Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Bà Chúa Hòn

Cuốn tiểu thuyết Bà Chúa Hòn mang màu sắc lịch sử và không khí miệt vườn Lối dẫn dắt tự nhiên, ngôn ngữ mộc mạc đậm chất Nam Bộ Không chỉ mang giá trị nghệ thuật, tác phẩm còn là những bài học sâu sắc về tình người *** Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng. - Ngày mai cho con ra ruộng nghe ba! Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái đĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Cuốn tiểu thuyết  "Bà chúa hòn"  bắt đầu như thế với nhân vật cô bé tên Huôi. Số phận đã sắp đặt cho cô, khi lớn lên, sẽ trở thành bà chúa Hòn. Hòn Chông là dãy đồi thấy, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chái lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi lớn nhất vẫn là nghề trồng hồ tiêu. Ông Xìn Phóc là người Triều Châu lai Cao Miên, trở thành ông Chúa Hòn đầu tiên, sau khi ông chết, người kế vị là con trai ông, Hai Minh. Bá Vạn là người nắm giữ sổ sách thu chi cho Hai Minh. Ông này là người Triều Châu lai Việt Nam, tuổi chừng 60, lắm mưu nhiều kế, có ý định giết ông Chúa Hòn, lật con bà cả để dành tất cả tài sản về tay mình. Mười mấy năm trôi qua, nay Huôi đã trở thành hoa khôi trong vùng, xinh đẹp tuyệt trần, vóc dáng cao ráo, nước da trắng mịn, trán cao, môi đỏ như thoa son... Bá Vạn muốn mượn sắc đẹp của Huôi để lung lạc ông Chúa Hòn... *** Sơn Nam  (1926 - 2008) là một nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu văn hóa Việt Nam nổi tiếng với nhiều tác phẩm có giá trị. Với khối lượng tác phẩm đồ sộ, ông là người thành công ở nhiều lĩnh vực: lĩnh vực nghiên cứu, ông có nhiều biên khảo công phu, khoa học, khoảng 20 tác phẩm. Có những tác phẩm rất có giá trị cho việc tìm hiểu về vùng đất Nam Bộ, như: “Ấn tượng 300 năm, Bến Nghé xưa, Cá tính miền Nam, Danh thắng miền Nam, Đất Gia Định xưa, Đồng bằng sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa, Giới thiệu Sài Gòn xưa, Lịch sử An Giang, Lịch sự khẩn hoang miền Nam, Người Sài Gòn... “Sơn Nam là một trong số những nhà văn từng sống ở đô thị miền Nam nhưng tác phẩm vẫn được in liền mạch sau giải phóng, điều đó không phải dễ. Trước hết, tác phẩm của Sơn Nam không thuộc dạng a dua. Sống dưới chế độ ấy mà tránh được lối viết ấy quả là rất cao tay. Có lần người viết bài này hỏi vậy, Sơn Nam cười nhẹ, cũng chẳng giỏi giang gì đâu mà tôi chủ yếu viết về phong tục, về lịch sử khai khẩn đất đai Nam Bộ, và nếu là truyện thì đi vào tầng lớp nông dân, dân nghèo thành thị. Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghiệp sáng tác, những trang viết của ông không đơn thuần là sự giải trí cho độc giả mà còn là những khảo cứu, khám phá về mảnh đất phương Nam. Là người Nam Bộ chính gốc nên nhà văn Sơn Nam là người am hiểu quá trình hình thành dải đất này. Những sáng tác của ông mang hơi thở của thiên nhiên, của văn hóa và con người Nam Bộ được thể hiện qua giọng văn giản dị, mộc mạc...” *** HÀ TIÊN LÀ TỈNH XA XUÔI NHỨT của miền Nam thời xưa cũng như thời nay nếu ta lấy Huế hoặc Saigon làm tiêu chuẩn. Khác với vùng sình lầy mũi Cà Mau, Hà Tiên có khung cảnh khá ngoạn mục, trong đất liền là đồi núi trùng điệp, ngoài biển là năm bảy chu4c hải đảo lớn nhỏ, Hà Tiên còn là nơi ‘‘ba biên giới’’ :Việt Nam, Cao Miên và vượt qua eo biển là đến Thái Lan . Mỗi ngọn đồi, mỗi hải đảo đều có một ông Chúa hay bà Chúa thống trị, khi chết, các ông bà này được tôn thờ trong miếu nhỏ, giống như trường hợp mấy ông Thành Hoàng. Lẽ dĩ nhiên các ông bà đều là người phàm mắt thịt, nhờ mưu mô, nhờ tài kinh doanh mà gây được thế lực với đám dân chúng ở xung quanh. Vài ông bà Chúa nếu còn sống đến năm nay chỉ độ non trăm tuổi, bởi vậy thành tích của họ còn được nhắc nhở tỉ mỉ với bao nhiêu tánh tốt và thói xấu. Chúng tôi xin thuật lại những giai đoạn gay cấn và thơ mộng nhứt của bà chúa hòn Me, một ngọn đồi nhỏ dính vào đất liền sát mé biển phía Bắc chợ Rạch Giá. Trước kia, bà là con gái một nông dân nghèo tên là Tư Thính, có lẽ họ Huỳnh ; Tư Thính cất căn nhà nhỏ ở chân đồi, giữa tư bề rừng rậm. Như đã nói, hòn Me xưa kia là hải đảo, đất phù sa lấn ra biển, nối hòn vào đất liền. Vùng chung quanh hòn quá ẩm thấp chịu ảnh hưởng nước mặn ngoài biển tràn vào nên cây cối mọc xơ rơ. Hằng năm, Tư Thính cày chừng một mẫu ruộng, kiếm chút ít lúa gạo đủ ăn trong gia đình. Buổi chiều đầu mùa mưa, cảnh vật buồn bã làm sao! Ếch nhái kêu vang bên chòi, trong bóng tối chập chờn, xa lắm qua rặng cây tràm mới thấy vài ánh đèn. Ở trên hòn là đói, khó cày cấy trồng tỉa. Bởi vậy Tư Thính đến tận vùng sình lầy mà chịu đựng muỗi mòng. – Ngày mai, cho con ra ruộng nghe ba! Tư Thính day lại. Đứa con gái vừa lên tám tuổi bưng chén cơm đến gần. Chú vuốt tóc con, bùi ngùi thương xót. Mẹ nó mất hồi năm ngoái. Ngày nào cũng, vậy, trước khi ra ruộng, chú bới sẵn chén cơm, gắp khứa cá để trong cái dĩa nhỏ. Khi thức dậy, đứa con ăn cơm một mình rồi ra ngồi ở góc sân, trông ra ruộng. Chú từ chối khéo léo: – Con ở nhà, ra ruộng nắng lắm. Nhưng bé Huôi vịn vai chú, nói thật nhanh: – Ngoài ruộng có cây thị, bóng mát. Nghe qua, chú Tư Thính giựt mình. Đành rằng đến tám chín tuổi thì đứa bé có chút ít trí khôn, ghi nhớ những gì mà người lớn thường nói nhiều lần. Tại sao bé Huôi biết ở ngoài ruộng có một cây thị, cây ấy to lắm, ở xa nhà, bé Huôi chưa ra tới đó lần nào? Hồi năm ngoái trái thị sai quằn, chú với tay hái năm sáu trái đem về nhà cho bé Huôi, trái thị mầu vàng da láng tỏa ra mùi thơm kỳ diệu mà nhiều người cho rằng có thể quyến rủ ma quỉ hoặc thần thánh. Chú Tư Thính hơi e ngại: – Mùa nầy thị chưa có trái. Ra đó, làm sao con ngủ trưa? Bé Huôi nói rành rọt như người lớn. – Con đội nón, ngồi dựa vô gốc cây. Vì không muốn quở mắng vô lý đứa con thân yêu, Tư Thính tìm cách từ chối: – Bữa nào rảnh, ba cho con ra ruộng. Ngoài đó muỗi mòng, đủ thứ kiến lửa, kiến vàng. Lâu lâu, vài con rắn bò ra… Bé Huôi cười dòn: – Con đâu sợ rắn. Ba hứa lâu rồi. Ngày mai, con ra ruộng mới được. Ba không bồng con thì con đi một mình. Gương mặt bé Huôi lúc bấy giờ trông thật dễ thương, mà cũng dễ sợ. Mắt nó sáng lên, hai tròng mắt đen lánh, hàm răng đều đặn, chói màu trắng ngà. Tư Thính ngỡ rằng người khuất mặt đã thúc giục bé Huôi nói những câu quá khôn ngoan, dành riêng cho mấy đứa bé ít lắm là mười bốn, mười lăm tuổi. Chú đốt đèn lên. Bé Huôi nghiêm nét mặt, đôi môi ửng đỏ như tô son. Chú Tư Thính nhìn kỹ đứa con gái rồi tự trấn an: “Lớn lên, nó xinh đẹp nhứt làng nầy. Con nít khôn trước tuổi là sự thường”. Bé Huôi ngáp dài: – Con muốn đi ngủ, sáng mai con ra ngoài gốc cây thị để coi ba cày ruộng. Ngoài đó vui lắm. Hôm sau, Tư Thính cố ý thức thật trể. Chú vác cày trên vai, cho đôi trâu đi trước, bé Huôi lững thững theo sau, đến gốc cây thị, nó ngồi xuống. Mặt trời lên cao, chưa chi, chú đã đổ mồ hôi lưng, bao nhiêu ý nghĩ đen tối hồi chiều hôm qua đều tan biến. Chú được yên tâm vì bé Huôi đã dựa lưng vào gốc cây thị. Nó nằm yên, như đã ngủ. Đôi trâu đi tới rồi đi lui, được ba rồi đến bốn, năm, sáu, bảy luống cày. Trong khi đó, từ dưới hang sâu bên gốc cây thị, một con rắn hổ to tướng bò lên. Rắn quấn mình chung quanh bụng bé Huôi, quấn một vòng, hai vòng, ba vòng rồi đến bốn vòng. Sau rốt, rắn ngẫng cổ lên, cao khỏi đầu bé Huôi. Rắn quơ đầu, hất mạnh cái nón lá trên đầu con bé rồi nghiêng cổ tới, im lìm. Đột nhiên Tư Thính giựt mình. Đôi trâu đứng lại, không chịu bước tới. Chú quơ roi quất mạnh: – Xe! Pháo! Hai con trâu Xe và Pháo rống lên quậy chân sau xuống bùn. Cả hai day mặt về phía Tư Thính, mắt trợn tròn như giận dữ. Tư Thính hỏi: – Điên rồi sao chớ? Cái gì? Nhưng đôi trâu dường như nhìn xéo về gốc cây thị. Tư Thính chợt nhớ tới bé Huôi. Chú trố mắt: – Trời ơi! Rắn quấn con tôi! Rồi bỏ đôi trâu, chú cố gắng chạy đến gò đất. Chú lê lết như có sức mạnh nào níu đôi chân trở lại. Bé Huôi vẫn ngồi yên, con rắn hổ quá to, nào kém gì con trăn. Kỳ dị nhứt là cái đầu rắn, cái đầu vươn lên nghiêng tới như cố ý che nắng cho bé Huôi. Vì sợ con rắn nọ siết chặt khiến bé Huôi nghẹt thở hoặc gãy xương ngực, chú đành liều bước đến gần với dụng ý xua đuổi con rắn, nếu cần, chú sẵn sàng chịu chết thay con. Con rắn nọ day mỏ về phía Tư Thính. Dưới ánh nắng tỏ rõ buổi trưa, chú thấy nó trợn mắt, mớ vảy lấp lánh như hàng trăm miếng kiếng màu xanh đậm. Nó hạ cái đầu xuống rồi từ từ tháo ra. Trong lúc ấy, Bé Huôi vẫn ngồi xếp bằng, xuôi tay. Khi rắn tháo mình đến vòng chót, Tư Thính chẳng còn kiên nhẫn được nữa. Chú la lớn: – Con ơi, chạy cho mau! Nhưng Tư Thính không đủ can đảm và không còn đường nào để chạy. Nhanh như cơn gió lốc, con rắn to tướng nó phóng ngang mặt chú, như để chận đường. Chú té quị xuống bùn rồi lồm cồm đứng dậy, vuốt mặt. Bé Huôi từ từ cựa quậy: – Ba! Sao ba té? Chú mừng quýnh vì đứa con thân yêu vẫn mạnh khỏe và tỉnh táo. Để vững bụng hơn, chú hỏi đôi ba lượt: – Con! Biết ba đây là ai không? Tay chú véo mạnh vào lưng bé Huôi, miệng nói lia lia: – Con có đau không? Con thức hay ngủ? Bé từ từ đứng dậy, đôi môi đỏ thắm hé nụ cười: – Ba nói, con tức cười quá… Nhưng Tư Thính cứ tiếp tục mở nút áo đứa con gái, xem kỹ làn da. Bấy lâu chú nghe đồn đãi rằng rắn hổ có hơi độc từ trong miệng phun ra. Bé Huôi nói: – Đói bụng rồi, về nhà ba nấu cơm cho con ăn nghe ba. Lập lức chú cõng đứa bé sau lưng, bước nhanh về căn chòi, hai con trâu rống lên, kéo mạnh cái cày vô chủ. Mâm cơm dọn ra, chú ăn sơ sài vài miếng rồi tháo ách cho đôi trâu vào chuồng. Con rắn to tướng ấy là điềm lạ, chưa biết lành dữ thế nào. Chú muốn gặp ông đạo Đất ở trong cốc phía Đông hòn Me để nhờ giải đáp. Bé Huôi lại đòi ngủ. Chú khuyên lơn: – Con đi xóm với ba, nghe con? – Con muốn ở nhà. – Rủi con rắn tới đây thì ai cứu con? Ba cõng trên vai, con cứ ngủ. Phải con ở nhà thì nãy giờ ba cày xong công ruộng rồi. Từ rày về sau, con đừng đòi ra gốc cây thị nữa. Bé Huôi trả lời: – Hồi nãy đâu phải con rắn! Cốc của ông đạo Đất hiện ra. Đó là cái chòi nhỏ bé lợp bằng tranh. Theo chữ nho, cốc là hang đá. Vùng Hòn Me thiếu những hang đá thiên nhiên. Đá xanh mọc nhô ra từng tảng lớn chỉ vừa cho đôi người ngồi núp mưa nắng mà thôi. Mùa mưa đến, nước chảy tuôn tràn, thỉnh thoảng mấy tảng đá sụp xuống, mang theo mấy giề đất sỏi. Mấy ông lên non tầm đạo vì không tìm được cái hang thiên tạo nên cất tạm căn chòi nhỏ bằng cây. Gọi cốc cho có vẻ huyền bí của một đạo sĩ tu tiên. Ông đạo Đất gây được khá nhiều uy tín nhờ tài trị bịnh. Bất cứ bịnh nhân nào đến, ông cũng hốt cho một mớ đất để làm thuốc: bỏ cục đất trong một cái túi nhỏ, đeo dưới ngực để trị bịnh tà ma, đem cục đất nướng cho dòn rồi tán nhỏ, uống với nước nóng để trị bịnh ăn uống khó tiêu, đau bao tử. Gặp trường hợp trặc chân gãy tay, ông đạo vẫn dùng đất sét mà bó rịt vết thương. Tư Thính giữ thái độ im lặng kính cẩn khi đến cốc. Ông đạo nằm dài trên nền đất, không trải chiếu đắp mền gì cả. Khi Tư Thính lên tiếng: – Kinh chào thầy…. Ông đạo vẫn lim dim, hồi lâu mới chịu gật đầu. Bé Huôi nói khá to, phá rối sư yên tĩnh: – Ở đây buồn quá, ba ơi! Con muốn về nhà. Ông đạo Đất lồm cồm ngồi dậy, nhìn bé Huôi. Tư Thính bèn lên tiếng như để biện hộ cho đứa con: – Nó còn nhỏ, thầy tha thứ cho. Mấy ngày rày nó nói bậy bạ, lại xảy ra vài điều lạ. Bởi vậy tôi tới đây nhờ thầy giúp giùm. Sau khi sờ tay lên trán bé Huôi, ông Đạo nói: – Cháu nó vui chơi nhưng mà cặp mắt hơi khác thường. Không đợi Tư Thính trả lời, ông Đạo nói giọng bí mật: – Chắc là vừa xẩy ra chuyện gì xúc phạm tới…đất! ‘‘ Xúc phạm tới đất’’ là lời nói mà ông Đạo thốt ra trước tiên, khi gặp bất cứ bệnh nhân nào. Vì quá tin tưởng nên ai nấy đều nhìn nhận rằng ông nói đúng: đau bụng, trúng thực đều do sự ăn uống, thức ăn vẫn là cơm gạo, thịt cá, những món từ đất mọc lên, hoặc đứng trên đất, cảm mạo là do hơi đất ẩm ướt gây ra… Tư Thính nói: – Thầy ở trong cốc mà nói chuyện ngoài đời quá đúng. Vậy thì điềm lúc nãy tốt hay xấu đối với gia đình tôi? Con gái tôi sau nầy ra sao? – Điềm gì? Cứ nói đầu đuôi tự sự. Tôi thấy nó… ngồi trên đất, thiệt là lạ lùng, chú nói trước, tôi nói sau. – Dạ, nó ngồi trên mô đất cao, ỏ gốc cây thị ngoài ruộng. Tôi lo cày nên không chú ý, dè đâu… Thế là Tư Thính thuật lại tất cả chi tiết với sự tưởng tượng khá dồi dào của chú. Chú cho rằng con rắn nọ to bằng cây cột nhà, vảy lấp lánh ngũ sắc, khi biến mất thì gió thổi rung chuyển mấy gốc cây cổ thụ. Lúc rắn quấn vào bé Huôi, gió như ngừng thổi, chim trên trời như ngừng bay và hai con trâu như chết đứng trên mặt đất. Ông đạo Đất chắp tay xá bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc rồi nói: – Mô Phật! Cháu bé ngồi trên đất gặp con rắn hổ đất. Tất cả đều là đất. Nhưng con rắn hổ đất to lớn ấy là thuộc vào loại phi thường, tên nó là gì chú biết không? Tư Thính chắp tay thưa: – Dạ… chắc là mãng xà vương! Ông đạo lắc đầu: – Đó là con rồng đất! Trên mặt đất nầy nó là vua. Vua của đất phù hộ, chầu chực cháu bé chẳng khác nào con rồng vàng chầu chực ông vua ở chốn đế đô. Rồng đất là vua của đất. Rồng đến tìm cháu bé, đó là điềm mai sau có ông vua ông chúa nào đó đến ra mắt. Rồng quấn chung quanh cháu bé để che chở phò hộ, đó là sau nầy cháu bé trở thành một bà hoàng, bà chúa. Chú nên vui mừng đi, ráng chịu cực chừng năm bảy năm nữa. Tư Thính chắp tay lạy ông đạo Đất: – Thiệt vậy hả ông? Trời Phật giúp tôi, làm sao tôi tạ ơn? Dè đâu con tôi tốt phước như vậy? Ông vua nào, ông chúa nào tới đây cưới con tôi? – Ông chúa hòn hoặc ông chúa đảo, hoặc ông chúa tàu, tàu buôn Hải Nam. Tôi chưa biết rõ. Mai chiều, chú đưa cháu bé trở lại. Nghĩ một lát, ông đạo hỏi: – Cháu tên gì, năm nay mấy tuổi? Bé Huôi cất tiếng sỗ sàng: – Tên Huôi. Hỏi bao nhiêu tuổi để làm gì? Bộ tôi ngu dại phải không? Nãy giờ, tôi đâu làm điều gì sai quấy với thầy. Ông đạo càng tin tưởng nơi tài đoán điềm giải mộng của mình. Lập tức ông khều Tư Thính ra sân mà nói khẽ: – Thấy chưa? Nó là đứa khôn trước tuổi, ăn nói lanh lợi đâu thua gì người hai ba chục tuổi. Chú nên nuôi dưỡng tử tế. Nó có trí khôn, có nhan sắc. Tôi xem không lầm đâu. Năm bảy chục năm, con Rồng đất mới xuất hiện một lần. Rồng đất mà phò hộ che nắng che mưa cho con Huôi thì phải biết. Tư Thính chắp tay xá ông đạo; – Cám ơn ông, về sau nầy nếu may ra con tôi nên danh nên phận thì tôi chẳng bao giờ dám quên ơn lớn. – Kìa! Ngón tay ông đạo Đất chỉ ra ngoài sân. Lần nầy chú Tư Thính không khỏi kinh ngạc vì bé Huôi đứng xớ rớ bên bụi cây quỳnh hoa. Nó nâng niu từng lá dài rồi đột nhiên nói to: – Cây gì mà trồng hoài không trổ bông? Ông đạo giải thích: – Cháu ơi! Nhiều khi đôi ba năm nó mới trổ một lần. – Ông cho cháu vài lá, đem về trồng vài tháng thì nó trổ hàng chục cái bông cho ông coi. Để chiều theo ý bé Huôi và để biết thêm về tương lai của đứa con gái kỳ lạ nọ, ông đạo Đất hái một lá dài trao cho Tư Thính. Hai cha con lững thững về nhà theo con đường mòn sình lầy. Tư Thính nghe tim đập mạnh trong lồng ngực. Chú muốn kêu to: – Con tôi trở thành bà chúa! Thiệt vậy sao? Trời đất xui khiến hay ma quỷ xúi giục? Nhiều đứa bé khôn ngoan nhưng chết yểu hoặc là trở thành điên khùng, lên đồng lên bóng. Chú nắm tay con. Căn chòi hiện ra. Trong phút giây chú ngỡ là cung vàng điện ngọc. Chắc còn nhiều năm nữa bé Huôi mới trở thành bà chúa. Chừng đó chú già nua rồi. Chú chỉ muốn có căn nhà cao ráo để dưỡng già…   Hòn Chông là dẫy đồi thấp, sát mé biển vịnh Xiêm La. Dân chúng sống bằng nghề chài lưới ở mé biển nhưng nguồn lợi to nhứt vẫn là nghề trồng tiêu (hồ tiêu). Với mười lăm hay hai chục dây chăm bón kỹ lưỡng là một gia đình sống dễ dàng. Bao nhiêu đất tốt để trồng tiêu đều thuộc về ông Thần Phước cai quản, vì là người Triều Châu lai Cao Miên rồi lai Việt Nam nên tên ông được đọc là Xìn Phóc. Mấy người kỳ lão ở địa phương, nhứt là người tá điền, đều kiêng nể, gọi ông là ông Chúa Hòn, ông vua nho nhỏ giàu có và sang trọng nhứt của vùng Hòn Chông. Với số vốn tích trữ từ mấy đời trước, ông thuê nhân công để khai thác mấy ngọn đồi ở vùng kế cận: núi Còm, núi Mo So. Khi bán hồ tiêu cho bọn thương gia Mã Lai, ông chỉ lấy vàng, không dùng hình thức tiền bạc nào khác. Bọn gia nhân đồn đãi ông dùng số vàng ấy để trấn ếm một vài “linh huyệt” trên Hòn Chông, nơi có phủ thờ của tiên nhân – một người từ Triều Châu qua lập nghiệp ở Hà Tiên, theo chân họ Mạc vào thế kỷ thứ XVIII. Năm được 86 tuổi, ông Thần Phước giao cho đứa con trai đầu lòng là cậu Hai Minh cai quản tài sản. Cậu Hai chưa được bốn mươi tuổi nhưng đã có một vợ chánh và hàng chục tì thiếp. Ở vùng hẻo lánh, thú vui duy nhất của cậu Hai vẫn là uống rượu và tìm gái đẹp. Vợ chánh sanh đứa con trai duy nhất là cậu Hai Điền. Ăn ở với khá đông tì thiếp từ mười năm qua, cậu Hai Minh không hài lòng cho lắm, vì chẳng nàng nào sanh được con trai. Một buổi chiều, cậu Hai Minh ra lịnh cho gia nhân: – Đưa tao qua núi Mo So. Bọn gia nhân dạ rân lên, đem chiếu bông trải xuống chiếc ghe mui vuông sơn son thếp vàng. Bấy giờ là mùa hạn, sông rạch đều cạn ráo. Bọn gia nhân buộc bốn sợi dây luộc trước mũi và sau lái ghe, mỗi sợi dây chắc chắn ấy nối liền vào một con trâu đực to tướng, gọi là trâu cổ. Đáy sông quá cạn phơi lớp bùn sình. Ấy thế, mà chiếc ghe vẫn lướt nhanh. Bốn đứa bé mặc áo xanh cỡi trên lưng trâu, quất roi thật mạnh. Cậu Hai Minh nằm dài, dựa tay vào cái gối thêu: – Chừng nầy, ở núi Mo So…mình làm cái gì cho vui? Hai Ú trả lời: – Dạ, chừng nầy con gái trong xóm tới bờ mới gánh nước và tắm… – Hay quá! Vừa cười, cậu Hai vừa vỗ tay lia lịa. Lát sau, cậu gật đầu nhòm Hai Ú: – Mầy giỏi quá. Mầy chưa dở lần nào hết. Lát nữa tao tới đó bất ngờ. Mầy làm thế nào cho mấy cô gái cứ gánh nước tự nhiên, đừng chào đón. – Thưa cậu, vậy thì tôi phải đi trước mới được. – Họ biết trước thì mất vui. Phải tình cờ mới vui. Hai Ú chắp tay thưa: – Dạ, đón rước long trọng là chuyện dễ, đón rước tự nhiên là chuyện khó, cần sắp đặt trước. Không khéo mấy cô gái e lệ rồi hoảng chạy thì sao? Cậu cứ tin lời tôi. Lập tức, Hai Ú đến trước mũi ghe, nhảy lên bờ rất nhẹ nhàng. Anh ta giành lấy một con trâu cổ, cởi sợi dây ra rồi quất mạnh cho trâu chạy nhanh đến núi Mo So. Vì chỉ có ba con trâu kéo nên chiếc ghe tiến chậm. Cậu Hai khen ngợi: – Thằng Ú giỏi quá, nó biết lo trước lo sau. À! Cái gì mà chộn rộn ở chân núi? Bọn gia nhân phía sau reo lên: – Cậu Hai ơi, họ đốt đuốc… Xóm nhỏ ở chân núi Mo So hiện ra, náo nhiệt như buổi chợ phiên. Khi đến chân núi, cậu Hai Minh gặp ngay Hai Ú. Anh ta cầm bó đuốc đứng sẵn: – Thưa cậu, mời cậu đến bờ suối… – Ủa! Tại sao xóm giềng im lặng quá vậy? – Dạ, tôi ra lịnh cho ai nấy đóng cửa lại ngủ sớm để một mình cậu tới bờ suối, mặc tình nói chuyện với các cô. Tôi đã khuyên các cô cứ gánh nước tự nhiên. Các cô cười giỡn kìa! Cậu nghe không? Trong phút giây, cậu Hai ngỡ mình sống trong khung cảnh thần tiên nơi thượng giới. Ánh đuốc rọi chập chờn vào vách đá hai bên con đường dốc. Đêm mười bốn, trăng khá sáng tỏ. Lúc cao hứng, cậu Hai Minh ra lịnh: – Hai Ú cứ đi trước, thật xa. Tao đi dưới bóng trăng vui hơn. Cần gì qua bên Tàu mới hưởng được vui thú. Nhưng Hai Ú như còn ngập ngừng. Anh ta khoát tay đôi ba lần như làm dấu hiệu riêng với người phía sau. Cậu Hai Minh chẳng mảy may chú ý đến chi tiết đó, cứ hỏi đồn dập: – Tới chưa? Chà! Mấy cô cười nghe dòn quá. Còn ở phía sau, ai mà đông dữ vậy? Hai Ú đáp: – Cậu coi thử! Đó là mấy người khiêng rượu cho cậu uống. – Thằng nầy giỏi thiệt. Thật ra Hai Ú đã dàn cảnh khéo léo từ lúc nãy với Mười Hấu – người có khá nhiều quyền thế ở vùng núi Mo So. Mười Hấu rất tinh thông võ nghệ, con gái ông ta thuộc vào hàng đẹp nhứt trong vùng. Khi gặp Mười Hấu, Hai Ú đưa ra ý kiến: – Ông Mười muốn làm giàu không? Đây là dịp may hiếm có. Cậu Hai Minh tới để tìm gái đẹp. Nếu ông Mười vui lòng, làm thế nào cho cậu Hai được thỏa mãn thì… Mười Hấu nhớ đến đứa con gái tên là Ngó: – Con gái tôi chắc hạp nhãn với cậu Hai Minh. Hai Ú đáp: – Cậu Hai chỉ thích như vậy thôi! Ông Xìn Phóc già khú rồi. Bây giờ, cậu Hai Minh là ông Chúa Hòn chớ còn ai đâu xa lạ. Ngọn suối ở núi Mo So quá nhỏ hẹp. So với vùng cao nguvên thì đó là nơi dơ bẩn kém thơ mộng, nhưng ở chốn sình lầy nước mặn đồng chua thì quả là mạch nước tiên ngọt ngào và tinh khiết. Hai Ú dừng lại báo tin trước: – Mấy cô nên vui vẻ… bởi vì cậu Hai thương mấy cô, chịu khó lặn lội tới đây. Cậu tới kìa. Đừng làm cho cậu giận. Ngày mai các cô sẽ được ban thưởng, mỗi cô ít nhất được một lượng vàng. Đó là chưa nói sau nầy hễ túng thiếu tiền bạc thì các cô tới gặp tôi, tôi nói giùm một tiếng với cậu Hai là xong. Câu Hai Minh cười dòn: – A ha ha! Đêm nay là đêm vui sướng nhất của đời tôi! Mấy cô cứ tự nhién, đẹp quá. Hai Ú đâu rồi? Đốt thêm vài ngọn đuốc. Mười Hấu và đứa gia nhân để cần xé đựng hàng chục hũ rượu trên tảng đá rồi nói nhanh: – Thưa cậu, tôi có đuốc… Cậu Hai vỗ vai Mười Hấu: – Chú ở đâu? Tôi nhớ gặp mặt vài lần rồi. Đuốc ở đâu? Đốt lên. Ba ngọn đuốc cháy chập chờn. Trong đám thôn nữ rõ ràng cô Ngó là hoa khôi. Nàng mặc áo ngắn tay, đứng bỡ ngỡ trong dòng suối, nước ngập lên tận gối. Ánh sáng chói chang làm nàng giựt mình: – Ai làm chi vậy? Chỗ này… của người ta gánh nước. Mười Hấu hơi e ngại, nói khéo cho con nghe: – Ngó ơi! Cậu Hai tới thăm là vinh hạnh cho con. Con cứ vui cười. Cậu Hai Minh hơi xúc động. Mấy tháng qua, cậu chỉ lân la với mấy nàng hầu thiếp ở trong phòng kín đáo, toàn là những cô gái ăn mặc sạch sẽ và ốm yếu mảnh khảnh. Cô Ngó đúng là một pho tượng, căng đầy nhựa sống. Cậu Hai cầm ngọn đuốc, đến gần. Cô lính quýnh, bước ra giữa dòng. Cậu vói tới, nắm tay cô mà kéo lại: – Lên bờ cho vui. Tôi đã nói là cứ tự nhiên. Tôi tới đây để tìm cái… tự nhiên mà. Cô Ngó mỉm cười, để lộ hai hàm răng đều đặn: – Dạ, mắc cỡ lắm, cậu Hai! Mình mẩy ướt mem như vầy khó coi quá, thành ra vô lễ với cậu. Hai Ú nói: – Cô Ngó cứ lên bờ, ngồi bên tảng đá để nghe cậu Hai dạy việc. Cậu Hai dìu người đẹp lên bờ, Mười Hấu bèn đem bầu rượu trao tận tay: – Xin mời cậu… – Ngon lắm! Ngon Iắm. Tôi uống rượu một mình coi sao được? Xưa nay vua đâu uống ruợu một mình. Vua uống thì các quan đại thần và hoàng hậu đều uống. Đem rượu ra, uống không hết thì đổ bỏ xuống dòng suối tiên nầy. Hai ba cô gái gánh nước đứng gần cô Ngó cũng hưởng được chút ân huệ, nhưng làm sao các cô nuốt được thứ rượu đế quá cay, quá nồng! Hai Ú nhắc nhở từng chập: – Cứ uống. Uống không nổi thì cứ làm bộ đưa lên môi. Bầu rượu được cậu Hai đưa sát môi cô Ngó. Cô nhăn mặt liếc qua Mười Hấu như để hỏi ý kiến. Mười Hấu nói: – Uống đi con. Cậu Hai đoái tưởng tới con đó. Cậu Hai lim dim đôi mắt, một tay vuốt mái tóc người đẹp, một tay nghiêng bầu rượu. Rượu đổ tràn xuống ngực người đẹp. Cậu đưa tay ra phía sau: – Rượu nữa! Rượu nữa! Cô tên gì? Uống rượu không được thì chắc là tắm bằng rượu được… Cô Ngó ôm ngực van nài: – Lạnh lắm… Cho tôi về. – Tôi cho cô về… chiếc ghe của tôi. Hai Ú đâu rồi? Sửa soạn về. Nãy giờ tao cũng hơi lạnh. Muỗi cắn quá. Xứ nầy nhiều muỗi. Bây giờ cô Ngó cầm đuốc dẫn đường cho tôi xuống bến. Hai Ú đi sát bên cô Ngó mà nói khẽ: – Nên hầu hạ khéo léo cho cậu Hai vui. Tài sản của ông Chúa Hòn để lại cho cậu Hai, nghĩa là để cho cô. Cậu Hai nhiều khi khờ dại, cô nên hy sinh để cho cha mẹ và chòm xóm được nhờ. Dân chúng hai bên đường ngồi nép mình bên cánh cửa mà trông ra. Họ vừa mừng vừa sợ. Nếu cô Ngó được cậu Hai đem về Hòn Chông làm tì thiếp thì cha cô là Mười Hấu trở nên hách dịch, ai chịu cho nổi. Cô Ngó vào nhà, thay quần áo mới, trong khi cậu Hai Minh nằm trên ghe, thúc hối từng chập: – Trốn rồi sao chớ! Muỗi cắn chết. Tụi bây lo cho tao chớ.Tao hơi mệt rồi đó. Đắp mền cho tao. Con nhỏ đó sao chưa xuống đây quạt muỗi cho tao! Lát sau, chiếc ghe hầu trở về Hòn Chông, bốn con trâu kéo hì hục. Tội nghiệp cho mấy thằng bé cỡi trâu. Chúng nó ngủ gục từng chập, bị Hai Ú chửi rủa không ngớt mồm. Cô Ngó ngồi bên gối của cậu Hai, cầm cây quạt lông mà phe phẩy, cậu Hai khen ngợi từng chập: – Giỏi quá, khỏe quá! Quạt mạnh tay cho muỗi bay bớt thì ta mới ngủ được. Về Hòn Chông ít muỗi mòng hơn. Mỗi ngày, cô em cứ ở không mà quạt cho ta ngủ, khỏi gánh nước. Cậu Hai Minh đến Hòn Chông vào lúc hừng sáng. Hai Ú cõng cậu lên nhà. Cô Ngó hơi sợ vì lần đầu tiên trong đời, cô bước vào căn nhà sang trọng, đúng ra là ba bốn căn nhà cất chung trong vòng rào kiên cố. Năm sau cô Ngó hạ sanh một đứa con trai. Mấy nàng tì thiếp khác lấy làm bất mãn và ganh tị. Bà chánh thất lo ngại hơn ai cả, vì đứa bé nọ có thể tranh giành gia tài và ngôi vị với đứa con của bà. Bà đến gặp cậu Hai để cằn nhằn: – Ông làm như vầy còn gì thể diện! Cậu Hai đáp: – Tôi là… ông Chúa Hòn. Ba tôi đã trao quyền hạn cho tôi. Hằng ngày, nếu không đùa giỡn thì tôi làm gì bây giờ? Tôi thích đi đó đi đây, lâu lâu uống rượu say một lần. Bà chánh thất nói khẽ: – Con Ngó là đứa mà tôi không ưa. Nó làm mất thể diện dòng họ. – Trời ơi! Bà đừng vu cáo mà tội nghiệp nó. Nó là gái quê, là tì thiếp, hằng đêm cầm quạt đuổi muỗi cho tôi ngủ. Nhờ nó mà bà được rảnh rang, vả lại, hễ gặp bà là nó chắp tay xá… – Nó sanh đứa con trai. Nó là con của thằng Mười Hấu quê mùa dốt nát ở núi Mo So. Mười Hấu trở thành… cha vợ của ông Chúa Hòn, thiên hạ đàm tiếu nhiều lắm rồi. Cậu Hai bị chạm tự ái nên quát to: – Bà đừng nói vậy. Muốn tôi đuổi con Ngó sao? Tôi chưa đuổi nó được trong năm nay, nhưng tôi hứa là vài năm nữa nó không còn ở nhà nầy. – Nhưng thằng con của con Ngó! Nay mai nó tranh quyền hạn với con tôi thì sao? Ông nên suy nghĩ lại… Câu nói ấy khiến cậu Hai Minh bâng khuâng. Lập tức, ông vào phòng riêng nằm dài, vỗ trán cho bớt nhức đầu. Nãy giờ, cô Ngó đã nghe ngóng được câu chuyện. Chờ khi cậu Hai ngồi dậy uống chén trà, cô mới than thở; – Tội nghiệp em, nếu ở đây hoài, chắc có ngày em chết vì bà lớn. Tốt hơn, ông cho em bồng con về núi Mo So để rồi xin vô chùa, đi tu. – Đâu được! Đôi mắt đen huyền và làn da trắng mịn của cô Ngó khiến cậu Hai ngây ngất. Cậu vuốt ve cô nhưng cô ngồi lui ra, cầm cây quạt mà phe phẩy, cánh tay với tới. Những cảnh ghen tương giận hờn và tranh chấp quyền lợi đã xảy ra quá nhiều lần, nào riêng gì trong năm nay. Tin rằng thời gian trôi qua thì mọi việc đều tự dàn xếp êm thấm, cậu Hai uống thêm vài chén rượu rồi ngủ khò. Cô Ngó ngưng tay, không quạt nữa. Đến trưa, khi cậu mở mắt thức dậy thì cô lanh tay cầm cây quạt đứng thẳng người phía sau lưng. Đột nhiên cô buông tay. Cây quạt rơi xuống nền gạch, cán bằng ngà gây tiếng động vừa khô khan, vừa tức tối. Cậu day lại. Cô Ngó giả vờ như giựt mình, vội cúi mình lượm cây quạt đem lên, xem kỹ rồi run rẩy đến quì bên cạnh cậu Hai: – Ông tha cho tôi. Cán quạt nứt bể rồi. Cây quạt nầy quý giá lắm. Nói xong, nàng ngả người, quơ tay lên trời, kêu lên ú ớ mấy tiếng rồi nằm dài trên gạch. Cậu Hai đứng dậy quì bên cạnh đỡ nàng lên: – Em! Sao vậy? Tôi ở đây thì em cứ ở đây. Tôi chưa nói điều gì mất lòng em mà. Làm vậy tôi buồn… Cô mở mắt ra, nói khẽ: – Em chưa đủ sức để hầu hạ ông, ông nên tìm người khác. Em đâu dám hờn giận ai. Chẳng qua là em thức quá nhiều. Nãy giờ, em đứng mà quạt không nghỉ tay. Mấy ngón tay tê cóng, phần thì hồi sáng đến giờ em chưa rảnh để ăn món gì ráo… Lần đầu tiên trong đời, cậu Hai để rơi hai giọt nước mắt. Suốt đêm rồi, Ngó ngồi ngoài mùng mà quạt cho cậu được mát mẻ, đến canh ba, khi giật mình thức dậy, cậu vẫn thấy cô ngồi lì một chỗ, bảo đi ngủ thì cô trả lời rằng còn đủ sức quạt hầu. Rồi đến trưa nay, cô Ngó lại đứng quạt. Đúng là một cực hình mà cô chịu đựng không một lời than thở. Cậu Hai nói: – Mệt thì em lên giường tôi. Cô Ngó lắc đầu: – Em đâu dám. Rủị bà chánh thất bắt gặp, chắc em bị giết… – Tôi gọi đứa khác vô đây để em nghỉ tay. Từ rày về sau, em khỏi làm công việc cực nhọc nầy. – Thôi, cho em về mà nuôi con. Nó là con trai, em thương nó lắm. Hai tiếng ‘‘con trai’’ khiến cậu Hai thêm kiêu hãnh. Đây là đứa con trai thứ nhì của cậu, phải nuôi nó bằng được để dự phòng trường hợp đứa con trai của bà vợ lớn chết thình lình. Cậu đáp: – Em ở đây. Người chánh thất giận vì em có con trai, tôi biết. Bây giờ, em tìm cách gởi đứa con đó đi xa, đặt tên xấu xí. Hễ mang tên xấu thì làm sao nó trở về đây chia gia tài được? Thế là hôm sau, mọi sự thắc mắc trong gia đình cậu Hai Minh đều được giải quyết êm ái. Đứa con mới sanh phải mang tên là thằng Cẩu – nghĩa là con chó. Mười Hấu được mời đến Hòn Chông để lãnh đứa cháu ngoại đem về, nuôi tại núi Mo So. Cậu Hai ban cho Mười Hấu mười lượng vàng. Cô Ngó bị đày xuống nhà bếp, lo cơm nước cho cậu Hai. Mời các bạn đón đọc Bà Chúa Hòn của tác giả Sơn Nam.

Nguồn: dtv-ebook.com

Xem

Chú Bé Thành Paris - Victor Hugo
Những người khốn khổ  là kiệt tác của đại văn hào Victor Hugo. Trong tác phẩm này, tác giả đã khắc họa sống động chú bé Ga vroche hồn nhiên, dũng cảm và nghĩa hiệp… Gavroche tuy đói khổ và nhiễm chút "bụi đời" nhưng vẫn rạng ngời phẩm chất tốt đẹp. Chú căm ghét kẻ giàu và sẵn sàng giúp đỡ người nghèo khó. Chú đã dùng đồng xu cuối cùng để mua bánh cho hai đứa trẻ lạc đường đang đói và còn mở rộng bụng voi để chúng ngủ qua đêm… Paris khởi nghĩa, Gavroche hăng hái ra trận với khẩu súng không cò, miệng hát vang những khúc ca "hòa âm của tiếng chim và xưởng thợ". Gavroche luôn có mặt ở những nơi cuộc chiến gay go và ác liệt. Chú như con ong: châm anh sinh viên này, đốt anh thợ kia, đáp xuống, dừng lại, bay lượn trên chiến lũy. "Đôi cánh tay nhỏ của chú là sự chuyển động thường trực, hai lá phổi tí hon của chú chứa đựng sự huyên náo…" *** Victor Hugo là niềm tự hào của nhân dân Pháp và của toàn thế giới. Victor Hugo tên đầy đủ là Victor Hugo, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1802 ở Bơzăngxông, mất ngầy 22 tháng 05 năm 1885. Vốn là con của một người thợ mộc, nhưng ông Joseph đã phục vụ quân đội Pháp trong thời kỳ Cách Mạng và lên tới cấp bậc thiếu tá, rồi về sau do lòng dũng cảm và công trạng chiến trường, trở thành một vị tướng trong đội quân của Napoléon. Mẹ ông sinh trưởng trong một gia đình quân chủ và ngoa đạo. Do hoàn cảnh gia đình mà Hugo chịu ảnh hưởng tư tưởng khá sâu nặng từ mẹ, tác động rất lớn sự hình thành các quan điểm của ông thời trẻ.  Cuộc đời và sự nghiệp văn học của ông bao chùm thế kỷ XIX ở Pháp. Ông ra đời khi thế kỷ đó mới chớm nở được già một năm trên đống gạch vụn hoang tàn của chế độ phong kiến vừa sụp đổ chưa được bao lâu. Ông mất vào khoảng giai đoạn cuối thế kỷ, lúc phong trào cộng sản thế giới đang chuyển qua thời kỳ đấu tranh mới hết sức quyết liệt. Ông đã chứng kiến cơn bão táp của lịch sử và nó được phản ánh trong các tác phẩm của ông. Nếu như “Letônxtôi được coi là tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”(V.I.Lênin) thì Victor Huygô cũng được coi là tầm gương phản chiếu của cách mạng Pháp. Victor Hugo là nhà văn, nhà thơ lớn của nước Pháp. Sự rộng lượng trong các tư tưởng của ông, sự ân cần trong cách diễn tả đã làm rung động tâm hồn người đọc bởi vì ông là nhà thơ của người bình dân, đã viết ra văn, làm ra thơ với đặc tính giản dị nhưng bao hàm bên trong sức mạnh, đề cập cả về niềm vui lẫn nỗi buồn của nhiều người. Khi được hỏi ai là nhà thơ lớn nhất của nước Pháp, Văn Hào André Gide đã trả lời: "Vẫn là Victor Hugo". Victor Hugo có thể bị chỉ trích về sự nông cạn của tâm hồn tác giả và sự tầm thường của các nhân vật trong chuyện, nhưng tầm vóc tài năng của ông về văn chương, bao gồm cả kịch nghệ và thơ phú, thật là bao la, không có ai sánh kịp trong lịch sử văn học kể từ thời Shakespeare và Goethe. Mặc dù không phải là nhà tư tưởng sâu sắc, Victor Hugo vẫn là nhà văn chân thành, hiến mình cho "Chân, Thiện, Mỹ" và ông là văn hào được dân chúng Pháp yêu chuộng nhất.  “Những người khốn khổ” là tác phẩm xuất sắc nhất của Victor Hugo. Nhà văn hoàn thành bộ tiểu thuyết ấy ở đảo GheTác-nơ-đây. Trong thời gian sống lưu vọng. Tuy nhiên tác phẩm này đã được ấp ủ từ lâu. Chính vì vậy mà: “Tác phẩm được đánh giá là một trong những tiểu thuyết nổi tiếng nhất của nền văn học thế giới thế kỷ XIX”. “Những người khốn khổ” ghi lại dấu mốc đáng kể trên con đường phát triển mạnh mẽ của loại tiểu thuyết xã hội Pháp. Đây được coi là tác phẩm chan chứa tình lãng mạng. Tác phẩm này là đỉnh cao nghệ thuật văn xuôi, tác phẩm đã kết tinh nhất thiên tài của văn chương thế giới. *** Khi đạn to đã làm cho các chiến sĩ không ở được trên đỉnh chiến lũy và khi đạn ghém khiến họ phải rời các cửa sổ của quán rượu thì các toán quân tấn công có thể xông vào giữa đường phố mà không sợ ai nhắm bắn và có thể là không sợ ai trông thấy nữa. Có thể quân tấn công bất thình lình leo lên chiến lũy như hồi đầu hôm và biết đâu chúng sẽ bất ngờ chiếm lấy chiến lũy. Enjolras suy tính: “Nhất định phải làm cho hai khẩu đại bác bớt làm phiền ta mới được”. Anh thét: - Bắn vào bọn pháo binh! Ai nấy đều đã sẵn sàng. Từ lâu phải im lặng, cả chiến lũy bỗng nổ súng như điên cuồng, bảy, tám loạt nối liền nhau như căm hờn, như reo vui. Vài phút sau, qua làn mây mù rạch ánh lửa đạn lập lòe, người ta thấy lờ mờ đến hai phần ba số pháo thủ ngã gục bên bánh xe của các khẩu pháo. Bọn còn sót lại cứ bình tĩnh, nghiêm nghị, tiếp tục bắn nhưng bắn chậm đi nhiều. Bossuet bảo Enjolras: - Thế là tốt. Thắng lợi. Enjolras lắc đầu, đáp: - Cứ thắng lợi kiểu ấy thì chỉ mười lăm phút nữa, cả chiến lũy sẽ không còn lấy mười viên đạn. Câu nói ấy hình như đã lọt vào tai Gavroche. Chợt Courfeyrac trông thấy có ai ở phía ngoài dưới chiến lũy, trên đường phố, trong luồng đạn của quân địch. Đó là Gavroche. Gavroche đã xách một chiếc giỏ dùng để đựng chai trong quán rượu, rồi luồn qua khe hở mà ra ngoài. Bây giờ thì chú điềm nhiên lật bị của bọn quốc dân quân đã chết trên bờ lũy mà trút đạn vào giỏ. Courfeyrac kêu hỏi: - Em làm gì đấy? Gavroche ngẩng đầu lên, đáp: - Tôi hốt cho đầy giỏ đồng chí ạ. - Em không thấy đạn vãi ra đó ư? - Ừ thì như mưa đấy. Thế thì sao? Courfeyrac thét: - Đi vào! - Lát nữa đã! Gavroche chỉ đáp gọn lỏn có thế rồi đi sâu vào đường phố. Khoảng hai mươi xác người nằm rải rác suốt chiều dài đường phố cũng đủ cho Gavroche tha hồ mà lấy đạn tiếp tế cho nghĩa quân. Khói súng luẩn quẩn trong thành phố như một đám sương mù. Bị dồn lại giữa hai dãy nhà cao tầng, khói càng dày đặc giống như đám mây lọt vào thung lũng, giữa hai sườn núi dựng đứng. Nó bốc lên chầm chậm, bốc lên chừng nào thì dưới chân đã có khói mới tỏa ra thay chừng ấy, do đó không gian càng lúc càng mờ mịt. Mặc dầu giữa ban ngày mà trời vẫn cứ tối sầm. Con đường rất ngắn nhưng qua đám mây mù ấy, chiến sĩ ở đầu phố, cuối phố khó mà trông thấy nhau. Có lẽ những người chỉ huy cuộc tấn công chiến lũy đã muốn tạo ra một đám khói mù như thế. Dẫu sao nó cũng rất có lợi cho Gavroche. Vóc người đã nhỏ bé, lại lẫn vào trong làn khói, nhờ vậy Gavroche tiến sâu vào đường phố mà không bị lộ hình. Chú dốc bảy, tám cái bị đầu một cách yên ổn. Chú nằm bẹp xuống đất mà lết, chú chống hai tay, hai chân phi nước đại, chú ngậm vành giỏ vào mồm để lướt tới. Chú lê, chú lết, chú trườn, chú xoay mình, chú uốn khúc như một con rắn. Chú bò từ xác này sang xác khác. Chú mở rộng cái bị hay cái nịt đạn như con khỉ bóc quả hạnh đào. Chú đi cũng không xa chiến lũy là mấy nhưng chẳng ai dám mở miệng gọi chú trở lại, vì sợ làm cho quân thù để ý sẽ phát hiện thấy chú. Chú tìm thấy một bị thuốc súng hình quả lê trên thây một hạ sĩ. ... Mời các bạn đón đọc Chú Bé Thành Paris của tác giả Victor Hugo.
Ai Là Kẻ Thứ Ba - Diệp Khuynh Thành
Dù tình yêu hay hôn nhân, đều là một trận chiến âm thầm có thể mãi mãi không có hồi kết? Tại sao anh ấy lại lỡ chân quá đà? Tại sao cô ấy công khai báo thù? kẻ thứ ba rốt cục là ai? Bản năng lừa đảo, phản bội, thích tìm kiếm những kích thích mới mẻ trong tính cách con người khiến mối nguy cơ tiềm ẩn càng dễ tới bên chúng ta. Tình dục lẽ ra phải là phần tươi tắn nhất, quan trọng nhất trong cuộc sống hôn nhân, nhưng bởi nhiều nguyên nhân, hôn nhân không tình dục vẫn tồn tại rất nhiều trong cuộc sống chúng ta. Đó là một thực tế không thể chối bỏ. Nếu coi hôn nhân như một món ăn thì cuộc sống tình dục chính là chút muối đậm đà. Nếu đồ ăn không có muối có thể ăn hai, ba suất nhưng nếu bắt người ta ăn suốt đời, chắc chắn không thể chịu đựng nổi. Cũng có thể coi cuộc sống tình ái như phần kem trên chiếc bánh ga tô. Nếu không có chỗ kem đó, miếng bánh vừa không có giá trị thưởng thức, vừa nhạt nhẽo, chẳng khác nào một miếng bánh nướng phế phẩm. *** "Không", Bình Bình nói, "Hạnh phúc là cái hiện có. Đó là câu nói luôn khắc ghi trong trái tim em từ sau khi lấy anh. Em và anh ấy không còn gì nữa. Em có thể đảm bảo với anh về điểm này. Vì chúng em tới tận ngày nay vẫn có thể dùng trái tim để suy nghĩ cho nhau, đã chứng minh tất cả". Người được hẹn phỏng vấn: Hoàng Lư, nam, nhân viên công ty, người Hồ Bắc. Đó là cuộc phỏng vấn được hình thành sau khi mấy người quen biết tụ tập với nhau, trò chuyện huyên thuyên. "Hôn nhân chính là cái hiện có", đó là châm ngôn của Hoàng Lư. Khi lấy Đặng Bình Bình, tôi đã ba mươi ba tuổi, cô ấy cũng ba mươi. Người đàn ông và đàn bà đã đứng tuổi, đều lấy nhau lần đầu, đủ biết phải trải qua một quá trình lựa chọn bạn đời vất vả đến thế nào. Do công việc của tôi luôn bất ổn, các doanh nghiệp cứ nay làm mai đợi việc, thế nên tôi ngừng công việc mới, cùng mấy người bạn hùn vốn làm ăn buôn bán nguyên vật liệu, sống ở Quảng Đông hơn ba năm. Chuyện đời gian khó, đường làm ăn gập ghềnh, những chuyện cá nhân tự khắc buông sang một bên. Tới khi gặp được Bình Bình, người nhà tôi đã lo lắng cho tôi tới mức hận không thể tống tôi vào động phòng ngay hôm sau. Bình Bình rất đẹp, tính nết cũng dịu dàng. Cô ấy làm việc trong cơ quan trực thuộc tỉnh, tốt nghiệp đại học danh tiếng, học vấn cao hơn tôi. Tôi thực không hiểu nổi tại sao chuyện hôn nhân của cô lại kéo dài đến vậy. Nhưng người hiện đại, ai mà chẳng có một đoạn lịch sử đau thương. Tôi nghĩ, hẳn vì một mối tình khắc cốt ghi tâm nào đó, khiến cô đau lòng, nên không muốn yêu nữa chăng? Những điều này, tôi hầu như chưa từng hỏi cô bao giờ. Cô kể ra bao nhiêu, tôi chỉ nghe bấy nhiêu. Quả thực, cô từng nhắc đến mối tình thời sinh viên. Đó là tình đầu, nhưng sau khi ra trường, họ đã chia tay. Một lần, khi chúng tôi đang ngồi trên xe, đi ngang qua Viện thiết kế kiến trúc, đúng lúc đó có một người đàn ông đẩy xe đạp đi ra ngoài cửa, khóe miệng cô ấy nở một nụ cười. Thì ra đó là một chàng trai mà cô ấy quen biết sau khi tốt nghiệp chưa lâu. Anh ta từng theo đuổi cô ấy, nhưng cô ấy lại ngần ngừ. Dù cũng hơi thích đối phương, nhưng cô không hề để lộ. Người đàn ông đó không kiên nhẫn được, cuối cùng cũng không hẹn hò với cô ấy nữa. Những chuyện này hầu như khiến tôi có thể nhìn thấy được tuổi thanh xuân cô độc của một người phụ nữ đẹp. Quả thật, cô ấy rất hay do dự. Ngay cả khi tôi biểu hiện rất mãnh liệt, cô ấy chỉ cười mong manh. Ngày nay trong thành phố phồn hoa này, có thể gặp được người như cô ấy quả thực rất hiếm. Mọi người đều ra sức thể hiện khát vọng của mình, dù đó chỉ là khát khao về mặt sinh lí. Nhưng tôi phát hiện thấy dường như cô ấy có đủ sức lực để hóa giải nó. Cô luôn lạnh lùng như vậy, khiến tôi buộc phải hỏi, hay là em không có cảm giác với anh. Cô ấy vội vàng lắc đầu, nước mắt ứa ra. Tôi không nỡ hỏi tiếp. ... Mời các bạn đón đọc Ai Là Kẻ Thứ Ba của tác giả Diệp Khuynh Thành.
Sự May Rủi của Trái Tim - Barbara Cartland
Tiểu thư Serena Staverley nhận được tin dữ, cha co đã tự sát sau khi thua toàn bộ gia sản và gả gán cả cô trong một ván bài về tay Ngài Wrotham quỷ quyệt. Anh họ cô, Nicolas đã chứng kiến cái chết của cha cô và cả số phận trớ truê khi những gì cha cô vừa thua về tay Ngài Wortham lại lập tức rơi vào tay một kẻ thắng cuộc mới là Ngài Justin Vulcan đầy tai tiếng. Lo lắng cho tương lai của Serena, Nicolas đã cầu hôn và đề nghị đưa cô bỏ trốn. Nhưng chạy trốn đồng nghĩa với việc bôi nhọ thanh danh gia đình, vì vậy Serena lựa chọn sắn sàng đối mặt với những gì sắp xảy đến. Ngài Vulcan không ngờ cô gái đáng thương mà chàng cứu vì thương hại hóa ra lại là một tiểu thư trẻ xinh đẹp tuyệt vời, khiến chàng phải chú ý ngay từ cái nhìn đầu tiên. *** Về tác giả: Barbara Cartland (1904 - 2000) được mệnh danh là nữ hoàng tiểu thuyết lãng mạn, đạt kỉ lục về đầu sách xuất bản trong một năm, để lại một gia tài sách khổng lồ với 723 cuốn, được dịch tại 38 quốc gia và là một trong những tác giả ăn khách nhất thế kỉ XX. Sự May Rủi Của Trái Tim (tên gốc A Hazard of Hearts) của Barbara Cartland được xuất bản lần đầu tiên tại Anh năm 1949, tạo nên sức hút lớn lao đối với đông đảo bạn đọc khắp châu Âu. Năm 1987, cuốn tiểu thuyết được dựng thành phim (đã công chiếu tại Việt Nam năm 1995), càng nói lên sức hấp dẫn của tác phẩm. Sự may rủi của trái tim trở thành tiếng nói phổ quát về những điều khó nắm bắt nhất của tình yêu. Đây là tác phẩm đã được chuyển thành phim năm 1987, với sự tham gia của nữ diễn viên trẻ Helena Bonham Carter và nam tài tử Marcus Gilbert, bộ phim đã để lại ấn tượng sâu sắc đối với khán giả Việt Nam vào những năm 1990 và được chiếu lại nhiều lần trên sóng VTV1. *** Serena đẩy cánh cửa sổ và đứng nhìn ra vườn. Ánh nắng ấm áp và vàng rực, và mặt biển phản chiếu màu trời xanh thẳm. Một đàn chim câu trắng bay qua bãi cỏ xanh. Serena quay đầu lại khi Eudora đi vào phòng mang theo một bó hoa. Bà mang đến cho Serena và đặt chúng vào tay nàng. "Từ đức ông," bà nói. Serena háo hức nhận lấy. "Chúng còn đẹp hơn bình thường nữa." Eudora gật đầu. "Đúng vậy," bà nói. "tôi chưa bao giờ thấy những bó hoa nào đẹp bằng những bó đức ông gửi cho cô mấy ngày qua." Serena nghĩ đến những bông hồng nhung đỏ thắm Eudora mang đến cho nàng hôm qua, những bông hoa lan tím hôm kia và những bông cẩm chướng màu hồng san hô hôm trước đó. Rồi nàng thấy những bông hoa hôm nay là những bông hồng trắng, lan trắng và hoa lan chuông. Nàng nhìn chúng và rồi nhìn xuống chiếc áo dài đang mặc. Nàng không nhận ra khi nàng mặc nó rằng đây chính là chiếc áo nàng đã mặc hôm đám cưới. Nàng nhìn Eudora và thấy bà, cũng, chú ý thấy sự trùng hợp này. "Tôi mặc như một cô dâu vậy," nàng nói, giọng hơi bẽn lẽn. "Đến lúc cô bắt đầu cư xử giống một cô dâu rồi," Eudora đáp lại. Serena cảm thấy màu đỏ bừng trên má nàng; nhưng trước khi nàng có thể nói, Eudora nói tiếp: "Đức ông gởi lời hỏi thăm và nếu cô thấy đủ khoẻ rồi thì ngài hết sức hài lòng muốn nói chuyện với cô khi cô thấy thuận tiện trong thư viện." "Ồ!" Serena chỉ nói được mỗi một từ như thế; rồi, vì nàng không nói gì thêm nữa, Eudora nói: "Cá nhân tôi nghĩ là cô đủ khoẻ rồi." Serena cười. "Đương nhiên là vậy! Tôi đã khoẻ hẳn từ hai ba hôm nay, nhưng bà và bác sĩ cứ bắt tôi nằm trên giường." "Chúng tôi muốn cô bình phục," Eudora đáp, "và cô đã bình phục rồi. Hơn nữa, tốt hơn là cô nên ở trong phòng khi có mấy đám tang và những thứ như thế xảy ra." Đôi mắt Serena tối lại một lúc. Nàng nhìn ra cửa sổ. "Bà đã đi dự à?" nàng hỏi. Eudora gật đầu. "Tất cả chúng tôi," bà nói; "lệnh của đức ông, nhưng không mời thêm ai trừ tất cả người hầu và tá điền của điền trang. Tôi không nói chuyện cũ nữa đâu, thân yêu ạ, vì sợ nó làm cô buồn, nhưng đó là một đám tang đơn giản lặng lẽ và tôi thấy cuối cùng lệnh bà cũng tìm thấy bình yên." "Đó là điều tôi mong bà ấy tìm thấy," Serena nói, "bình yên!" Nàng im lặng một lúc khi sâu trong trái tim mình, nàng cầu nguyện cho sự yên nghỉ của bà hầu tước, cho linh hồn hỗn loạn của bà được thanh thản. Rồi một suy nghĩ đập vào nàng. "Bà nói là những đám tang à, Eudora?" Eudora gật đầu. "Có một người nữa cũng được chôn cùng lúc. Tôi không biết đó là ai, nhưng người đó có họ hàng vì được chôn trong hầm mộ của gia đình." "Vậy là họ được chôn cùng nhau," Serena nhẹ nhàng nói. "Vâng, cùng với nhau," Eudora trả lời. "Nhưng ta hãy nói chuyện gì vui vẻ đi. Nó qua rồi và quên nó đi, thân yêu ạ, tất cả những gì cô phải chịu đựng, tất cả những điều cô đã trải qua. Cô còn tương lai ở phía trước." Serena đưa tay lên ôm lấy má. "Phải, tôi biết, nhưng mà, Eudora, tôi sợ lắm." "Sợ đức ông à?" Eudora hỏi. "Sao bây giờ cô lại như thế khi cô biết rằng chẳng có lý do gì mà cô không tốt với ngài cả." "...Tốt với anh ấy!" Serena lặp lại những từ ấy với một tiếng nấc nho nhỏ, và rồi rất nhanh, như nàng muốn giấu diếm những tình cảm của mình ngay cả với Eudora, nàng hỏi, "Anh ấy có hỏi thăm tôi từ khi tôi...khó ở không?" "Mỗi ngày," Eudora trả lời. "Cô biết mà." ... Mời các bạn đón đọc Sự May Rủi của Trái Tim của tác giả Barbara Cartland.
Một Thế Giới Không Có Đàn Bà - Bùi Anh Tấn
Một Thế Giới Không Có Đàn Bà” của Bùi Anh Tấn đã phơi bày một thực tế đang có mặt bên cạnh cuộc sống của đa số công chúng: cuộc sống của những người sinh ra đã bị đồng tính luyến ái...Tiểu thuyết mở đầu bằng một án mạng, nạn nhân là một nhà khoa học độc thân, có uy tín. Trong suốt 500 trang sách, quá khứ của nhà khoa học - nạn nhân này được lật lại bằng những hoạt động nghiệp vụ của các sĩ quan công an, mở ra một thế giới lạ lùng phía sau ánh đèn vũ trường, nhà hàng, quán xá và những điểm hay lui tới của giới đồng tính. Vấn đề nhạy cảm này hiện đã khá phổ biến trong nước, nhưng trên thực tế vẫn còn là những quan điểm tranh luận chưa thống nhất giữa các nhà đạo đức, tâm lý, xã hội, giáo dục, luật pháp, tôn giáo… "Cốt truyện của "Một thế giới không có đàn bà" quả nhiều thắt nút, nhiều cao trào vực xoáy, tóm lại là nhiều tình huống kịch tính. Một cốt truyện hình sự đan xen một cốt truyện tâm lý. Tác giả tỏ ra là người am tường tâm lý học, xã hội học và tội phạm học những khoa học liên ngành rất cần thiết cho hoạt động của cơ quan chức năng như ngành Công an. Nhưng hơn hết, anh là một nhà văn muốn nhìn con người từ góc độ "nhân học"" (Nhà phê bình Bùi Việt Thắng) "Thế giới ấy đáng được biết đến, đáng được thông cảm hơn người ta tưởng. Cuốn sách đã phơi bày một thực tế đang có mặt bên cạnh cuộc sống của đa số công chúng: cuộc sống của những người sinh ra đã bị đồng tính luyến ái. Đề tài mới lạ trong văn học Việt Nam và hoàn toàn không dễ viết, chỉ cần non tay một chút có thể trở thành bất cập, còn lơi tay một chút sẽ dẫn đến thái quá. Bùi Anh Tấn đã tránh được cả hai, với cấu trúc thật sự của tiểu thuyết, cách dẫn truyện, diễn đạt và nhất là khả năng thâm nhập nội tâm nhân vật.(Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc) *** Chiếc taxi Mai Linh từ từ đỗ lại trước cửa, từ xa, Hoàng đã thấy chị Hai Huệ đang bế đứa nhỏ, trên tay nó đang cầm bó hoa vẫy vẫy chào chú, thằng bé ngoác miệng cười hết cỡ, nhe mấy cái răng sún trông rất dễ thương. Má anh đang đứng nắm tay đứa lớn, con bé đứng mà cứ nhảy chân sáo, miệng tíu tít liến thoắng nói làm cho bà nội nó không kịp mở miệng. Cả nhà đang chào đón Hoàng từ bệnh viện trở về. Lân thận trọng đỡ Hoàng chui ra, Hoàng bước ra "Má", anh ôm má rưng rưng. Tiếng thằng bé ngọng ngịu: "chú ba khóc kia má", con bé thì cười khanh khách "chú ba xấu quá, lớn rồi mà còn khóc nhè". Cả nhà mừng mừng tủi tủi đi vào nhà. Bước vào phòng trong, Hoàng chợt sững lại trước tấm ảnh của ba phóng to để trên bàn thờ. Ánh mắt ông nhìn anh hiền hậu, không nén được, anh gục đầu trên bàn thờ, khóc rống lên "ba". Thằng bé thấy chú khóc to quá, nó sợ, níu áo mẹ nhè nhẹ miệng. Huệ thì cúi đầu lau nước mắt liên tục, con bé thấy bà nội bước đến bên chú vuốt tóc mà mắt bà cũng rưng rưng, nó vội chạy lại núp lấp ló sau lưng ba. Lân cười vuốt tóc con gái, anh cười méo xệch, nói to: - Kìa sao mọi người kỳ quá. Sao lại khóc ? phải mừng mới phải chứ. - Ba.. ba... Thằng bé giãy ra khỏi tay má, giang tay đòi qua với Lân. Anh cúi xuống bế cả 2 con trên tay và vùi đầu vào ngực thằng bé, nhột và nó cười nắc nẻ. Tiếng cười trong trẻo trẻ thơ phá tan bầu không khí u buồn trong nhà. Hoàng như sực tỉnh, lau nước mắt và đưa má ngồi xuống ghế. Huệ chạy vội xuống bếp dọn cơm và đứa con gái tuột khỏi người Lân, lon ton chạy xuống bếp phụ má. Đẻ con gái đầu, sướng cái là được nhờ sớm. Nhìn con, Lân sực nhớ đến lời nói của bạn bè. Dừng xe ở trước cổng bệnh viện, Lân khều vai Hoàng nhắc lại lần nữa "Em phải bình thường nghe Hoàng, đừng làm điều gì quá lố". "Dạ, em biết rồi", Hoàng đáp khẽ. Hai anh em đang vào thăm Trung ở trong bệnh viện. Ngay từ lúc đang còn nằm trong bệnh viện, Hoàng đã nằng nặc đòi qua thăm Trung, Lân phải hết lời thuyết phục em trai là chờ khỏe hẳn hãy qua, Hoàng bắt anh hứa đi hứa lại nhiều lần mới yên tâm. Thế nhưng anh biết Hoàng chẳng yên tâm chút nào, cứ nhìn thái độ ngóng trông từng ngày của Hoàng là anh biết. Sau mấy ngày nằm viện, khi về nhà, chưa đầy 1 buổi, chiều chưa hết giờ làm việc, Hoàng đã điện thoại qua cơ quan, năn nỉ Lân cho mình đến thăm Trung. Bận họp, đến tận tối, Lân mới về và đã thấy đồ đạc lỉnh kỉnh để trên bàn, nhìn vẻ mặt ngạc nhiên của anh, Huệ nói "Em chuẩn bị 1 chút ít đồ cho Hoàng vào thăm chú Trung. Chẳng gì cũng là ơn nghĩa người ta đã từng cứu giúp mình". Huệ nói rất tự nhiên, có vẻ như cô ta không có ý gì khác, nhưng Lân hiểu rằng, Huệ rất thương Hoàng và cô chấp nhận ở Hoàng tất cả như 1 điều tự nhiên. Tấm lòng của người phụ nữ là vậy, bao giờ cũng nhân ái và bao la như biển cả, chỉ có những gã đàn ông như anh mới cục cằn, thô lỗ mà thôi. Đêm qua, trong khi mọi người đang xem tivi dưới nhà, không thấy Hoàng đâu, Lân lên lầu thì thấy em trai đang ngồi 1 mình trên sân thượng nhìn mông lung lên trời. Rót cho anh ly nước, không đợi Lân hỏi, Hoàng đã kể hết tất cả quãng đời từ khi mình bỏ nhà ra đi. Lần đầu tiên Hoàng nói thật tất cả sự đắng cay, dằn vặt, đau khổ từ khi biết bản thân là 1 người Đồng tình luyến ái đến nay. Lân nghe em nói mà trong lòng bùi ngùi, những điều anh hiểu và nghĩ về Hoàng vẫn còn sơ sài quá, anh đâu có ngờ Hoàng lại phải trả 1 giá đắt đến như vậy. "Về mối quan hệ với Trung, thực sự em có lỗi vì đã lôi Trung vào trong mối quan hệ đồng tính này. Giờ đây nghĩ lại em thấy ân hận và ăn năn quá, có thể cuộc đời em coi như là bỏ đi, nhưng em không thể hủy hoại tương lai của Trung, lôi kéo Trung vào con đường không có lối thoát này. Nhưng em muốn nói thật với anh 1 điều là em yêu và rất yêu Trung, đây là 1 tình cảm thực sự trong sạch phát xuất từ những tình cảm của chính bản thân em, từ con tim, bởi em yêu Trung và em cảm nhận được rằng Trung cũng hiểu điều ấy và Trung cũng như em, chúng em có thể sẵn sàng đổi tính mạng cho nhau, nếu như làm được điều gì đó cho người mình yêu. Không hề có 1 tí nhục dục bẩn thỉu nào ở đây. Rất khó giải thích cho anh hiểu nổi, bởi anh không phải là con người như em, nên anh sẽ không cảm nhận được điều em nói. Nhưng em muốn nói với anh rằng, em và Trung yêu nhau, 1 tình yêu của những kẻ đồng giới, thiếu thốn và lạc loài trong cô đơn nên khi tìm được đến với nhau, hiểu nhau thì đấy là 1 tình cảm tuyệt vời, không có 1 thứ tình cảm nào trên đời này có thể so sánh nổi. Nhưng cũng chính vì yêu Trung nên em không muốn mình lại giết cả tương lai của Trung, nhưng nếu phải dứt bỏ Trung, thì em đau khổ lắm". Hoàng gục đầu khắc khoải. Một cánh chim ăn đêm dang rộng cánh bay ngang bầu trời thốt lên những tiếng kêu buồn bã làm cho Lân giật mình. Những điều Hoàng nói quả thật anh không hiểu và không hình dung ra nổi, giá như trước kia anh đã chẳng phá lên cười hoặc sẽ là giận dữ, còn nay trong lòng anh chỉ là 1 niềm cảm thông bao la, sâu sắc và anh không hề khó chịu trong lòng khi nghe em trai mình nói. Kéo Hoàng dậy, nhìn vào đôi mắt đầm đìa của em trai, Lân nghiêm nghị "Cuộc đời này sẽ còn có rất nhiều điều phải làm, chúng ta là những người đàn ông, em cũng là 1 người đàn ông. Đây em hãy nhìn khoảng trời bao la này đi, đêm nay gió rất mát, trời đầy sao và như vậy ngày mai sẽ nắng to. Cuộc sống sẽ còn biết bao điều kỳ bí vĩ đại mà cần đôi tay và trí tuệ của chúng ta khám phá. Anh hiểu, trong cuộc đời này mỗi cá nhân đều mang trong mình những đau khổ bất hạnh của riêng mình, anh không muốn nói đấy là số phận, nhưng anh khẳng định đấy là sự thật và đã là sự thật thì chúng ta phải chấp nhận nó trong 1 thái độ dũng cảm. Phải biết tự đè nén, tự kìm chế bản thân, tự đấu tranh và nổ lực vươn lên, ta chiến thắng được chính bản thân ta thì tức là chiến thắng được tất cả. Em còn quá trẻ và em phải khẳng định được bản lĩnh 1 thằng đàn ông trong con người em, vì vậy em phải đứng lên 1 cách mạnh dạn để đấu tranh với đời và phải vững tin rằnh mình sẽ thắng. Đừng ủy mị như vậy, phải tin rằng mình sẽ thắng, và khi em tìm được niềm tin thì em sẽ thắng, rõ không ?". Cả 2 anh em lững thững đi vào bệnh viện, đang buổi chiều tối nên bệnh viện khá đông người thăm nuôi. Chợt Lân dừng lại trước 1 người đàn ông đứng tuổi đang cặm cụi đi ra, chào: "Chào giáo sư", giáo sư Vĩnh Chương giật mình ngẩng đầu lên thấy Lân: "Ồ, chào anh Lân". "Giáo sư đi về ?". "Không, tôi ra mua tờ báo, anh vào thăm Trung đấy hả ?". "Vâng". Giáo sư Vĩnh Chương vồn vã mời 2 người theo ông vào phòng bệnh. ... Mời các bạn đón đọc Một Thế Giới Không Có Đàn Bà của tác giả Bùi Anh Tấn.