở cơ quan văn hóa mà thiếu văn hóa và làm chồng trong một gia đình từ lâu đã chẳng còn êm đềm… *** Tôi, bốn mươi hai tuổi. Nghe nói đàn ông tuổi này rất nhiều. Hy vọng tôi không giống họ. Đó không phải là sự theo đuổi gì về cá tính. Sự thật e rằng thế này: tôi không biết lái xe, cũng không đi nổi xe buýt, nuôi hai mươi lăm con cá nhiệt đới vui tính nên dần dần bị nhiễm đặc điểm của cá. Bởi vậy mọi người đánh giá về tôi thường là “không hiểu nổi”, “không rõ lắm”… Xét về hình thức, tôi là một người hòa nhã. Đàn ông như vậy, ai có thể gặp được nhiều cơ chứ? Nhất là cần phải nhấn mạnh rằng, tôi còn có một chức quan nho nhỏ, cũng nắm một chút quyền lực. Một hôm, vợ tôi phát hiện ra rằng, những người đàn ông có chút quyền lực như tôi, đã không còn hòa nhã, đã không còn khoan dung. Trước tiên, hãy để tôi giới thiệu về mình và những thứ xung quanh tôi. Như vậy đối với bạn sẽ tốt hơn. Trước khi bước vào câu chuyện, bạn có thể hiểu được đại khái về mọi thứ xung quanh. Cũng như khi tìm hiểu về một thành phố, trước tiên phải tìm hiểu về vùng ngoại ô của nó. Như vậy đối với tôi cũng tốt. Thậm chí trước mặt bạn, nom tôi vẫn đáng tin, như người muốn nói điều thật lòng, không có ý định dùng câu chuyện của người khác để gạt bạn. Sau khi đọc xong cuốn tiểu thuyết này vẫn tồn tại một khả năng là, dù sao đi nữa, bạn vẫn cảm thấy bị gạt. Vậy bạn hãy coi những lời tâm huyết của tôi như mớ rác rưởi, giống như vợ tôi đã làm. ... Mời các bạn đón đọc Ôi Đàn Ông! của tác giả Bì Bì.
Hang Động
Lấy cảm hứng từ huyền thoại hang động trong đối thoại triết học của triết gia thời cổ đại Platon, José Saramago đã viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Hang động, để phê phán xã hội tiêu thụ nói riêng và chủ nghĩa tự do mới của chủ nghĩa tư bản hiện đại, thông qua hình ảnh hủng khiếp của Trung tâm thương mại khổng lồ đang từng ngày từng giờ bành trướng về đất đai, về quyền uy, không chỉ về vật chất mà cả tinh thần, “một thành phố trong một thành phố, nhưng lại to hơn chính cái thành phố kia”. Cuốn tiểu thuyết phản ánh bước chuyển biến từ xã hội nông nghiệp - thủ công nghiệp sang xã hội công nghiệp hoá, hiện đại hoá với tốc độ nhanh chóng trên đất nước Bồ Đào Nha, qua đó chỉ rõ mỗi con người trong quá trình này đang bị đặt vào thế tiến thoái lưỡng nan: khi mà lối sống thực dụng, thói quen tiêu thụ, triết lý thị trường của xã hội tư bản ngày càng phát triển, sinh ra những mối quan hệ mới, những thế giới quan mới, buộc người ta phải quen với một trạng thái nô lệ kiểu mới, “ai không điều chỉnh được sẽ không dùng được”, và cũng như trong tác phẩm của Platon, một số người thoát ra khỏi hang động này, kịp thời nhận ra có thể có một cách sống khác. Câu chuyện xoay quanh số phận của một gia đình ba đời làm nghề gốm ở một vùng quê nghèo và đã bị Trung tâm đẩy vào bước đường cùng. Là nhân viên của Trung tâm, Marcal thì làm việc quần quật, đến nỗi vợ của anh, Maarta “chỉ được tận hưởng sự có mặt của chồng ở nhà và ở trên giường vẻn vẹn có sáu đêm và ba ngày mỗi tháng”. Trước bước phát triển như vũ bão của nền kỹ thuật, công nghiệp, cha con ông Cipriano Algor là những người thợ gốm cuối cùng cũng đành bỏ nghề, một nghề xưa nay vẫn có thể sản xuất ra của cải nay chỉ còn là kỷ niệm, nhà xưởng biến thành nghĩa trang, sản phẩm thành di sản khảo cổ cho hàng ngàn năm sau. Họ chuyển vào sống ở Trung tâm, vốn là ước mơ của bao người, trong gần ba tuần, mà chẳng khác gì bị tù, để rồi người cha phải thốt lên: “tại sao mình lại có thể để bị giam kín trong suốt ba tuần mà không nhìn thấy mặt trời và những ngôi sao…”. Cuộc sống tự do đã thôi thúc họ từ bỏ tất cả, đi tìm một cuộc sống mới không chỉ cho họ mà cho cả con cái của họ nữa. Câu chuyện có ý nghĩa hiện thực sâu sắc và cũng hết sức cảm động về tình cảm vợ chồng, cha con, về tình yêu giữa hai người goá bụa nảy nở trong hoàn cảnh khó khăn cùng cực. Một cốt truyện giản dị, sâu sắc được kể liền mạch như trong một cuộc độc thoại nội tâm dài. Phong cách viết tiểu thuyết của José Saramago hết sức độc đào. Ông thường viết những câu văn rất dài, dùng dấu chấm, dấu phẩy mới nhìn tưởng là sai ngữ pháp, nhưng xem kỹ lại thấy hợp lý, mọi đối thoại đều liền mạch nối dài như mãi không dứt. Xen vào mạch truyện, ông thường đưa ra những nhận xét về mọi bình diện của cuộc sống, tuy đôi khi có những ý kiến rất khó hiểu những độc giả luôn tiếp nhận một cách thích thú. *** José de Sousa Saramago (16/11/1922 - 18/6/2010) là nhà văn, nhà thơ Bồ Đào Nha đoạt giải Nobel Văn học năm 1998. José Saramago sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở một làng nhỏ cách thủ đô Lisboa 100 km. Bố là lính pháo binh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, quyết định bỏ công việc đồng áng lên sống ở Lisboa. Những năm tiểu học, cậu là một học sinh giỏi: hoàn thành lớp ba và lớp bốn chỉ trong một năm. Khi lớn lên, vì không có khả năng tài chính Saramago phải vào học một trường kĩ thuật để trở thành thợ cơ khí. Học xong hai năm, Saramago làm việc cho một tiệm sửa chữa xe hơi, vào buổi tối, ông thường tới một thư viện công cộng ở Lisboa để đọc sách tự học thêm. Năm 1944, José Saramago cưới vợ, chuyển sang làm việc ở cơ quan phúc lợi xã hội. Năm 1947, ông viết xong cuốn tiểu thuyết đầu tiên Viúva (Góa phụ) nhưng do yêu cầu nhà xuất bản đã đổi thành Terra do Pecado (Mảnh đất tội lỗi). Sau đó Saramago còn bắt tay viết thêm mấy tiểu thuyết, nhưng rồi ông hiểu ra rằng mình chưa có gì để nói với thế giới nên đã lặng lẽ biến khỏi văn đàn suốt 19 năm không ai để ý. Vì các lý do chính trị, năm 1949 Saramago bị thất nghiệp nhưng nhờ lòng hảo tâm của một thầy giáo cũ ở trường kĩ thuật, ông tìm được việc làm ở công ty hợp kim. Sau đó ông chuyển sang làm việc với nhà xuất bản Estudios Cor. Đến năm 1966, ông xuất bản Os Poemas Possíveis (Chùm thơ có thể) đánh dấu sự trở lại của ông với văn chương. Năm 1969 ông vào Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha. Năm 1970, ông xuất bản tập thơ Provavelmente Alegria (Có thể đây là niềm vui). Sau khi li dị năm 1970, ông có mối quan hệ với nhà văn Isabel Da Nóbrega. Năm 1971, ông rời nhà xuất bản, làm việc trong hai năm cho tờ báo buổi tối Diario de Lisboa. Năm 1975, Saramago xuất bản tập thơ O Ano de 1993 (Năm 1993) và tiểu thuyết Manual de Pintura e Caligrafia (Tài liệu về hội họa và thư pháp, 1978); tiếp đó ông liên tiếp cho ra đời các tập truyện và tiểu thuyết như Objecto Quase (Mục tiêu Quase, 1978), Đêm tối (1979), Que farei com este livro? (Tôi có thể làm gì với quyển sách này?, 1980)... Năm 1988, ông kết hôn với nhà báo Pilar Del Rio. Năm 1993, ông bắt đầu viết hồi ký gồm năm tập. Năm 1995, ông được trao giải Camoes. Năm 1998 ông được trao giải Nobel Văn học, cho đến nay là người Bồ Đào Nha duy nhất được nhận giải thưởng này. Năm 2000 Saramago hoàn thành tiểu thuyết A Caverna (Hang động), là cuốn cuối cùng trong bộ ba tiểu thuyết - 2 cuốn đã xuất bản là Ensaio sobre a Cegueira (Mù lòa, 1995) và Todos os nomes (Tất cả các tên gọi, 1997). Sáng tác của Saramago đa dạng và đầy mâu thuẫn. Tiểu thuyết Phúc âm theo Jesus Christ (1991) bị nhà thờ Cơ đốc giáo buộc tội "coi thường sự thật lịch sử và xuyên tạc các nhân vật chính trong Tân ước" nhưng lại được tái bản hơn hai chục lần trong nước và được dịch ra 25 thứ tiếng nước ngoài. Một trí thức tự học, gắn bó với văn chương từ trẻ nhưng phải đến sáu chục tuổi mới được thừa nhận, Saramago thường cay đắng nói: "Lên sao Hỏa còn dễ hơn là gọi được cửa trái tim của những kẻ cùng thời". Tuy vậy, giải Nobel có vẻ đã phủ nhận suy nghĩ bi quan này. Một số tác phẩm của được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Mọi Cái Tên Mù Lòa Hang Động ... *** Đồ đạc của bố ở đây, Marta nói, không nhiều lắm, chứa đủ trong chiếc vali nhỏ nhất, hình như bố đã linh cảm thấy mình chỉ ở đây có ba tuần thôi phải không, Đến một lúc nào đó trong cuộc đời người ta chỉ còn vác trên vai cái thân mình nữa thôi, Cipriano Algor nói, Câu nói hay đấy, Vâng, thưa bố, nhưng con chỉ muốn bố nói xem sẽ sống bằng gì nào, Nhìn ngắm những bông hoa loa kèn, chúng đẹp giản dị, chẳng thêu dệt rắc rối. Cũng là một câu nói đẹp, chính vì thế thứ hoa đó mãi mãi cũng chỉ là hoa loa kèn, Con là một kẻ hoài nghi điên cuồng, một kẻ vô sỉ khó chịu, Bố ơi, con xin bố, con đang nói chuyện một cách nghiêm túc, Bố xin lỗi con, Con hiểu chuyện vừa rồi là một cú sốc lớn đối với bố, cả đối với con nữa, dù con không xuống dưới đó, con hiểu rằng những người đàn ông và đàn bà kia không chỉ đơn giản là những người đã chết, còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều, Thôi con đừng nói nữa, bởi vì họ không chỉ đơn giản là những người đã chết mà còn có ý nghĩa lớn hơn nhiều nên bố không muốn tiếp tục sinh sống ở đây nữa, Thế còn chúng con, còn con thì sao, Marta hỏi, Các con hãy tự quyết định lấy cuộc đời mình, bố đã quyết định đời của bố rồi, bố sẽ không sống nốt những ngày còn lại của mình trong cảnh bị trói chặt vào ghế đá và nhìn vào bức tường. Thế bố sẽ sống ra sao, Bố có tiền mà người ta thanh toán cho những hình người bằng gốm, đủ sống một hoặc hai tháng, sau đó ta sẽ tính tiếp, Con không nói đến chuyện tiền nong, bằng cách này hay cách khác thì bố cũng không thiếu tiền cho những nhu cầu về ăn, mặc, điều con muốn nói là bố sẽ phải sống một mình, Bố đã có con Achado, rồi hai con thỉnh thoảng lại về thăm bố nữa, Bố ơi, Gì cơ, Thế còn Isaura, Isaura thì có liên quan gì đến chuyện này, Bố đã nói với con là tình hình giữa hai người đã có thay đổi, nhưng lại chẳng giải thích rõ nó thay đổi như thế nào và tại sao bằng, Và đúng vậy đấy, Nếu như vậy, Như vậy thì sao nào, Hai người có thể sống chung với nhau, ý con muốn nói như vậy. Cipriano Algor không trả lời. Ông xách vali lên, Bố đi đây, ông nói. Cô con gái ôm chặt lấy bố, Chúng con sẽ về thăm bố trong ngày nghỉ đầu tiên của Marçal, trong tiếng từ giờ đến lúc đó bố phải luôn thông báo tin tức cho con nhé, khi về đến nơi, bố nhớ gọi điện ngay cho con nói xem căn nhà ra sao, và cả tình hình con Achado nữa, đừng quên con Achado đấy, bố nhé. Với một chân ở ngoài cửa, Cipriano Algor còn nói, Con hãy ôm hôn Marçal thay cho bố nhé, Thì bố đã ôm hôn anh ấy và đã chia tay anh ấy rồi mà, Ừ, nhưng bố cứ nhờ con thêm một lần nữa. ... Mời các bạn đón đọc Hang Động của tác giả José Saramago.
Chuông Gọi Hồn Ai - Ernest Hemingway
Ernest Hemingway (1899 - 1961) là nhà văn, nhà báo người Mỹ. Ông từng tham gia chiến đấu trong Chiến tranh thế giới lần thứ Nhất, sau đó ông được biết đến qua "Thế hệ đã mất", nhận được giải thưởng báo chí Pulitzer năm 1953 với tiểu thuyết Ông già và biển cả, và giải Nobel văn học năm 1954. Hemingway để lại ấn tượng sâu sắc đối với bạn đọc qua nguyên lý tảng băng trôi, văn phong của ông được mô tả bởi sự kiệm lời nhưng có nhiều tầng ý nghĩa, phải suy nghĩ thật sâu mới có thể hiểu hết được những gì tác giả gửi gắm. Nhiều tác phẩm của ông hiện nay được coi là những tác phẩm kinh điển của nền văn học Mỹ. Từ nhỏ Hemingway đã không thích học đàn mà thích đấu võ quyền Anh, bản tính chuộng chủ nghĩa cá nhân đã thể hiện nơi con người Hemingway bằng các phản kháng nhỏ nhặt, để rồi trong cuộc đời sau này, đã hiện ra bằng các hành động trên tầm vóc lớn hơn. Ngay từ khi còn học ở trường trung học, ông đã bắt đầu viết văn và tham gia vào các hoạt động báo chí của trường. Năm 1917, ông rời trường trung học và thay vì đi học đại học ông tời thành phố Kansas làm phóng viên cho tờ báo Star. Nhưng nghề phóng viên không hấp dẫn ông được lâu, do ưa thích mạo hiểm Hemingway đã tình nguyện đăng ký vào Hội đồng thập tự Hoa Kỳ và qua miền bắc nước Ý là tài xế xe cứu thương. Năm 1918, khi chưa tròn 19 tuổi ông bị thương nặng ở chân trong khi đag cõng một người lính Ý mang tới địa điểm chỉ huy. Ông được chữa trị tại bệnh viện Milan và được tưởng thưởng huy chương anh dũng. Những trải nghiệm trong cuộc chiến này đã cung cấp cho ông những hiểu biết để viết nên tác phẩm "Giã từ vũ khí" (1929), một tiểu thuyết nổi danh nhất đề cập tới chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, ông trở lại Hoa Kỳ sinh sống và tiếp tục viết văn. Nhưng ông cùng một số nhà văn khác tự nhận mình là "thế hệ lạc lõng" - từ để ám chỉ một thế hệ sau chiến tranh, đặc biệt là các nhà văn trẻ khi cuộc sống và niềm tin của họ đã bị tổn thương vì chiến cuộc, vì các tham lam vật chất đang dần dần trở nên một thực tại khiến cho cuộc sống hóa vô nghĩa. Trong thời gian làm phóng viên tại Paris, Ernest Hemingway đã đi khắp châu Âu, phỏng vấn các nhân vật danh tiếng như Lloyd George, Clemenceau và Mussolini… rồi vào năm 1925, cuốn tiểu thuyết quan trọng đầu tiên của Hemingway được xuất bản tại New York với tên là "Trong thời đại của chúng ta" (In Our Time). Cũng vào thời gian này, nhiều thú vui như trượt tuyết, coi đấu bò rừng, đi câu cá và đi săn… đã là từng phần của cuộc sống của ông và từ đó tạo nên nền móng của các cuốn tiểu thuyết sau này. Năm 1950, Hemingway xuất bản cuốn sách "Qua sông và vào trong rừng" nhưng không gây dấu ấn với độc giả. Năm 1952, cuốn tiểu thuyết "Ông già và biển cả" đã mang lại ngôi vị cho ông trên văn đàn, giúp ông nhận được giải thưởng báo chí danh giá Pulitzer năm 1953. Năm 1954 ông được viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng giải Nobel văn học vì thể văn mạnh mẽ dùng trong nghệ thuật kể chuyện mới lạ và thể hiện gần đây nhất qua tác phẩm "Ông Già và Biển Cả". Thời gian này người ta vẫn thấy ông đầy sức sống nhưng thực tế ông không hạnh phúc. Hemingway đã phải dưỡng bệnh dài hạn tại bệnh viện Mayo, ông bị ám ảnh vì cao huyết áp và suy sụp tinh thần. Tháng 7 năm 1961, ông thức dậy sớm và tự sát bằng một khẩu súng săn tại một nơi vắng vẻ của thị trấn Ketchum, Idaho. Ông ra đi mà không để lại lời trăn trối nào ngoài hình ảnh của các nhân vật trong nhiều cuốn tiểu thuyết mà ông đã sáng tạo ra. • Các Tác Phẩm Đã Xuất Bản Tại Việt Nam Ông già và biển cả (2000) Chuông nguyện hồn ai (Chuông gọi hồn ai) (2001) Giã từ vũ khí (2001) Hạnh phúc ngắn ngủi của Mác Cômbơ (2003) Truyện ngắn - Ernest Hemingway (2004) Truyện cực ngắn của Ernest Hemingway (2004) Hội hè miên man (2004)  *** “Chuông gọi hồn ai" là một bản anh hùng ca về cuộc đấu tranh anh dũng của nhân dân Tây Ban Nha chống lại bọn phát xít Franco bảo vệ chế độ cộng hòa, một cuộc chiến kéo dài từ năm 1936 tới năm 1939. Nhân vật chính là Robert Jordan, một chiến sĩ người Mỹ chiến đấu trong Lữ đoàn quốc tế, tham gia cuộc chiến tranh vĩ đại chống lại sự bành trướng toàn cầu của chủ nghĩa phát xít. Trong kế hoạch tấn công nhằm giải phóng một vùng lãnh thổ Tây Ban Nha của Sư đoàn số 14 do tướng Golz người Nga chỉ huy, Robert Jordan được lệnh phối hợp với một nhóm du kích đặt mìn phá hủy một cây cầu để chặn viện binh và đường rút chạy của quân địch. Anh lên đường đến Villaconejos để tổ chức kế hoạch tấn công cây cầu. Tại đây, khi gặp cô du kích Tây Ban Nha xinh đẹp tên là María, mối tình sâu nặng và đồng điệu trong một lý tưởng chung giữa anh và cô nảy nở. Tình yêu đó đã giúp cho hai người nhận thức sâu sắc hơn ý nghĩa của cuộc sống và công việc họ đang làm. Nhưng bỗng Robert Jordan nhận thấy bọn phát xít đã đánh hơi được kế hoạch của cuộc tấn công và đang ráo riết tập trung quân bố trí phản kích. Anh cử ngay Andrés mang báo cáo về Ban chỉ huy Sư đoàn đóng ở Navacerrada đề nghị thay đổi kế hoạch tác chiến và cho ngừng ngay việc phá hủy cầu. Thế nhưng thật không may, do nhiều trắc trở và tính quan liêu của nhiều sĩ quan, lẽ ra đoạn đường chỉ cần đi trong ba giờ, Andret phải mất cả một ngày. Khi bức thư của Robert Jordan đến tay Gôndơ thì đã quá muộn, những chiếc máy bay ném bom đầu tiên mở màn cho trận đánh đã quần đảo trên bầu trời. Robert Jordan đành cho nổ mìn phá cây cầu theo kế hoạch đã định và dẫn đội du kích rút lui. Dọc đường, bom đạn quân thù khiến anh bị gãy chân, vết thương quá nặng, anh quyết định từ giã đồng đội và người yêu, ở lại ngọn đồi bên cạnh chiếc cầu bị phá nhằm chiến đấu cầm chân địch cho đội du kích rút lui an toàn. (Sau này cuộc chiến chống Phát Xít thất bại và tướng Franco cai trị đến tận sau Thế Chiến Thứ 2; thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Tây Ban Nha.) • Giá Trị Tác Phẩm Thông qua nội dung miêu tả hoạt động của một nhóm du kích quân địa phương dưới sự giúp đỡ của một chiến sĩ cộng hòa người Mỹ, “Chuông gọi hồn ai" một mặt ca ngợi cuộc kháng chiến kiên cường của dân tộc Tây Ban Nha vì hòa bình tự do, mặt khác phản ánh tinh thần quốc tế cao quý của các chiến sĩ thuộc Lữ đoàn quốc tế đã cùng nhân dân Tây Ban Nha chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, dập tắt ngọn lửa hung bạo của chiến tranh đang tràn ngập khắp nơi. Tác phẩm hé lộ mẫn cảm nhanh nhạy của tác giả trong việc nắm bắt vấn đề trọng tâm của nhân loại trong những năm 1930 của thế kỷ 20, đó là nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa phát xít. Nó là lời tố cáo đanh thép tội ác man rợ của bọn Franco, lên tiếng đấu tranh chống lại chủ nghĩa phát xít khi nó vừa trỗi dậy. Đồng thời, bằng cách nhìn, cách nghĩ mới mẻ, Hemingway còn cố gắng giải quyết mối quan hệ giữa nhân dân và lịch sử cũng như những vấn đề về sự sống, cái chết, tình yêu, chỗ đứng và trách nhiệm của mỗi con người trong xã hội mà thực tế cuộc cách mạng Tây Ban Nha đã đặt ra. Về mặt nghệ thuật, “Chuông gọi hồn ai" là đỉnh cao phong cách trữ tình của Hemingway, một phong cách đã in đậm trong nhiều tác phẩm của tác giả như Mặt trời cũng mọc (The sun also rises, 1926), Giã từ vũ khí (A farewell to Arms, 1929), Ông già và biển cả (The old man and the sea, 1952)... Tác phẩm cố gắng đi sâu vào miêu tả vẻ đẹp tâm hồn các nhân vật, thể hiện được những con người cá nhân có nhiều suy tư, có cá tính, gây ấn tượng mạnh mẽ, biết hy sinh cuộc sống riêng tư cho lý tưởng hoặc biết chịu đựng một sự thất bại bên ngoài để đổi lấy sự chiến thắng về tinh thần bên trong. Những đoạn độc thoại nội tâm của các nhân vật và những dòng trữ tình ngoại đề trong cuốn sách khiến cốt truyện của “Chuông gọi hồn ai" tưởng như đơn giản lại trở nên sinh động, phong phú trong các tình tiết, nhuần nhuyễn và linh hoạt trong kết cấu, cuốn hút hàng triệu độc giả trên khắp thế giới khi tiếp cận tác phẩm. Mặc dù tư tưởng của nhà văn ít nhiều còn thiếu lạc quan khi biểu lộ cảm quan định mệnh phảng phất trong tâm lý của một số nhân vật chính, cũng như tính chất bi kịch đậm nét ở phần cuối câu chuyện ít nhiều làm giảm cảm hứng tích cực của người viết trong tác phẩm, nhưng “Chuông gọi hồn ai", cuốn tiểu thuyết ra đời trong máu lửa chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Tây Ban Nha, vẫn là một trong những tiểu thuyết đặc sắc nhất của văn hào Hemingway cũng như của nền văn học hiện thực Mỹ thế kỷ 20. “Chuông gọi hồn ai" (For Whom the Bell Tolls) còn là tên 2 ca khúc do 2 ban nhạc nổi tiếng thế giới trình bày là Metallica (trong album Ride the Lightning) và ban nhạc anh em Bee Gees (trong album Size Isn't Everything) Mời các bạn đón đọc Chuông Gọi Hồn Ai của tác giả Ernest Hemingway.