Liên hệ: 0912 699 269  Đăng nhập  Đăng ký

Gót Sắt (Jack London)

Năm 1907, Jack London cho ra đời cuốn tiểu thuyết Gót sắt. Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của nền văn học Mỹ đề cập đến cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước Mỹ. Đây là cuốn tiểu thuyết viễn tưởng thể hiện những tư tưởng ước mơ xã hội của ông. Nhà văn đã tự đặt mình là con người sống vào thế kỷ XXVI, lúc loài người đã trải qua bốn thế kỷ đại đồng và sau khi đã đập tan cái gót sắt là sự áp bức con người.

Tiểu thuyết của nhà văn Mỹ Jack London được sáng tác theo hình thức viễn tưởng, thể hiện lòng khao khát tự do, công lý và niềm tin sâu sắc vào tương lai tất thắng của cách mạng vô sản trên toàn thế giới.***

Jack London là nhà văn nổi tiếng người Mỹ, tác giả Tiếng gọi nơi hoang dã (The Call of the Wild), Gót sắt (Iron Heel), Martin Eden, Tình yêu cuộc sống (Love of Life), Nanh trắng (White Fang) và hơn 50 tác phẩm khác. Các tác phẩm của ông được dịch ra hàng chục ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và cho tới nay vẫn được độc giả tìm đọc.

Jack London năm 1876 ở thành phố San Francisco, và mãi ra đi vào ngày 22/11/1916 khi mới tròn 40 tuổi.

Năm 1896, do mong muốn làm giàu nhanh chóng, ông đã theo chân những người tìm vàng đến vùng Krondike thuộc Canada và đã nếm đủ mùi vất vả. Tại đây, Jack London đã được nghe những kẻ tha phương kể lại những câu chuyện về đói ăn, mất của và về những con chó trung thành. Tìm mua: Gót Sắt TiKi Lazada Shopee

Tất cả những mẩu chuyện này đã ám ảnh Jack London và ông đã viết thành những câu chuyện danh tiếng như: Đứa con của chó sói (viết năm 1902), Răng nanh trắng (1906), Ánh sáng ban ngày cháy đỏ (1910) và đặc biệt là tác phẩm Tiếng gọi nơi hoang dã (1903) đã gây được tiếng vang lớn, và từ đó Jack London đã có thể sống được bằng nghề viết truyện.***

Gió mùa hè hiu hiu lay động những cây thông khổng lồ và sông Wild-Water vỗ sóng nhịp nhàng vào những tảng đá xanh rêu. Bướm lượn dưới nắng và bốn bề tiếng ong bay vù vù như ru ngủ. Yên tĩnh quá. Thái bình quá. Và tôi ngồi đây, lo lắng, bồn chồn. Chính cái yên tĩnh làm cho tôi bồn chồn. Nó hư hư thực thực thế nào ấy. Khắp thế giới yên tĩnh, nhưng đó là cái yên tĩnh trước cơn giông tố. Tôi lắng tai nghe và tất cả các giác quan của tôi cũng căng lên chờ đón dấu hiệu của cuộc đại biến sắp nổ ra 1. Phải, miễn nó đừng nổ non! Miễn nó đừng bùng ra sớm quá!

Tôi bồn chồn cũng không có gì lạ. Tôi suy nghĩ, suy nghĩ liên mien, và không thể đừng suy nghĩ. Tôi vật lộn với cuộc sống đã từ lâu, đến nỗi thấy yên tĩnh là tức thở, không chịu được. Và tôi không thể không nghĩ đến trận cuồng phong chết chóc và tàn phá sắp sửa nổi lên. Trong tai tôi vang lên tiếng kêu gào của những người gục xuống, và tôi có thể nhìn thấy, cũng như tôi đã từng nhìn thấy 2 da thịt mơn mởn của con người bị dập vùi, tan tác, linh hồn con người bị giằng khỏi những tấm thân đầy kiêu hãnh và ném cho Thượng đế. Khốn khổ thay nhân loại chúng ta, muốn đạt đến mục đích của mình phải cố giết chóc, tàn phá, để đem lại cho trái đất một nền hoà bình và hạnh phúc bền vững.

Vả chăng, tôi chỉ có một mình. Lúc nào không nghĩ đến những điều tất phải xảy đến thì tôi nghĩ đến những điều đã qua, những điều không còn nữa. Tôi nghĩ đến con Đại bàng của tôi trước kia vẫn dang đôi cánh không biết mỏi ra vùng vẫy giữa trời xanh để bay về phía lí tưởng chói lọi của tự do nhân loại. Lí tưởng đó chính là mặt trời của anh. Tôi không thể ngồi yên để chờ đợi cái biến cố lớn lao do bản thân anh làm ra, mặc dầu anh không còn sống để nhìn thấy nó. Bao nhiêu năm anh sống làm người thì bấy nhiêu năm anh cúc cung tận tuỵ vì nó. Anh đã hiến cả đời anh cho nó. Nó là sự nghiệp của tay anh. Chính anh đã làm ra nó 3.

Cho nên trong thời gian chờ đợi lo lắng này, tôi sẽ viết về chồng tôi. Có nhiều điều chỉ mình tôi có thể nói rõ về anh, một con người cao quý dù ca ngợi bao nhiêu vẫn chưa đủ. Tâm hồn anh bao la như biển cả. Và khi tình yêu của tôi đã gột hết lòng vị kỉ thì tôi tiếc nhất là anh không còn sống để chứng kiến buổi bình minh sắp ló ra. Chúng tôi không tài nào thất bại được. Anh đã xây dựng vững chãi quá, chắc chắn quá rồi. Thảm hại thay cái Gót sắt đang dận trên ngực nhân loại! Chẳng bao lâu nữa, nó sẽ bị nhổ bỏ. Khi nào hiệu lệnh tung ra, lao động khắp thế giới sẽ dấy lên tầng tầng lớp lớp. Chưa bao giờ có một việc như thế trong lịch sử loài người. Sự đoàn kết của lao động đã được đảm bảo, và lần đầu tiên sẽ nổ ra một cuộc cách mạng quốc tế bao trùm cả thế giới 4.

Như các bạn đã thấy, óc tôi nghĩ miên man về sự kiện sắp xảy ra. Tôi sống miệt mài với nó, sống ngày, sống đêm, sống rất lâu, đến nỗi nó luôn luôn hiện ra trong tâm trí tôi. Tôi không thể nghĩ đến chồng tôi mà không nghĩ tới nó. Chồng tôi là linh hồn của nó, làm sao trong tư tưởng tôi có thể tách rời chồng tôi với nó được?

Như tôi đã nói, có nhiều điều chỉ mình tôi có thể nói rõ về anh. Ai cũng biết anh đã vì tự do mà chịu nhiều gian truân, đau khổ. Anh đã làm việc cực nhọc đến thế nào, đã đau khổ ghê gớm như thế nào, tôi biết hết. Vì tôi đã sống bên anh suốt hai mươi năm sóng gió vừa qua và tôi biết rõ lòng kiên trì, sự cố gắng không mệt mỏi và sự tận tuỵ không bờ bến của anh đối với Sự Nghiệp chung. Anh đã chết cho Sự Nghiệp, mới cách đây hai tháng.

Tôi sẽ cố viết giản dị và kể ra đây Ernest Everhard đã bước vào đời tôi như thế nào - thoạt tiên, tôi gặp anh ra sao, vì duyên cớ gì tôi đã thành một phần của chính mình anh, và anh đã gây cho đời tôi những biến đổi ghê gớm như thế nào. Như vậy, các bạn có thể nhìn anh qua mắt tôi, và biết về anh cũng như bản thân tôi - biết hết, trừ những chuyện riêng của vợ chồng chúng tôi.

Tôi gặp anh lần đầu tiên vào tháng 2 năm 1912. Anh là khách của ba tôi và hôm ấy anh đến ăn cơm ở nhà tôi, tại thành phố Berkeley. Có thể nói, ngay từ lúc đầu, tôi không có cảm tình với anh. Ngoài anh ra, còn nhiều khách khứa khác. Chúng tôi đang ngồi trong phòng khách chờ mọi người đến đông đủ thì anh vào, trông đến là thảm hại. Tối hôm ấy là tối họp mặt của các mục sư - ở nhà, ba tôi 5 vẫn thường gọi thế. Ngồi giữa các nhà tu hành, Ernest nhất định là lạc lõng.

Trước hết, quần áo anh không vừa người anh. Anh bận một bộ đồ may sẵn bằng vải sẫm, xộc xà xộc xệch. Trong thực tế, chẳng có thứ quần may sẵn nào mà anh mặc vừa. Tối hôm ấy, mà bao giờ cũng thế: các bắp thịt của anh hằn lên mặt vải. Vai anh u lên, và cái áo vét-tông anh bận dăn dúm cả ở giữa hai vai. Cổ anh banh ra, chắc nịch: giống hệt cổ những kẻ đi đánh nhau ăn giải 6. Tôi nghĩ bụng: Té ra nhà triết học xã hội, nguyên làm nghề bịt móng ngựa, mà ba tôi đã phát hiện được, ngài là như thế đấy. Vai u thịt bắp như thế, thật đúng quá đi rồi. Tôi liền liệt anh vào hạng dị nhân và coi anh như một lão Blind Tom 7 của giai cấp công nhân.

Rồi anh lại bắt tay tôi nữa kia chứ! Anh xiết mạnh quá, chặt quá, nhất là anh nhìn tôi một cách táo tợn bằng cặp mắt đen lay láy - táo tợn quá, theo ý tôi. Các bạn cũng thừa hiểu tôi là sản phẩm của hoàn cảnh và khi ấy bản năng giai cấp của tôi rất mạnh. Giá một người đàn ông thuộc giai cấp tôi cũng táo tợn như thế thì không thể nào tha thứ được. Tôi đành cúi nhìn xuống đất. Lúc anh đi khỏi, tôi nhẹ cả người, quay lại nhìn đức Giám mục Morehouse. Đức Giám mục là một người tôi rất mến, một người đứng tuổi, hiền hoà, nghiêm chỉnh, tướng mạo và từ tâm hệt như đức Chúa. Chẳng những thế, Người còn là một nhà học giả.

Nhưng cái táo tợn mà tôi tưởng là tự phụ đó lại là đầu mối cho tôi tìm hiểu bản chất của Ernest Everhard. Anh giản dị, ngay thẳng, chẳng biết sợ cái gì và không thích mất thì giờ vào việc xã giao. kiểu cách. Mãi về sau, anh giải thích: “Em rất hợp ý anh, làm sao anh lại không nhìn thẳng vào người mà anh ưa thích?” Tôi đã bảo, anh chẳng sợ một cái gì. Anh là người bản chất quý phái, mặc dầu anh đứng trong phe thù địch của bọn quý phái. Anh là một siêu nhân, một “Con vật tóc vàng” như Nietzsche 8 đã miêu tả, và cộng thêm vào đó, anh mang những tư tưởng dân chủ cháy rực trong người.

Vì mải tiếp những người khác, và cũng vì sẵn có ấn tượng xấu, tôi quên khuấy mất nhà triết học của giai cấp công nhân, mặc dầu tôi có chú ý đến anh một hai lần trong bữa ăn - đặc biệt là lúc anh long lanh đôi mắt nghe các vị mục sư nói chuyện. Tôi nghĩ bụng: anh là người vui tính và tôi hầu như tha thứ cho cách ăn mặc của anh. Nhưng thời gian cứ đi, bữa ăn cứ tiếp tục, anh vẫn không buồn nói nửa lời. Trong khi ấy, các vị mục sư bàn luận miên man về giai cấp công nhân, về quan hệ của nó với Nhà thờ. Nhà thờ đã làm gì và đang làm gì cho nó. Tôi nhận thấy Ernest không nói làm cho ba tôi không bằng lòng. Nhân một lúc im lặng, ba tôi yêu cầu anh phát biểu, nhưng Ernest nhún vai: “Tôi chẳng có điều gì muốn nói cả” và lại ngồi ăn hạnh đào muối.

Nhưng ba tôi không chịu. Một lúc sau ba tôi bảo:

- Chúng ta có một người giai cấp công nhân ở đây. Tôi tin chắc người đó có thể trình bày các việc theo một quan điểm mới, vừa hay lại vừa bổ ích. Tôi muốn nói ông Everhard.

Những người khác tỏ vẻ thích thú một cách lịch sự và giục Ernest tuyên bố những quan điểm của mình. Thái độ của họ hết sức khoan dung, hoà nhã: đúng là thái độ của những kẻ đỡ đầu. Tôi thấy Ernest cũng nhận ra điều ấy và anh lấy thế làm khoái lắm. Anh chậm rãi nhìn bốn xung quanh và mắt anh sáng lên một cách ranh mãnh.

- Tôi quả thật không quen với những cuộc tranh luận tao nhã của Giáo hội, - anh bắt đầu được mấy lời đã ngập ngừng ngay, vẻ mặt khiêm tốn và do dự.

Họ giục: “Ông cứ tiếp tục đi!” và bác sĩ Hammerfield bảo: “Chân lí dù ở miệng ai nói ra chúng tôi cũng đều không ngại. Miễn là nó trung thực”.

- Vậy ra ngài tách rời trung thực khỏi chân lí ư? - Ernest cười hỏi rất nhanh.

Bác sĩ Hammerfield luống cuống trả lời:

- Giỏi đến đâu cũng phải có lúc nhầm, ông bạn trẻ ạ. Người giỏi nhất trong chúng ta cũng phải có lúc nhầm.

Ernest bỗng thay đổi hẳn. Anh đã thành một người khác.

- Vâng, được, - anh đáp. - Và tôi xin phép bắt đầu bằng câu này: là các ngài nhầm tuốt. Các ngài không biết gì về giai cấp công nhân, không biết một tí gì hết. Khoa xã hội học của các ngài sai bét và vô giá trị, cũng như phương pháp suy luận của các ngài.

Những lời anh nói chính lại không nặng bằng cách anh nói. Tôi giật cả mình trước hết vì giọng nói của anh. Nó cũng táo tợn không khác gì hai con mắt anh. Nó là một tiếng kèn chiến đấu và nó làm cho toàn thân tôi rung lên. Bàn tiệc xao động. Cái không khí đều đều buồn tẻ bị phá vỡ.

- Ông bạn trẻ tuổi! Phương pháp suy luận của chúng tôi có chỗ nào sai lầm và vô giá trị ghê gớm đến thế kia, thưa ông? - Bác sĩ Hammerfield hỏi, vẻ khó chịu thoáng hiện ra giọng nói và cách phát biểu của ông.

- Các ngài là những nhà siêu hình học. Các ngài có thể dùng siêu hình học để chứng minh bất cứ một cái gì, và xong thì mỗi nhà siêu hình học lại có thể tuỳ thích chứng minh rằng các nhà siêu hình học khác là sai. Các ngài là những kẻ vô chính phủ trong lĩnh vực tư tưởng. Các ngài là những nhà chế tạo ra vũ trụ. Điên rồ ơi là điên rồ! Mỗi ngài sống trong một vũ trụ riêng, do trí tưởng tượng riêng và những sở thích riêng của mình tạo nên. Các ngài không biết gì về cái thế giới thực các ngài đang sống, và tư tưởng điên loạn của các ngài hoàn toàn không có chỗ đứng trong thực tại.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Jack London":Tiếng Gọi Nơi Hoang DãCô Gái Băng TuyếtGót SắtJack London Truyện Ngắn Chọn LọcJack London Tuyển TậpMartin EdenMối Thù Thiên ThuTừ Bỏ Thế Giới Vàng

Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Gót Sắt PDF của tác giả Jack London nếu chưa có điều kiện.

Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.

Nguồn: thuviensach.vn

Đọc Sách

Long Hổ Phong Vân (Ôn Thụy An)
Long Hổ Phong Vân là cuốn đầu tiên trong Bạch Y Phương Chấn Mi hệ liệt. Bạch Y Phương Chấn Mi hệ liệt gồm có: Long Hổ Phong Vân Thí Kiếm Sơn Trang Trường An Nhất Chiến Lạc Nhật Đại Kỳ *** Nói đến tiểu thuyết kiếm hiệp, người ta thường biết đến Lương Vũ Sinh, Kim Dung, Cổ Long, Ngọa Long Sinh, Gia Cát Thanh Vân,... nhưng ít ai biết đến một đại gia trẻ tuổi khác là Ôn Thụy An. Ôn Thụy An là nhà văn trẻ tuổi nhất trong các tác gia ưu tú của tiểu thuyết võ hiệp tân phái, cũng có thể nói là tác gia ưu tú nhất trong các tác gia võ hiệp thế hệ trẻ. Và, từ giữa thập kỷ 80 về sau, kể từ Kim-Lương gác bút, Cổ Long qua đời, Ngọa Long Sinh suy yếu, Ôn Thụy An trở thành tác gia gánh vác đại cục sau Cổ Long (Lời của nhà văn Nghê Khuông). Tìm mua: Long Hổ Phong Vân TiKi Lazada Shopee Từ thập kỷ 90 về sau, Ôn Thụy An trở thành điểm nóng. Có người nói Ôn Thụy An có thể sánh với Cổ Long, có người nói thậm chí còn có thể sánh với Kim Dung. Đối với người cực lực ca ngợi hoặc hoàn toàn chê bai Ôn Thụy An, ông trở thành một hiện tượng độc đáo trên văn đàn võ hiệp Trung Quốc cuối thập kỷ 90. Trên đại thể, tác phẩm tiểu thuyết võ hiệp của Ôn Thụy An được ông phân thành nhiều loại với những tên gọi khác nhau, có loại gọi là tiểu thuyết võ hiệp, có loại gọi là võ hiệp mới, lại có loại gọi là võ hiệp siêu tân phái, và võ hiệp hiện đại- có thể phân thành 10 hệ thống (hệ liệt-chùm tác phẩm). *** Thành Trường An, Huyết Hồn tiêu cục. Tiếng mõ canh ba vừa vang lên trong hẻm dài của Trường An, trên mái cong của Huyết Hồn tiêu cục không khí huy hoàng bỗng lóe lên một người áo đen. Người áo đen này nhanh chóng chạy trên nóc nhà. Trời đen đất tối, không trăng không sao, người áo đen xuyên qua tầng tầng lầu các của Huyết Hồn tiêu cục, sau đó nhìn quanh một chút, lật người nhảy xuống. Vừa rơi xuống đất, người áo đen này cũng không dừng lại, lập tức chạy về phía hành lang. Hành lang bảy khúc chín vòng, mỗi khúc cua đều có một ngọn đèn Khổng Minh chập chờn. Người áo đen nhanh chóng vòng ra hành lang. Hắn chạy nhanh như vậy nhưng không gây ra một chút tiếng bước chân nào, chắc chắn khinh công đã cao đến mức siêu phàm. Người áo đen vòng ra hành lang, sau đó rẽ vào trong tổng đường của Huyết Hồn tiêu cục. Cả gian phòng một màu đen kịt, phòng khách lớn như vậy nhưng lại không có một ngọn đèn nào. Hai hàng binh khí trái phải giống như hai hàng đại tướng đứng sừng sững một bên. Người áo đen hơi ngẩn ra, ngay lúc này tiếng binh khí chợt nổi lên. Hắn ngước mắt nhìn, trông thấy trên xà nhà có bốn người rơi xuống. Thay vì nói đây là bốn người, không bằng nói là bốn thanh đao. Bốn thanh đao đuôi nhạn vừa mỏng vừa gấp vừa nhanh vừa độc, chỉ thấy một mảng ánh đao chứ không thấy người, từ trên chém xuống đầu người áo đen. Người áo đen hét lớn một tiếng, thân hình nhoáng lên lao vào phòng khách, khiến cho một kích ác liệt của bốn tên đao thủ kia đều đánh trật. Nhưng chân của người áo đen còn chưa chạm đất, trong phòng khách đột nhiên lại lóe lên bốn tên đao thủ, hóa thành một mảng ánh đao vừa nhanh vừa ác, lăn dưới đất cắt vào hai chân hắn. Người áo đen hét lớn: - Hay cho Địa Tranh đao pháp! Âm thanh còn đang rung động trong phòng khách, hai chân người áo đen đã liên tục đá ra, “bốp bốp bốp bốp” bốn thanh đao đều bị hắn đá bay. Chân của hắn vừa chạm đất, bốn tên Địa Tranh đao thủ kia một kích không trúng, liền nhanh chóng lui vào trong bóng tối. Người áo đen vừa định lên tiếng, đột nhiên nghe được tiếng ám khí đầy trời bắn về phía hắn. Ngay lúc này, trong phòng khách tối đen có một giọng nói uy nghiêm cất lên: - Dừng tay! Ánh nến lập tức đồng loạt cháy lên, chiếu sáng rực cả phòng. Người áo đen kia đang đứng giữa phòng khách, hai tay đã kẹp lấy mười mũi tên bạc, ba mũi phi tiêu, bảy hạt gai sắt. Chính diện phòng khách có một chiếc bàn lớn, trước bàn có ba người ngồi ngay ngắn. Người ngồi giữa là một lão nhân thân hình cường tráng, hai mắt sáng ngời có thần, huyệt thái dương cao cao nhô ra, hiển nhiên là một cao thủ võ lâm kiêm tu nội ngoại. Người bên trái có râu quai nón, cao lớn vạm vỡ, hai nắm tay lớn như đầu người, vừa nhìn đã biết là dũng sĩ sức lực vô cùng. Người bên phải mặt trắng không râu, tay cầm quạt nho sĩ, nhưng xương ngón tay dài và có lực, khí thái nhàn nhã. Hai bên phòng khách cũng có bốn năm chục người tràn ra. Vị lão nhân chính giữa kia cười lớn nói: - Ta tưởng là ai, hóa ra là Trung Nguyên Thần Ưng Thượng lão huynh đại danh đỉnh đỉnh đại giá quang lâm, không tiếp đón từ xa, đúng là thất kính thất kính! Lúc này người áo đen kia mới buông lỏng đề phòng, cũng cười nói: - Tốt lắm, đây chính là đạo đãi khách của các người sao! Lão nhân kia đứng dậy khỏi ghế, đi đến trước mặt người áo đen, thân mật vỗ vai đối phương cười nói: - Thượng lão huynh, thật sự rất xin lỗi! Huynh cũng biết đấy, đối phương để lại thiếp nói rằng canh tư đêm nay sẽ đến đánh cắp Huyết Hà đồ của chúng ta, chúng ta không thể không cẩn thận. Tên văn sĩ mặt trắng không râu kia cũng đẩy ghế đứng lên, cười bồi nói: - Thượng anh hùng xin thứ lỗi chuyện này! Thực ra Thất Tuyệt Lang, Thiên Địa Đao Thủ và ám khí trận nho nhỏ của tệ cục, sao có thể làm khó được Thượng anh hùng huynh chứ. Ha ha ha! “Trung Nguyên Thần Ưng” Thượng Bộ Vân tuy là lão hồ ly xông pha hơn ba mươi năm trên giang hồ, độc hành đại đạo nổi danh, nhưng nghe trái một câu anh hùng, phải một câu anh hùng, cũng cảm thấy hơi lâng lâng, liền cười nói: - Nào có nào có, Huyết Hồn tiêu cục phòng vệ nghiêm ngặt như vậy, thực ra ta tới cũng không giúp được gì, Lạc huynh và Thẩm tiên sinh quá khen rồi. Vị lão nhân kia chính là cục chủ của Huyết Hồn tiêu cục, “Huyết Hồn Thần Chưởng” Lạc Thiên Trì. Văn sĩ kia là phó cục chủ “Tụ Lý Nhật Nguyệt” Thẩm Thất Sơn. Còn đại hán vạm vỡ kia là tổng đoàn trưởng của Huyết Hồn tiêu cục, “Trượng Nhị Kim Cương” Mã Cừu Phu. Lúc này Lạc Thiên Trì cười ha hả nói: - Đã như vậy, Thượng lão huynh không cần để ý, tới đây, mời ngồi! Đột nhiên bên ngoài vang lên một giọng nói âm trầm lạnh lẽo: - Thế nào, Lạc Thiên Trì, bên trọng bên khinh sao? Người theo tiếng đến, một lão đầu vừa cao vừa gầy vừa khô khan đã đi đến bên cạnh. Lạc Thiên Trì sững sốt, sau đó lập tức nhận ra, cười lớn nói: - Ha ha ha, hóa ra là Khô Thi Âu lão huynh, khinh công thật giỏi, huynh đến rồi mà chúng ta còn không biết. “Khô Thi” Âu Lập Nhân nói: - Ta vốn theo lão Thượng tới đây, hắn giúp ta ngăn cản những cơ quan nhỏ này, ta còn chưa cám ơn nữa! Câu này vừa như khen vừa như chế giễu, Thượng Bộ Vân nghe được cảm thấy khó chịu, đang định phát tác. “Tụ Lý Nhật Nguyệt” Thẩm Thất Sơn đảo mắt một cái, lập tức cười bồi nói: - Hai vị anh hùng xin mời ngồi, người đâu, dâng trà hầu hạ! Lạc Thiên Trì nghiêm mặt nói: - Thượng huynh, Âu huynh, lần này có thể giữ được Huyết Hà đồ hay không, còn phải xem hai vị rồi. Ta biết chỉ dựa vào đám Thất Tuyệt Lang, Thiên Địa Đao Thủ của chúng ta, đừng nói Ngã Thị Thùy tới đây, ngay cả Thất Trùng Sơn Quách Ngạo Bạch tới đây cũng không ngăn cản được. Thượng Bộ Vân cau mày nói: - Ngươi nói đại hiệp Ngã Thị Thùy cũng muốn lấy Huyết Hà đồ của chúng ta? Lạc Thiên Trì ngưng trọng nói: - Đúng vậy. Nếu không ta tuyệt đối không dám xin chỉ thị của Tăng bang chủ, phái hai vị đến đây tương trợ. Nên biết chúng ta lấy được Huyết Hà đồ, là do Trung Nguyên thế gia đã nhờ chúng ta bảo tiêu, lại bị chúng đến giết đến không còn một mống, mà Huyết Hồn tiêu cục cũng tổn thất ba bốn chục tên hảo thủ. Chỉ cần Huyết Hà đồ ở trong tay chúng ta, sẽ có thể tìm được những kỳ trân hiến thấy kia, dâng tặng cho Tăng bang chủ, Trường Tiếu bang càng như hổ thêm cánh. Những hi sinh này vẫn là đáng giá. Sắc mặt Âu Lập Nhân cũng trở nên ngưng trọng: - Một tên Quách Ngạo Bạch tới đã đủ phiền toái, nghe nói Thất Trùng Thiên kiếm pháp của hắn đã khó gặp đối thủ trong võ lâm. Bây giờ lại thêm một tên Ngã Thị Thùy, đúng là nhức đầu. Không phải Ngã Thị Thùy luôn tự cho mình là hiệp khách à? Tại sao cũng muốn lấy Huyết Hà đồ? “Tụ Lý Nhật Nguyệt” Thẩm Thất Sơn nói: - Có trời mới biết! Những kẻ xưng là đại hiệp này, lấy được Huyết Hà đồ chẳng qua là đi cứu nghèo giúp yếu gì đó, nhưng người nghèo trong thiên hạ nhiều như vậy, làm sao cứu cho hết? Không bằng dâng cho Trường Tiếu bang chúng ta, như vậy có thể hiệu lệnh thiên hạ rồi. “Huyết Hồn Thần Chưởng” Lạc Thiên Trì nói: - Điều ta sợ là bọn Ngã Thị Thùy đã sớm biết Huyết Hồn tiêu cục chúng ta cùng một nhóm với Trường Tiếu bang, cho nên cố ý tới gây chuyện. Thực ra bọn họ giao cho chúng ta bảo tiêu, rõ ràng là đưa dê vào miệng cọp, ta sợ làm nhiều chuyện như vậy sẽ bị người trên giang hồ biết… “Trung Nguyên Thần Ưng” Thượng Bộ Vân nói: - Ta cũng không tin Ngã Thị Thùy có ba đầu sáu tay gì, với thực lực của chúng ta cũng muốn hắn tới đây… xem thử hắn làm thế nào cướp giàu, làm thế nào cứu nghèo! “Khô Thi” Âu Lập Nhân thận trọng nói: - Lạc lão đệ, vừa rồi ngươi nói bọn họ đã sớm biết ngươi cùng một nhóm với Trường Tiếu bang, chẳng lẽ còn có người khác muốn đoạt Huyết Hà đồ sao? Lúc đang nói, trong hẻm dài đã vang lên tiếng mõ canh tư. - Canh tư rồi, đám trẻ hãy lưu ý nhiều hơn! Lạc Thiên Trì kêu một tiếng, sau đó sắc mặt càng nghiêm trọng nói: - Đúng vậy, còn một người đêm nay cũng muốn tới… Thượng Bộ Vân cười lạnh hỏi: - Là ai tới tìm chết? Lạc Thiên Trì đáp: - Giang Nam tài tử Phương Chấn Mi. Thượng Bộ Vân, Âu Lập Nhân đồng thời “ồ” một tiếng, không kìm được lui lại hai bước: - Phương Chấn Mi! Cùng lúc đó, ngoài phòng có bốn người bay vào. Đó là bốn tên đao thủ, đao đã gãy, tai trái của bọn họ đều có một lỗ kiếm, máu liên tục rỉ ra… hiển nhiên nếu đối thủ muốn lấy mạng bốn người này thì dễ như trở bàn tay. Âu Lập Nhân cười lạnh nói: - Kẻ tìm chết tới rồi! Lạc Thiên Trì cao giọng nói: - Xin báo họ tên! Ngoài phòng lóe lên một người, áo xanh trường kiếm, ngọc thụ lâm phong, nói từng chữ từng câu: - Ưng Sầu Nham Thất Trùng Sơn Quách Ngạo Bạch. Lạc Thiên Trì, ngươi giết người đoạt bảo, mau giao Huyết Hà đồ ra, tự chặt hai tay, có thể tha cho ngươi một mạng! Lạc Thiên Trì tuy là người từng trải, nhưng bị ánh mắt như mũi kiếm của thiếu niên này nhìn vào, không kìm được lui về sau hai bước, sờ sờ Huyết Hà đồ trong ngực. Chợt nghe một tiếng quát lớn: - Đừng cuồng vọng! Đại hán vạm vỡ “Trượng Nhị Kim Cương” Mã Cừu Phu kia đã như chim ưng lớn lao xuống, người chưa chạm đất, Kim Cương xử nặng ba mươi hai cân đã đánh xuống đầu Quách Ngạo Bạch. “Khô Thi” Âu Lập Nhân quát lớn một tiếng: - Lui xuống! Nhưng đã không kịp nữa, Mã Cừu Phu như một ngọn núi lớn đã đến trên đầu Quách Ngạo Bạch. Hai vai Quách Ngạo Bạch vừa động, bỗng nhiên tỏa ra một vầng ánh kiếm như nước. “Trượng Nhị Kim Cương” Mã Cừu Phu kêu lên một tiếng, rơi xuống đất, hai lòng bàn tay đều bị kiếm xuyên qua. Lúc nhìn lại Quách Ngạo Bạch, thấy hắn vẫn thần thái nhàn nhã, trên tay không có một thanh kiếm nào. “Khô Thi” Âu Lập Nhân hét lớn một tiếng, “Cương Thi trảo” khổ tu bốn mươi năm hóa thành một phiến bóng trảo, bóng đi theo người quấn lấy Quách Ngạo Bạch. Thượng Bộ Vân nói với Lạc Thiên Trì bên cạnh: - Tiểu tử này võ công không yếu, ta lên giúp hắn một tay, hủy tiểu tử này rồi tính sau. Lạc Thiên Trì nhớn nhác, tổng đoàn trưởng trong cục mình lại không chống nổi một chiêu của thiếu niên chưa đến hai mươi tuổi này, vừa cảm thấy xấu hổ, càng cảm thấy lạnh người. Thượng Bộ Vân bước một bước dài, vận “Ưng Trảo công” gia nhập trận chiến. Nên biết “Khô Thi” Âu Lập Nhân và “Trung Nguyên Thần Ưng” Thượng Bộ Vân chính là kỳ chủ của Hắc kỳ và Bạch kỳ trong số ngũ đại kỳ chủ của Trường Tiếu bang, võ công cực cao. Hai người hợp sức đối địch, e rằng cao thủ võ lâm hạng nhất cũng khó mà ứng phó. Nhưng hai người này đụng phải Quách Ngạo Bạch, căn bản không thể nào tiến công. Hai vai Quách Ngạo Bạch vừa động, ánh kiếm tràn ra, hai người cũng không tiếp nổi, lần lượt tránh đi. Nhưng Quách Ngạo Bạch nhất thời cũng không thắng được. Ba người bắt đầu chiến đấu trong phòng khách. Đột nhiên ngoài phòng có người cười lớn: - Tốt! Ta cũng tới! Trong lòng Lạc Thiên Trì chấn động, liền hét lớn: - Mau chặn cửa chính lại! Ba bốn mươi tên tiêu sư xông lên, lao về phía cửa chính. Nhưng một người áo đen đã xông vào, những kẻ cản đường đều bị đánh văng, ba bốn chục tên tiêu sư còn chưa đối mặt đã bể đầu chảy máu, ngã xuống đất. Người nọ xông đến gần Quách Ngạo Bạch, nói: - Tới đây, ta giúp ngươi một tay! Thượng Bộ Vân giận dữ xông tới, “Ưng trảo” trên dưới giao công, bỗng nhiên nhìn thấy cặp mắt sáng ngời của người nọ, một nắm tay lại xuyên qua đôi tay mưa gió không lọt của hắn. Sau một tiếng “bình”, Thượng Bộ Vân ngửa mặt lên trời ngã xuống, trong ba canh giờ cũng không bò dậy nổi. Quách Ngạo Bạch vừa thấy có người đến giúp, liền cả giận nói: - Không cần! Nhưng thấy người áo đen kia đã dùng một quyền đánh ngã Thượng Bộ Vân, liền xuất kiếm chém vào chân trái người áo đen. Người áo đen kia trong lúc vội vã liền lách người tránh qua, đồng thời kêu lên: - Giỏi thật, ta giúp ngươi mà còn đối xử với ta như vậy, nếu không phải thấy ngươi là một hảo hán thì ta đã đánh cả ngươi rồi! Vừa nói vừa tùy tiện vung ra một quyền. Âu Lập Nhân liều mạng muốn tránh, tiếc rằng lại không tránh khỏi, sau một tiếng “bình” đã bay ra ngoài một trượng, ngửa mặt ngã xuống. Quách Ngạo Bạch càng giận dữ, “vút vút vút vút” liên tục xuất ra mấy kiếm, nhưng người áo đen đã xông vào trong phòng. Lạc Thiên Trì thấy khí thế của người này dữ dội như vậy, mạnh như vũ bão, liền kinh hãi nói: - Đại hiệp Ngã Thị Thùy? Bên tai chỉ nghe một câu “đúng vậy”, trước mắt bỗng tối sầm, hai tay bị khóa cứng, Huyết Hà đồ trong ngực đã bị đoạt đi, trong đầu vang lên một tiếng “ong”, lập tức ngã xuống đất. Quách Ngạo Bạch quát lớn một tiếng: - Ngã Thị Thùy! Đừng chạy! Ngã Thị Thùy quét chân một cái, đá Thẩm Thất Sơn đang kinh hãi đến đến ngây người ở bên cạnh về phía Quách Ngạo Bạch, đồng thời nói: - Tối nay ta không rảnh tán gẫu với ngươi, ta còn phải trả Huyết Hà đồ lại cho Trung Nguyên thế gia! Quách Ngạo Bạch giận dữ xông đến, tiếc rằng Thẩm Thất Sơn lại bị quét về phía hắn, dù đang hốt hoảng nhưng cây quạt nho sĩ trong tay vẫn muốn điểm vào huyệt Khúc Trì của hắn. Quách Ngạo Bạch trở tay một cái, mũi kiếm vừa xuất ra liền thu lại, quạt đứt làm hai, trên đầu gối Thẩm Thất Sơn cũng có thêm hai lỗ kiếm, quỳ xuống đất. Quách Ngạo Bạch lại định đuổi theo, nhưng đã không còn thấy bóng dáng Ngã Thị Thùy. Ngã Thị Thùy nhảy lên ngói nhà, chạy một hồi trên mái cong, gió sớm nổi lên thổi người mát mẻ, lúc này đã là tảng sáng. Trăng xuyên qua tầng mây, lại chìm về phía tây, xanh biếc trong veo như một luồng ánh nước vẩy vào trên ngói nhà. Ngã Thị Thùy cười nhạt, lấy Huyết Hà đồ trong người, đón ánh trăng mở ra. Hắn vừa nhìn liền giật mình, Huyết Hà đồ này chỉ là một cuộn giấy trắng, trên giấy viết mười sáu chữ như rồng bay phượng múa. “Hà đồ hà đồ Đã về thế gia Chư vị phí công Chấn Mi cáo lỗi” Phía dưới ký tên bảy chữ “Giang Nam Bạch Y Phương Chấn Mi”. Ngã Thị Thùy đột nhiên đóng cuộn giấy lại, ngửa mặt lên trời thở ra một hơi, áo đen đón gió sớm phất phơ trên nóc nhà. Một vầng trăng tròn nhàn nhạt và điềm tĩnh trải trên người hắn, giống như một chiếc áo gấm màu sữa.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Ôn Thụy An":Bố Y Thần Tướng Hệ LiệtDược Mã Hoàng HàGiang Sơn Như HọaKiếm Khí Trường GiangKinh Diễm Nhất ThươngLạc Nhật Đại KỳLưỡng Quảng Hào KiệtNhất Nộ Bạt KiếmÔn Nhu Nhất ĐaoSấm Đãng Giang HồThần Châu Vô ĐịchThí Kiếm Sơn TrangThiên Hạ Hữu TuyếtThiếu Niên Tứ Đại Danh BộThương Tâm Tiểu TiễnTịch Mịch Cao ThủTiểu Tuyết Sơ TìnhTriều Thiên Nhất CônTrường An Nhất ChiếnLong Hổ Phong VânĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Long Hổ Phong Vân PDF của tác giả Ôn Thụy An nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Xứ Tuyết (Yasunari Kawabata)
Xứ tuyết là tiểu thuyết của văn hào Nhật Bản Kawabata Yasunari, được khởi bút từ 1935 và hoàn thành năm 1947. Trước khi xuất bản dưới dạng ấn phẩm hoàn chỉnh, tác phẩm đã được đăng tải thành nhiều kỳ trên nhật báo. Xứ tuyết được đánh giá là quốc bảo của nền văn học Nhật Bản. Cùng với Ngàn cánh hạc và Cố đô, Xứ tuyết đã mang lại cho tác giả giải thưởng Nobel văn học vào năm 1968, nhân kỷ niệm 100 năm (1868-1968) hiện đại hóa văn học Nhật Bản với công cuộc cải cách Minh Trị. Xứ tuyết mang âm hưởng truyền thống lữ hành của các thi nhân văn sĩ Nhật Bản từ xa xưa. Câu chuyện theo bước chân của chàng trai trẻ Shimamura du hành ngoạn cảnh và tắm suối nước nóng. Shimamura, sinh ra và lớn lên ở một khu phố thương mại của Tokyo, đã lập gia đình, nhưng lại say mê với cái đẹp như bị một huyền lực điều khiển, vì vậy chàng đam mê theo học nghệ thuật vũ đạo Tây phương và hoạt kịch. Là một chàng trai tài tử nhàn rỗi thiếu thành khẩn với chính mình, lại có đôi lúc khát vọng tự tìm hiểu bản thân thôi thúc, nên chàng thích lên miền núi một mình và đã ba lần lên xuống xứ tuyết phía Bắc Nhật Bản trong ba mùa khác nhau Xuân - Thu - Đông. Trong lần thứ nhất vào thời điểm mở cửa mùa leo núi, mùa xuân bắt đầu với chồi non xanh thẳm và hương thơm ngát, chàng gặp nàng ca kỹ (geisha) Komako. Komako là một cô gái đại diện cho vẻ đẹp tràn trề nữ tính, mạnh mẽ, tương phản giữa thánh thiện và trần tục, giữa tỉnh táo và đam mê, giữa vẻ đẹp sáng ngời nét thơ ngây bên ngoài và sức trầm lắng của nội cảm. Cảm giác mà nàng đem lại cho Shimamura là sự tươi mát và thanh sạch tuyệt vời. Trong những đêm khi mà nàng giúp vui tiệc tùng bằng cách đánh đàn samisen cho những khách du hành, uống rượu say và mệt lả, nàng về bên Shimamura với sự nồng nhiệt khiến chàng rung động đến tận tơ lòng. Con tàu đưa Shimamura vượt qua đường hầm đến xứ tuyết lần thứ hai để gặp lại Komako vào mùa đông, vài tuần trước khi mở mùa trượt tuyết. Trong ánh sáng mờ ảo, Shimamura mê mẩn ngắm khuôn mặt người thiếu nữ ngồi đối diện với chàng ngời lên trên tấm kính cửa sổ toa tàu, với vẻ đẹp vừa huyền ảo vừa siêu phàm, với sự duyên dáng kỳ lạ của khuôn mặt trôi qua phong cảnh ban đêm. Cô gái đó, chàng còn gặp lại ở vùng băng tuyết, chính là Yoko. Một ca kỹ với vẻ đẹp trong trắng và xa vời, mong manh và mờ ảo, tin cậy và thơ ngây ngay cả trong cách nàng thể hiện tình cảm với Shimamura, với giọng nói "truyền cảm, trong thanh và đẹp đến não lòng", khiến chàng mỗi lần tiếp xúc là mỗi lần khám phá thêm một nét quyến rũ nơi nàng. Rồi những ngày đầu mùa thu với lá phong đỏ thắm, Shimamura lại rời Tokyo để đi nghỉ ở xứ tuyết. Ở đó, giữa hai người con gái xứ tuyết, trong khung cảnh của một vương quốc mà cảnh sắc, con người, phong tục, lối sống đều hồn hậu, chất phác và dịu dàng, chàng mẫn cảm sâu sắc trước cái đẹp nhưng lại đắn đo lưỡng lự giữa hai mối tình, một nặng về thể xác, một nặng về tâm hồn. Say đắm Komako nhưng trong Shimamura luôn hiện diện ánh sáng kỳ ảo lóe lên từ Yoko. Xúc cảm tình yêu của chàng dành cho Yoko ngày càng lớn dần khi chàng cảm nhận được cái mờ ảo và mong manh của vẻ đẹp khó diễn tả ấy, một vẻ đẹp chàng khao khát theo đuổi và nắm bắt cả đời. Trong khi Komako càng đến bên chàng thân thiết, gần gũi, mãnh liệt và hy sinh bao nhiêu, thì cứ mỗi lần rời xa xứ tuyết chàng lại thấy nàng biến mất không còn lưu lại chút dư tình trong tâm trí. Tình yêu của Shimamura với Komako bắt đầu chớm những giận hờn đầu tiên. Komako hoang mang không biết Shimamura còn yêu mình thật hay không, còn chàng cũng không sao hiểu nổi sự lạnh lùng của lòng mình, tại sao mình không thể sống được mãnh liệt, trọn vẹn và hy sinh trong dâng hiến không đòi hỏi chút gì trả lại như nàng. Tìm mua: Xứ Tuyết TiKi Lazada Shopee Đúng vào lúc Shimamura quyết định rời xa trạm nước nóng ở xứ tuyết để tránh cơn bão lòng và cắt đứt duyên nợ một cách lặng lẽ thì mọi sự đã kết thúc trong bi thảm. Trong một buổi chiếu bóng tại một nhà kho gần nơi chàng ở, một đám cháy dữ dội đã xảy ra. Mặt đất rừng rực trong tia lửa và tàn tro bốc cao lên tận bầu trời đêm, một bầu trời với dải Ngân Hà lóng lánh trong ánh sáng đẹp một cách ma quái. Yoko, người yêu thuần khiết và mối tình lý tưởng của chàng đã chết trong đám cháy đó. Khi chàng chạy tới thì thấy thân hình bất động của Yoko với gương mặt thanh tú và thánh thiện trên đôi tay Komado, còn Komako thì lời nói như mê sảng và vẻ mặt như sắp hóa điên. Chàng lảo đảo ngẩng mặt lên trời và có cảm giác dải Ngân Hà trôi tuột vào trong người chàng với tiếng gầm thét dữ dội.***Trong “Xứ tuyết”, thiên nhiên Nhật Bản hiện lên giản dị và tĩnh mịch, mong manh và u huyền. Những tác phẩm của Yasunari Kawabata đã giữ một vị trí đặc biệt trong văn học cận-hiện đại Nhật Bản nói riêng và cho cả nền văn học Nhật Bản nói chung. Trong bộ ba tác phẩm giúp Kawabata dành giải Nobel văn học (Ngàn cánh hạc, Cố đô, Xứ tuyết), tiểu thuyết Xứ tuyết thể hiện quan niệm thẩm mỹ trong truyền thống của người Nhật Bản. Đó là bài thơ về cảnh sắc thiên nhiên, là bài ca về tình yêu, cũng là nơi tìm lại vẻ đẹp Nhật Bản. Nhóm sinh viên khoa Ngữ văn trường ĐH Sư phạm Hà Nội đã thực hiện nghiên cứu khoa học “Thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản trong quan niệm Kawabata”, thông qua tiểu thuyết Xứ tuyết của ông. Biên tập viên Sóng Trẻ xin lược trích chương 2 của báo cáo khoa học, “Vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản” ở bài đăng này. Vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống Nhật Bản Trong Xứ tuyết, thiên nhiên hiện lên với vẻ đẹp xuất phát từ chính những quan niệm thẩm mỹ của Yasunari Kawabata. Cái đẹp phong phú của tự nhiên hiện ra từ chính vẻ đẹp của cảnh sắc thiên nhiên xứ tuyết. Thiên nhiên xứ tuyết là một bài thơ Haiku bằng văn xuôi dung hợp trong đó những quan niệm thẩm mỹ nổi bật nhất của Kawabata. Từ đặc trưng của các nguyên lý thẩm mỹ và nội dung cụ thể của tiểu thuyết Xứ tuyết, chúng tôi tiến hành phân loại và tìm hiểu vẻ đẹp thiên nhiên Xứ tuyết trong quan niệm thẩm mỹ của Kawabata với 4 nội dung: 1. Thiên nhiên mang vẻ đẹp giản dị, gần gũi với cuộc sống (Wabi)2. Thiên nhiên mang vẻ cô đơn, tĩnh mịch và dấu ấn thời gian (Sabi)3. Thiên nhiên trong cảm nhận về sự mong manh, u buồn (Aware)4. Thiên nhiên mang vẻ đẹp u huyền (Yugen)Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Yasunari Kawabata":Cố ĐôĐẹp Và BuồnNgàn Cánh HạcNgười Đẹp Ngủ MêPhụ Lục Truyện Ngắn Yasunari KawabataTiếng Rền Của NúiTình Yêu Và Nỗi BuồnTuyển Tập Tác Phẩm Yasunari KawabataXứ TuyếtTuyển Tập Truyện Ngắn Yasunari KawabataĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Xứ Tuyết PDF của tác giả Yasunari Kawabata nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Xơ Carrie (Theodore Dreiser)
Độc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Xơ Carrie PDF của tác giả Theodore Dreiser nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.
Xa Xóm Mũi (Nguyễn Ngọc Tư)
Xa xóm Mũi là một trong số ít tác phẩm Nguyễn Ngọc Tư viết cho thiếu nhi. Xen giữa những ồn ào, tấp nập của phố thị nườm nượp người xe; là tiếng nói cười rổn rảng của những xóm ấp nghèo luôn ấm áp, đượm tình người. Phảng phất, đâu đó là một ánh mắt buồn xa xăm đến nao lòng. Nơi đất Mũi thân thương ấy có nụ cười giòn tan của cậu bé tinh nghịch, chiều chiều vẫn lẻn đi tắm sông cùng chúng bạn. Đau đáu với ánh mắt của chú bé bị bỏ rơi năm nào nơi công viên vắng lặng mơ về một gia đình. Và ta cũng chẳng thể quên được bát canh bầu nấu tép bạc ngọt lịm từ đầu lưỡi của nội. Món canh giản dị nhưng quyến luyến con người ta hơn tất thảy cao lương mỹ vị trên đời. Dường như Nguyễn Ngọc Tư đã nâng niu những kỷ niệm ấu thơ của mình một cách rất cẩn thận để gói ghém vào con chữ. Chị “Tư Cà Mau” đã viết bằng cả tâm hồn của người miền Tây hồn hậu, chất phát. Trong những con chữ giản dị mà chan chứa tình người, bạn đọc nhỏ sẽ thấy cả một vùng sông nước mênh mang hiện ra trước mắt. Nguyễn Ngọc Tư là nhà văn của người nghèo và những số phận bất hạnh. Dù viết cho thiếu nhi, tác giả vẫn muốn dành cho những đứa trẻ nghèo, những em bé kém may mắn một phép màu và rất nhiều hy vọng. Điều này được thể hiện rất rõ ràng trong truyện ngắn cảm động Xa xóm Mũi với nghị lực phi thường của Đức.Dưới đây là những tác phẩm đã xuất bản của tác giả "Nguyễn Ngọc Tư":Hành Lý Hư VôCánh Đồng Bất TậnĐong Tấm LòngKhói Trời Lộng LẫyNgọn Đèn Không TắtTập Truyện Ngắn ĐảoXa Xóm MũiĐộc giả có thể tìm mua ấn phẩm tại các nhà sách hoặc tham khảo bản ebook Xa Xóm Mũi PDF của tác giả Nguyễn Ngọc Tư nếu chưa có điều kiện.Tất cả sách điện tử, ebook trên website đều có bản quyền thuộc về tác giả. Chúng tôi khuyến khích các bạn nếu có điều kiện, khả năng xin hãy mua sách giấy.